1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chức năng phần mềm quản lý thông tin xét nghiệm tại khoa xét nghiệm bệnh viện quận 4, thành phố hồ chí minh năm 2019

84 134 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó có nhiều yếu tố thuận lợi về nguồn lực CNTT như nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin đủ mạnh đạt 3 nhân sự đối với bệnh viện hạng 2, phần lớn 94,1% NVYT có trình độ t

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp tại trường Đại học Y tế Công Cộng, tôi đã nhận được sự dạy bảo của thầy cô giáo Với lòng chân thành và kính trọng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, các thầy

cô giáo trường Đại học Y tế Công Cộng đã tận tình giúp đỡ tôi trong khóa học này

Tôi cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo Bệnh viện Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh, các khoa phòng liên quan, cộng tác viên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thanh Nhãn và ThS Phạm Quốc Thành đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi

để tôi hoàn thành tốt luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, cùng tôi chia sẻ khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Các khái niệm: 4

1.2 Một số yếu tố cần thiết khi triển khai ứng dụng phần mềm trong quản lý xét nghiệm: 4

1.3 Ứng dụng CNTT trong y tế và quản lý xét nghiệm 11

1.4 Giới thiệu về bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh 14

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu : 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 20

2.3 Thiết kế, Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu: 20

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu, 20

2.5 Phương pháp thu thập số liệu: theo trình tự tiến hành như sau: 20

2.6 Các biến số nghiên cứu: 22

2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá: 22

2.8 Phương pháp phân tích số liệu: 23

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu: 23

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục 24

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đánh giá chức năng phần mềm quản lý xét nghiệm tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 25

3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong ứng dụng phần mềm quản lý xét nghiệm tại khoa xét nghiệm: 34

3.2.1 Những thuận lợi trong ứng dụng phần mềm 34

Trang 5

3.2.2 Khó khăn khi sử dụng phần mềm: 36

3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai phần mềm quản lý xét nghiệm tại Khoa xét nghiệm: 37

3.3.1 Những thuận lợi trong quá trình triển khai phần mềm quản lý xét nghiệm tại Khoa xét nghiệm: 37

3.3.2 Những khó khăn trong quá trình triển khai phần mềm quản lý xét nghiệm tại Khoa xét nghiệm: 38

Chương 4 BÀN LUẬN 39

Chương 5 KẾT LUẬN 45

Chương 6 KHUYẾN NGHỊ 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LỤC 51

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BYT: Bộ Y tế

CNTT: Công nghệ thông tin

HIS “Hospital Information System”: Hệ thống thông tin bệnh viện NVYT Nhân viên y tế

LIS: "Laboratory Information System": hệ thống thông tin xét nghiệm SLTC: Số liệu thứ cấp

Trang 7

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Việc ứng dụng phần mềm trong quản lý xét nghiệm là giải pháp được sử dụng để

hỗ trợ quản lý thông tin trong phòng xét nghiệm Tại Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Quận

4 đã sử dụng phần mềm quản lý thông tin xét nghiệm từ năm 2007 và cũng đã mang lại nhiều lợi ích Tuy nhiên việc ứng dụng phần mềm trong quản lý xét nghiệm đã được thực hiện ra sao? Chức năng phần mềm đang áp dụng hiện nay có đáp ứng với nhu cầu theo quy định? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc ứng dụng phần phần trong quản lý xét nghiệm? Nguyên nhân và giải pháp khắc phục một số yếu tố ảnh hưởng đó là gì? Để trả

lời các câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Thực trạng ứng dụng phần mềm

trong quản lý xét nghiệm, tại Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Quận 4 năm 2019" bao gồm hai mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng ứng dụng phần mềm quản lý xét nghiệm tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

2 Phân tích một số thuận lợi và khó khăn của nhân viên y tế khi ứng dụng phần mềm quản lý xét nghiệm tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm

2019

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng thực hiện từ tháng 6/2019 đến tháng 10/2019 tại Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Quận 4 Số liệu định lượng chủ yếu từ kết quả bộ câu hỏi phát vấn thực hiện đối với 17 nhân viên y tế đang làm việc tại Khoa Xét nghiệm và số liệu thứ cấp lưu trữ tại Khoa Xét nghiệm Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng bảng kiểm quan sát và 4 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo Khoa Xét nghiệm và trưởng các phân khoa

Kết quả nghiên cứu cho thấy Khoa Xét nghiệm tại Khoa Xét nghiệm được trang bị

hệ thống phần cứng khá đầy đủ, các máy tính được kết nối mạng và hoạt động tương đối

ổn định Nhân viên y tế có năng lực về CNTT và đa số đều sử dụng phần mềm xét nghiệm một cách thuần thục và đầy đủ các bước

Về chức năng phần mềm hiện đang sử dụng có 7/9 chức năng đạt yêu cầu là các chức năng về tiếp nhận yêu cầu xét nghiệm, quản lý kết quả xét nghiệm, kết nối các máy xét nghiệm, kết nối phần mềm quản lý bệnh viện, quản lý danh mục và quản trị hệ thống

Trang 8

Để đạt được thành công khi triển khai ứng dụng công nghệ tin tại Khoa Xét nghiệm thì yếu tố lớn nhất cho sự thành công là được sự quan tâm của Ban lãnh đạo Bệnh viện trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của toàn Bệnh viện nói chung của Khoa Xét nghiệm nói riêng từ năm 2007, hệ thống phần cứng cũng tương đối đầy đủ và đáp ứng được theo yêu cầu Bên cạnh đó có nhiều yếu tố thuận lợi về nguồn lực CNTT như nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin đủ mạnh đạt 3 nhân sự đối với bệnh viện hạng 2, phần lớn (94,1%) NVYT có trình độ tin học loại A trở lên, 100% được tập huấn đào tạo về công nghệ thông tin nên có khả năng tiếp cận nhanh với hệ thống phần mềm quản lý xét nghiệm và đa số nhân viên Khoa Xét nghiệm (94,1%) thường xuyên sử dụng máy tính tại nơi làm việc, cũng như sử dụng phần mềm xét nghiệm một cách thuần thục và đầy đủ các bước Để có được điều này có thể là do sự quan tâm trong việc tuyển dụng đầu vào NVYT có trình độ tin học, hơn nữa

do đa số trẻ nên nên khả năng tiếp cận công nghệ thông tin nhanh và quá trình ứng dụng công nghệ thông tin tại Khoa Xét nghiệm cũng đã thực hiện hơn 10 năm

Bên cạnh các yếu tố thuận lợi trên có những yếu tố gây khó khăn cho NVYT trong quá trình ứng dụng phần mềm quản lý thông tin xét nghiệm như máy tính bị trục trặc, kinh phí đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin còn thấp và dù 100% máy tính được kết nối mạng nhưng vẫn còn chưa ổn định và khi có sự cố về hệ thống phần mềm, máy tính hay mạng vẫn còn các trường hợp chưa được khắc phục ngay nhất là vào thời điểm ngoài giờ hành chính Ngoài ra việc ứng dụng công nghệ thông tại Khoa Xét nghiệm đã lâu trên

10 năm nhưng đầu tư cho công nghệ thông tin còn hạn chế dẫn đến việc nhiều thiết bị trong hệ thống phần cứng tuy đủ về số lượng nhưng đã cũ nên công suất giảm làm cho kéo dài thời gian thực hiện

Từ đó kết quả trên, để phát huy hiệu quả của phần mềm quản lý xét nghiệm, tôi đưa ra một số khuyến nghị như: Lãnh đạo Bệnh viện Quận 4 cần quan tâm xây dựng quy chế phối hợp khi có sự cố về hệ thống CNTT, tăng cường đầu tư, thay thế cơ sở hạ vật chất, trang thiết bị để nâng cao chất lượng hệ thống CNTT phòng xét nghiệm đáp ứng các tiêu chí chất lượng phần mềm quản lý thông tin phòng xét nghiệm theo Quyết định số 3725/QĐ-BYT ngày 16 tháng 8 năm 2017 hướng dẫn triển khai hệ thống thông tin quản

lý xét nghiệm tại các cơ sở khám bệnh chữa bệnh, chữa bệnh Bệnh viện cần thường xuyên rà soát, đánh giá, xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo nâng cao trình độ nhân lực

