1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của người bệnh suy thận mạn chưa lọc máu điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa xanh pôn 2018

102 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 6,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn chưa lọc máu điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2018 .... Với mục tiêu cung cấp bằng ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LỌC MÁU ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA XANH PÔN NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

-000 -

NGUYỄN CÔNG THÀNH

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN CHƯA LỌC MÁU ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI

BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN

NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG LAN

Người hỗ trợ khoa học: ThS Nguyễn Thu Hà

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để đạt được kết quả hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Ðào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo Trường Ðại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong khóa học

Đặc biệt, tôi gửi lời tri ân sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn và giáo viên hỗ trợ của tôi đã tận tình giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin dành tình cảm đặc biệt và sự biết ơn sâu sắc tới Ban Lãnh đạo bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, khoa Nội tổng hợp 2, khoa Hồi sức tích cực và chống độc, khoa Dinh dưỡng cùng một số đơn vị liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập các tài liệu liên quan tới luận văn

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BMI Body Mass Index – Chỉ số khối cơ thể

BVĐK Bệnh viện đa khoa

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

GFR Glomerular filtration rate – Mức lọc cầu thận

KDIGO Kidney Disease Improving Global Outcome - Hội đồng cải thiện

Kết quả Toàn cầu về Bệnh Thận

KTV Kỹ thuật viên

NKF National Kidney Foundation – Hội thận học Hoa Kỳ

NVYT Nhân viên y tế

OR Odds ratio – Tỉ suất chênh

PVS Phỏng vấn sâu

SDD Suy dinh dưỡng

SGA Subjective Global Assessment - Đánh giá tổng thể chủ quan

STM Suy thận mạn

TTDD Tình trạng dinh dưỡng

WHO World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ viii

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu 4

1.2 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn 7

1.3 Tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với người suy thận mạn 12

1.4 Hậu quả suy dinh dưỡng ở người bệnh suy thận mạn 13

1.5 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn 14

1.6 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh bệnh thận mạn chưa lọc máu 15

1.7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 18

KHUNG LÝ THUYẾT 20

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Thiết kế nghiên cứu 21

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.6 Các biến số nghiên cứu 24

2.7 Các khái niệm và phương pháp đánh giá 24

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 26

2.9 Đạo đức nghiên cứu 27

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phụcError! Bookmark not defined Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Một số đặc điểm chung của người tham gia nghiên cứu 28

3.2 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn chưa lọc máu điều trị nội trú tại bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 35

Trang 6

3.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh suy thận

mạn chưa lọc máu điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2018 42

Chương 4: BÀN LUẬN 48

4.1 Một số đặc điểm chung của người tham gia nghiên cứu 47

4.2 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn chưa lọc máu 48

4.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh STM chưa lọc máu điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Phụ lục 1 67

BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 67

Phụ lục 2 PHIẾU ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU 70

Phụ lục 3 74

PHIẾU ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG 74

Phụ lục 4 76

HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU NHÂN VIÊN Y TẾ 76

Phụ lục 5 78

HƯỚNG DẪN PHỎNG VÂN SÂU NGƯỜI BỆNH 78

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1.Phân loại mức độ suy thận và phương pháp điều trị 5

Bảng 1.2.Các tiêu chí đánh giá tổng thể tình trạng dinh dưỡng (SGA) 9

Bảng 1.3.Phân loại tình trạng dinh dưỡng dành cho người trưởng thành 11

Bảng 1.4.Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số Albumin 12

Bảng 2.1.Phân loại BMI theo WHO 25

Bảng 2.2.Phân loại chỉ số xét nghiệm Albumin 26

Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo một số đặc điểm nhân khẩu 28

Bảng 3.2.Phân bố mức độ suy thận ở người bệnh theo thời gian mắc bệnh 30

Bảng 3.3 Tư vấn về CĐA và tài liệu truyền thông 31

Bảng 3.4 Sự hỗ trợ của gia đình trong thực hiện CĐA 32

Bảng 3.5 Kiến thức về dinh dưỡng của người bệnh 33

Bảng 3.6 Thực hành về dinh dưỡng của người bệnh 34

Bảng 3.7 Chỉ số BMI và Albumin của người bệnh 35

Bảng 3.8.Đặc điểm cân nặng và thay đổi khẩu phần ăn của người bệnh 36

Bảng 3.9.Triệu chứng hệ tiêu hóa (dạ dày – ruột) của người bệnh 37

Bảng 3.10.Tình trạng thể lực của người bệnh 37

Bảng 3.11.Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh theo SGA 39

Bảng 3.12.Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh theo một số đặc điểm cá nhân 39

Bảng 3.13.Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh theo thời gian mắc bệnh và mức độ suy thận 41

Bảng 3.14.Mối liên quan giữa một số đặc điểm cá nhân người bệnh và tình trạng 42 Bảng 3.15.Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về dinh dưỡng của NB và tình trạng suy dinh dưỡng 44

Bảng 3.16.Mối liên quan giữa hỗ trợ y tế (truyền thông, tư vấn) cho người bệnh 45

Bảng 3.17.Mối liên quan giữa hỗ trợ của gia đình và TTDD 47

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố người bệnh theo mức độ suy thận 29Biểu đồ 3.2.Mức độ sang chấn và dấu hiệu thực thể của người bệnh 38Biểu đồ 3.3.Tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng 42

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Suy dinh dưỡng là yếu tố nguy cơ đe dọa tử vong cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối do giảm albumin huyết thanh, là yếu tố thúc đẩy suy thận tiến triển Việc điều trị suy dinh dưỡng bằng các liệu pháp hỗ trợ dinh dưỡng có thể cải thiện sống còn và chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy thận mạn Với mục tiêu cung cấp bằng chứng hỗ trợ cho người bệnh và nhân viên y tế đánh giá cũng như cải thiện hiệu quả điều trị, chất lượng sống cho người bệnh bằng liệu pháp dinh dưỡng,

đề tài: “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của người bệnh suy

thận mạn điều trị nội trú chưa lọc máu tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2018” được thực hiện với 2 mục tiêu chính: (1) Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của

người bệnh suy thận mạn chưa lọc máu điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2018 và (2) xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn

Sử dụng thiết kế nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, thu thập số liệu trên 138 người bệnh mắc bệnh suy thận mạn chưa tiến hành lọc máu điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn từ tháng 04 đến tháng 11/2018 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh được đánh giá bằng phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA - Subjective Global Assessment) và tiến hành phỏng vấn sâu người bệnh suy thận mạn, nhân viên y tế nhằm thu thập các thông tin sâu hơn mô tả và bổ sung giải thích kết quả thu được

Đánh giá chung tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng bằng phương pháp SGA là khá cao, ở mức 76,1% Trong đó SDD nhẹ là 46,4%, SDD nặng là 29,7% Theo phương pháp đo chỉ số khối cơ thể với tỷ lệ 34,0% người bệnh STM bị thiếu năng lượng trường diễn, theo chỉ số xét nghiệm Albumin huyết thanh có 48,6% người bệnh SDD ở các mức độ khác nhau Có mối liên quan giữa suy dinh dưỡng với các yếu tố: tuổi, thời gian mắc bệnh, nhận được tư vấn dinh dưỡng từ nhân viên y tế, thực hành dinh dưỡng Những người bệnh trên 60 tuổi có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao gấp 3,29 lần những người dưới 60 tuổi Nhóm người có thời gian mắc bệnh từ hai năm trở lên có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao hơn gấp 3,68 lần ở nhóm

có thời gian mắc bệnh dưới 2 năm Những người bệnh có thực hành dinh dưỡng không đạt nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 4,83 lần người bệnh thực hành đạt về dinh

Trang 10

dưỡng Người bệnh không được nhân viên y tế tư vấn về chế độ ăn có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn gấp 4 lần người bệnh được nhân viên y tế tư vấn về chế độ ăn Kết quả nghiên cứu định tính làm rõ một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh thuộc về kiến thức, thái độ cũng như công tác chăm sóc dinh dưỡng từ phía bệnh viện

Bệnh viện cần có những giải pháp giúp góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn thông qua tác động đến các yếu tố liên quan được chỉ ra từ nghiên cứu này Cụ thể, bệnh viện cần xây dựng kế hoạch tư vấn, tài liệu truyền thông và can thiệp dinh dưỡng phù hợp với từng nhóm đối tượng trong

đó lưu ý đến nhóm người cao tuổi; Đa dạng hình thức truyền thông; Hướng dẫn thực hành suất ăn mẫu cho người bệnh/người nhà người bệnh; Chuẩn hóa quy trình các bước chăm sóc dinh dưỡng người bệnh suy thận mạn

