1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện hoa lư, tỉnh ninh bình năm 2019 và một số yếu tố liên quan

113 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Thủy 2013 về “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Trì - Hà Nội”

Trang 1

NGUYỄN THẾ HÙNG

TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

Hà Nội-2019

Trang 2

NGUYỄN THẾ HÙNG

TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS TS HOÀNG VĂN MINH

Hà Nội-2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Bệnh đái tháo đường 5

1.1.1 Khái niệm về bệnh đái tháo đường: 5

1.1.2 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường: 5

1.1.3 Phân loại bệnh đái tháo đường 6

1.1.4 Thực trạng bệnh đái tháo đường trên Thế giới và tại Việt Nam 6

1.1.5 Điều trị bệnh đái tháo đường type 2 7

1.1.6 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị 9

1.2 Thực trạng về tuân thủ điều trị đái tháo đường trên Thế giới và tại Việt Nam 9 1.2.1 Thực trạng tuân thủ điều trị đái tháo đường trên Thế giới 9

1.2.2 Thực trạng tuân thủ điều trị đái tháo đường tại Việt Nam 10

1.3 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị đái tháo đường 13

1.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 20

Khung lý thuyết nghiên cứu 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24

2.4 Biến số nghiên cứu và chủ đề nghiên cứu 25

2.4.1 Biến phụ thuộc (Tuân thủ điều trị) 83

2.4.2 Biến độc lập (Một số yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT) 87

2.5 Công cụ, phương pháp thu thập số liệu 29

Trang 4

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 29

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 30

2.6 Điều tra viên và giám sát viên 30

2.6.1 Điều tra viên 30

2.6.2 Giám sát viên 30

2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá Error! Bookmark not defined Bảng 2.1 Nội dung đánh giá tuân thủ thuốc điều trị gồm 8 mục Error! Bookmark not defined 2.8 Phân tích số liệu 30

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31

Chương 3 KẾT QUẢ 32

3.1 Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị ở người bệnh ĐTĐ type 2 tại phòng khám Nội tiết – Trung tâm y tế huyện Hoa Lư 2019 32

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC 32

3.1.2 Tiền sử bệnh của ĐTNC Error! Bookmark not defined 3.1.3 Thực trạng tuân thủ ĐTĐ type 2 36

3.1.4 Dịch vụ y tế và sự hỗ trợ từ gia đình Error! Bookmark not defined 3.2 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Phòng khám nội tiết – Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư 45

Chương 4

BÀN LUẬN 53

4.1 Thông tin chung Error! Bookmark not defined 4.2 Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 của ĐTNC 53

4.3.Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 của ĐTNC 58

4.4 Một số hạn chế của nghiên cứu 58

KẾT LUẬN 62

5.1 Tỷ lệ tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 của ĐTNC 63 5.2 Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 của ĐTNC

Error! Bookmark not defined

Trang 5

KHUYẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

PHỤ LỤC 69

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADA (American Diabetes Assosiation) Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ

IDF (International Diabetes Federation) Liên đoàn đái tháo đường thế giới

FDA (Food an Drug Administration) Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành,

không có thai Error! Bookmark not defined Bảng 2: Mục tiêu điều trị đái tháo đường ở người giàError! Bookmark not defined

Hình 1: Sơ đồ lựa chọn thuốc và phương pháp điều trị đái tháo đường típ 2 Error! Bookmark not defined

Hình 2: Sơ đồ điều trị với insulin Error! Bookmark not defined Bảng 2.1 Nội dung đánh giá tuân thủ thuốc điều trị gồm 8 mụcError! Bookmark not defined

Bảng 3.1.Thông tin nhân khẩu học của ĐTNC (n=240) 32

Bảng 3.2 Tiền sử bệnh của đối tượng nghiên cứu (n=240)Error! Bookmark not defined Bảng 3.3 Tỷ lệ tuân thủ đối với từng chế độ của ĐTNCError! Bookmark not defined Bảng 3.4 Thực trạng về tuân thủ chế độ ăn của ĐTNC (n=240) 36

Bảng 3.5 Thực trạng tuân thủ tập luyện của ĐTNC 37

Bảng 3.6 Tuân thủ điều trị thuốc của ĐTNC 39

Bảng 3.7 Tuân thủ không uống rượu bia, hút thuốc lá của ĐTNC 40

Bảng 3.8 Tuân thủ tái khám đúng hẹn của ĐTNC 42

Bảng 3.9 Tuân thủ tự theo dõi Glucose máu của ĐTNC 42

Bảng 3.10 Lý do không tuân thủ tự theo dõi Glucose máu của ĐTNC 42

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ tuân thủ phối hợp chế độ của ĐTNCError! Bookmark not defined Bảng 3.11 Thông tin về dịch vụ y tế Error! Bookmark not defined Bảng 3.12 Nội dung do NVYT hướng dẫn ĐTNC Error! Bookmark not defined Bảng 3.13 Hỗ trợ của gia đình và xã hội Error! Bookmark not defined Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ ăn với yếu tố nhân khẩu học 45

Trang 8

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tuân thủ luyện tập với yếu tố nhân khẩu học 46 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với yếu tố nhân khẩu học 47 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tuân thủ không hút thuốc, uống rượu bia với yếu tố nhân khẩu học 48 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tuân thủ tái khám đúng hẹn với yếu tố nhân khẩu học 48 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tuân thủ theo dõi Glucose máu với yếu tố nhân khẩu học 50 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với sự hài lòng chung 51 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với chỉ số Glucose máu lúc đói được

kiểm soát Error! Bookmark not defined

Trang 9

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019 và một số yếu tố liên quan được tiến hành từ tháng 12/2018 đến tháng 7/2019 với 2 mục tiêu

cụ thể: (1) Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú và (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019 Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện trên 240 người, và thông tin thu được bằng phỏng vấn theo bộ câu hỏi cấu trúc được xây dựng dựa trên các quy định, hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường của Bộ Y tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị chung của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đạt 28,3% Trong đó ĐTNC tuân thủ khám định kỳ đạt 92,1%; tuân thủ theo dõi glucose máu đạt 52,2%; tuân thủ thay đổi lối sống đạt 70,8%; tuân thủ dùng thuốc đạt 45,8%; tuân thủ hoạt động thể lực đạt 53,8% Nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị đái tháo đường type2 như: Giới, nghề nghiệp, thu nhập cá nhân của ĐTNC với tuân thủ chế độ ăn, chế độ luyện tập, chế độ dùng thuốc và không hút thuốc, uống rượu bia ĐTNC là nam giới tuân thủ chế độ ăn cao hơn 1,68 lần so với ĐTNC là nữ giới; ĐTNC hiện đang đi làm có tuân thủ chế độ ăn, tuân thủ chế độ dùng thuốc, tuân thủ theo dõi Glucose máu cao hơn 5,7;2,56 và 8,69 lần so với ĐTNC không đi làm; ĐTNC có thu nhập

≥5 triệu/ tháng thì có tuân thủ chế độ ăn, tuân thủ chế độ luyện tập, tuân thủ chế độ

dùng thuốc, có tuân thủ không hút thuốc, uống rượu bia cao hơn 3,2; 21,09 và 20,06 lần so với ĐTNC có thu nhập <5 triệu/tháng Có mối liên quan giữa nhóm tuổi và tuân thủ điều trị chung, ĐTNC trong nhóm tuổi ≥60 tuân thủ điều trị chung cao hơn gấp 2,29 lần so với ĐTNC trong nhóm tuổi <60 Nghiên cứu khuyến nghị cần trú

Trang 10

trọng tăng cường truyền thông dưới nhiều hình thức nhằm tăng tỷ lệ tuân thủ điều trị ở nhóm ĐTNC trong độ tuổi <60 tuổi, ĐTNC không đi làm và cá nhân có thu nhập thấp <5 triệu/tháng