Trang 9

CNTT, cán bộ Phòng Xét nghiệm để đảm bảo năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc, đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định, an ninh, bảo mật

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý bệnh viện đã được rất nhiều bệnh viện trên thế giới cũng như các bệnh viện ở Việt Nam ứng dụng CNTT là công cụ quan trọng phục vụ công tác thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, công bố thông tin, xây dựng ngân hàng dữ liệu thống kê y tế CNTT từng bước được ứng dụng vào công tác nghiên cứu, quản lý thông tin người bệnh, lưu trữ hồ sơ, truy xuất dữ liệu phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ Một trong các mục tiêu quản lý bệnh viện là quản lý tốt các thông tin trong phòng xét nghiệm Các phần mềm quản lý thông tin xét nghiệm (LIS) được thiết kế là hỗ trợ quản lý thông tin được tạo ra trong phòng xét nghiệm cũng đã được hình thành và đưa vào sử dụng thực tế đã quản lý thông tin từ đầu vào đến đầu ra Tuy nhiên, có rất nhiều phần mềm quản lý xét nghiệm có nhiều chức năng khác nhau do nhiều đơn vị cung cấp khác nhau xây dựng có mức độ phù hợp khác nhau giữa các cơ sở khám chữa bệnh

Bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí minh là bệnh viện đa khoa hạng II với quy

mô 200 giường bệnh, mỗi ngày khám ngoại trú khoảng 3.000 lượt và thực hiện xét nghiệm khoảng 500 mẫu xét nghiệm hàng ngày với khoảng 3.000 lượt tiêu bản mỗi ngày Ban lãnh đạo Bệnh viện và Khoa Xét nghiệm cũng xác định việc quản lý tốt hoạt động xét nghiệm sẽ có giúp quản lý công việc có hiệu quả, quản lý và kiểm soát tốt viện phí; vật tư , hóa chất dùng cho xét nghiệm, về chuyên môn hỗ trợ rất nhiều cho công tác điều trị và tiến đến phục vụ bệnh án điện tử và hội chẩn từ xa và quản lý thông tin người bệnh

về xét nghiệm được đầy đủ chính xác và truy xuất kịp thời Từ năm 2007, Khoa Xét nghiệm đã tham gia thí điểm triển khai phần mềm quản lý thông tin Phòng xét nghiệm do

Ủy ban phòng chống HIV/AIDS điều phối Sau hơn 10 năm áp dụng CNTT trong quản

lý xét nghiệm cũng đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực như: công tác tiếp nhận nhanh chóng, cập nhật thông tin, báo cáo hàng ngày, công khai minh bạch cho người bệnh biết các thông tin; các kết quả xét nghiệm dễ dàng được chia sẽ cho các bác sĩ; kết nối hoàn toàn với hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện … Tuy nhiên những nhận định về chức năng phần mềm quản lý xét nghiệm tại Bệnh viện Quận 4 chỉ là nhận định chủ quan chưa được đánh giá cụ thể nhất là từ khi Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3725/QĐ-BYT ngày

16 tháng 8 năm 2017 hướng dẫn triển khai hệ thống thông tin quản lý xét nghiệm tại các

cơ sở khám bệnh chữa bệnh, chữa bệnh Vậy thực trạng chức năng phần mềm trong quản

lý xét nghiệm Khoa Xét nghiệm hiện nay ra sao? Chức năng phần mềm đang áp dụng

Trang 11

hiện nay có đáp ứng với nhu cầu theo quy định? Việc ứng dụng phần mềm quản lý xét nghiệm giúp cho NVYT có những thuận lợi và khó khăn gì trong công việc của họ?

Để trả lời các câu hỏi trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá chức năng phần mềm quản lý xét nghiệm tại khoa xét nghiệm, bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019” Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp Lãnh đạo Bệnh viện xây dựng chiến lược phát triển CNTT, đáp ứng yêu cầu chung cho quản lý Bệnh viện trong tình hình hiện nay

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng ứng dụng phần mềm quản lý xét nghiệm tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

2 Phân tích một số thuận lợi và khó khăn của nhân viên y tế khi sử dụng phần mềm quản lý xét nghiệm tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019”

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm:

Công nghệ thông tin (Information Technology) CNTT là một ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để thu thập, truyền, xử lý, chuyển đổi, lưu trữ và bảo vệ thông tin [16]

Thuật ngữ về CNTT xuất hiện năm 1958 trong một bài viết của tạp chí Harvard Business Review, vào thời điểm những năm đầu của cách mạng công nghệ 2.0 Tại Việt Nam khái niệm CNTT được quy định rõ trong nghị quyết của chính phủ, là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông- nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người

và xã hội

Ứng dụng CNTT là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế- xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này

Phần mềm là các chương trình máy tính và những tài liệu liên quan đến nó như: các yêu cầu, mô hình thiết kế, tài liệu hướng dẫn sử dụng… Do đó, chúng ta thấy rằng đặc điểm của phần mềm là trừu tượng và vô hình

Chương trình máy tính là một tập hợp các hướng dẫn cho việc thực hiện nhiệm vụ của một máy tính Một máy tính đòi hỏi các chương trình phải hoạt động và thường thực hiện các lệnh chương trình ở bộ phận xử lý trung tâm Một chương trình máy tính được viết bằng một ngôn ngữ lập trình

Một chương trình máy tính được lưu như một tập tin trên ổ cứng máy tính Khi người dùng chạy các chương trình, các tập tin được đọc bởi máy tính và các bộ xử lý đọc

dữ liệu trong tập tin như là một danh sách các hướng dẫn Sau đó, các máy tính làm những gì chương trình cho phép nó làm

1.2 Một số yếu tố cần thiết khi triển khai ứng dụng phần mềm trong quản lý xét nghiệm:

Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin

Ban đầu, khi một số đơn vị phát sinh nhu cầu ứng dụng CNTT để quản lý thông tin phòng xét nghiệm, các phần mềm thương mại được tạo ra chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu cục bộ của người dùng, chưa quan tâm xây dựng các tiêu chí, chuẩn mực chung cho phần

Trang 14

mềm Đến năm 2014, khi có nhiều phần mềm quản lý phòng xét nghiệm được tạo ra, chưa có sự thống nhất về tiêu chí nên gây khó khăn trong việc kết nối dữ liệu giữa hệ thống thông tin phòng xét nghiệm và hệ thống thông tin bệnh viện, cũng như một số phần mềm LIS thương mại chưa đáp ứng được các chức năng cơ bản Do đó ngày 29 tháng 12 năm 2014, Bộ y tế đã ban hành Thông tư số 53/2014/TT-BYT ngày 29/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định điều kiện hoạt động y tế trên môi trường mạng (sau đây gọi là Thông tư 53/2014/TT-BYT), trong đó có quy định khi triển khai LIS cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải đảm bảo điều kiện về hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin phải đáp ứng các tiêu chí:

- Hệ thống mạng nội bộ toàn đơn vị được thiết kế, triển khai phù hợp, có băng thông đáp ứng nhu cầu sử dụng thực tế

- Hệ thống máy chủ và thiết bị đi kèm đảm bảo đủ công suất, hiệu năng, tốc độ xử

lý đáp ứng được yêu cầu triển khai và vận hành hệ thống tại phòng xét nghiệm Hệ thống máy chủ có tính sẵn sàng cao, cơ chế dự phòng linh hoạt để hoạt động liên tục

- Đảm bảo đủ số lượng máy trạm, máy in, các thiết bị phụ trợ có cấu hình phù hợp

để vận hành hệ thống phần mềm quản lý xét nghiệm và công tác chuyên môn

- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tuân thủ điều kiện đảm bảo an toàn, an ninh thông tin

Nhân lực công nghệ thông tin:

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có ít nhất một cán bộ có trình độ từ trung cấp công nghệ thông tin trở lên để quản trị, vận hành LIS