Trang 11

Suy dinh dưỡng (SDD) và tình trạng bệnh STM là mối quan hệ hai chiều Bên cạnh các biến chứng hay gặp của STM như nhức đầu, buồn nôn, tụt huyết áp, loạn nhịp tim, xuất huyết nặng …và các biến chứng lâu dài như biến chứng tim mạch (suy tim, thiếu máu cơ tim…), thiếu máu, tăng huyết áp không kiểm soát được, hô hấp (phù phổi, tràn dịch màng phổi), loãng xương thì SDD là biến chứng phổ biến hơn cả [2] SDD làm gia tăng sự tiến triển của bệnh lý thận (làm giảm độ lọc cầu thận và lưu lượng máu đến thận) đồng thời phối hợp với tình trạng viêm và các bệnh lý tim mạch làm gia tăng tỷ lệ tử vong [49] Đối với những người bệnh STM, tình trạng dinh dưỡng làm trầm trọng thêm sự suy giảm chức năng thận thông qua tác động làm suy giảm khả năng bài tiết chất thải, muối và acid, giảm lưu lượng máu tới thận, giảm độ thanh thải cầu thận và khả năng cô đặc nước tiểu Kết quả

từ nghiên cứu của Kamyar Kalantar Zedeh (2011) cũng cho thấy việc điều trị SDD bằng các liệu pháp hỗ trợ dinh dưỡng có thể cải thiện sống còn và chất lượng cuộc sống ở người bệnh STM [41]

Về dịch tễ học, theo nghiên cứu của NHANES-III, mỗi người bệnh STM vào giai đoạn cuối điều trị thay thế thận tương ứng với ngoài cộng đồng có khoảng

Trang 12

100 người đang điều trị bệnh thận ở những giai đoạn khác nhau [34] Tuy nhiên, đa

số người bệnh STM có sự hiểu biết hạn chế về dinh dưỡng, nên phần lớn người bệnh chỉ tập trung vào điều trị bằng thuốc mà ít chú ý đến chế độ dinh dưỡng của mình một cách đúng đắn, góp phần làm ảnh hưởng xấu đến tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và khả năng tự hồi phục sức khỏe, làm tăng nhanh diễn biến của STM và tăng mức độ suy thận trở nên trầm trọng hơn Theo nghiên cứu của tác giả Trần Văn

Vũ (2015) đưa ra tỷ lệ SDD xác định bằng phương pháp SGA tại thời điểm trước khi bắt đầu liệu pháp thay thế thận là 39 – 48% [23] Ở những đối tượng có độ lọc cầu thận càng thấp thì tỷ lệ SDD càng cao: Tỷ lệ SDD vào khoảng 20 – 28% tương ứng với GFR = 30 – 20 ml/phút/1,73m2 da, và khoảng 40% khi GFR < 15 ml/phút/1,73m2 da Một nghiên cứu tại Úc cho thấy những NB SDD có nguy cơ tử vong hoặc khởi đầu điều trị lọc máu cao gấp 3 lần so với nhóm NB dinh dưỡng tốt với cùng chức năng thận [23]

Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Xanh Pôn là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y

tế, thành phố Hà Nội Hàng năm, bệnh viện tiếp nhận và điều trị cho khoảng

350-400 người bệnh nội trú STM chưa lọc máu Kiểm soát TTDD ở người bệnh STM càng sớm giúp ngăn chặn các biến chứng và làm chậm bước tiến của STM Những bằng chứng chi tiết về TTDD của người bệnh đóng vai trò quan trọng góp phần hỗ trợ cho nhân viên y tế (NVYT) đánh giá hiệu quả điều trị cũng như cải thiện hiệu quả điều trị cho người bệnh Bên cạnh đó, những thông tin về các yếu tố liên quan đến TTDD của

NB cũng vô cùng cần thiết, hỗ trợ cho NVYT có thể đánh giá nhanh được TTDD của

NB và đặc biệt để có những can thiệp phù hợp nhằm cải thiện TTDD của người bệnh Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng trên đối tượng người

bệnh STM chưa lọc máu Từ thực tế trên, nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và

một số yếu tố liên quan của người bệnh suy thận mạn điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2018” được thực hiện để góp phần hỗ trợ cho người

bệnh và nhân viên y tế (NVYT) đánh giá hiệu quả điều trị cũng như cải thiện hiệu quả điều trị, chất lượng sống cho NB bằng liệu pháp dinh dưỡng

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn chưa lọc

máu điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2018

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng ở người bệnh suy thận mạn chưa lọc máu điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

năm 2018

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Suy thận mạn và bệnh thận mạn

1.1.1.1 Khái niệm

Bệnh thận mạn là tình trạng tổn thương thận về mặt cấu trúc hoặc chức

năng, biểu hiện bằng sự có mặt của albumin (Alb) niệu hoặc suy giảm chức năng thận xác định qua mức lọc cầu thận (<60 ml/ph/1,73m2), hoặc các bất thường về hình ảnh học của thận tồn tại trên 3 tháng [37], [38]

Suy thận mạn là hậu quả cuối cùng của các bệnh thận, tiết niệu mạn tính,

làm chức năng thận giảm sút dần dần tương ứng với số lượng nephron của thận bị tổn thương dẫn đến xơ hóa và mất chức năng không hồi phục Biểu hiện lâm sàng là mức lọc cầu thận giảm dần không hồi phục, tăng nitơ phi protein máu, rối loạn cân bằng nội môi, rối loạn các chức năng nội tiết của thận Các triệu chứng trên nặng dần tương ứng với giảm mức lọc cầu thận, cuối cùng dẫn đến suy thận giai đoạn cuối, lúc này hai thận mất chức năng hoàn toàn, đòi hỏi phải điều trị thay thế thận [9], [17]

Hội thận học Hoa kỳ (National Kidney Foundation – NKF) đưa ra định nghĩa

về bệnh thận mạn năm 2002 Định nghĩa này được cập nhất nhiều lần vào các năm sau, gần đây nhất là hướng dẫn của Hội đồng cải thiện Kết quả Toàn cầu về Bệnh Thận (Kidney Disease Improving Global Outcome – KDIGO) năm 2012 như sau:

Mức lọc cầu thận là lượng nước tiểu đầu trong 1 phút (glomerular filtration rate - GFR), là chỉ số cần và đủ để đánh giá mức độ STM Trong thực hành lâm sàng mức lọc cầu thận được đo bằng độ thải sạch creatinin nội sinh (clearance creatinin) Bình thường mức lọc cầu thận trung bình bằng 120 ml/phút Creatinin máu trung bình là 1 mg/dl (0,8-1,2 mg/dl) tức là 88 μmol/l (70-130 μmol/l) Khi mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 60 ml/phút, creatinin máu tăng 1,5 mg/dl hoặc

130 μmol/l trở lên, suy thận rõ Nitơ phi protein máu bao gồm urê, creatinin, acid uric …, trong đó urê chiếm 80% và được coi là đại diện của nhóm Trong lâm sàng

có thể sử dụng urê máu để đánh giá mức độ và tiên lượng nặng nhẹ của suy thận

Để đánh giá tiên lượng và có biện pháp điều trị thích hợp cho từng thời kỳ, các nhà

Trang 15

thận học chia suy thận thành 4 giai đoạn hoặc 4 độ tương ứng với sự giảm mức lọc cầu thận và tăng creatinin máu Giá trị ước đoán dựa vào creatinin máu Chỉ định điều trị và chế độ dinh dưỡng dựa vào mức lọc cầu thận [7]

1.1.1.2 Phân loại giai đoạn suy thận mạn tính

Mức độ suy thận được đánh giá dựa vào mức lọc cầu thận và nồng độ creatinin máu

Bảng 1.1 Phân loại mức độ suy thận và phương pháp điều trị

Mức độ

suy thận

Mức lọc

cầu thận (mL/p)

Bảo tồn

Độ IIIa 20 - 11 3,5 - 2,9 300 - 499 Chán ăn, thiếu

máu, tăng huyết áp

Bảo tồn ăn giảm đạm

Độ IIIb 10 - 5 6,0 - 10 500 - 900 Chán ăn, thiếu máu

nặng

Bắt đầu lọc máu

Độ IV < 5 > 10 > 900

Hội chứng urê máu cao

Lọc máu bắt buộc, ghép thận

Theo bảng phân loại trên, chúng ta có thể thấy tình trạng SDD xuất hiện ngay từ thời kì chức năng thận suy ở mức độ vừa Vì vậy cùng với việc điều trị các rối loạn chức năng, vấn đề phòng chống SDD cũng cần được đặt ra ngay trong thời kỳ tiến triển sớm của bệnh

Trang 16

1.1.2 Tình trạng dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng ở người bệnh suy thận mạn 1.1.2.1 Khái niệm

Tình trạng dinh dưỡng là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng

của cơ thể Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví dụ: thời kỳ có thai, cho con bú ) và mức độ hoạt động thể lực Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thụ, phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá và sinh lý trong quá trình chuyển hoá Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của cá thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt, (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [28]

Suy dinh dưỡng là thuật ngữ để chỉ những người không đủ cân nặng hay không

đủ sức khoẻ, không đủ cân tiêu chuẩn so với chiều cao Khái niệm này liên quan đến việc sử dụng các phương pháp khác nhau như sử dụng chỉ số khối cơ thể (BMI), đánh giá tổng thể chủ quan (Subjective Global Assessment) và chỉ số albumin huyết thanh

để xác định một người nào đó bị suy dinh dưỡng

1.1.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng cho người bệnh suy thận mạn

Nhu cầu năng lượng: Nhu cầu năng lượng cho người bình thường và người

bệnh STM chưa lọc máu đều như nhau là 35Kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày

Nhu cầu protein: Lượng protein đối với người khoẻ mạnh là 0,8

-1,0/kg/ngày Đối với người bệnh thận mạn chưa lọc máu thì nhu cầu giảm đi là 0,6 - 0,8g/kg/ngày với người bệnh STM giai đoạn 1-2 và 0,4 - 0,6g/kg/ngày đối với người bệnh STM giai đoạn 3-4, tỉ lệ protein động vật chiếm ≥ 60% Như vậy nhu cầu protein của người bệnh thận mạn chưa lọc máu thấp hơn so với cơ thể khoẻ mạnh không bị bệnh [4]

Nhu cầu lipid: Nhu cầu lipid cho người bình thường chiếm 15-25% của tổng

năng lượng trong đó acid béo chưa no một nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid Đối với người bệnh STM chưa lọc máu nhu cầu lipid từ 20-25%, nhu cầu acid béo no và chưa no cũng như người bình thường

Trang 17

Nhu cầu glucid: Nhu cầu glucid cho người bình thường từ 55 - 65% Đối

với người bệnh chưa chạy thận nhân tạo và lọc máu chu kỳ nhu cầu cũng phải duy trì ở mức bình thường để đề phòng thiếu dinh dưỡng vì glucid chiếm đa số trong khẩu phần ăn, nhưng nếu cho lượng glucid quá nhiều sẽ gây tăng đường máu [4]

Nhu cầu điện giải: Nhu cầu muối cho người bình thường khoảng 8 –

10g/ngày, đối với người bệnh STM chưa lọc máu cần hạn chế lượng muối đưa vào

cơ thể, hạn chế natri, cụ thể chỉ ăn 1000 - 2000mg/ngày Đối với giai đoạn 1-2, hạn chế kali khẩu phần khi kali máu > 6mmol/l: 2000-3000 mg/ngày; đối với giai đoạn 3-4 có tăng kali máu: < 1000mg/ngày Hạn chế hoặc sử dụng vừa phải các thực phẩm giàu kali [4]

Nhu cầu nước hàng ngày của người bệnh cần phải theo dõi cẩn thận để

tránh phù vì thế cần phải theo dõi lượng dịch vào và ra của người bệnh hàng ngày theo công thức: thể tích nước = thể tích nước tiểu + thể tích dịch mất bất thường (sốt, nôn, ỉa chảy ) +300 đến 500ml (tùy theo mùa), hạn chế đồ uống có ga, cồn (bia, rượu ) [4]

Nhu cầu muối khoáng: Chất khoáng đa lượng và vi lượng rất cần thiết cho

cơ thể như tham gia quá trình tạo máu, chống loãng xương, tham gia quá trình miễn dịch, chuyển hóa các chất dinh dưỡng… chính vì thế cần phải bổ sung đầy đủ các chất khoáng cho cơ thể bình thường và bệnh lý nhu cầu hàng ngày calci 500mg/ngày, phospho: 1200mg/ngày, sắt 11 – 24mg/ngày [4]

Cung cấp đủ vitamin và khoáng chất Ăn 4 bữa/ngày

1.2 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh suy thận mạn

Đánh giá TTDD là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về TTDD và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó Tình hình dinh dưỡng của một cộng đồng là một trong các nguồn dữ liệu rất quan trọng để xây dựng và đánh giá tình hình sức khỏe

Hiện nay, có nhiều phương pháp để đánh giá TTDD ở người bệnh STM như: BMI, phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (Subjective Global Assessment - SGA), nồng độ Alb huyết thanh… nhưng vẫn chưa đưa ra được tiêu chuẩn vàng để

Trang 18

chẩn đoán tình trạng SDD Những hướng dẫn của KDOQI (Kidney Disease improving Global outcomes – tổ chức nghiên cứu toàn cầu về các hiệu quả cải thiện lâm sàng trong điều trị bệnh thận) năm 2000 về dinh dưỡng thận cho thấy nên ưu tiên sử dụng phối hợp nhiều phương pháp đánh giá để ghi nhận một cách toàn diện

về TTDD của người bệnh

Theo kết quả thu được từ nghiên cứu của Trần Văn Vũ (2011) có gợi ý nên

sử dụng phương pháp SGA để đánh giá TTDD một cách định kỳ cho đối tượng người bệnh STM giai đoạn cuối chưa lọc thận bởi đây được cho là phương pháp có

đủ các thông số để đánh giá được người bệnh trong toàn bộ quá trình mắc sẽ có những thay đổi về trọng lượng cơ thể, diễn biến của TTDD và những kết luận về lâm sàng của bác sỹ trên người bệnh [22] Ngoài ra, cũng dựa theo khuyến cáo của Hội thận học quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2000, phương pháp SGA nên được sử dụng

để đánh giá TTDD định kỳ 6 tháng/lần ở người bệnh STM giai đoạn cuối đang lọc thận Có nhiều nghiên cứu cho thấy phương pháp SGA rất hữu ích và có thể sử dụng nhiều lần để đánh giá TTDD ở đối tượng người bệnh này

Trong nghiên cứu này sử dụng cả 3 phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng là: BMI, SGA, chỉ số Albumin, để hỗ trợ mô tả và có cái nhìn khách quan nhất về TTDD của người bệnh Tuy nhiên, trên cơ sở tìm hiểu, xem xét các nghiên cứu đã làm trên thế giới và trong nước về đánh giá TTDD cũng như qua tìm hiểu các tài liệu về SDD nói chung, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp SGA là phương pháp quyết định để xác định tình trạng SDD trên người bệnh STM tại BVĐK Xanh Pôn

1.2.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (Subject Global Assessment)

Nhóm tác giả Shruti Tappiawala & cộng sự đã đưa ra 7 tiêu chí tiện dụng để đánh giá TTDD của người bệnh STM và bệnh thận giai đoạn cuối có lọc máu Một kỹ thuật viên hoặc một điều dưỡng chỉ mất 10 phút để đánh giá tình trạng sức khỏe của người bệnh như sau [3], [48]:

1 Thay đổi trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng gần nhất

2 Khẩu phần ăn

Trang 19

3 Biểu hiện của các triệu chứng: rối loạn tiêu hoá, sốt…

4 Tình trạng sức khoẻ, thể lực

5 Sự suy giảm lớp mỡ dưới da

6 Dấu hiệu teo cơ

7 Hội chứng phù

Phương pháp này thường để áp dụng trong lâm sàng nhằm đánh giá người bệnh một cách tổng thể dựa vào thang điểm (Bảng 1.2) với cách phân loại như sau:

SGA A: 1-14 điểm: Không có nguy cơ SDD

SGA B: 15-35 điểm: Nguy cơ dinh dưỡng từ mức độ nhẹ đến vừa

SGA C: 36-49 điểm: Nguy cơ dinh dưỡng mức độ nặng

Bảng 1.2.Các tiêu chí đánh giá theo phương pháp tổng thể chủ quan (SGA)

điểm

Giảm cân trong

vòng 6 tháng

Giảm > 1kg nhưng < 5% trọng lượng cơ thể 3-5 Giảm > 5% trọng lượng cơ thể 6-7 Thay đổi chế độ ăn

Ăn ngày càng giảm các loại thức ăn 6-7 Biểu hiện của các

triệu chứng: rối loạn

Sức khỏe suy giảm trầm trọng, thể lực xấu 6-7

Sự suy giảm lớp mỡ

dưỡi da

Giảm nhẹ trên toàn bộ diện tích dưới da 3-5 Giảm nặng trên vài phần hoặc hầu hết 6-7

Sự hao mòn cơ

Giảm nhẹ trên toàn bộ diện tích dưới da 3-5 Giảm nặng trên vài phần hoặc hầu hết 6-7 Hội chứng phù

Không phù hoặc phù ít (khó thấy) 1-2

Trang 20

* Cách tính điểm SGA:

- Phương pháp SGA không phải tính điểm bằng số

- Điểm nguy cơ dinh dưỡng tổng thể không dựa vào mối nguy cơ riêng lẻ

- Không nên sử dụng hệ thống tính điểm cứng nhắc dựa trên các tiêu chuẩn cụ thể

* Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “A” hoặc ít nguy cơ dinh dưỡng

- Cân nặng bình thường hoặc gần đây tăng cân trở lại

- Khẩu phần bình thường hoặc cải thiện khẩu phần

- Mất lớp mỡ dưới da tối thiểu hoặc không mất

- Không giảm khối cơ hoặc giảm tối thiểu

* Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “B” hoặc tăng nguy cơ dinh dưỡng

- Sụt cân tổng thể mức độ vừa đến nặng trước khi nhập viện (5 – 10%)

- Khẩu phần có thay đổi (ăn ít hơn bình thường < 50%)

- Mất lớp mỡ dưới da, giảm nhiều hoặc mất khoảng 2cm

* Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “C” hoặc tăng nguy cơ dinh dưỡng

- Sụt cân rõ hoặc tiến triển (thường ít nhất 10% cân nặng bình thường)

- Khẩu phần có thay đổi nhiều (ăn ít hơn bình thường > 50%)

- Mất lớp mỡ > 2cm, giảm khối lượng cơ nặng

Chú ý: Khi do dự giữa điểm A hoặc B, chọn B

Khi do dự giữa điểm B hoặc C, chọn B

1.2.2 Phương pháp nhân trắc học

Trong phương pháp nhân trắc, các chỉ số chính thường được sử dụng là chỉ

số khối cơ thể (BMI) = cân nặng (kg)/(chiều cao (m))2, bề dày nếp gấp da, vòng

cánh tay và sức mạnh của cơ, kích thước của khối cơ và khối mỡ trong cơ thể

Trang 21

Thuận lợi của phương pháp này là:

- Các bước tiến hành đơn giản, an toàn có thể dùng ở mọi nơi

- Các phương tiện không đắt tiền, bền, có thể mang theo dễ dàng

- Thu được những thông tin về dinh dưỡng của một thời gian dài trước đó một cách tin cậy

- Có thể được dùng để đánh giá sự thay đổi TTDD theo thời gian

- Như là một test sàng lọc để phát hiện các cá thể có nguy cơ cao với SDD Ngoài những thuận lợi thì phương pháp này còn có một số hạn chế như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong một thời gian ngắn, hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt các chất dinh dưỡng đặc hiệu Những yếu tố không phải là dinh dưỡng như bệnh tật, di truyền, giảm tiêu hao năng lượng,

có thể làm giảm độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp

Bảng 1.3 Phân loại tình trạng dinh dưỡng dành cho người trưởng thành

(Thống nhất sử dụng thang phân loại của Tổ chức Y tế thế giới năm 2000)

Gầy: Còn gọi là thiếu năng lượng trường diễn (CED) < 18,5

Trang 22

1.2.3 Phương pháp hóa sinh

Sử dụng phương pháp hóa sinh để đánh giá TTDD của người bệnh STM, thường dựa vào các chỉ số như: Albumin huyết thanh, Transferrin huyết thanh, Nitơ Ure trong máu, Creatinin huyết thanh, Nồng độ các acid amin cần thiết trong huyết thanh và cơ bắp Tuy nhiên, đối với phương pháp hóa sinh, chỉ số Albumin huyết thanh được sử dụng phổ biến nhất do kỹ thuật phân tích đơn giản, có sự tương quan

ý nghĩa với tiên lượng người bệnh STM, nồng độ Albumin bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi lượng Protein khẩu phần [33], [43] Nồng độ Albumin huyết thanh bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khác ngoài yếu tố dinh dưỡng như giảm nhanh trong trạng thái stress và tình trạng nhiễm trùng; Albumin bị mất trong các dịch tiết trong một số trường hợp bệnh lý khác [3]

Bảng 1.4.Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số Albumin

1.3 Tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với người suy thận mạn

Dinh dưỡng là nhu cầu thiết yếu của con người Các chất dinh dưỡng được cung cấp thông qua ăn uống giúp con người tồn tại và phát triển

Đối với một số bệnh nếu ăn uống không đúng sẽ làm cho bệnh nặng thêm Chính vì vậy, khi sử dụng dinh dưỡng trong điều trị phải dựa vào một số yếu tố như tính chất tổn thương của cơ quan bị bệnh; sự phản ứng, quá trình hồi phục, cơ chế điều hòa, thích nghi của cơ thể, các dấu hiệu lâm sàng để chỉ định chế độ dinh dưỡng; phương pháp điều trị và tùy theo người bệnh để có phương pháp sử dụng dinh dưỡng cụ thể

Qua nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, hợp

lý đã giúp tăng cường miễn dịch rút ngắn thời gian điều trị, giảm biến chứng, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, giảm tỉ lệ tử vong Ngoài ra, việc sử

Trang 23

dụng dinh dưỡng trong điều trị còn có tác dụng điều hòa các rối loạn chuyển hóa làm giảm một số bệnh do chúng gây ra, đặc biệt, là trong điều trị bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, suy thận, suy tim, bệnh lý về gan, dạ dày…[30]

Đối với những người bệnh STM, tình trạng dinh dưỡng làm trầm trọng thêm

sự suy giảm chức năng thận thông qua tác động làm suy giảm khả năng bài tiết chất thải, muối và acid, giảm lưu lượng máu tới thận, giảm độ thanh lọc cầu thận và khả năng cô đặc nước tiểu Kết quả từ nghiên cứu của Kamyar Kalantar Zedeh (2011) cũng cho thấy việc điều trị SDD bằng các phương pháp hỗ trợ dinh dưỡng có thể cải thiện sống còn và chất lượng cuộc sống ở người bệnh STM [41]

Chế độ dinh dưỡng kiêng đạm chặt chẽ là một trong những nguyên nhân của rối loạn dinh dưỡng nặng ở những người bệnh STM

Trước giai đoạn thận nhân tạo chu kỳ, bài xuất urê hàng ngày là một chỉ số tốt về khẩu phần protid Cholesterol thấp (< 1,5g) cũng là một chỉ số SDD Về chế

độ dinh dưỡng cho người suy thận, nhiều tác giả cho rằng cần 0,8-0,4g protid/kg cân nặng/24 giờ cho người bệnh suy thận chưa có chỉ định lọc máu Hàm lượng mỡ không quá 30% trong tổng số calo cần thiết cho cơ thể [7]

1.4 Hậu quả suy dinh dưỡng ở người bệnh suy thận mạn

SDD là một vấn đề phổ biến trong lâm sàng Tuy nhiên, còn ít được quan tâm trên thế giới và đặc biệt là tại Việt Nam do lĩnh vực Khoa học dinh dưỡng lâm sàng còn chưa phát triển và chưa được đưa vào các chương trình đào tạo

Ngay tại các nước phát triển và đang phát triển, vấn đề SDD ở cộng đồng đã được giải quyết nhưng trong lĩnh vực lâm sàng thì đây vẫn là hiện tượng vô cùng phổ biến và được đặc biệt quan tâm để cải thiện chất lượng điều trị, giảm thời gian

và giá thành điều trị, giảm các nguy cơ khác (biến chứng, tử vong, )

SDD làm trầm trọng thêm sự suy giảm chức năng thận thông qua tác động làm suy giảm khả năng bài tiết chất thải, muối và acid, giảm lưu lượng máu tới thận, giảm độ thanh lọc cầu thận và khả năng cô đặc nước tiểu Ở những đối tượng

có MLCT càng thấp thì tỷ lệ SDD càng cao: Tỷ lệ SDD vào khoảng 20 – 28% tương ứng với GFR = 30 – 20 ml/phút/1,73m2 da, và khoảng 40% khi GFR < 15 ml/phút/1,73m2 da Nghiên cứu tại Úc cho thấy những người bệnh dinh dưỡng tốt

Trang 24

có nguy cơ tử vong hoặc khởi đầu điều trị lọc máu thấp hơn 3 lần so với nhóm người bệnh SDD với cùng chức năng thận [23]

1.5 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn

1.5.1 Trên thế giới

Theo thống kê của Hội Thận học quốc tế (International Society of Nephrology)

và Liên đoàn các Tổ chức Thận học Thế giới (International Federation of Kidney Foudations), hiện tại trên thế giới có hơn 10% dân số thế giới mắc bệnh thận mạn [39], [44]

Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ mới mắc bệnh thận mạn đang có xu hướng tăng lên không chỉ ở trong nước mà cả trên thế giới: ở Mỹ, khảo sát về dinh dưỡng và y tế quốc gia (NHANESIII) đưa kết quả tỷ lệ người mắc bệnh thận mạn đã tăng gấp 4 lần trong vòng 15 năm kể từ năm 1988 đến năm 2004 đe dọa sức khỏe người dân nói chung và tổn thất về mặt kinh tế bởi việc điều trị tốn kém và lâu dài [45] Tại Anh Quốc tỷ lệ mắc bệnh thận mạn giai đoạn 3 -5 năm 2007 là 8,5% [47] Trong khi đó, tỷ lệ mắc tại Singapore, phía đông nam khu vực châu Á thì tỷ lệ mắc bệnh thận mạn là 10,1% [32]

Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu lớn đánh giá TTDD bằng nhiều phương pháp khác nhau tập trung vào đối tượng người bệnh STM đang lọc thận nhân tạo hay thẩm phân phúc mạc Tuy nhiên, ở đối tượng người bệnh STM ở các giai đoạn

và chưa điều trị thay thế thận chưa có nhiều nghiên cứu [23]

Kết quả nghiên cứu của Kalantar Zedeh (năm 2011) cho thấy việc điều trị SDD bằng các phương pháp hỗ trợ dinh dưỡng có thể cải thiện sống còn và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân bệnh thận mạn [41]

Ở người bệnh thận mạn chưa điều trị thay thế thận: nghiên cứu của Lawson (2001) ghi nhận 28% người bệnh SDD, có sự gia tăng nguy cơ nhập viện và tử vong

ở những người bệnh này [42]

Những người bệnh có độ lọc cầu thận càng thấp thì tỷ lệ SDD càng cao: tỷ lệ SDD vào khoảng 20-28% tương ứng với GFR 20-30ml/phút/1,73m2 da, và khoảng 40% ở những người bệnh có GFR nhỏ hơn 15ml/phút/1,73m2 da [36] Tình trạng dinh dưỡng trước khi lọc máu của những người bệnh STM giai đoạn cuối ảnh