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh[2] Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2015 toàn thế giới có 415 triệu (trong độ tuổi 20-79) bị đái tháo đường, tương đương cứ 11 người có 1 người bị đái tháo đường (ĐTĐ), dự kiến đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu[20] Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), gần 80% các ca tử vong do bệnh đái tháo đường xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình[26] Tỷ lệ biến chứng và tử vong cao ở bệnh nhân đái tháo đường có một nguyên nhân quan trọng là việc không tuân thủ điều trị Theo WHO và Luật về người tàn tập của Mỹ(ADA): Tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường là sự kết hợp của 6 biện pháp: chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, thay đổi thói quen không hút thuốc và hạn chế rượu bia, chế độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ[25], [15] Cũng theo WHO, Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế cũng như các kết quả nghiên cứu cho thấy không tuân thủ điều trị có thể gây ra các hậu quả như: không kiểm soát được đường huyết, không ngăn ngừa được các biến chứng cấp tính (hạ Glucose máu, nhiễm toan, hôn mê, các bệnh nhiễm trùng cấp tính…), không ngăn được các biến chứng mãn tính (biến chứng mắt, thận, bàn chân, thần kinh, chức năng sinh lý…)[2],[27]

Việt Nam không phải nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhất Thế giới nhưng lại là nước có tốc độ phát triển nhanh nhất Thế giới về căn bệnh này[1] Tại Việt Nam số người mắc đái tháo đường chiếm khoảng 5,6% dân số (với hơn 5 triệu người mắc) xếp hàng đầu thế giới Tỷ lệ này tăng gấp đôi so với đầu những năm

2000 Bên cạnh đó, tỷ lệ người bị bệnh nhưng chưa được chẩn đoán còn rất cao, chiếm 70%[21] Trong số đó, có đến hơn 50% bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường tại nước ta không nhận thức được tình trạng bệnh của mình Trong số 50% số người

Trang 12

được chẩn đoán và điều trị thì có đến 50% số người có biến chứng về đái tháo đường đó là biến chứng về tim mạch, tổn thương mắt, bàn chân…

Một trong những nguyên nhân của tỷ lệ tử vong cao là do người bệnh không tuân thủ chế độ điều trị gây ra một loạt các biến chứng trầm trọng ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và mạch vành, mù lòa… do đái tháo đường gây ra thì người bệnh cần tuân thủ tốt chế độ điều trị (dinh dưỡng, hoạt động thể lực, dùng thuốc, kiểm soát đường huyết, khám sức khỏe định kỳ) theo hướng dẫn của thầy thuốc Tuân thủ điều trị giúp người bệnh kiểm soát tốt đường máu, có thể phòng được các biến chứng giúp người bệnh vẫn làm việc bình thường, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật với bản thân người bệnh, gia đình và xã hội và giảm các hệ quả kèm theo về tổn thất kinh tế, stress, giảm chất lượng cuộc sống, tàn tật và tử vong Truyền thông, tư vấn, cung cấp những kiến thức về tuân thủ điều trị cho người bệnh sẽ có hiệu quả thiết thực trong việc hạn chế biến chứng nặng nề mà ĐTĐ gây ra, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh[19]

Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư là đơn vị trực thuộc Sở Y tế tỉnh Ninh Bình mới được sát nhập từ Bệnh viện đa khoa huyện Hoa Lư và Trung tâm y tế huyện Hoa Lư

từ ngày 15/8/2017 với quy mô 60 giường bệnh và 10 giường bệnh tại phòng khám

Đa khoa Cầu Yên[13] Buồng khám nội tiết trực thuộc khoa Khám bệnh của đơn vị hiện đang quản lý điều trị cho 260 bệnh nhân đái tháo đường, trong đó có 240 người bệnh ĐTĐ type 2 Đây là số lượng đái tháo đường tương đối lớn và có xu hướng ngày càng tăng.Trong khi đó, nhân lực y tế chuyên khoa nội tiết tại Trung tâm còn thiếu, việc giám sát hỗ trợ tuân thủ điều trị cho người bệnh đái tháo đường là một vấn đề khó khăn Qua khảo sát thực tế tại khoa Nội tiết của Trung tâm, đã có nhiều bệnh nhân đái tháo đường vào điều trị các bệnh khác nhau nhưng đã không kiểm soát được đường huyết thường xuyên hoặc kiểm soát không đúng, bệnh nhân không hiểu về bệnh đái tháo đường hoặc hiểu không đúng về bệnh, tuân thủ điều trị còn rất hạn chế ảnh hưởng rất xấu đến kết quả điều trị bệnh Một số bệnh nhân từ điều trị ngoại trú đã phải nhập viện hoặc phải chuyển lên tuyến trên điều trị do biến chứng nặng hơn mà nguyên nhân cũng do không tuân thủ điều trị

Trang 13

Câu hỏi thực tế đặt ra cho cán bộ làm công tác quản lý, điều trị bệnh đái tháo đường của Trung tâm là: thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ type 2 đang được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Hoa Lư như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị bệnh nhân? Để giúp cung cấp các bằng chứng khoa học cho Trung tâm Y tế Hoa Lư trong công tác theo dõi, quản lý và tư vấn bệnh nhân đái tháo đường trong quá trình điều trị chúng tôi tiến hành nghiên cứu:

“Tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019 và một số yếu tố liên quan”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019

Trang 15

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh Đái tháo đường

1.1.1 Khái niệm về bệnh đái tháo đường:

Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh[2]

1.1.2 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường:

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ - ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây:

a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc:

b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần

có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày

c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế

d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán

Trang 16

a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày

Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ

1.1.3 Phân loại bệnh đái tháo đường

a) Đái tháo đường tip 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối)

b) Đái tháo đường típ 2 (do giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin)

c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ tip 1, típ 2 trước đó)

d) Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô

Chi tiết phân loại ĐTĐ trong Phụ lục 01 được ban hành kèm theo Quyết định

số 3789/QĐ-BYT ngày 21/8/2017 của Bộ Y tế

1.1.4 Thực trạng bệnh đái tháo đường trên Thế giới và tại Việt Nam

Trên thế giới, ĐTĐ đang trở thành một bệnh chuyển hóa có tốc độ phát triển rất nhanh hiện đã trở thành một vấn đề y tế và xã hội nghiêm trọng.Là một trong ba bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất (ung thư, tim mạch, đái tháo đường); đứng thứ

7 về nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do các bệnh [21]

Năm 2016, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở một số nước thuộc Châu Âu: Tây Ban Nha là 1%, Pháp 1,4%, Anh 1,2% Tại Châu Mỹ: Argentina 8,2%, Mỹ 6,6% Tại Châu Phi: Tusinia 3,84% ở thành phố và 1,3% ở nông thôn, Mali 0,9% [27] Theo thống kế của IDF năm 2017, tỷ lệ mắc ĐTĐ của một số nước châu Á như sau: Nhật Bản 7,7%, Hàn Quốc 8,8%, Malaysia 18,9%, Singapore 13,7%, Thái Lan 8,3%, Philipines 6,2% [21]

Trang 17

Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới số lượng người bệnh đái tháo đường đã tăng từ 108 triệu vào năm 1980 lên 422 triệu vào năm 2014.Đái tháo đường tăng nhanh ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Số hiện mắc ĐTĐ trong người trưởng thành trên 18 tuổi tăng từ 4,7% năm 1980 lên 8,5% năm 2014[20].Bệnh tiểu đường là nguyên nhân chính gây mù, suy thận, đau tim, đột quỵ

và cắt cụt chi dưới.Năm 2016, có khoảng 1,6 triệu người tử vong trực tiếp do bệnh ĐTĐ, 2,2 triệu tử vong khác liên quan đến đường huyết cao trong năm 2012[18]

Theo tổ chức Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2017 toàn thế giới có khoảng 424,9 triệu người mắc ĐTĐ, con số này có khả năng tăng lên 628,6 triệu người vào năm 2045[21]

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ ĐTĐ cao và tốc độ gia tăng nhanh chóng đứng hàng đầu Thế giới Theo điều tra quốc gia về Y tế năm 2001-

2002, tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 2,7% (khu vực thành phố 4,4%, miền núi và trung du 2,1%, đồng bằng 2,7%) Cũng theo điều tra này cho thấy 64,9% số người mắc ĐTĐ không được phát hiện [3].Năm 2017, Việt Nam có tỷ lệ mắc ĐTĐ là 5,5% dân số trưởng thành (20-79)[21]

1.1.5 Điều trị bệnh đái tháo đường type 2

* Điều trị cụ thể theo Quyết định số 3319/QĐ-BYT ngày 19/7/2017 của Bộ

Y tế [2]:

- Thay đổi lối sống

Thay đổi lối sống hay điều trị không dùng thuốc bao gồm luyện tập thể lực, dinh dưỡngvà thay đổi lối sống

- Luyện tập thể lực

+ Cần kiểm tra biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh, biến dạng chân trước khi luyện tập và đo huyết áp, tần số tim Không luyện tập gắng sức khi glucose huyết > 250-270 mg/dL và ceton dương tính

+ Loại hình luyện tập thông dụng và dễ áp dụng nhất: đi bộ tổng cộng 150 phút mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày), không nên ngưng luyện lập 2 ngày liên tiếp Mỗi tuần nên tập kháng lực 2-3 lần (kéo dây, nâng tạ)

Trang 18

+ Người già, đau khớp có thể chia tập nhiều lần trong ngày, thí dụ đi bộ sau

3 bữa ăn, mỗi lần 10-15 phút Người còn trẻ nên tập khoảng khoảng 60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần

- Dinh dưỡng

Dinh dưỡng cần được áp dụng mềm dẻo theo thói quen ăn uống của bệnh nhân, các thức ăn sẵn có tại từng vùng miền Tốt nhất nên có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng

Chi tiết về dinh dưỡng sẽ được thiết lập cho từng bệnh nhân tùy tình trạng bệnh, loại hình hoạt động, các bệnh lý, biến chứng đi kèm

Các nguyên tắc chung về dinh dưỡng nên được khuyến cáo cho mọi bệnh nhân:

+ Bệnh nhân béo phì, thừa cân cần giảm cân, ít nhất 3-7% so với cân nặng nền

+ Nên dùng các loại carbohydrat hấp thu chậm có nhiều chất xơ, không chà xát kỹ như gạo lứt, bánh mì đen, nui còn chứa nhiều chất xơ

+ Đạm khoảng 1-1,5 gam/kg cân nặng/ngày ở người không suy chức năng thận Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần Người ăn chay trường có thể bổ sung nguồn đạm

từ các loại đậu (đậu phụ, đậu đen, đậu đỏ)

+ Nên chú trọng dùng các loại mỡ có chứa acid béo không no một nối đôi hoặc nhiều nối đôi như dầu ô liu, dầu mè, dầu lạc, mỡ cá Cần tránh các loại mỡ trung chuyển (mỡ trans), phát sinh khi ăn thức ăn rán, chiên ngập dầu mỡ

+ Giảm muối trong bữa ăn, còn khoảng 2300 mg Natri mỗi ngày

+ Chất xơ ít nhất 15 gam mỗi ngày

+ Các yếu tố vi lượng: nên chú ý bổ sung các yếu tố vi lượng nếu thiếu, thí

dụ sắt ở bệnh nhân ăn chay trường Dùng Metformin lâu ngày có thể gây thiếu sinh

tố B12, nên chú ý đến tình trạng này nếu bệnh nhân có thiếu máu hoặc triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại vi

+ Uống rượu điều độ: một lon bia (330 ml)/ngày, rượu vang đỏ khoảng 200ml/ngày

150-+ Ngưng hút thuốc

Trang 19

+ Các chất tạo vị ngọt: như đường bắp, aspartame, saccharin có nhiều bằng chứng trái ngược Do đó nếu sử dụng cũng cần hạn chế đến mức tối thiểu

- Điều trị đái tháo đường bằng thuốc

+ Các nhóm thuốc hạ glucose huyết đường uống và thuốc dạng tiêm không thuộc nhóm insulin theo Phụ lục 03 được ban hành kèm theo Quyết định này

+ Insulin: Insulin được sử dụng ở bệnh nhân ĐTĐ tip 1 và cả ĐTĐ típ 2 khi

có triệu chứng thiếu insulin hoặc không kiểm soát được glucose huyết dù đã ăn uống luyện tập và phối hợp nhiều loại thuốc viên theo đúng chỉ dẫn Ngoài ra ĐTĐ típ 2 khi mới chẩn đoán nếu glucose huyết tăng rất cao cũng có thể dùng insulin để

ổn định glucose huyết, sau đó sẽ dùng các loại thuốc điều trị tăng glucose huyết khác

- Điều trị các bệnh phối hợp và các biến chứng nếu có: theo hướng dẫn

chuyên môn của các bệnh và biến chứng đó

1.1.6 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị

Khái niệm tuân thủ điều trị: Theo WHO “Tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường là sự kết hợp của 6 biện pháp: chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, thay đổi lối sống không hút thuốc và hạn chế rượu bia, theo

dõiđường huyết và khám sức khỏe định kỳ”[22]

Các yếu tố ảnh hưởng tuân thủ điều trị (định nghĩa, cách đo lường) xem tại phần 2.5 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

1.2 Thực trạng về tuân thủ điều trị đái tháo đường trên Thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Kết quả nghiên cứu về tuân thủ điều trị đái tháo đường trên thế giới

Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ.Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị ở các nghiên cứu là không tương đồng

Một số nghiên cứu khác đã tiến hành nghiên cứu việc tuân thủ điều trị liên quan tới tuân thủ dùng thuốc và chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, kiểm soát đường huyết.Nghiên cứu của Alan M và cộng sự (2006) chỉ ra rằng việc tuân thủ dùng thuốc điều trị thường tốt hơn việc tuân thủ về lối sống Nghiên cứu cho thấy

Trang 20

65% người bệnh tuân thủ dinh dưỡng, 19% tuân thủ hoạt động thể lực, 53% tuân thủ dùng thuốc và 67% tuân thủ kiểm tra đường huyết [23]

Nghiên cứu của Joan N kalyago và cộng sự (2008) về tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện Uganda cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thuốc khá cao 71,1% [22] Một số nghiên cứu khác nghiên cứu về tuân thủ hoạt động thể lực cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ hoạt động thể lực khá thấp Nghiên cứu của Juma Al-kaabi và cộng sự (2009) về hoạt động thể lực và những rào cản trong thực hiện hoạt động thể lực ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại Ả rập, kết quả cho thấy có đến 95% bệnh nhân nhận thức được tầm quan trọng của việc hoạt động thể lực, nhưng chỉ có 25% có tham gia hoạt động thể lực Trong đó có đến 97% bệnh nhân không tuân thủ hoạt động thể lực theo đúng khuyến cáo [16] Theo Johnson spruill (2009) khi thực hiện đánh giá tình trạng sức khỏe của các bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại phía Nam Carolina đã kết luận: sự tuân thủ về luyện tập của người bệnh chỉ đạt 55,6% và chỉ số đạt về kiểm soát Glucose máu khá thấp (27,7%)[23]

Nghiên cứu của Senay Uzun (2009) tại Trường đại học điều dưỡng Thổ Nhĩ

Kỳ về “Nghiên cứu tuân thủ điều trị đái tháo đường và các khuyến cáo thay đổi lối

sống” chia tuân thủ điều trị thành 5 yếu tố: tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ dinh

dưỡng, tuân thủ hoạt động thể lực, tuân thủ đo đường huyết và khám sức khỏe định

kỳ, tuân thủ không hút thuốc lá Kết quả cho thấy: tuân thủ dùng thuốc đạt 72%, tuân thủ dinh dưỡng đạt 65%, tuân thủ hoạt động thể lực đạt 31%, tuân thủ đo đường huyết và khám sức khỏe định kỳ đạt 63% Có 11% bệnh nhân tuân thủ 1 chế

độ, 23% tuân thủ 2 chế độ, 29% tuân thủ 3 chế độ, 24% tuân thủ 4 chế độ, 13% tuân thủ 5 chế độ[24]

Theo nghiên cứu của Braga M và cộng sự (2010) trên 3002 người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại 229 cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Canada cho thấy 46% người bệnh có chỉ số huyết áp ở trên mức khuyến nghị Trong

đó 11% không được điều trị và 28% dùng đơn trị liệu [17]

1.2.2 Thực trạng tuân thủ điều trị đái tháo đường tại Việt Nam

Nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển (2012) về “Mô tả kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường TYP 2 điều trị