Đánh giá chất lượng một phần mềm, một số tiêu chuẩn quốc tế đã đưa ra các chuẩn: ISO/IEC 9126, ISO/IEC 14598, IEEE1061, ISO 12119…Dựa trên các tiêu chí của các

Trang 15

chuẩn này, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đưa ra chuẩn quốc gia về chất lượng sử dụng của phần mềm cho phép người sử dụng có thể đạt được những mục đích cụ thể với tính hiệu quả, tính năng suất, tính an toàn và tính thỏa mãn:

- Tính hiệu quả: là khả năng của phần mềm cho phép người dùng đạt được mục đích một cách chính xác và hoàn toàn, trong điều kiện làm việc cụ thể

- Tính năng suất: là khả năng của phần mềm cho phép người sử dụng lượng tài nguyên hợp lý tương đối để thu được hiệu quả công việc trong hoàn cảnh cụ thể

- Tính an toàn: là phần mềm có tính bảo mật cao, có thể đáp ứng mức độ rủi ro chấp nhận được đối với người dùng

- Tính thỏa mãn: là phần mềm có khả năng thỏa mãn các yêu cầu của người dùng trong điều kiện cụ thể

Như vậy tính hiệu quả ở đây là khả năng cho phép người dùng đạt được mục đích Phần mềm ở lĩnh vực nào thì đáp ứng các yêu cầu của người dùng ở lĩnh vực đó

Chức năng của phần mềm quản lý xét nghiệm phải đáp ứng các yêu cầu: Tiếp nhận

yêu cầu xét nghiệm, quản lý hàng đợi và quản lý kết quả xét nghiệm, quản lý hóa chất, vật tư tiêu hao, kết nối máy xét nghiệm, kết nối phần mềm quản lý bệnh viện (kết nối HIS

- LIS) và liên thông kết quả xét nghiệm, báo cáo thống kê, quản lý danh mục và quản trị

hệ thống Các chức năng của phần mềm quản lý xét nghiệm được đánh giá theo Quyết định số 3725/QĐ-BYT ngày ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn triển khai hệ thống thông tin xét nghiệm tại các cơ sở khám bệnh chữa bệnh, cụ thể như sau

- Tiếp nhận yêu cầu xét nghiệm:

+ Hệ thống cho phép tiếp nhận các thông tin người bệnh: mã người bệnh, thông tin hành chính của người bệnh (họ tên người bệnh, tuổi, giới tính, địa chỉ, khoa, buồng, giường, số thẻ bảo hiểm y tế, ); thông tin về bệnh phẩm: mã mẫu bệnh phẩm, loại bệnh phẩm, nguồn mẫu bệnh phẩm, bộ phận yêu cầu xét nghiệm, thời gian nhận mẫu; thông tin chỉ định xét nghiệm: mã dịch vụ được chỉ định, tên dịch vụ, khoa và người chỉ định xét nghiệm; chỉ định dịch vụ xét nghiệm riêng lẻ đối với từng chỉ số hoặc theo gói xét nghiệm; cho phép chỉ định thêm các xét nghiệm bổ sung cho một mẫu xét nghiệm

+ Các thông tin yêu cầu xét nghiệm được hệ thống hỗ trợ cập nhật theo nhiều cách: nhân viên phòng xét nghiệm trực tiếp cập nhật thông tin yêu cầu xét nghiệm vào

Trang 16

LIS (qua giao diện nhập liệu); nhận từ hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện (HIS); nhận thông qua thiết bị đọc mã trên phiếu chỉ định xét nghiệm (barcode, QR code hoặc

mã khác)

+ Cấp nhãn mẫu xét nghiệm: mã mẫu xét nghiệm được hệ thống phát sinh tự động

và duy nhất trên toàn hệ thống, được sử dụng trong cả quá trình thực hiện xét nghiệm tại phòng xét nghiệm Thông tin trong nhận mẫu xét nghiệm tối thiểu phải có thông tin rõ ràng về mã mẫu xét nghiệm Tra cứu thông tin về yêu cầu xét nghiệm và xem lại lịch sử như LIS cho phép tra cứu thông tin người bệnh, bệnh phẩm theo nhiều tiêu chí như mã bệnh phẩm, tên bệnh phẩm, trạng thái, thời gian, lịch sử thực hiện xét nghiệm và cho phép hiển thị, in kết quả tìm kiếm LIS cho phép quản lý danh sách, thông tin chi tiết các chỉ định và kết quả xét nghiệm đã thực hiện; quản lý được trạng thái của quá trình xét nghiệm như đã lấy/chưa lấy mẫu, đã xét nghiệm/chưa xét nghiệm, đã có kết quả/chưa có kết quả

- Quản lý hàng đợi:LIS cho phép quản lý được hàng đợi mẫu xét nghiệm, người bệnh đợi lấy mẫu xét nghiệm; hàng đợi xét nghiệm, người bệnh đợi lấy kết quả xét nghiệm và cho phép kết nối hàng đợi với màn hình để thông báo cho người bệnh đợi lấy mẫu, kết quả xét nghiệm

- Quản lý kết quả xét nghiệm

+ LIS cho phép cập nhật, lưu trữ, hiển thị các kết quả xét nghiệm của người bệnh

đã được thực hiện tại khoa cận lâm sàng kèm theo thông tin của người bệnh: thông tin hành chính và thông tin bệnh tật của người bệnh; thông tin về khoa và người chỉ định xét nghiệm; thông tin về kết quả xét nghiệm: tên xét nghiệm; ngày giờ yêu cầu; ngày giờ lấy mẫu; ngày giờ thực hiện; người thực hiện; kết quả của xét nghiệm theo từng chỉ số; ngày giờ trả kết quả; người nhập liệu và các thông tin về kết quả xét nghiệm có liên quan khác + LIS kết nối được với các máy xét nghiệm để nhận kết quả trực tiếp; có cảnh báo kết quả bất thường nếu nằm ngoài giá trị bình thường; có ghi chú kết quả (nếu cần thiết); cho phép khóa kết quả xét nghiệm khi đã hoàn thành

+ LIS quản lý và kết xuất được kết quả xét nghiệm theo các mẫu giấy, phiếu y quy định tại Quyết định số 4069/2001/QĐ-BYT ngày 28/9/2001 của Bộ trưởng Bộ Y tế

về việc Ban hành mẫu hồ sơ, bệnh án, gồm: phiếu xét nghiệm (27/BV-01);phiếu xét nghiệm huyết học (28/BV-01); phiếu xét nghiệm huyết tủy đồ (29/BV-01); phiếu xét nghiệm chẩn đoán rối loạn đông cầm máu (30/BV-01);phiếu xét nghiệm thiết tủy xương

Trang 17

(31/BV-01); phiếu xét nghiệm tế bào nước dịch (32/BV-01); phiếu xét nghiệm hóa sinh máu (33/BV-01); phiếu xét nghiệm hóa sinh nước tiểu, phân, dịch chọc dò (34/BV-01); phiếu xét nghiệm vi sinh (35/BV-01); phiếu xét nghiệm giải phẫu bệnh sinh thiết: (36/BV-01); phiếu xét nghiệm giải phẫu bệnh khám nghiệm tử thi (37/BV-01) và cập nhật các biểu mẫu do các đơn vị ban hành

+ In phiếu kết quả theo mẫu và cho phép kết xuất ra các file định dạng thông dụng (.doc, docx, xls, xlsx, pdf )

- Quản lý hóa chất, vật tư tiêu hao:LIS cho phép thực hiện các chức năng sau: + Khai báo tồn kho hóa chất xét nghiệm; lập các phiếu nhập, xuất kho hóa chất xét nghiệm; xem tồn kho hóa chất xét nghiệm

+ Cập nhật vật tư tiêu hao và hóa chất từ kho hóa chất xét nghiệm được sử dụng trong từng mẫu xét nghiệm

+ Tạo sẵn mẫu định mức vật tư tiêu hao và hóa chất sử dụng cho từng loại xét nghiệm

+ Thống kê vật tư tiêu hao và hóa chất sử dụng trong từng loại xét nghiệm

+ Thống kê vật tư tiêu hao và hóa chất sử dụng trong từng thiết bị xét nghiệm + Quản lý và kết xuất các thông tin, tạo lập, in báo cáo nhập, xuất, tồn kho xét nghiệm