Trang 25

hưởng lên kết quả lâm sàng của những người bệnh đó khi khởi đầu liệu pháp điều trị thay thế thận Tại Úc nghiên cứu trên 50 người bệnh trước lọc máu, cho thấy những người bệnh SDD sẽ tử vong hoặc khởi đầu điều trị lọc máu cao gấp 3 lần so với nhóm người bệnh dinh dưỡng tốt cùng với chức năng thận [42] Do vậy SDD cũng là một trong những yếu tố dự báo khả năng cần khởi đầu để làm phẫu thuật ghép thận

1.5.2 Tại Việt Nam

Theo Trần Văn Vũ, nghiên cứu đánh giá TTDD của người bệnh STM trên 385 người bệnh tại khoa Nội Thận và phòng khám Thận bệnh viện Chợ Rẫy Bằng phương pháp đánh giá tổng thể TTDD theo chủ quan, tác giả chỉ rằng: Tỷ lệ SDD xác định bằng SGA 3 thang điểm, SGA 7 thang điểm lần lượt là 36,2% và 42,6%

Tỷ lệ SDD gia tăng theo giai đoạn của STM

Một công bố khác của Trần Văn Vũ đánh giá TTDD ở người bệnh STM giai đoạn cuối chưa lọc thận đã chỉ ra tỷ lệ suy dinh dưỡng ở đối tượng người bệnh STM giai đoạn cuối chưa lọc thận được xác định dao động từ 22,2% đến 78,9% tùy thuộc vào phương pháp sử dụng để đánh giá [22] Tỷ lệ người bệnh bị SDD xác định được khá cao nêu bật tầm quan trọng của việc chăm sóc về dinh dưỡng trong chiến lược điều trị cho đối tượng người bệnh này

Trần Văn Nhường (2012) [18] đánh giá TTDD và một số yếu tố liên quan của người bệnh STM có lọc máu tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức Kết quả cho thấy nếu sử dụng phương pháp SGA thì có 80,7% người bệnh STM suy dinh dưỡng, trong đó có 10% SDD nặng Một số nghiên cứu khác cũng sử dụng thang điểm SGA để đánh giá TTDD ở người bệnh điều trị nội trú nhưng trên các đối tượng khác nhau như nghiên cứu của Trịnh Hồng Sơn (2013) [20] cho thấy có 48% người bệnh trước mổ ung thư dạ dày SDD, Dương Thị Phượng (2016) [19] kết luận có 51,7% người bệnh ung thư SDD tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Nguyễn Đỗ Huy

(2009) [11] có tỷ lệ 43,2% người bệnh nhập viện SDD

1.6 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh thận mạn chưa lọc máu

1.6.1 Yếu tố cá nhân

Trang 26

Tiền sử bệnh và đặc điểm về tình trạng bệnh

Đối với người có TTDD bình thường thì lượng protein tối thiểu cần có hàng ngày là 0,6-0,8g/kg Đối với người bệnh STM chưa lọc máu thì nhu cầu protein cho một ngày thấp hơn là 0,6- 0,8g/kg đối với người bệnh STM giai đoạn 1-2 và 0,4-0,6g/kg/ngày đối với người bệnh STM giai đoạn 3-4, tỉ lệ protein động vật chiếm ≥ 60% [4], [40], [43]

Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng ở người bệnh suy thận mạn

Yếu tố thực hiện đúng chế độ dinh dưỡng theo bệnh rất quan trọng vì người bệnh sau khi được tư vấn và có những kiến thức dinh dưỡng cần thiết nếu thực hiện đúng thì sức khoẻ của người bệnh sẽ cải thiện, bệnh sẽ nhẹ đi, chậm xuất hiện những biến chứng làm giảm được chi phí nằm viện [31]

Chế độ dinh dưỡng của người bệnh trước khi mắc cũng một phần ảnh hưởng đến TTDD hiện tại của người bệnh Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh (2010) tại bệnh viện Bạch Mai đưa ra kết quả có khá nhiều người bệnh có thói quen thường xuyên ăn các loại thức ăn có nguy cơ gây STM, sỏi thận và 25% người bệnh có thói quen ăn mặn trước khi mắc bệnh [16]

Nghiên cứu của Lý Hoàng Phượng (2011) tại bệnh viện Nhân dân 115 chỉ ra rằng kiến thức của người bệnh – thân nhân về chế độ dinh dưỡng trong bệnh thận mạn đang điều trị bảo tồn so với tầm quan trọng của việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng trong kiểm soát diễn tiến bệnh thận mạn hiện tại là chưa đạt yêu cầu Những yếu tố cản trở việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh thường là do thiếu kiến thức đầy đủ về chế độ dinh dưỡng 38%, kinh tế 32%, thiếu người chăm sóc 13%, thời gian 5% [14] Yếu tố tâm lý khi phải thực hiện chế độ dinh dưỡng kiêng đạm chặt chẽ trong giai đoạn điều trị bảo tồn cũng làm giảm lượng cung cấp protein

ở người bệnh

1.6.2 Dịch vụ y tế và truyền thông

Dinh dưỡng đủ đóng vai trò rất quan trọng đối với người bệnh vì khi người bệnh nằm viện tâm lý có nhiều thay đổi, người bệnh dùng khối lượng thuốc nhiều trong cả thời gian nằm viện nếu dinh dưỡng không hợp lý sẽ dẫn đến hiệu quả điều

Trang 27

trị kém, tăng thời gian nằm viện, chi phí cao Chính vì vậy, dinh dưỡng trong bệnh viện cũng là phác đồ điều trị như là thuốc

Tổ chức tư vấn dinh dưỡng ở các BV là rất cần thiết bởi:

- Tư vấn dinh dưỡng sẽ giúp nâng cao nhận thức và hiểu biết của người bệnh

về dinh dưỡng đối với việc cải thiện tình trạng bệnh và đề phòng bệnh tái phát

- Tư vấn dinh dưỡng giúp cho người bệnh biết cách tự đề phòng bệnh cho bản thân qua việc ăn uống kết hợp với chế độ luyện tập phù hợp Nghiên cứu của Doãn Thị Tường Vi và cộng sự (2001) [8] cho thấy tư vấn chế độ dinh dưỡng kết hợp luyện tập đã thành công trong điều trị giảm cân ở người béo phì Người bệnh giảm sử dụng thực phẩm nhiều dầu mỡ, năng lượng khẩu phần giảm từ 2270 kcal xuống 1531 kcal, năng lượng do lipid cung cấp giảm từ 18% xuống 10%, thời gian tập luyện đi bộ và tập luyện thể lực tăng lên Kết quả là cân nặng giảm trung bình 3,5 kg và 41,7% đối tượng có chỉ số BMI về bình thường

1.6.3 Yếu tố gia đình và cộng đồng

Một số nghiên cứu cho thấy nhu cầu khác biệt giữa người bệnh và thành viên gia đình là những rào cản đối với bản thân quản lý [46] Ví dụ, các thành viên trong gia đình có thể không muốn ăn cùng chế độ dinh dưỡng hoặc chuẩn bị bữa ăn cho người bệnh STM, những người đang cố gắng duy trì một chế độ dinh dưỡng uống lành mạnh hơn

Trong thực tế, một đánh giá phân tích - meta 122 nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị cao hơn 27% khi người bệnh được sự ủng hộ từ người thân và bạn bè Bên cạnh đó, cấu trúc gia đình (ví dụ: tình trạng hôn nhân của người bệnh và việc sắp xếp cuộc sống) cũng có liên quan đến tuân thủ điều trị Trong nghiên cứu của DiMatteo, tỷ lệ tuân thủ điều trị ở những người bệnh đã có gia đình cao gấp 1,27 lần đối với những người chưa kết hôn [35]

Việc điều trị bệnh và sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh STM còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố cản trở như: kinh tế, phương tiện đi lại, kiến thức

cơ bản, đầy đủ về chế độ dinh dưỡng… Theo Lý Hoàng Phượng (2011) cũng đưa ra rằng những trở ngại chủ yếu trong việc điều trị bệnh là kinh tế 40%, thiếu phương tiện đi lại 20%

Trang 28

1.7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn là BVĐK hạng I của Thành phố Hà Nội Bệnh viện gồm 7 chuyên khoa đầu ngành là Ngoại khoa, Nhi khoa, Xét nghiệm, Gây mê hồi sức, Chẩn đoán hình ảnh, Điều dưỡng, Phẫu thuật tạo hình Với quy mô 650 giường bệnh kế hoạch và hơn 700 giường bệnh thực kê, bệnh viện là tuyến cuối của Thành phố và là một trong những trung tâm y học lớn của Thủ đô tiếp nhận người bệnh nặng không chỉ của nhân Hà Nội mà còn cả các người bệnh nặng của các tỉnh lân cận Bệnh viện đã triển khai được nhiều kỹ thuật cao trong các chuyên ngành ngoại khoa và điều trị nội khoa, có một vị thế xứng đáng về mặt chuyên môn không chỉ tại Hà nội, mà cả trong khu vực miền Bắc Bệnh viện hiện có tổng số 41 khoa, phòng và 01 trung tâm với tổng số 1019 cán bộ (trong đó gồm 1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc, 560 viên chức, 24 hợp đồng 68, 95 hợp đồng dài hạn và 340 hợp đồng do đơn vị thỏa thuận) Với thế mạnh về cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn, bệnh viện hiện là bệnh viện thực hành của nhiều trường đại học Y dược và điều dưỡng như: trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Dược Hà Nội, trường Đại học Răng Hàm Mặt, Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, trường Cao đẳng Y tế Hải Dương Bên cạnh đó, bệnh viện còn là cơ sở đào tạo, chuyển giao kỹ thuật của Sở Y tế về chuyên môn, nghiệp vụ, chuyển giao hơn 700