Trang 21

ngoại trú tại phòng khám, bệnh viện Lão khoa Trung ương” cho thấy tỷ lệ ĐTNC có kiến thức về tuân thủ điều trị ĐTĐ đạt khá cao 73,9%, tỷ lệ không đạt là 26,1% Tỷ

lệ bệnh nhân tuần thủ đúng theo khuyến cáo: chế độ dinh dưỡng là 78,8%; dùng thuốc là 71,2%; chế độ hoạt động thể lực là 62,1%; kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ là 26,4% Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ được 1 biện pháp điều trị là 15,2%; 2 biện pháp điều trị là 32,7%; 3 biện pháp điều trị là 33,6%; 4 biện pháp điều trị là 14,2%; không thực hiện bất kỳ tuân thủ nào là 4,3%[6]

Tác giả Lê Thị Hương Giang (2013) đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tuân

thủ điều trị đái tháo đường type 2 và một số yếu tố liên quan của người bệnh ngoại trú tại bệnh viện 198 Bộ Công an năm 2013”cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ chế

độ ăn là 79%; rèn luyện thể lực là 63,3%; thuốc 78,1%; hạn chế rượu bia, không hút thuốc 63%; tự theo dõi đường huyết tại nhà 48,6%; tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 chung là 10%; bệnh nhân có kiến thức đạt về bệnh và chế độ điều trị là 53,8%[7]

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Thủy (2013) về “Thực trạng tuân thủ điều

trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Trì - Hà Nội” từ tháng 01/2013 đến tháng 6/2013 bằng phương

pháp mô tả cắt ngang, tiến hành phỏng vấn trực tiếp trên 228 bệnh nhân 30-65 tuổi đang điều trị ĐTĐ ít nhất được 3 tháng trở lên kể từ thời điểm điều tra Nghiên cứu cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị ĐTĐ chung trong vòng 1 tháng trước thời điểm điều tra là 30,7%; tuân thủ chế độ dùng thuốc là 59,2%, tuân thủ chế độ ăn là 75,4%; tuân thủ chế độ luyện tập 63,6%; tuân thủ khám sức khỏe định kỳ và do glucose máu là 40,5%[9]

Nguyễn Thị Kim Thoa (2015), nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiều , tỉnh Bến Tre, năm 2015” cho kết quả: 20% ĐTNC tuân thủ điều trị chung Tỷ lệ người bệnh tuân thủ đúng theo khuyến cáo các chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, dùng thuốc, kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ lần lượt là: 24,2%, 54,7%, 58,9%, 16,8%, 97,4% 0,5% bệnh nhân không tuân thủ biện pháp điều trị nào; 21,1% bệnh nhân tuân thủ 01 biện pháp;

Trang 22

30,5% tuân thủ 2 biện pháp; 27,9% bệnh nhân tuân thủ 3 biện pháp; 13,7% tuân thủ

4 biện pháp và 6,3% tuân thủ 5 biện pháp[11]

Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Huê (2015), về “Tuân thủ điều trị và một

số yếu tố liên quan của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên, năm 2015” sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt

ngang thực hiện trên 210 bệnh nhân ĐTĐ type2 đến tái khám điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Hưng Yên Một số kết quả chính thu được qua nghiên cứu là: tỷ

lệ tuân thủ cà 6 biện pháp theo khuyến cáo rất thấp (0,5%), tuân thủ chế độ dùng thuốc đạt 90%, tuân thủ chế độ ăn 6,7%, tuân thủ không hút thuốc đạt 86,2%, tuân thủ không uống rượu bia đạt 80,5%, tuân thủ luyện tập đạt 13,3%, tuân thủ kiểm soát đường huyết tại nhà 20% và tái khám định kỳ đạt 77,1%[5]

Tác giả Nguyễn Thị Hải (2015) tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ

điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết bệnh viện Bãy Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2015”

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 13,4% người bệnh tuân thủ 4 chế độ ; 57,2% người bệnh tuân thủ 3 chế độ; 23,6% người bệnh tuân thủ 2 chế độ; 5,1% người bệnh tuân thủ 1 chế độ; 0,3% người bệnh không tuân thủ chế độ nào Trong đó, tuân thủ chế

độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ thấp nhất 18,5%[10]

Tác giả Bùi Thị Hương (2017) thực hiện nghiên cứu tại Khoa nội tiết Bệnh

viện Nhân dân 115 thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 Đây là một nghiên cứu cắt

ngang được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2017 tại khoa Nội tiết, bệnh viện Nhân dân 115 thành phố Hồ Chí Minh trên 401 bệnh nhân ĐTĐ type2 điều trị ngoại trú tại phòng khám khoa Nội tiết của bệnh viện Nhân dân 115 Khác các nghiên cứu khác, nghiên cứu này tập trung vào 1 yếu tố tuân thủ là chế độ ăn của ĐTNC Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người ĐTĐ type2 tuân thủ chế độ bữa ăn là 59,1%

Tỷ lệ người bệnh tuân thủ về sử dụng thực phẩm nên dùng và không nên dùng cho người ĐTĐ là 61,8% Người bệnh tuân thủ còn hạn chế đối với các thức ăn giảm tinh bột[4]

Nghiên cứu của Đỗ Hồng Thanh (2018) tại phòng Khám Nội Tiết bệnh viện Thanh Nhàn, kết quả cho thấy tỉ lệ đối tượng quên thuốc chiếm 12,9% trong đó tỉ lệ

Trang 23

quên thuốc viên (uống) chiếm 55,7% và quên thuốc tiêm là 44,3% Tỉ lệ bỏ thuốc chỉ chiếm 0,5% Theo thang điểm đánh giá, tỉ lệ tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh đạt 91,9% Vì vậy, cần sự can thiệp hơn trong hướng dẫn và nhắc nhở người bệnh thực hiện tuân thủ chế độ dùng thuốc[12]

Tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 ngoại trú trong nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Lan (2018) tại Viện Y Học Phòng không - Không quân còn hạn chế, chỉ có 24,3% số người bệnh tuân thủ đầy đủ các chế độ điều trị, 35% tuân thủ 3 chế độ điều trị, số còn lại chỉ tuân thủ 1-2 chế độ quy định cho điều trị đái tháo đường Vẫn còn 3,2% không tuân thủ chế độ nào Mức độ kiểm soát của người bệnh ở mức trên trung bình với 61,2% người bệnh đạt ≥3 yếu tố kiểm soát

1.3 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị đái tháo đường

Yếu tố cá nhân, bao gồm: đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, giới, trình độ học

vấn, nghề nghiệp, thu nhập, kiến thức và thái độ về bệnh); tiền sử mắc bệnh (thời gian mắc bệnh, mắc bệnh mạn tính/biến chứng kèm theo); Gặp phải tác dụng phụ của thuốc; Kiến thức về thực hành tuân thủ điều trị ĐTĐ

Nghiên cứu của Joan N kalyago và cộng sự (2008) về tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện Uganda tìm ra một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân như khả năng chi trả tiền thuốc, số buổi tham gia vào lớp học giáo dục sức khỏe, kiến thức về phác đồ điều trị thuốc [22] Nghiên cứu của Juma Al-kaabi và cộng sự (2009) về hoạt động thể lực và những rào cản trong thực hiện hoạt động thể lực ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại Ả rập cho thấy một số rào cản của hoạt động thể lực được tìm thấy trong nghiên cứu là tình trạng thu nhập thấp, yếu tố văn hóa, không có thời gian, những người có chỉ số BMI bình thường tuân thủ hoạt động thể lực kém hơn những người thừa cân, béo phì [16]

Nghiên cứu của Alan M và cộng sự (2006) chỉ ra một số yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của người bệnh như: dân tộc thiểu số, tình trạng kinh tế thấp, trình độ dân trí thấp thì tuân thủ thấp Yếu tố tâm lý liên quan chặt chẽ với tuân thủ điều trị, người bệnh có lo âu, trầm cảm rối loạn ăn uống có tỷ lệ tuân thủ điều trị thấp[23]

Trang 24

Nghiên cứu của Senay Uzun (2009) tại trường đại học điều dưỡng Thổ Nhĩ

Kỳ về “Nghiên cứu tuân thủ điều trị đái tháo đường và các khuyến cáo thay đổi lối

sống” cũng tìm ra được một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người

bệnh như: thu nhập của người bệnh và tình trạng có mắc kèm các bệnh mãn tính hay không [24]

Nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển (2012) về “Mô tả kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường TYP 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám, bệnh viện Lão khoa Trung ương” cũng tìm thấy một số yếu tố liên quan đến thực hành tuân thủ dinh dưỡng với tuổi và thời gian mắc bệnh; thực hành tuân thủ hoạt động thể lực với tuổi, giới, thời gian mắc bệnh; thực hành tuân thủ dùng thuốc với số lần dùng thuốc trong ngày; thực hành kiểm soát đường huyết tại nhà và khám sức khỏe định kỳ với giới, trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh, có mối liên quan giữa tuân thủ thực hành dùng thuốc, tuân thủ hoạt động thể lực, tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ với kiến thức về tuân thủ điều trị [6]

Kết quả phân thích hồi quy đa biến trong nghiên cứu của tác giả Lê Thị

Hương Giang (2013) về“Đánh giá tuân thủ điều trị đái tháo đường type 2 và một số

yếu tố liên quan của người bệnh ngoại trú tại bệnh viện 198 Bộ Công an năm 2013” cho thấy một số yếu tố nhân khẩu học được xác định liên quan đến tuân thủ

điều trị của bệnh nhân là: giới tính, trình độ học vấn Cụ thể: tuân thủ chế độ ăn liên quan đến giới tính, trình độ học vấn; tuân thủ luyện tập thể lực có liên quan ý nghĩa thống kế với nghề nghiệp, biến chứng ĐTĐ; tuân thủ tự theo dõi glucose máu, và có liên quan đến kiến thức của người bệnh về bệnh và chế độ điều trị và với glucose máu được kiểm soát [7]

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Thủy (2013) về “Thực trạng tuân thủ điều

trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Trì - Hà Nội”chỉ ra các yếu tố nhân khẩu học liên quan đối với

việc tuân thủ điều trị là giới tính: nam giới có nguy cơ không tuân thủ cao gấp 1,94 lần nữ giới (p<0,05); tuổi: những người dưới 60 tuổi có tỷ lệ không tuân thủ điều trị cao gấp 2,13 lần so với những người trên 60 tuổi (p<0,05); nghề nghiệp: những

Trang 25

người về hưu tuân thủ điều trị cao gấp 3,83 lần những người làm nghề khác (p<0,01) Một yếu tố tăng cường tuân thủ điều trị là có kiến thức đạt về tuân thủ điều trị [9]

Nguyễn Thị Kim Thoa (2015), nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, năm 2015” tìm được một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với tuân thủ dinh dưỡng: trình độ học vấn, kiến thức của người bệnh về dinh dưỡng Liên quan đến tuân thủ hoạt động thể lực: trình

độ học vấn, mức thu nhập, kiến thức của người bệnh về hoạt động thể lực Liên quan đến tuân thủ kiểm soát đường huyết: địa chỉ, trình độ học vấn, mức thu nhập

và kiến thức của người bệnh về kiểm soát đường huyết Liên quan đến tái khám định kỳ: đánh giá chi phí cho một lần khám của người bệnh Liên quan đến tuân thủ điều trị chung: trình độ học vấn, mức thu nhập và kiến thức chung của người bệnh

về các chế độ điều trị ĐTĐ [11]

Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Huê, (2015), về “Tuân thủ điều trị và một

số yếu tố liên quan của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên, năm 2015” tìm thấy một số yếu tố liên quan đến tuân

thủ điều trị Về tuân thủ dùng thuốc: người có trình độ học vấn trên THPT tuân thủ dùng thuốc cao gấp 4,86 lần người dưới THPT (p<0,05); người đã có biến chứng tuân thủ cao gấp 3 lần người chưa có biến chứng (p<0,05) Về tuân thủ chế độ dinh dưỡng: người có kiến thức đạt về tuân thủ điều trị thì tuân thủ cao gấp 18,5 lần người có kiến thức không đạt (p<0,00) Về tuân thủ không hút thuốc lá: người trên

60 tuổi tuân thủ cao gấp 3,3 lần người dưới 60 tuổi (p<0,05), người có thời gian phát hiện và điều trị trên 5 năm tuân thủ cao gấp 3,14 lần người dưới 5 năm (p<0,05 Về tuân thủ không uống rượu bia: người dưới 60 tuổi không tuân thủ cao hơn gấp 2,84 lần người trên 60 tuổi (p<0,05); người thuộc gia đình cận nghèo/nghèo tuân thủ không đạt cao gấp 2,91 lần người thuộc hộ gia đình bình thường (p<0,05)

Về tuân thủ luyệt tập: người không có biến chứng tuân thủ luyện tập không đạt cao hơn 3,4 lần người đã có biến chứng (p<0,05) Về kiểm soát đường huyết tại nhà:

Trang 26

người ở cách bệnh viện dưới 20 km tuân thủ không đạt cao gấp 12,2 lần người ở cách bệnh viện trên 20 km (p<0,05) [5]

Tác giả Nguyễn Thị Hải (2015) tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ

điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết bệnh viện Bãy Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2015”

cũng chỉ ra một số yếu tố cá nhân liên quan tới TTĐT như: tuổi, người trên 60 tuổi không tuân thủ hoạt động thể lực cao hơn 3,3 lần người dưới 60 tuổi (p<0,05) Về tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ: người có thời gian mắc dưới 5 năm không tuân thủ cao hơn 3,17 lần người có thời gian mắc bệnh trên 5 năm (p<0,05); người có kiến thức không đạt về tuân thủ điều trị không tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ cao hơn 3,97 lần người có kiến thức đạt (p<0,05) Các nguyên nhân không tuân thủ điều trị được chỉ ra: không thực hiện bất

kỳ hoạt động thể lực nào do không có thời gian (20%) hoặc thấy không cần thiết (40%) hoặc là người lao động thể lực (20%) hoặc do mắc các bệnh mãn tính kèm theo (20%); quên uống thuốc do chỉ đơn giản là quên (64%), do bận (24,7%); quên không tiêm thuốc do bận (30,8%), chỉ đơn giản là quên (23,1%); quên tuân thủ đo đường huyết do không có tiền mua que thử thường xuyên (49,1%), do nghĩ rằng đường huyết ổn định không cần thử (42,6%), nghĩ rằng tình trạng bệnh ổn định không cần phải đi khám (33,3%) [10]

Tác giả Vũ Văn Tiến (2017) tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều

trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường tại phòng khám nội tiết, bệnh viện đa khoa Đồng Nai năm 2017” cho thấy: tuân thủ chế độ ăn liên quan đến

trình độ học vấn; Tuân thủ luyện tập liên quan đến hầu hết các yếu tố nhân khẩu học (p<0,05); tuân thủ sử dụng thuốc liên quan đến trình độ học vấn; Tuân thủ lối sống liên quan đến tuổi, giới, nghề nghiệp (p<0,05); Theo dõi Glucose máu liên quan đến giới tính, trình độ học vấn (p<0,05); Tuân thủ sử dụng thuốc, tái khám đúng hẹn và theo dõi glucose có liên quan đến việc kiểm soát được glucose (p<0,05) [14]

Tác giả Bùi Thị Hương (2017) thực hiện nghiên cứu “Tuân thủ chế độ dinh

dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ của bệnh nhân đái tháo đường týp

2 ngoại trú tại Khoa nội tiết Bệnh viện Nhân dân 115 thành phố Hồ Chí Minh năm

Trang 27

2017”cho thấy các yếu tố nghề nghiệp, tuổi, tình trạng mắc biến chứng có liên quan

đến tuân thủ chế độ bữa ăn cho người ĐTĐ type2 (p<0,05) Các yếu tố tuổi, giới, trình trạng mắc biến chứng có liên quan đến việc tuân thủ sử dụng thực phẩm nên dùng và không nên dùng của người bệnh ĐTĐ type 2 (p<0,05)[4]

Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Lan (2018) cũng cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính của ĐTNC với tuân thủ chế độ điều trị thuốc của người bệnh Nhóm ĐTNC >60 tuổi tuân thủ chế độ điều trị thuốc tốt hơn nhóm <60 tuổi gấp 1,75 lần Nhóm người bệnh đã nghỉ hưu có thực hành tuân thủ chế độ thuốc cao hơn 2,68 lần so với nhóm người bệnh có công việc bán thời gian và đi làm [8]