+ Thống kê vật tư tiêu hao và hóa chất theo số lô, hạn sử dụng, ưu tiên sử dụng vật tư tiêu hao, hoá chất có hạn sử dụng gần nhất

- Kết nối máy xét nghiệm

+ LIS cần có chức năng kết nối với máy xét nghiệm để gửi chỉ định và nhận kết quả trả lời tự động:

- Hỗ trợ kết nối 1 chiều: LIS nhận kết quả tự động từ máy xét nghiệm

- Hỗ trợ kết nối 2 chiều (với các thiết bị có hỗ trợ kết nối 2 chiều): LIS nhận kết quả tự động từ máy xét nghiệm, gửi chỉ định và các lệnh điều khiển từ máy tính sang máy xét nghiệm

+ Cho phép định nghĩa và tự động hóa quá trình ánh xạ dữ liệu xét nghiệm, chuẩn hóa tên các kết quả xét nghiệm

Trang 18

+ LIS có khả năng thu nhận hoặc thiết lập các biểu đồ theo dữ liệu thu nhận được

từ các máy có thiết lập biểu đồ như máy phân tích huyết học, điện di, máy điện tim + LIS có khả năng kết nối với thiết bị kết nối được với các loại máy xét nghiệm phổ biến tại Việt Nam theo các chuẩn khác nhau như RS232, RJ11, RJ45, USB

+ LIS có khả năng lưu trữ hình ảnh thu được từ các thiết bị

- Kết nối phần mềm quản lý bệnh viện (kết nối HIS - LIS) và liên thông kết quả xét nghiệm

+ LIS cho phép nhận thông tin người bệnh, thông tin chỉ định xét nghiệm từ HIS chuyển sang mà không phải nhập lại, gửi trả kết quả xét nghiệm về lại HlS

+ LIS cho phép gửi thông tin chỉ định xét nghiệm tới các máy xét nghiệm đối với các thiết bị có hỗ trợ kết nối 2 chiều

+ LIS cho phép liên thông dữ liệu, kết quả xét nghiệm giữa các phòng xét nghiệm

và các hệ thống liên quan phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh và quản lý bảo hiểm y

tế

- Báo cáo thống kê

+ LIS cho phép tạo báo cáo thống kê theo:

- Danh sách tiếp nhận người bệnh, bệnh phẩm;

- Danh sách lấy mẫu bệnh phẩm;

- Danh sách thực hiện xét nghiệm;

- Thống kê tổng hợp xét nghiệm;

- Định mức hóa chất

+ LIS quản lý và kết xuất được thông tin theo các biểu mẫu báo cáo thống kê quy định tại Quyết định 4069/2001/QĐ-BYT ngày 28/9/2001 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành mẫu hồ sơ, bệnh án, bao gồm:

- Sổ xét nghiệm (14/BV-01);

- Sổ xét nghiệm tế bào máu ngoại vi (15/BV-01);

- Sổ xét nghiệm vi sinh (18/BV-01);

Trang 19

- Sổ trả kết quả cận lâm sàng (20/BV-01)

+ Kết xuất được các báo cáo thống kê theo yêu cầu quản lý của đơn vị và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam

- Quản lý danh mục

Các danh mục dùng chung cần sử dụng thống nhất trong toàn hệ thống để đảm bảo

sự đồng bộ giữa việc quản lý hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, hành chính, thống kê

báo cáo LIS cần quản lý được tối thiểu các danh mục:

- Danh mục chỉ số xét nghiệm, Danh mục nhóm chỉ số xét nghiệm; Danh mục loại dịch vụ xét nghiệm; Danh mục kỹ thuật xét nghiệm, Danh mục loại dịch vụ kỹ thuật; Danh mục loại mẫu xét nghiệm; Danh mục thiết bị xét nghiệm; Danh mục vật tư y tế, Danh mục máu và chế phẩm máu do Bộ Y tế ban hành

- Danh mục kỹ thuật Huyết học - Truyền máu, Hóa sinh, Vi sinh quy định tại Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Thông tư

số 21/2017/TT-BYT ngày 10/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế sửa đổi, bổ sung danh mục

kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh ban hành kèm theo thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013

- Khuyến nghị áp dụng Danh mục mã quan sát lâm sàng và mã dùng trong phòng xét nghiệm (LOINC) tại Quyết định số 2035/QĐ-BYT ngày 12/6/2013 của Bộ trưởng Bộ

Y tế về việc công bố Danh mục kỹ thuật về ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực

y tế

- LIS có thể cập nhật, bổ sung các danh mục khác theo yêu cầu thực tế của đơn vị

- Quản trị hệ thống

LIS cần có các chức năng như sau:

+ Quản lý người dùng: Quản lý người dùng LIS, phân quyền, nhật ký người sử dụng

+ Thiết lập thông số cảnh báo tự động khi kết quả xét nghiệm bất thường

Trang 20

+ Quản lý thông tin về cấu hình LIS: Thiết lập tham số cấu hình kết nối cơ sở dữ liệu; thiết lập tham số chế độ làm việc; sao lưu; chế độ nhật ký; đăng nhập, đăng xuất và các chức năng cấu hình khác liên quan

1.3 Ứng dụng CNTT trong y tế và quản lý xét nghiệm

- Trên thế giới :

Cho đến nay CNTT và truyền thông trong y tế đã phát triển không ngừng, có nhiều

sự lựa chọn các giải pháp ứng ứng nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng Tại các nước khai sinh ra ngành CNTT như Mỹ thì đến năm 2014 đã xác định toàn dân Mỹ đã được cấp mã số sức khỏe nối mạng bệnh viện toàn quốc Các nước tiên tiến như Anh, Úc, Canada… là các nước đặt biệt chú trọng đầu tư CNTT cho y tế vì đã nhận thấy được sự tiết kiệm nhiều chi phí và hiệu quả khi ứng dụng CNTT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân CNTT y tế đã phát triển theo các chức năng: tăng cường chức năng quản lý bệnh viện: toàn bộ thông tin bệnh viện được sắp xếp, tổ chức một cách khoa học, làm cơ sở cho công tác quản lý bệnh viện một cách hiệu quả; hỗ trợ đắc lực trong thực hành y khoa: giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa, giúp bác sĩ ra quyết định nhanh chóng và chính xác, hỗ trợ y tế từ xa, lưu trữ và phân tích số liệu cho nghiên cứu khoa học; nâng cao kiến thức chuyên môn: các bác sĩ có thể dễ dàng tiếp cận, cập nhật kiến thức, kỹ thuật y

tế mới nhất qua hệ thống internet…; đặc biệt chức năng tự động hóa các phương tiện chẩn đoán và điều trị: máy móc xét nghiệm ngày nay hoàn toàn tự động hóa, nâng cao độ chính xác của xét nghiệm New Zealand là nước ứng dụng CNTT tốt nhất hiện nay trong

y tế Các nước trên thế giới đã lên kế hoạch xây dựng chương trình quốc gia về CNTT trong y tế để thích nghi với thời đại mới Tại khu vực Châu Á, các nước tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapre cũng đã ứng dụng tốt CNTT trong quản lý bệnh viện

Tại Mỹ với việc ưu tiên sử dụng công nghệ thông tin tại bệnh viện giúp cho việc làm giảm lỗi sai sót trong y tế và góp phần thúc đẩy an toàn cho bệnh nhân (72,5%) Nghiên cứu chỉ ra rằng khó khăn lớn nhất khi triển khai CNTT tại bệnh viện là do các bệnh viện không có khả năng cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh (85,4%), ngoài ra một số khó khăn khác là thiếu nguồn lực có kỹ năng sử dụng CNTT (82,3%) [15] Một số trở ngại khác là thiếu hệ thống có thể chia sẽ thông tin và thiếu nguồn nhân lực về công nghệ thông tin được đào tạo [16]

Trang 21

Tại Colombia, việc sử dụng các ứng dụng CNTT trong bệnh viện, trong đó có chỉ định xét nghiệm, trả kết quả xét nghiệm, lưu trữ kết quả … đã đem đến các cải thiện về chất lượng cho 80% các bệnh viện [19]