kỹ thuật cho các cơ sở y tế trực thuộc Sở Y tế bao gồm 40 bệnh viện, 43 trung tâm y

tế, 554 trạm y tế xã phường

Trong năm 2017, Bệnh viện đã thực hiện và đạt công tác chuyên môn với tổng số người bệnh phẫu thuật trong năm 2017 là 14.750 người bệnh (tăng trên 3.300 NB so với số thực hiện năm 2016) Phân loại phẫu thuật tăng đáng kể ở loại đặc biệt và loại I (Loại đặc biệt: từ 852 ca lên 1.557 ca; Loại I từ 6.955 ca lên 8.089 ca) Đặc biệt là các kỹ thuật cao, chuyên sâu đã được thực hiện với tần suất tăng, đặc biệt các kỹ thuật mới được thực hiện tại bệnh viện đã cứu sống được nhiều người bệnh như: tiêu sợi huyết, lấy cục máu đông, phẫu thuật giải ép… với quy trình báo động đỏ nội viện, hoạt động tích cực của tổ cấp cứu đột quỵ đã thực hiện

và cứu sống trên 60 ca bệnh

Trang 29

Ngoài ra, bệnh viện tiến hành thực hiện kỹ thuật ghép thận trên 25 người bệnh và đã trở thành thường quy Hàng năm, bệnh viện tiếp nhận và điều trị nội trú cho khoảng 350-400 người bệnh suy thận chưa lọc máu và cho khoảng 70 người bệnh lọc máu chu kỳ tại Khoa Nội tổng hợp 2 và Đơn nguyên thận nhân tạo Những người bệnh đã ghép thận tại bệnh viện được khoa Dinh dưỡng tư vấn và chuẩn bị chế độ dinh dưỡng bệnh lý đầy đủ, cẩn thận, tuy nhiên, nhóm những người bệnh điều trị STM chưa lọc máu hầu như không được quan tâm đến chế độ dinh dưỡng, người bệnh và NVYT không nhận thức được tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng đối với nhóm người bệnh này, góp phần tăng tỷ lệ người bệnh suy thận giai đoạn cuối điều trị thay thế thận

Trang 30

KHUNG LÝ THUYẾT

Tình trạng suy dinh dưỡng ở người bệnh suy thận mạn chưa lọc thận theo phương pháp SGA

DỊCH VỤ Y TẾ

- NVYT tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh

- Hướng dẫn thực hành dinh dưỡng cho người bệnh/ người nhà người bệnh

- Các hình thức hỗ trợ cải thiện dinh dưỡng cho người STM

- Kế hoạch chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh

- Theo dõi đánh giá

Kiến thức, thái độ (thói

quen), thực hành dinh

dưỡng

Đặc điểm nhân khẩu xã

hội học: tuổi, giới,…

Tiền sử bệnh lý: thời gian

mắc bệnh, mức độ suy thận

YẾU TỐ CÁ NHÂN

GIA ĐÌNH CỘNG ĐỒNG

- Sự nhắc nhở/hỗ trợ của gia đình trong chuẩn bị bữa ăn cho người bệnh

- Sự nhắc nhở/hỗ trợ của bạn bè

Trang 31

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh mắc bệnh STM chưa lọc máu điều trị nội trú tại BVĐK Xanh Pôn

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa

- Người bệnh trên 18 tuổi được chẩn đoán là suy thận mạn đang điều trị nội trú tại BVĐK Xanh Pôn

- Người bệnh có sức khỏe tâm thần bình thường, đảm bảo khả năng giao tiếp, không bị liệt và đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Đã nhận lời tham gia nghiên cứu nhưng có tiến triển bất thường về bệnh trong quá trình nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 04/2018 đến tháng 11/2018

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

 Nghiên cứu định lượng:

Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, chưa tìm thấy tỷ lệ SDD ở người bệnh STM chưa tiến hành lọc máu ở cả 5 giai đoạn Vì vậy, trước khi xác định cỡ mẫu của nghiên cứu này, tôi dựa theo kết quả đánh giá TTDD theo phương pháp SGA của 20 người bệnh STM đang điều trị nội trú tại bệnh viện (tiến hành chọn ngẫu nhiên) và nhận thấy rằng có 2 người bệnh mắc STM gặp tình trạng SDD và 18 người bệnh chưa có dấu hiệu SDD (p=0.1)

Theo công thức tính cỡ mẫu của nghiên cứu mô tả cắt ngang:

Trong đó: n = ( 1 / 2 2

2

d

q x p

z  

Z 1-α/2 = 1,96 là giá trị của hệ số giới hạn tin cậy ứng với α = 0,05 độ tin cậy của ước lượng là 95%

Trang 32

P = 0,1

d = 0,05 là khoảng sai lệch giữa mẫu và quần thể nghiên cứu

n là cỡ mẫu cần điều tra

Thay vào công thức ta có n = 1,962 x 0,10 x (1 – 0,10) = 138

0,05 2

Ước tính cùng kì (từ tháng 4 đến tháng 11) năm 2017 người bệnh STM chưa lọc máu đến điều trị nội trú tại BVĐK Xanh Pôn là 120 – 150 người bệnh tương đương với số người bệnh tính được theo công thức trên

Vì vậy, chúng tôi tiến hành chọn tất cả các NB có đủ các tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 04/2018 đến tháng 11/2018 cho đến khi thu thập đủ cỡ mẫu là 138 người bệnh

 Nghiên cứu định tính:

Chọn mẫu có chủ đích: mời 01 bác sỹ đang điều trị cho những người bệnh STM chưa lọc máu tại khoa Nội 2, 01 bác sỹ làm việc tại khoa Dinh dưỡng, BVĐK Xanh Pôn tham gia PVS

Chọn mẫu có chủ đích: 08 người bệnh STM chưa lọc máu đang điều trị tại khoa Nội 2, BVĐK Xanh Pôn Người được chọn là người đã tham gia nghiên cứu định lượng và đồng ý PVS Chọn 04 người bệnh có nguy cơ SDD (SGA ≥ 15 điểm),

04 người bệnh không có nguy cơ SDD (SGA <15 điểm) đảm bảo có các đặc điểm

đa dạng về tuổi, giới tính, nghề nghiệp Cách lựa chọn đối tượng như vậy để so sánh thông tin giữa các đối tượng và có cái nhìn đa chiều hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập thông tin

a Công cụ thu thập số liệu định lượng:

- Bảng kiểm đánh giá TTDD theo phương pháp SGA: Phỏng vấn và khám lâm sàng (Chi tiết tại phụ lục 2 – trang 69)

- Bộ câu hỏi điều tra TTDD và một số yếu tố liên quan đến TTDD ở người bệnh STM: Thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án (HSBA) và phỏng vấn người bệnh (Chi tiết tại phụ lục 3 – trang 73)

Trang 33

b Bộ công cụ thu thập số liệu định tính:

- Hướng dẫn phỏng vấn sâu NVYT (PVS NVYT)

- Hướng dẫn phỏng vấn sâu người bệnh STM

Các câu hỏi phỏng vấn sâu NVYT và người bệnh STM được thể hiện chi tiết tại phụ lục 4 - trang 75, phụ lục 5 – trang 77

2.5.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

Nghiên cứu định lượng:

Thực hiện thu thập số liệu sau 48 giờ người bệnh nhập viện (đã hoàn thiện đầy đủ HSBA và các xét nghiệm cận lâm sàng theo quy định) Sau khi người bệnh

đủ tiêu chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia vào nghiên cứu Tổ chức thực hiện thu thập số liệu như sau:

Bước 1: Thu thập số liệu từ HSBA: ĐTV sử dụng HSBA của người bệnh để

ghi chép lại những chỉ số cần thiết có trong HSBA: chỉ số xét nghiệm Albumin, chiều cao, cân nặng, BMI (mục II, Phiếu Đánh giá tình trạng dinh dưỡng - Phụ lục 03); mức độ suy thận (câu C8, Phiếu điều tra nghiên cứu - Phụ lục 02)

Bước 2: Nghiên cứu viên mời 01 bác sỹ và 01 kỹ thuật viên khoa Dinh dưỡng xuống khoa Nội 2 hỏi bệnh sử, thăm khám lâm sàng và kết luận tình trạng dinh dưỡng của người bệnh theo phương pháp SGA, phân loại chỉ số BMI và Albumin (Thu thập đầy đủ thông tin của người bệnh theo Phụ lục 03) Sau đó, sẽ chuyển tiếp bộ phiếu điều tra sang cho ĐTV thực hiện tiếp bước 2

Bước 3: Phỏng vấn người tham gia nghiên cứu Điều tra viên sử dụng bộ câu

hỏi có cấu trúc phỏng vấn trực tiếp người bệnh về thông tin cá nhân của người bệnh,

sự hỗ trợ y tế và truyền thông, sự hỗ trợ của gia đình, kiến thức và thực hành dinh dưỡng của người bệnh (theo Phụ lục 02) Điều tra viên là: nghiên cứu viên, là NVYT hoặc sinh viên thực tập tại bệnh viện Điều tra viên được tập huấn về nghiên cứu trước khi tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu

Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu viên là người thực hiện các cuộc PVS đối

với 02 NVYT, 08 người bệnh STM chưa lọc máu đang điều trị nội trú được chọn có chủ đích Các cuộc phỏng vấn sâu đều được ghi chép và có ghi âm

Trang 34

2.6 Các biến số nghiên cứu

Nghiên cứu viên đã xây dựng được các biến số nghiên cứu chia thành các nhóm như sau:

A Nhóm biến số về tình trạng dinh dưỡng của người bệnh: SGA; BMI; Albumin

B Nhóm biến số để phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng:

 Nhóm biến số về đặc điểm chung của người bệnh: Đặc điểm nhân khẩu xã hội học: tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp…; Tình trạng và tiền sử bệnh: mức độ suy thận, thời gian mắc

 Nhóm biến số về kiến thức, thực hành dinh dưỡng ở người bệnh

 Nhóm biến số về dịch vụ y tế: NVYT tư vấn về dinh dưỡng, các hình thức truyền thông về dinh dưỡng

 Nhóm biến số về yếu tố gia đình: sự hỗ trợ của gia đình trong thực hành dinh dưỡng ở người bệnh STM

Chi tiết bảng các biến số nghiên cứu tại Phụ lục 1 (trang 66)

2.7 Các khái niệm và phương pháp đánh giá

2.7.1 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

2.7.1.1 Phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA)

Thu thập số liệu SGA được thực hiện dựa trên thay đổi cân nặng gần đây (6 tháng và 2 tuần gần đây), thay đổi khẩu phần, thay đổi vận động hiện tại, các stress liên quan đến nhu cầu dinh dưỡng, khám lâm sàng phát hiện các dấu hiệu liên quan

đến dinh dưỡng để phân loại dinh dưỡng tốt, nguy cơ dinh dưỡng vừa, nặng

* Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “A” hoặc ít nguy cơ dinh dưỡng

- Cân nặng bình thường hoặc gần đây tăng cân trở lại

- Khẩu phần bình thường hoặc cải thiện khẩu phần

- Mất lớp mỡ dưới da tối thiểu hoặc không mất

- Không giảm khối cơ hoặc giảm tối thiểu

* Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “B” hoặc tăng nguy cơ dinh dưỡng

- Sụt cân tổng thể mức độ vừa đến nặng trước khi nhập viện (5 – 10%)

- Khẩu phần có thay đổi (ăn ít hơn bình thường < 50%)

- Mất lớp mỡ dưới da, giảm nhiều hoặc mất khoảng 2cm

Trang 35

* Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “C” hoặc tăng nguy cơ dinh dưỡng

- Sụt cân rõ hoặc tiến triển (thường ít nhất 10% cân nặng bình thường)

- Khẩu phần có thay đổi nhiều (ăn ít hơn bình thường > 50%)

- Mất lớp mỡ > 2cm, giảm khối lượng cơ nặng

Chú ý: Khi do dự giữa điểm A hoặc B, chọn B

Khi do dự giữa điểm B hoặc C, chọn B

* Tiêu chí đánh giá SGA

SGA A: 1-14 điểm: Không có nguy cơ SDD

SGA B: 15-35 điểm: Nguy cơ dinh dưỡng từ mức độ nhẹ đến vừa

SGA C: 36-49 điểm: Nguy cơ dinh dưỡng mức độ nặng

2.7.1.2 Nhân trắc học

Đánh giá TTDD người bệnh: Dựa vào chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass

Index) và phân loại của tổ chức Y tế khuyên dùng (WHO 1998)

𝐵𝑀𝐼 = cân nặng(kg)

chiều cao(m)2Kết quả xếp loại TTDD người bệnh theo phân loại BMI của WHO năm 2000

với các ngưỡng như sau:

Bảng 2.1 Phân loại BMI theo WHO

Trang 36

2.7.1.3 Chỉ số xét nghiệm Albumin

Ghi chép từ hồ sơ bệnh án

Bảng 2.2 Phân loại chỉ số xét nghiệm Albumin

Trên cơ sở tìm hiểu, xem xét các nghiên cứu đã làm trên thế giới và trong nước về đánh giá TTDD đã được đề cập ở trên cũng như qua nghiên cứu nhiều tài liệu về SDD nói chung, nhóm nghiên cứu xác định phương pháp SGA là phương pháp được lựa chọn để kết luận tình trạng SDD trên người bệnh STM tại BVĐK Xanh Pôn Do đó, NB có SGA ≤ 14 điểm được xác định là không có nguy cơ SDD, người bệnh có điểm SGA từ 15 điểm trở lên được coi là SDD

2.7.2 Kiến thức và thực hành về dinh dưỡng của người bệnh

Kiến thức về dinh dưỡng của người bệnh được thể hiện qua câu hỏi C19 và C20 Mỗi ý trả lời đúng được 1 điểm Tổng tối đa là 5 điểm người bệnh được xem

là có kiến thức về dinh dưỡng đạt khi có tổng điểm ≥ 4 điểm

Thực hành về dinh dưỡng của người bệnh được thể hiện qua câu hỏi C21, C22, C23, C24, C25 Mỗi câu trả lời đạt được 1 điểm Tổng điểm tối đa là 5 điểm

người bệnh được xem là thực hành đúng về dinh dưỡng đạt khi có tổng ≥ 4 điểm

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

2.8.1 Quản lý số liệu

- Tổng hợp số liệu: Trước tiên chúng tôi kiểm tra sự đầy đủ và tính chính xác của số liệu thu thập được, xác định người chịu trách nhiệm xử lý và nơi lưu trữ số liệu Sau khi thu thập, số liệu định lượng được làm sạch, mã hoá và nhập vào máy tính bằng phần mềm EpiData

- Lưu giữ thông tin: Thông tin thu thập được lưu trữ ở 2 dạng: Dạng file dữ liệu trong máy tính và dạng văn bản trong bộ câu hỏi điều tra để đối chiếu khi cần

Trang 37

2.8.2 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được xử lý và phân tích trên máy tính bằng phần mềm SPSS 20.0 Áp dụng các phương pháp thống kê mô tả: tính tần số và tỷ lệ phần trăm thể thể hiện phân bố của một số biến số Sử dụng các kiểm định thống kê: Kiểm định khi bình phương, tỷ suất chênh OR và khoảng tin cậy với p=0,05 để thể hiện mức độ liên quan một số yếu tố với tình trạng sinh dinh dưỡng của NB nghiên cứu

2.9 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu tuân thủ quy trình đạo đức của Hội đồng đạo đức trường Đại học

Y tế Công cộng Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trường Đại học

Y tế Công cộng thông qua theo Quyết định số 198/2018/YTCC-HD3 ngày 10/4/2018 trước khi tiến hành triển khai tại cơ sở và có được sự đồng ý của khoa Nội tổng hợp 2, BVĐK Xanh Pôn

Người bệnh có quyền chấp thuận hoặc từ chối tham gia nghiên cứu NB có quyền ngừng tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào Tất cả các thông tin cá nhân của người bệnh được bảo mật trong nghiên cứu Trong nghiên cứu không có các vấn đề

tế nhị, không ảnh hưởng đến tâm lý, tình trạng sức khỏe của người tham gia nghiên cứu Trước khi thu thập thông tin, người tham gia nghiên cứu phải được giải thích

rõ mục tiêu, ý nghĩa của nghiên cứu Việc tham gia của người bệnh là hoàn toàn tự nguyện, được xác nhận bằng việc ký vào phiếu đồng ý tham gia trước khi tiến hành phỏng vấn

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả của nghiên cứu này sử dụng thông tin của 138 người bệnh STM chưa lọc máu từ tháng 04/2018 đến tháng 11/2018 đang được điều trị nội trú tại BVĐK Xanh Pôn

3.1 Một số đặc điểm chung của người tham gia nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo một số đặc điểm nhân khẩu

Tuổi (59,83±16,42; min: 18, max: 87)

< 40 14

(15,2%)

7 (15,2%)

21 (15,2%)

40 – 59 35

(38,0%)

15 (32,6%)

50 (36,2%)

≥ 60 43

(46,7%)

24 (52,2%)

67 (48,6%)

Trình độ học vấn

Tiểu học, Trung học cơ sở 9

(9,8%)

10 (21,7%)

19 (13,8%)

Trung học phổ thông, trung cấp 71

(77,2%)

23 (50,0%)

94 (68,1%)

Cao đẳng, đại học, sau đại học 12

(13,0%)

13 (28,3%)

25 (18,1%)

Nghề nghiệp

Công nhân, lao động tự do 33

(78,6%)

9 (21,4%)

42 (30,4%)

Nông dân 13

(14,1%)

4 (8,7%)

17 (12,3%)

Cán bộ, công chức 0

(0%)

5 (10,9%)

5 (3,6%)

Nghỉ hưu 28

(30,4%)

23 (50,0%)

51 (37,0%)

Thất nghiệp 18

(19,6%)

5 (10,9%)

23 (16,7%)

Trang 39

Tình trạng hôn nhân

Chưa lập gia đình 5

(5,4%)

5 (10,9%)