Yếu tố môi trường, bao gồm: nguồn thông tin, hỗ trợ từ gia đình, các loại

thuốc đông y được giới thiệu đến bệnh nhân, chế độ điều trị nghiêm ngặt

Nghiên cứu của Alan M và cộng sự (2006) cũng chỉ ra rằng người bệnh có sự

hỗ trợ của gia đình có sự tuân thủ điều trị cao hơn người không có hỗ trợ từ gia đình Chế độ điều trị cũng liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh: người có chế độ điều trị đơn giản tuân thủ điều trị tốt hơn người có chế độ điều trị phức tạp [23]

Nghiên cứu của Joan N kalyago và cộng sự (2008) về tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện Uganda tìm ra việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân liên quan đến số buổi tham gia vào lớp học giáo dục sức khỏe, kiến thức về phác đồ điều trị thuốc [22]

Nghiên cứu của Juma Al-kaabi và cộng sự (2009) về hoạt động thể lực và những rào cản trong thực hiện hoạt động thể lực ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại Ả rập cho thấy thiếu quan tâm từ gia đình là một rào cản đối với việc tuân thủ điều trị của người bệnh[16]

Tác giả Nguyễn Thị Hải (2015) tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ

điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết bệnh viện Bãy Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2015”

Cho thấy người không được giải thích rõ về chế độ tuân thủ điều trị và những nguy

cơ thì tuân thủ thể lực không đạt cao hơn 4,2 lần người được giải thích rõ (p<0,05)

Trang 28

Về tuân thủ dùng thuốc: người bệnh không được người thân nhắc nhở thì không tuân thủ cao hơn 2,2 lần người được người thân nhắc nhở (p<0,05), người không hài lòng với thái độ của CBYT không tuân thủ cao gấp 2,97 lần người hài lòng với thái

độ của CBYT (p<0,05) Về tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ: người không được giải thích rõ về chế độ tuân thủ điều trị và những nguy cơ thì không tuân thủ 3,93 lần người được giải thích rõ (p<0,05)[10]

Tác giả Vũ Văn Tiến (2017) tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều

trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường tại phòng khám nội tiết, bệnh viện đa khoa Đồng Nai năm 2017” cho thấy: tuân thủ chế độ ăn, tuân thủ sử

dụng thuốc liên quan đến sự hỗ trợ, nhắc nhở của gia đình(p<0,05) Kết quả định tính cho thấy có sự ảnh hưởng của nhân viên y tế, cơ sở y tế và gia đình đến tuân thủ điều trị [14]

Thực trạng CBYT không đủ thời gian tư vấn và một số khó khăn trong quá trình tư vấn được chỉ ra trong nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Hương (2017) về

“Tuân thủ chế độ dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ của bệnh

nhân đái tháo đường týp 2 ngoại trú tại Khoa nội tiết Bệnh viện Nhân dân 115 thành phố Hồ Chí Minh năm 2017”cũng giải thích cho việc không tuân thủ điều trị

ĐTĐ của ĐTNC[4]

Yếu tố dịch vụ y tế, bao gồm:từ phía cơ sở y tế (Khoảng cách từ nhà đến cơ

sở y tế, thời gian chờ nhận dịch vụ, chi phí cho một lần khám định kỳ), cán bộ y tế (đối tượng tư vấn, thời gian tư vấn của CBYT, nội dung tư vấn, tần suất tư vấn, sự hài lòng của bệnh nhân)

Nghiên cứu của Joan N kalyago và cộng sự (2008) về tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện Uganda chỉ ra:khả năng chi trả tiền thuốc là một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ[22] Nghiên cứu của Juma Al-kaabi và cộng sự (2009) về hoạt động thể lực và những rào cản trong thực hiện hoạt động thể lực ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại Ả rập[16] và nghiên cứu của Alan M và cộng sự (2006) [23]cũng minh chứng một rào cản của tuân thủ điều trị

là tình trạng thu nhập thấp Việc cung cấp dịch vụ điều dưỡng, chăm sóc quản lý bệnh nhân thúc đẩy việc tuân thủ điều trị của người bệnh Những bệnh nhân hài

Trang 29

lòng với thái độ của bác sỹ điều trị tuân thủ tốt hơn người không hài lòng với thái

độ của bác sỹ[23]

Nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển (2012) về “Mô tả kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường TYP 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám, bệnh viện Lão khoa Trung ương” cho thấy thực hành kiểm soát đường huyết tại nhà liên quan đến mức độ thường xuyên nhận thông tin

từ CBYT[6]

Tác giả Lê Thị Hương Giang (2013) đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tuân

thủ điều trị đái tháo đường type 2 và một số yếu tố liên quan của người bệnh ngoại trú tại bệnh viện 198 Bộ Công an năm 2013” cho thấy tuân thủ chế độ ăn liên quan

đến việc được CBYT hướng dẫn, mức độ được CBYT nhắc nhở về TTĐT và có ý nghĩa thống kê Tuân thủ dùng thuốc liên quan đến khoảng cách từ nhà đến bệnh viện, mức độ hài lòng với thái độ của CBYT[7]

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Thủy (2013) về “Thực trạng tuân thủ điều

trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Trì - Hà Nội”cho thấy một trong các yếu tố tăng cường tuân

thủ điều trị là việc thường xuyên nhận được sự tư vấn của CBYT [9]

Nguyễn Thị Kim Thoa (2015), nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiều , tỉnh Bến Tre, năm 2015” tìm được một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với tuân thủ dinh dưỡng, tuân thủ dùng thuốc

và tuân thủ điều trị chung có liên quan ý nghĩa thống kê với sự hài lòng của người bệnh với tư vấn của nhân viên y tế [11]

Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Huê (2015), về “Tuân thủ điều trị và một

số yếu tố liên quan của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên, năm 2015”cho thấy người thường xuyên được cán bộ

y tế nhắc nhở tuân thủ không đạt cao gấp 2,4 lần người thỉnh thoảng hoặc không bao giờ được nhắc nhở (p<0,05) Về kiểm soát đường huyết tại nhà: người ở cách bệnh viện dưới 20 km tuân thủ không đạt cao gấp 12,2 lần người ở cách bệnh viện trên 20 km (p<0,05) [5]

Trang 30

Tác giả Nguyễn Thị Hải (2015) tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ

điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết bệnh viện Bãy Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2015”

cho thấy: người không hài lòng với thái độ của CBYT không tuân thủ dùng thuốc cao gấp 2,97 lần người hài lòng với thái độ của CBYT (p<0,05) Về tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ: người không hài lòng với thái độ của CBYT không tuân thủ cao gấp 2,2 lần người hài lòng với thái độ của CBYT (p<0,05)[10]

Tác giả Vũ Văn Tiến (2017) tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều

trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường tại phòng khám nội tiết, bệnh viện đa khoa Đồng Nai năm 2017” cho thấytuân thủ sử dụng thuốc, tuân thủ

theo dõi Glucose máu liên liên quan đến sự hài lòng chung với nhân viên y tế (p<0,05)[14]

Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Lan (2018) cũng đã tìm thấy mối liên quan giữa nhóm ĐTNC thường xuyên được nhắc nhở và nhóm không thường xuyên được nhắc nhở với tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết Nhóm ĐTNC được nhân viên y tế thường xuyên nhắc nhở tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết gấp 3,7 lần

so với nhóm không thường xuyên được nhắc nhở [8]

1.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu

Hoa Lư là một huyện nằm ở trung tâm tỉnh Ninh Bình, liền kề hai thành phố Ninh Bình và Tam Điệp Huyện Hoa Lư được thành lập năm 1907 và mang tên kinh

đô Hoa Lư của Việt Nam thế kỷ X vì phần lớn các di tích của cố đô Hoa Lư hiện nay nằm trên huyện này Hoa Lư thuộc vùng bán sơn địa, có nhiều cảnh quan thiên nhiên như khu hang động Tràng An, Tam Cốc - Bích Động bên cạnh các di tích thuộc quần thể di tích Cố đô Hoa Lư được hình thành và lưu giữ từ hơn 1000 năm trước