- Tại Việt nam:

Tại Việt Nam CNTT được ứng dụng trong ngành y tế khá sớm Trong 20 năm qua

Bộ Y tế đã triển khai ứng dụng CNTT trong các hoạt động của ngành từ trung ương đến địa phương trong các hoạt động của ngành y tế Đến nay, Bộ Y tế đã thiết lập một hệ thống tổ chức chỉ đạo hoạt động về CNTT từ cơ quan Bộ đến các đơn vị

Theo báo cáo chung tổng quan ngành y tế hàng năm (Joint Annual Health Review) thì trong giai đoạn hiện tại thì một trong những lĩnh vực được coi trọng nhất và là một trong những ưu tiên đặc biệt của ngành y tế để đầu tư, phát triển chính là y tế điện tử Báo cáo trên cho thấy có 58% các bệnh viện đã có mạng LAN, hầu hết các bệnh viện đã

có kết nối Internet; 21% bệnh viện có ban chỉ đạo CNTT, 28% bệnh viện có đơn vị chuyên trách, còn lại hầu hết là nằm chung với phòng KHTH là tổ/nhóm công nghệ thông tin, trung bình 1 bệnh viện có 1 người, có nhiều bệnh viện không có nhân lực CNTT, phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm với 57% có trình độ đại học, trong đó chỉ 15% là có chuyên ngành công nghệ thông tin, các nhân sự phụ trách CNTT bệnh viện hầu như không được đào tạo chuyên sâu Khoảng 51% các bệnh viện có nguồn kinh phí (2/3 là từ nguồn kinh phí sự nghiệp, 1/3 là từ vốn xã hội hóa cân đối thu chi của bệnh viện và các nguồn tài trợ từ các dự án), nguồn ngân sách chi cho CNTT tăng dần hàng năm, đến 70% kinh phí là dành cho mua sắm phần cứng và hạ tầng mạng Số tiền dành cho đào tạo là rất thấp chỉ xấp xỉ 10% Có 75% bệnh viện đã thực hiện ứng dụng CNTT vào quản lý bệnh viện, nhưng với những mức độ khác nhau [14]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nhã về thực trạng và một số thuận lợi, khó khăn trong ứng dụng công nghệ thông tin quản lý bệnh viện tại bệnh viện đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm 2018 cho kết quả là phần mềm phân hệ quản lý cận lâm sàng là một trong các phân hệ chưa đạt yêu cầu theo quy định của Bộ Y tế Phân hệ phần mềm quản

lý cận lâm sàng chỉ đạt 10/12 tiêu chí và chưa có chức năng quản lý hóa chất, vật tư tiêu hao và chưa có chức năng kết nối với các máy xét nghiệm Đánh giá của người sử dụng

có 78,6% nhân viên y tế được khảo sát đánh giá phần mềm sử dụng dễ dàng và thuận lợi Nghiên cứu của Nguyễn Đức Luyện về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám chữa bệnh tại bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2017 cho thấy

Trang 22

trang thiết bị, hạ tầng mạng tương đối đầy đủ, đáng ứng được nhu cầu Hằng năm đều có kinh phí cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin Nhân lực chuyên trách công nghệ thông tin có trình độ cao Phần mềm cận lâm sàng còn chưa tiện dụng, có 7/10 tiêu chí đạt và các tiêu chí chưa đạt là chưa có sự kết nối kết quản cận lâm sàng với bác sĩ lâm sàng Về khả năng đáp ứng của phần mềm ở mức trung bình, trong đó phân hệ phần mềm quản lý cận lâm sàng là phân hệ được đánh giá khó sử dụng ở mức cao nhất (19,2%) và khả năng đáp ứng kém nhất trong các phân hệ (26,9%) Về lợi ích của phần mềm mang lại là kiểm soát thông tin người bệnh (90,8%), giảm thời gian làm việc của nhân viên y tế (90,8%), giảm thời gian chờ đợi cho người bệnh (89,2%)

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương về đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện tại bệnh viện Nhi, tỉnh Thanh Hóa năm 2013 cho thấy

số lượng máy tính đáp ứng được nhu cầu công việc (71,9%) Các máy tính đều được nối mạng nội bộ, tuy nhiên tỉ lệ kết nối cả mạng nội bộ và mạng internet còn thấp (28,9%) Phần mềm quản lý cận lâm sàng 7/11 tiêu chí có nội dung đạt yêu cầu của Bộ Y tế (64%),

có 3/11 tiêu chí chưa đạt (11%) bao gồm các tiêu chí "quản lý các chỉ định cận lâm sàng của người bệnh"; "quản lý vật tư tiêu hao"; và tiêu chí "đáp ứng yêu cầu báo cáo thống kê" của Bộ Y tế và chưa có 1 tiêu chí "quản lý hóa chất" (9%) Phần lớn NVYT cho rằng

sử dụng phần mềm là đơn giản, dể nhớ các thao tác (86,6%), 94,2% sự cố phần mềm được khắc phục sớm và 83,5% NVYT rất hài lòng khi sử dụng phần mềm

Tại các y tế cơ sở tuyến quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng máy chủ, máy tính tại còn thiếu so với yêu cầu, tất cả đều có mạng LAN và kết nối internet băng rộng, không có thiết bị dự phòng và giải pháp sao lưu, phục hồi dữ liệu chưa đầy đủ, các phần mềm quản lý xét nghiệm LIS thường chạy độc lập Hạ tầng kỹ thuật CNTT chỉ mới đáp ứng yêu cầu ở mức cơ bản, còn một số BV hạng 1 có hạ tầng CNTT chưa tương xứng với quy mô của đơn vị Vấn đề đảm bảo an toàn thông tin chưa được chú trọng đúng mức Phần mềm, cơ sở dữ liệu, định dạng dữ liệu… không đồng nhất giữa các đơn vị.Chưa áp dụng các quy định về chuẩn kỹ thuật, chuẩn dữ liệu…Có sự chênh lệch khá lớn về nhân lực CNTT giữa tuyến thành phố với tuyến quận huyện [13]

Xét nghiệm là một trong những khoa quan trọng hàng đầu của chẩn đoán cận lâm sàng và là nơi chịu nhiều áp lực nhất trong các khâu khám chữa bệnh Hầu hết công ty giải pháp công nghệ thông tin (CNTT) trong lĩnh vực y tế chỉ phát triển phần quản lý thông tin bệnh nhân, kết quả hoặc thử nghiệm được một vài chủng loại máy xét nghiệm

Trang 23

đếm tế bào huyết học Điều này khiến quy trình quản lý kết quả vẫn phải qua một số bước thủ công và việc sao chép thông tin nhiều lần vừa mất thời gian, tốn nhân lực vừa khiến độ chính xác bị ảnh hưởng do "tam sao thất bản" Việc ứng dụng phần mềm quản

lý xét nghiệm Labconn cũng cho kết quả có độ chính xác rất cao, khoa học và tiết kiệm được nhiều thời gian bởi chỉ một lần nhập dữ liệu đầu vào, kết quả không bị sửa đổi và việc quản lý, thống kê, báo cáo số liệu cũng rất thuận tiện, tránh lặp lại và hạn chế sai lầm đến mức thấp nhất, tất cả công đoạn được xử lý hoàn toàn tự động, công việc được thực hiện nhanh chóng hơn và giảm được chi phí nhân sự Tương tự tại Việt Nam cũng đã sử dụng phần mềm Open eLIS trong quản lý thông tin xét nghiệm cũng cho thấy rằng Open eLIS là một hệ thống thông tin phòng xét nghiệm điện tử nguồn mở do hệ thống phòng xét nghiệm y tế công cộng của Hoa Kỳ phát triển và hỗ trợ Việt Nam triển khai ứng dụng tại các cơ sở xét nghiệm trên toàn quốc Ứng dụng hệ thống Open eLIS cho thấy các cải thiện rõ rệt trong công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm HIV/AIDS nói riêng và các xét nghiệm khác nói chung, cụ thể như về giảm lỗi, sai sót trong xét nghiệm dưới 0,1%, rút ngắn thời gian trả kết quả xét nghiệm từ 20%-25%, giảm tải trên 50% khối lượng công việc ghi chép, quản lý dữ liệu, giảm chi phí hành chính và nhân sự, kết nối trao đổi dữ liệu với các hệ thống khác giúp tăng cường và nâng cao giá trị dữ liệu