10 (7,2%)

Có gia đình 87

(94,6%)

36 (78,3%)

123 (89,1%)

Ly dị 0

(0%)

5 (10,9%)

5 (3,7%)

Trong 138 người bệnh tham gia vào nghiên cứu, tỷ lệ nam giới (66,7%) cao gấp đôi nữ giới (33,3%) Có gần một phần hai là người cao tuổi ≥ 60 tuổi (48,6%),

ít hơn là nhóm người bệnh từ 40-59 tuổi (36,2%) và ít nhất là nhóm người bệnh nhỏ hơn 40 tuổi (15,2%) Độ tuổi trung bình của người bệnh là khoảng 59 tuổi, người trẻ tuổi nhất là 18 tuổi và người lớn tuổi nhất là 87 tuổi

Đa phần người bệnh có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên (86,2%), trong đó trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên chiếm 18,1% Nghề nghiệp chủ yếu là đã nghỉ hưu (37,0%), ít hơn là nhóm công nhân, lao động tự do (30,4%), tiếp đến là nhóm người bệnh đang thất nghiệp (16,7%), nông dân (12,3%) và ít nhất

là công chức, viên chức (3,6%) Hầu hết người bệnh có gia đình (89,1%), chỉ có số

ít chưa lập gia đình (7,2%) và đã ly dị (3,7%)

Biểu đồ 3.1 Phân bố NB theo mức độ suy thận

Trang 40

Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ người bệnh tham gia nghiên cứu đang ở giai đoạn suy thận độ IV chiếm nhiều nhất (42,8%), có khoảng một phần ba người bệnh

ở giai đoạn suy thận độ II (31,2%), gần một phần năm người bệnh ở giai đoạn suy thận độ IIIa (19,6%) và chỉ có một phần it người bệnh ở giai đoạn Suy thận độ I (3,6%) và Suy thận độ IIIb (2,9%)

Bảng 3.2.Phân bố mức độ suy thận ở người bệnh theo thời gian mắc bệnh Mức độ suy thận Dưới 1 năm Từ 1-2 năm Trên 2 năm Cộng

(50%)

0 (0,0%)

0 (0,0%)

5 (3,6%)

(50%)

31 (63,3%)

7 (8,9%)

43 (31,2%)

(0,0%)

13 (26,5%)

14 (17,7%)

27 (19,6%)

(0,0%)

0 (0,0%)

4 (5,1%)

4 (2,8%)

(0,0%)

5 (10,2)

54 (68,4%)

59 (42,8%)

(7,2%)

49 (35,5%)

79 (57,2%)

138 (100,0%)

Hơn một phần hai người bệnh có thời gian mắc bệnh trên 2 năm (57,2%) Trong đó, đa phần là người bệnh ở giai đoạn suy thận độ IV (68,4%), tiếp đến là ở giai đoạn suy thận độ III (22,8%), và ít nhất là người bệnh ở giai đoạn suy thận độ II (8,9%), không có người bệnh suy thận độ I

Có khoảng hơn một phần ba người có thời gian mắc bệnh từ 1-2 năm (35,5%) Trong đó, phần lớn là người bệnh ở giai đoạn suy thận độ II (63,3%), một phần nhỏ là người bệnh suy thận độ IIIa (26,5%) và suy thận độ IV (10,2%) Không

có người bệnh ở suy thận độ I, suy thận độ IIIb

Chỉ có số ít người bệnh có thời gian mắc bệnh dưới 1 năm (7,2%) Trong đó,

có một nửa số người bệnh đang ở giai đoạn suy thận độ I, một nửa số người bệnh đang ở giai đoạn suy thận độ II và không có người bệnh suy thận độ III, độ IV

Ngày đăng: 29/01/2021, 23:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ môn nội, Trường Đại Học Y Hà Nội (2006), Điều trị học nội khoa, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị học nội khoa
Tác giả: Bộ môn nội, Trường Đại Học Y Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2006
3. Bộ quốc phòng - Học viện Quân y (2008), Dinh dưỡng lâm sàng, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng lâm sàng
Tác giả: Bộ quốc phòng - Học viện Quân y
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân
Năm: 2008
5. Bộ Y tế (2014), Quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23/1/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh, Định lượng Albumin máu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23/1/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
7. Đinh Thị Kim Dung (2004), Suy thận mạn tính, Bệnh thận nội khoa, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy thận mạn tính, Bệnh thận nội khoa
Tác giả: Đinh Thị Kim Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
8. Doãn Thị Tường Vi (2001), Tìm hiểu yếu tố nguy cơ và bước đầu đánh giá hiệu quả tư vấn chế độ ăn kết hợp tập luyện trên người béo phì do Bệnh viện 19/8 quản lý, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu yếu tố nguy cơ và bước đầu đánh giá hiệu quả tư vấn chế độ ăn kết hợp tập luyện trên người béo phì do Bệnh viện 19/8 quản lý
Tác giả: Doãn Thị Tường Vi
Năm: 2001
10. Đào Thị Nguyên Hương (2016), Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Đại học Y tế Công Cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016
Tác giả: Đào Thị Nguyên Hương
Năm: 2016
11. Nguyễn Đỗ Huy (2009), Các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng của bệnh nhân theo tình trạng dinh dưỡng tại Bệnh viện tỉnh Hải Dương, Tạp chí Y tế Công cộng. 28(28), tr. 40-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y tế Công cộng
Tác giả: Nguyễn Đỗ Huy
Năm: 2009
12. Nguyễn Đỗ Huy và Nguyễn Nhật Minh (2012), Thực trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2012, Y học thực hành.6 (874), tr. 3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Đỗ Huy và Nguyễn Nhật Minh
Năm: 2012
14. Lý Hoàng Phượng và cộng sự (2011), Khảo sát sự hiểu biết của bệnh nhân, thân nhân bệnh thận mạn về chế độ ăn bệnh lý, Tạp chí Y học Thành phố HồChí Minh. 15(4), tr. 233-239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Thành phố Hồ "Chí Minh
Tác giả: Lý Hoàng Phượng và cộng sự
Năm: 2011
15. Vũ Thị Tuyết Mai (2011), Thực trạng công tác quản lý điều trị bệnh đái tháo đường typ 2 tại trung tâm y tế huyện Gia Lâm năm 2011, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Đại học Y tế Công Cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác quản lý điều trị bệnh đái tháo đường typ 2 tại trung tâm y tế huyện Gia Lâm năm 2011
Tác giả: Vũ Thị Tuyết Mai
Năm: 2011
16. Nguyễn Thị Vân Anh (2010), Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân suy thận mạn tính có lọc máu chu kỳ và các yếu tố liên quan tại khoa thận nhân tạo bệnh viện Bạch Mai, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Y Tế Công Cộng, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân suy thận mạn tính có lọc máu chu kỳ và các yếu tố liên quan tại khoa thận nhân tạo bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2010
17. Nguyễn Văn Xang và cộng sự (2000), Suy thận mãn – chế độ dinh dưỡng để điều trị suy thận mạn, Hướng dẫn thực hành điều trị, Tập 1, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy thận mãn – chế độ dinh dưỡng để điều trị suy thận mạn
Tác giả: Nguyễn Văn Xang và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
18. Trần Văn Nhường (2012), Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân suy thận mạn tính có lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Hữu NghịViệt Đức năm 2012, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân suy thận mạn tính có lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Hữu Nghị "Việt Đức năm 2012
Tác giả: Trần Văn Nhường
Năm: 2012
19. Dương Thị Phượng và các cộng sự. (2016), Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016, Tạp chí nghiên cứu Y học. 106(1), tr. 163-169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Y học
Tác giả: Dương Thị Phượng và các cộng sự
Năm: 2016
20. Trịnh Hồng Sơn và các cộng sự. (2013), Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trước mổ ung thư dạ dày, Y học thực hành. 884(10), tr. 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Trịnh Hồng Sơn và các cộng sự
Năm: 2013
21. Trần Khánh Thu (2015), Thực trạng chăm sóc dinh dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình và kết quả can thiệp dinh dưỡng cho người bệnh thận nhân tạo chu kỳ, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc dinh dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình và kết quả can thiệp dinh dưỡng cho người bệnh thận nhân tạo chu kỳ
Tác giả: Trần Khánh Thu
Năm: 2015
22. Trần Văn Vũ (2011), Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối chưa lọc thận, Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 15(4), tr.53-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Văn Vũ
Năm: 2011
23. Trần Văn Vũ (2015), Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn, Luận án tiến sĩ y học Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn
Tác giả: Trần Văn Vũ
Năm: 2015
24. Phạm Duy Tường và Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2013), Thực trạng quản lý bữa ăn và tư vấn dinh dưỡng cho các cụ cao tuổi tại Viện Lão khoa trung ương, tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm, Tạp chí nghiên cứu Y học. 9(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Y học
Tác giả: Phạm Duy Tường và Nguyễn Thị Cẩm Nhung
Năm: 2013
26. Nguyễn Hà Thanh Uyên (2017), Tỷ lệ suy dinh dưỡng trước mổ ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Bình Dân thành phố Hồ Chí Minh năm 2017, Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trước mổ ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Bình Dân thành phố Hồ Chí Minh năm 2017
Tác giả: Nguyễn Hà Thanh Uyên
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w