Hoa Lư có diện tích tự nhiên 139.7 km² (UBND tỉnh năm 2003) và dân số

103900 người Huyện Hoa Lư có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn ThiênTôn và các xã: NinhAn, Ninh Giang, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Khang, Ninh

Trang 31

Mỹ, Ninh Thắng, Ninh Vân, Ninh Xuân, Trường Yên

Hoa Lư có ưu thế về giao thông cả về thuỷ, bộ và sắt với vị trí nằm giữa thành phố Ninh Bình và thành phố Tam Điệp Trên địa bàn huyện có các tuyến đường quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 38B, đại lộ Tràng An đi qua Hoa Lư có

3 di tích quốc gia đặc biệt là hang động Tràng An, khu du lịch Tam Cốc -chùa Bích Động và Cố đô Hoa Lư được quy hoạch chung thành Quần thể danh thắng Tràng

An Tiềm năng vị trí và du lịch lớn kéo theo các hoạt động kinh tế của huyện phát triển mạnh như: các khu công nghiệp, khai thác đá, làng nghề truyền thống, v.v Hoa Lư hiện có 3 cụm công nghiệp tập trung: Cụm công nghiệp Ninh Khánh, Cụm công nghiệp Ninh Tiến, Cụm công nghiệp Thiên Tôn Về nông nghiệp, Hoa Lư là một huyện thuộc vùng chiêm trũng, kinh tế nông nghiệp không phát triển như các huyện ven biển Yên Khánh và Kim Sơn.Hoa Lư là một huyện thuộc vùng chiêm trũng, kinh tế nông nghiệp không phát triển như các huyện ven biển Yên Khánh và Kim Sơn.Nghề chăn nuôi dê núi và thủ công truyền thống phát triển khá mạnh

Các loại hình cơ sở y tế trên địa bàn huyện khá đa dạng, bao gồm các cơ sở y

tế công lập và tư nhân.Y tế công lập có: Trung tâm Y tế huyện: gồm có 4 phòng (bao gồm các phòng: Tổ chức hành chính, kế hoạch nghiệp vụ, điều dưỡng và kế toán tài chính), 10 khoa (bao gồm các khoa: kiểm soát bệnh tật – HIV, an toàn thực phẩm – dinh dưỡng, methadone, chăm sóc sức khỏe sinh sản, cấp cứu, nội tổng hợp, khoa ngoại, khoa khám bệnh và khoa xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh), phòng khám đa khoa khu vực Cầu Yên và Trạm y tế 11 xã, thị trấn

Trang 33

Khung lý thuyết nghiên cứu

(Xây dựng theo Mô hình Precede – Proceed của tiến sĩ Lawrence W Green1974)[22]

Tuân thủ điều trị gồm: Dinh dưỡng, hoạt động thể lực, dùng

thuốc, kiểm soát đường huyết và khám định kỳ

* Gặp phải tác dụng phụ của thuốc

* Kiến thức về thực hành tuân thủ điều

trị ĐTĐ: dinh dưỡng, hoạt động thể lực,

dùng thuốc, kiểm soát đường huyết và

khám định kỳ

Yếu tố dịch vụ y tế

* Cơ sở y tế

+ Khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế + Thời gian chờ nhận dịch vụ

+ Chi phí cho một lần khám định kỳ

* Cán bộ y tế:

+ Đối tượng tư vấn + Thời gian tư vấn của CBYT + Nội dung tư vấn phù hợp + Tần suất tư vấn

+ Hài lòng với thái độ của CBYT

+ Hài lòng với thông tin tư vấn

Yếu tố môi trường

* Thông tin về tuân thủ điều trị:

- Nguồn thông tin;

- Mức độ thường xuyên nhận được thông tin

* Gia đình: Hỗ trợ, nhắc nhở của các thành viên trong

gia đình

* Chế độ điều trị nghiêm ngặt (dùng thuốc phải

đúng giờ, kiêng rượu bia, quá nhiều loại thuốc…)

Trang 34

Chương 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Là những người bệnh ĐTĐ type 2 hiện đang điều trị ngoại trú tại Khoa Nội

tiết - Trung tâm y tế huyện Hoa Lư Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Người bệnh ĐTĐ type 2 từ 18 tuổi trở lên

- Đang được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

- Có khả năng giao tiếp, trả lời phỏng vấn và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Người bệnh có biến chứng nặng không thể tham gia nghiên cứu

- Người bệnh quá già không thể nghe rõ câu hỏi để trả lời

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

từ tháng 12/2018 đến tháng 7/2019

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu định lượng:

Áp dụng công thứctính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ:

Trong đó:

n: Là số bệnh nhân tối thiểu cần nghiên cứu

p: Tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị chung ĐTĐ type 2, chọn p = 0,245(theo nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Lan (2018) tỷ lệ người bệnh ĐTĐ type 2 tuân thủ điều trị chung là 24,5%)[8]

2

2 2 /

1 .( 1 )

d

p p

n =  − −

Trang 35

d: Độ chính xác tuyệt đối (lấy d = 0,06)

α: Chọn mức ý nghĩa thống kê (độ tin cậy 95%, có α = 0,05)

Z(1-α/2): Giá trị có được bằng cách tra bảng Z = 1,96

Thay vào công thức, thu được n = 197 Cộng thêm 10% số đối tượng nghiên cứu từ chối trả lời hoặc không đủ tiêu chuẩn để tiến hành nghiên cứu Số đối tượng nghiên cứu được chọn theo công thức tính cỡ mẫu là: 217

Vì số bệnh nhân ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết Trung tâm y tế huyện Hoa Lư là 240 người, do đó, chúng tôi chọn toàn bộ 240 bệnh nhân ĐTĐtype 2đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019 vào nghiên cứu

-2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Các biến số đánh giá tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2

và các yếu tố liên quan(Chi tiết tại Phụ lục 5.)

Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Tuân thủ điều trị chung: Trong nghiên cứu này khái niệm tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 bao gồm đủ 6 tiêu chí được nêu trong hướng dẫn tại Quyết định 3319/2017/QĐ-BYT ngày 19/7/2017 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán, điều trị ĐTĐ type 2 và theo WHO, ADA [2], [15]

(1) TTĐT chế độ ăn là đảm bảo đầy đủ thành phần dinh dưỡng theo khuyến cáo

(2) TTĐT liên quan đến hoạt động thể lực là tập thể dục ở mức độ trung bình ít nhất 30 phút mỗi ngày (tối thiểu 150 phút 1 tuần)

(3) TTĐT dùng thuốc là dùng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng hướng dẫn của CBYT

(4) TTĐT liên quan đến thay đổi lối sống, không hút thuốc, uống rượu bia là

số lượng rượu bia ít hơn 3 cốc chuẩn /ngày đối với nam, ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày đối với nữ và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần đối với nam và ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần đối với nữ

(5) TTĐT liên quan đến tự theo dõi và ghi lại Glucose máu

(6) TTĐT đi khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sỹ

Trang 36

Các tuân thủ từ (1) đến (4) đều được đánh giá trong khoảng thời gian 1 tuần Tiêu chuẩn (5) đánh giá trên 1 tuần và dựa trên tình hình thực tế của người bệnh Tiêu chuẩn (6) dựa trên hồ sơ bệnh án và hỏi trực tiếp người bệnh

Người bệnh được coi là tuân thủ điều trị khi tuân thủ các tiêu chuẩn trên trong vòng 1 tuần trước khi người bệnh được phỏng vấn, thiếu 1 trong các tiêu chuẩn trên là không tuân thủ điều trị Cụ thể như sau:

Tuân thủ chế độ ăn:

Tuân thủ chế độ ăn là đảm bảo đủ 6 nhóm thực phẩm theo khuyến cáo, hạn chế các thức ăn tạo ra Glucose hấp thu nhanh Nên chọn các loại thức ăn ít béo, có hàm lượng chất béo bão hòa và cholesterol thấp, các bữa ăn đảm bảo cách nhau 4-5h

Từ câu 28-34, người bệnh sẽ được hỏi về chế độ ăn luôn luôn, được đánh giá dựa trên thang đo Likert scale 4 mức để đánh giá tần suất thực hiện hành vi tăng cường sức khỏe của cá thể: 1 điểm = không bao giờ, 2 điểm = thình thoảng, 3 điểm