1.4 Giới thiệu về bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh

Thông tin chung về Bệnh viện Quận 4:

Vị trí địa lý: Bệnh viện Quận 4 có địa chỉ tại số 63 – 65 Bến Vân Đồn, Phường 12,

Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh Vị trí tiếp giáp của bệnh viện phía Đông Bắc giáp đường Lê Quốc Hưng; phía Đông Nam giáp khu dân cư; phía Tây Bắc giáp đường Bến Vân Đồn và phía Tây Nam giáp nhà dân và đường Đoàn Văn Bơ

Chức năng, nhiệm vụ:

● Cấp cứu – khám bệnh– chữa bệnh;

● Đào tạo cán bộ y tế;

● Nghiên cứu khoa học về y học;

● Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật;

● Phòng bệnh;

● Hợp tác quốc tế;

Trang 24

● Quản lý kinh tế y tế

Tổ chức bộ máy:

Bệnh viện Quận 4 là bệnh viện đa khoa hạng II theo quy định của Bộ Y tế với quy

mô hiện tại 130 giường bệnh nội trú Tổ chức bộ máy có Ban Giám đốc, 04 Phòng chức năng, 09 Khoa Lâm sàng và 04 Khoa cận lâm sàng khác nhau :

● Ban Giám đốc: 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc

12 Khoa Dinh dưỡng

13 Liên chuyên khoa: Mắt – Răng hàm mặt – Tai mũi họng

Trang 25

- Hoạt động chuyên môn:

Bệnh viện với quy mô 204 giường gồm: Hồi sức cấp cứu, Nội, Ngoại, Sản, Nhi và

Y học cổ truyền Hàng năm, số bệnh nhân điều trị nội trú gần 5.000 lượt Số lượt bệnh nhân trung bình đến khám và chữa bệnh tại bệnh viện là 2.000 lượt/ngày

- Giới thiệu về Khoa Xét nghiệm, bệnh viện Quận 4

Khoa Xét nghiệm có 17người gồm 01 trưởng khoa, 01 phó trưởng khoa, 01 KTV trưởng khoa và các điều dưỡng, kỹ thuật viên xét nghiệm chia ra thành 03 tổ: tổ huyết học, tổ vi sinh, tổ sinh hóa miễn dịch

Năm 2007, Khoa xét nghiệm Bệnh viện Quận 4 được thành lập trên cơ sở tách từ Khoa Xét nghiệm - Trung tâm Y tế quận 4, với sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện, đã tạo điều kiện cho các cán bộ, viên chức trong khoa được tham gia các lớp đào tạo, tập huấn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, tuyển dụng nhân sự đáp ứng kịp thời sự phát triển của khoa Hiện nay khoa có 17 nhân sự (02 thạc sĩ, 04 cử nhân và các kỹ thuật viên, điều dưỡng trung học), được phân công phụ trách 03 lĩnh vực chuyên môn (Sinh hóa – Miễn dịch, Huyết học – Nhận bệnh, Vi sinh – Ký sinh); tham gia quản lý 04 bộ phận (Quản lý chất lượng, quản lý hàng hóa – trang thiết bị, an toàn lao động, chăm sóc khách hàng); tăng cường hợp tác đầu tư thêm trang thiết bị hiện đại, các thiết bị được phân công quản lý chặt chẽ, định kỳ bảo trì, bảo dưỡng, đánh giá Với các trang thiết bị hiện đại: máy sinh hóa tự động, máy huyết học tự động, máy đo HbA1C bằng phương pháp HPLC tự động, máy đo điện giải đồ bằng điện cực tự động,… đã thực hiện được

277 kỹ thuật xét nghiệm, phục vụ khoảng 300 lượt bệnh nhân/ngày với bình quân 3.000 tiêu bản/ngày

Từ năm 2007 đến 2015, Khoa Xét nghiệm đã tham gia thí điểm triển khai phần mềm quản lý thông tin Phòng xét nghiệm (Open eLIS) do Ủy ban phòng chống HIV/AIDS điều phối với sự tài trợ của Tổ chức CDC-Hoa Kỳ, đây được xem là phần mềm quản lý thông tin phòng xét nghiệm sử dụng mã nguồn mở đầu tiên trong cả nước, được thí điểm tại 4 đơn vị tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Bệnh viện Nhi đồng 2, Trung tâm Y tế dự phòng TP.HCM và Bệnh viện Quận 4 Việc triển khai quản lý thông tin phòng xét nghiệm đã giúp cho việc truy xuất dữ liệu dễ dàng, nhanh chóng hơn, tránh được những sai sót kết quả xét nghiệm do nhầm lẫn, đây cũng là cơ sở để Cục quản lý khám chữa bệnh chọn lựa Bệnh viện Quận 4 là một trong 6

Trang 26

đơn vị phía Nam tham gia chương trình nâng cao năng lực phòng xét nghiệm vào năm

2012

Đánh giá hiệu quả của việc quản lý thông tin khám chữa bệnh từ phần mềm quản

lý thông tin phòng xét nghiệm tại Khoa xét nghiệm, nhằm lan tỏa sự tiện nghi trên đến tất

cả các khoa, phòng khác trong bệnh viện, vào năm 2014 Ban Giám đốc bệnh viện quận 4

đã đầu tư để triển khai phần mềm quản lý thông tin bệnh viện (HIS) do công ty FPT cung cấp là phần mềm eHopital Sau khi lắp đặt xong phần cứng, cơ sở hạ tầng mạng và cài đặt xong phần mềm của hệ thống eHopital, đơn vị quản lý phần mềm Open eLIS phối hợp với công ty FPT để kết nối liên thông dữ liệu giữa 2 phần mềm LIS và HIS, từ đó dữ liệu thông tin bệnh nhân được trao đổi hai chiều từ HIS qua LIS và ngược lại

Từ năm 2015 đến nay, Bệnh viện quận 4 vẫn tiếp tục sử dụng hệ thống quản lý thông tin phòng xét nghiệm Open eLIS với sự theo dõi, bảo trì từ bộ phận công nghệ thông tin của Bệnh viện và đến tháng 01 năm 2019, được sự hỗ trợ của thành viên sáng lập phần mềm Open eLIS, bộ phận công nghệ thông tin bệnh viện đã nâng cấp phần mềm Open eLIS lên phiên bản 2.0 có tên là Medilab, với giao diện mới dễ dàng thao tác, và kết nối hai chiều với hệ thống HIS và các phần mềm của các máy chuyên môn hơn

Bảng 1.2 Hạ tầng công nghệ thông tin tại Khoa Xét nghiệm năm 2019

- 01 máy dùng sao lưu

dữ liệu, dự phòng sự cố của máy chủ chính

2 Máy in laser 09 - 01 máy in A3, in sổ kết

quả

- 05 máy in A4, A5: dùng in kết quả xét nghiệm

- 03 máy in các văn bản hành chính khác

3 Bộ máy vi tính để bàn 12 - 02 máy in code, nhập

liệu

- 03 máy in, chuyển kết

Trang 27

quả

- 07 máy vận hành, trao đổi thông tin 2 chiều với các máy chuyên môn

4 Máy lưu điện 3000 VA 01 - Sử dụng cho hệ thống

máy chủ LIS

5 Máy quét mã vạch 10 - 02 máy dùng lấy mã

lấy dữ liệu của HIS

- 08 máy kết nối với máy chuyên môn dùng

mã trên các ống mẫu đưa vào

6 Máy in tem mã vạch 03 - In tem mã vạch của

LIS, dùng dán lên các phiếu hẹn trả kết quả, chỉ định xét nghiệm, các ống mẫu thử nghiệm