= thường xuyên, 4 điểm = luôn luôn Số điểm cao nhất ở mỗi câu là 4 điểm và thấp nhất là 1 điểm Tổng số điểm của 8 câu hỏi đánh giá là từ 8 đến 32 điểm Người trả lời có tổng điểm từ 8-24 là không tuân thủ chế độ ăn, trên 24 là tuân thủ chế độ ăn [24]

Tuân thủ chế độ luyện tập:

Là thường xuyên luyện tập thể dục, đi bộ, đi bộ nhanh, đạp xe đạp trong thời gian 30-60 phút/ngày hoặc 3-5 lần/tuần như khuyến nghị (tối thiểu 150 phút/tuần) Mức độ luyện tập phụ thuộc vào tình trạng của người bệnh Nếu Glucose máu chưa được kiểm soát, tình trạng bệnh còn nặng thì không nên luyện tập, hoãn cho đến khi điều trị ổn định Người bệnh luyện tập tối thiểu 150 phút/tuần là tuân thủ chế độ luyện tập [2]

Tuân thủ điều trị thuốc:

Tuân thủ điều trị thuốc là người bệnh sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng hướng dẫn của CBYT, kể cả khi Glucose máu đã ổn định Không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng cách đánh giá TTĐT thuốc Moriskygồm 8 mục để đánh giá TTĐT với tuân

Trang 37

thủ điều trị thuốc ĐTĐ type 2 Người bệnh được coi là tuân thủ khi đạt ≥6 điểm, không tuân thủ khi đạt <6 điểm

Bảng 2.1 Nội dung đánh giá tuân thủ thuốc điều trị gồm 8 mục

TT Các nội dung của tuân thủ điều trị thuốc

1 Từ lúc bắt đầu điều trị ĐTĐ type 2, có khi nào ông/bà quên uống thuốc

không?

2 Trong tuần qua, ông/bà có quên uống thuốc không?

3 Khi cảm thấy khó chịu do uống thuốc Ông/bà có tự ý ngừng thuốc

không?

4 Khi ông/bà đi xa nhà, có khi nào quên mang theo thuốc không?

5 Ngày hôm qua, ông/bà có quên uống thuốc không?

6 Khi cảm thấy Glucose máu đã được kiểm soát, ông/bà có tự ngừng

thuốc uống không?

7 Ông/bà có khi nào cảm thấy phiền toái vì ngày nào cũng phải uống

thuốc ĐTĐ không?

8 Ông/bà có cảm thấy khó khăn trong việc phải nhớ dùng tất cả các loại

thuốc ĐTĐ không?

*Với những câu trả lời không – được 1 điểm; với những câu trả lời có – được 0 điểm

Tuân thủ thay đổi lối sống:

Người bệnh không hút thuốc trong vòng 1 tuần trước khi trả lời phỏng vấn là tuân thủ không hút thuốc Ngược là dù hút chỉ 1 lần được coi là không tuân thủ [7]

Tuân thủ điều trị liên quan đến hạn chế rượu bia, trong tuần qua là số lượng rượu bia ít hơn 3 cốc chuẩn /ngày đối với nam, ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày đối với nữ

và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần đối với nam và ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần đối với nữ Nếu uống trên mức tiêu chuẩn trên 1 ngày hoặc trên 1 tuần là không tuân

thủ(1 cốc tiêu chuẩn tương đương 330ml bia hoặc 150-200ml rượu vang đỏ)[2]

Trang 38

Tuân thủ theo dõi Glucose máu:

Tự theo dõi Glucose máu và ghi vào sổ theo dõi đã được khuyến cáo trên từng đối tượng người bệnh như sau:

Đối với người bệnh mới chẩn đoán hoặc thay đổi chế độ điều trị nên tự kiểm tra theo dõi Glucose máu 2-4 lần/ngày và ghi lại các chỉ số vào sổ theo dõi (đo vào trước bữa ăn chính và trước khi đi ngủ)

Đối với người bệnh khi Glucose máu đã tương đối ổn định nên kiểm tra 1-3 lần/tuần, cũng có thể kiểm tra Glucose máu sau ăn 2 giờ hoặc khi có biểu hiện hạ đường huyết hoặc khi bị ốm

Người bệnh được coi là tuân thủ theo dõi Glucose máu khi thực hiện theo khuyến cáo

Tuân thủ khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sỹ:

Người bệnh đi khám đúng theo lịch hẹn của bác sỹ điều trị Xem sổ khám bệnh có khám liên tục >3 tháng

Kiến thức về tuân thủ điều trị:

Là hiểu biết của ĐTNC về bệnh ĐTĐ và chế độ điều trị bệnh ĐTD type 2 theo hướng dẫn của bác sỹ

Kiến thức được cho là đạt khi ĐTNC trả lời đúng ≥7/10 câu; không đạt khi ĐTNC trả lời đúng <7/10 câu

- Thực hành tuân thủ hoạt động thể lực: Là những loại hình hoạt động thể lực

mà đối tượng thực hiện tập luyện hàng ngày trong 1 tuần vừa qua

- Thực hành tuân thủ dùng thuốc: Là sự tuân thủ dùng thuốc của ĐTNC theo đúng hướng dẫn của bác sỹ

Trang 39

- Thực hành kiểm soát đường huyết tại nhà :Người bệnh có tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết tại nhà theo hướng dẫn của nhân viên y tế

- Thực hành khám sức khỏe định kỳ: Là tần suất ĐTNC đi khám sức khỏe định kỳ theo lịch hẹn của bác sỹ

* Biến độc lập (Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ĐTĐ)

Tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, tham gia bảo hiểm, kiến thức tuân thủ điều trị

+ Đối tượng tư vấn

+ Thời gian tư vấn của CBYT

+ Nội dung tư vấn phù hợp

+ Tần suất tư vấn

+ Hài lòng với thái độ của CBYT

+ Hài lòng với thông tin tư vấn

2.5 Công cụ, phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc được thiết kế

sẵn (chi tiết bộ câu hỏi xem tại Phụ lục 2) được nghiên cứu viên xây dựng trên tham

khảo các bộ công cụ của một số nghiên cứu khác[7],[10], [14] và được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, gồm các mục sau: (1) Thông tin chung; (2) Thông tin về kiến thức tuân thủ điều trị ĐTĐ; (3) Thông tin về các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ĐTĐ Bộ câu hỏi được thử nghiệm trên 10 người và sẽ được chỉnh sửa hoàn thiện

Trang 40

2.5.2 Kỹ thuật và quy trình thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp người bệnh ĐTĐ type 2 bằng bộ câu hỏi có cấu trúc được thiết kế sẵn Các thông tin lâm sàng, cận lâm sàng được thu thập từ hồ sơ bệnh án.Cụ thể: sau khi người bệnh hoàn thành các thủ tục thăm khám, xét nghiệm, kê đơn, tư vấn, nhận thuốc và chuẩn bị ra về Mời người bệnh tham gia phỏng vấn tại 1 phòng họp giao ban của khoa Nội tiết Nghiên cứu viên sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để phỏng vấn người bệnh Thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án gồm: chỉ

số Glucose máu hiện tại, một số chỉ số cận lâm sàng, thời gian điều trị, các biến chứng và các bệnh mãn tính khác

2.6 Điều tra viên và giám sát viên

2.6.1 Điều tra viên

Là Nghiên cứu viên và 02học viên của trường Đại học Y tế công cộng - đã được nghiên cứu viên tập huấn về mục đích, ý nghĩa, phương pháp, kỹ năng thu thập số liệu, ý nghĩa từng câu hỏi trong bộ câu hỏi điều tra

GSV chính là NCV giám sát trực tiếp: lựa chọn ngẫu nhiên các ngày để tiến hành giám sát trực tiếp bằng cách đi cùng với các ĐTV tối thiểu 20% số ĐTNC

Số liệu được nhập liệu và kiểm tra các lỗi nhập liệu trên phần mềm Epidata3.1 NCV xây dựng file check để kiểm soát các lỗi nhập liệu NCV giám sát

Ngày đăng: 29/01/2021, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w