7 Router 02 - cấp wifi cho người

bệnh, theo dõi thông báo tin trạng kết quả xét nghiệm

8 Ổ cứng 02 - Dùng sao lưu dữ liệu

9 Hệ điều hành máy chủ 01 - Medilab

10 Hệ điều hành máy trạm 02 - eHopital, Medilab

11 Phần mềm diệt virut 01 - Phần mềm Microsoft

security essentials

12 Hệ thống đường truyền Mạng cáp quang

Bảng 1.2 Tình trạng thiết bị xét nghiệm đang được sử dụng

1 Máy điện giải đồ tự động XL-921C 1702112 2017 01

2 Máy đông máu bán tự động Start4 2009 01

3 Máy đông máu bán tự động Coagulyzer 4 2016 01

4 Máy huyết học lazer 28

Trang 28

6 Máy huyết học tư động 18

9 Máy phân tích nước tiểu tự

động 11 thông số Cybow Redear 300 2013

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu :

− Số liệu thứ cấp: các báo cáo thống kê, hồ sơ quản lý thiết bị CNTT về hoạt động ứng dụng phần mềm trong quản lý xét nghiệm

− Phần mềm đang ứng dụng tại Khoa Xét nghiệm

− Lãnh đạo khoa xét nghiệm

− Nhân viên khoa xét nghiệm, nhân viên phụ trách CNTT tại khoa xét nghiệm

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

− Thời gian: Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2019

− Địa điểm: Khoa xét nghiệm-bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chính Minh

2.3 Thiết kế, Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu:

− Thiết kế: Mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu,

2.4.1 Điều tra định lượng: toàn bộ mẫu là 17 nhân viên đang làm việc tại khoa xét

nghiệm, bệnh viện Quận 4 tại thời điểm khảo sát có tham gia sử dụng chức năng phần mềm quản lý xét nghiệm tại Khoa Xét nghiệm để trả lời phiếu tự điền: 17 phiếu

2.4.2 Điều tra định tính: 01 lãnh đạo khoa và 03 NVYT phụ trách cho 03 phân khoa được

phỏng vấn sâu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu: theo trình tự tiến hành như sau:

2.5.1 Nghiên cứu định lượng:

Học viên là người trực tiếp thu thập các báo cáo, số liệu sẵn có tại khoa xét Bệnh viện Quận 4, làm việc với lãnh đạo Khoa xét nghiệm, nêu rõ mục đích, nội dung của nghiên cứu liên quan đến hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý xét nghiệm, quản

nghiệm-lý thông tin bao gồm: nhân lực, cơ cấu tổ chức, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng CNTT, tên phần mềm quản lý, kinh phí đầu tư, quy trình quản lý, các quy chế hiện hành của Bệnh viện có liên quan đến việc ứng dụng phần mềm trong quản lý xét nghiệm (có bảng trống

số liệu thứ cấp)

2.5.2 Nghiên cứu định tính: thu thập số liệu sơ cấp thông qua:

Trang 30

● Phỏng vấn sâu: Nghiên cứu viên trực tiếp phỏng vấn sâu với các đối tượng nghiên cứu Trong cuộc phỏng vấn có sử dụng máy ghi âm (khi được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu) kết hợp với ghi chép nội dung phỏng vấn Nghiên cứu viên là người trực tiếp làm việc với 01 lãnh đạo khoa và 03 NVYT đại diện cho 03 phân khoa đã được lựa chọn, nêu rõ mục đích và nội dung nghiên cứu và đề nghị được phỏng vấn theo bảng câu hỏi để

Quy trình giám sát điều tra: nghiên cứu viên có nhiệm vụ kiểm tra sự phù

hợp của thông tin ở số liệu thứ cấp, số liệu thu được từ quan sát, tự điền, phỏng vấn Nếu thấy có sự không phù hợp của thông tin, số liệu nghiên cứu viên sẽ tiến hành khảo sát bổ sung

2.5.3 Công cụ nghiên cứu:

Phiếu thu thập thứ cấp về thực trạng ứng dụng phần mềm trong quản lý xét nghiệm (phụ lục 1A,B)

Phiếu khảo sát, đánh giá từ NVYT sử dụng phần mềm tại khoa xét nghiệm (phụ lục 1 C,D)

Bảng kiểm đánh giá mức độ đáp ứng về chức năng của phần mềm quản lý xét

nghiệm theo các tiêu chí do Bộ Y tế ban hành (phụ lục 2)

Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu (phụ lục 3,4)

Đánh giá chức năng phần mềm quản lý bệnh viện đang được ứng dụng: dựa vào các

tiêu chí mà Bộ Y tế đã ban hành trong Quyết định số 3725/QĐ-BYT liên quan đến chức năng của phần mềm quản lý thông tin xét nghiệm, phụ lục 2

Các tiêu chí đánh giá các chức năng phần mềm:

- Đạt : thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu về chức năng của phần mềm theo Quyết

định số 3725/QĐ-BYT

Trang 31

- Chưa đạt : chỉ thỏa mãn một phần các yêu cầu về chức năng của phần mềm

theo Quyết định số 3725/QĐ-BYT

- Không đạt: không thỏa mãn bất cứ yêu cầu nào về chức năng của phần mềm

theo Quyết định số 3725/QĐ-BYT

2.5.4 Điều tra định tính: Phỏng vấn sâu 04 cuộc:

+1 lãnh đạo khoa xét nghiệm( xem chi tiết phụ lục 3),

+ 03 nhân viên đại diện của 03 phân khoa trong khoa xét nghiệm (Phụ lục 4)

2.6 Các biến số nghiên cứu:

2.6.1 Nhóm biến số đánh giá các yếu tố kỹ thuật:

Hệ thống phần cứng

Đánh giá thực trạng ứng dụng phần mềm quản lý xét theo các tiêu chí quy định của

Bộ Y tế

2.6.2 Nhóm biến số đánh giá các yếu tố tổ chức:

Các yếu tố về công tác quản lý;

Các yếu tố về đào tạo sử dụng phần mềm;

Kinh phí đầu tư cho CNTT

2.6.3 Nhóm biến số đánh giá người sử dụng phần mềm:

Khảo sát các chức năng phần mềm đang sử dụng (Phụ lục 6)

Khảo sát yếu tố người dùng về kỹ năng sử dụng vi tính và sự hỗ trợ khi sử dụng phần mềm (Phụ lục 6)

2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá:

● Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các báo cáo thống kê về ứng phần mềm quản lý

xét nghiệm tại Khoa xét nghiệm bao gồm các yếu tố kỹ thuật, các yếu tố tổ chức và các yếu tố người dùng

Phiếu thu thập số liệu thứ cấp là bộ câu hỏi tự điền có cấu trúc dành cho NVYT với nội dung thu thập các thông tin chung và các thông tin về hoạt động, sử dụng phần mềm trong quản lý xét nghiệm Nghiên cứu viên tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên danh sách đã chuẩn bị sẵn (do Trưởng khoa thông qua) chào hỏi, giới thiệu mục đích của cuộc

Trang 32

điều tra và xin sự đồng ý tham gia của đối tượng Chỉ tiến hành tiếp tục phát phiếu khi có

sự đồng ý của đối tượng tham gia

● Số liệu sơ cấp: đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng phần mềm

trong quản lý xét nghiệm vào các tiêu chí của Bộ Y tế

- Đạt: thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu do Bộ Y tế đặt ra

- Chưa đạt: thỏa mãn một phần (< 80% các tiêu chí) các yêu cầu Bộ Y tế đặt ra

- Chưa có: không thỏa mãn bất cứ một yêu cầu nào

2.8 Phương pháp phân tích số liệu:

Xử lý và phân tích số liệu định lượng: Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Excel Các kết quả được tính theo tỉ lệ phần trăm và được trình bày bằng các bảng và biểu đồ theo quy định

Xử lý và phân tích số liệu định tính: Băng ghi âm của các cuộc phỏng vấn sâu sẽ được gỡ và ghi chép lại một cách trung thực Nghiên cứu viên sẽ tóm tắt các thông tin,

mã hóa và tổng hợp theo chủ đề quan tâm:

- Thực trạng ứng dụng chức năng phần mềm trong quản lý xét nghiệm tại khoa xét nghiệm, bệnh viện Quận 4 năm 2019;

- Đánh giá khả năng đáp ứng của chức năng phần mềm theo yêu cầu của Bộ Y tế

- Một số thuận lợi và khó khăn của NVYT khi sử dụng phần mềm quản lý xét nghiệm tại khoa xét nghiệm

- Nguyên nhân, giải pháp

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu:

● Vấn đề nghiên cứu đã được sự đồng ý của lãnh đạo bệnh viện

● Mọi thông tin cung cấp đều do sự hợp tác giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, không có sự ép buộc Các thông tin về đối tượng nghiên cứu được mã hóa, không nêu tên trực tiếp

● Các số liệu về kết quả chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu đã đề ra, không được

sử dụng cho các mục đích khác không liên quan đến nghiên cứu

● Nghiên cứu được sự chấp thuận của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng theo Công văn số 343/2019/YTCC-HD3 ngày 24 tháng 6 năm 2019

Trang 33

● Kết quản nghiên cứu được phản hồi, báo cáo cho Ban Giám đốc, Trưởng khoa Xét nghiệm và NVYT biết và làm cơ sở cho các giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT tại Bệnh viện trong thời gian sắp tới

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục

2.10.1 Hạn chế và khó khăn của nghiên cứu:

● Nghiên cứu chỉ tiến hành tại Bệnh viện 4, nên tính đại diện của nghiên cứu hạn chế về mặt phạm vi, không thể suy rộng kết quả nghiên cứu

● Có thể xảy ra một số trường hợp, cán bộ viên chức ngại va chạm nên trả lời phiếu thu thập thông tin (tự điền), phỏng vấn không đúng với thực tế

● Có khả năng sai số trong quá trình nhập liệu

● Những đề tài nghiên cứu tương tự không có nhiều, do đó khó có thể so sánh kết quả nghiên cứu

2.10.2 Sai số và biện pháp khắc phục:

● Đây là nghiên cứu cắt ngang có phân tích sử dụng số liệu thứ cấp và thông tin sơ cấp, nên chất liệu số liệu có khả năng thiếu trung thực do có thể mang tính chủ quan và phụ thuộc vào mức độ hiểu biết về CNTT của nghiên cứu viên

● Nghiên cứu viên khắc phục bằng cách kiểm tra chéo các nguồn thông tin và nguồn

số liệu thứ cấp để có thể phản ánh sát thực tế và tin cậy hơn

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá chức năng phần mềm quản lý xét nghiệm tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

3.1.1 Thực trạng phần mềm quản lý xét nghiệm

Hiện nay phân hệ phần mềm quản lý xét nghiệm là một trong 5 phân hệ của phần mềm quản lý thông tin bệnh viện (HIS) có tên là eHopital do công FPT cung cấp, gồm: phân hệ quản lý khám bệnh ngoại trú; phân hệ quản lý điều trị nội trú; phân hệ quản lý dược; phân hệ quản lý viện phí; phân hệ quản lý thông tin cận lâm sàng (chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm) Trong đó phân hệ xét nghiệm trên hệ thống phần mềm quản lý thông tin bệnh viện có chức năng trao đổi thông tin dữ liệu bệnh nhân giữa hệ thống HIS và hệ thống LIS mà không tương tác trực tiếp với các thiết bị chuyên môn xét nghiệm

Bệnh viện đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin: 02 máy chủ hệ thống (IBM X3100 M5, vi xử lý: Intel Xeon® CPU E3-1220@ 3,10GHz 3,10GHz, RAM: 16,0 GB: 01 máy dùng chạy phần mềm và kết nối với HIS, 01 máy dùng sao lưu dữ liệu, dự phòng sự cố của máy chủ chính); 09 máy in laser (01 máy in A3, in sổ kết quả; 05 máy in A4, A5: dùng in kết quả xét nghiệm, 03 máy in các văn bản hành chính khác); 12 bộ máy vi tính

để bàn (02 máy in code, nhập liệu 03 máy in, chuyển kết quả, 07 máy vận hành, trao đổi thông tin 2 chiều với các máy chuyên môn), 01 máy lưu điện 3000 VA sử dụng cho hệ thống máy chủ LIS, 10 đầu quét mã vạch (02 máy dùng lấy mã lấy dữ liệu của HIS, 08 máy kết nối với máy chuyên môn dùng mã trên các ống mẫu đưa vào), 03 máy in tem mã vạch (in tem mã vạch của LIS, dùng dán lên các phiếu hẹn trả kết quả; chỉ định xét nghiệm, các ống mẫu thử nghiệm), 02 Router cấp wifi cho người bệnh, theo dõi thông báo tin trạng kết quả xét nghiệm, 02 Ổ cứng dùng sao lưu dữ liệu Medilab; 01 hệ điều hành máy chủ; 02 hệ điều hành máy trạm eHopital, Medilab; 01 phần mềm diệt virut Microsoft security essentials; Hệ thống đường truyền mạng cáp quang

Đơn vị công nghệ thông tin tại Bệnh viện Quận 4 là Tổ Công nghệ thông tin trực thuộc Phòng Tổ chức - Hành chính quản trị với 3 người (01 đại học, 1 cao đẳng, 01 trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin) và có phân công 01 nhân viên CNTT trình độ cao đẳng phụ trách vận hành phần mềm xét nghiệm

Trang 35

3.1.2 Thông tin liên quan đầu tư mua sắm:

3.1.2.1 Đầu tư trang bị máy tính, máy in tại Khoa xét nghiệm trong 3 năm:

Kết quả báo cáo ghi nhận số lượng máy tính và máy in tăng qua các năm, cụ thể:

số lượng máy tính năm 2017 là 8 máy tăng 4 máy năm 2019 Số lượng máy in tăng từ 4 máy năm 2019 lên 9 máy năm 2019 Năm 2019 lượng máy tính được trang bị thêm nhiều nhất trong 3 năm liền kề; năm 2018 số lượng máy in được trang bị tăng gấp đôi năm liền

kề trước đó

3.1.2.2 Đầu tư tài chính cho việc ứng dụng CNTT tại Khoa Xét nghiệm

Năm

Kinh phí Tổng tiền

(triệu đồng Tỉ lệ so với hoạt động bệnh viện (%)

3.1.3 Thông tin của đối tượng sử dụng phần mềm quản lý xét nghiệm:

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng sử dụng phần mềm quản lý xét nghiệm

Trang 36

Trên 15 năm 2 11,8 Trình độ chuyên môn

Bảng 3.2 Trình độ tin học của đối tượng nghiên cứu

Trong quá trình thu thập mẫu từ 17 nhân viên y tế, nhận thấy 100% nhân viên y

tế đều có tham gia các lớp học về tin học, tuy nhiên chỉ có 16/17 người có chứng chỉ tin học, trong đó tỉ lệ có chứng chỉ tin học trình độ A chiếm cao nhất với tỉ lệ 70,6%; chỉ có một nhân viên y tế có chứng chỉ tin học trình độ C chiếm 5,9%

Biểu đồ 3.1 Tình trạng sử dụng máy tính truy cập thông tin

Trang 37

Qua khảo sát, nhận thấy nhân viên tại Khoa xét nghiệm thường sử dụng máy tính

để truy tìm thông tin người bệnh, nhóm này chiếm tỉ lệ cao nhất (70,6%)

3.1.4 Thông tin nhận định về cơ sở hạ tầng CNTT:

Bảng 3.3 Tổng hợp thông tin nhận định về cơ sở hạ tầng CNTT tại Khoa xét nghiệm :

2 Số lượng máy vi tính đáp ứng nhu cầu 3

làm việc của khoa

7 Thường xuyên được tập huấn khi cập

nhật hoặc thay đổi phần mềm mới

Nhận xét:

Đa số người được khảo sát (82,4%) đánh giá hạ tầng công nghệ thông tin hiện nay

là từ tương đối tốt trở lên với 100% các máy tính được kết nối mạng và đạt độ ổn định khá cao (88,2%), toàn bộ máy tính hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu hoạt động Khả năng máy tính bị trục trặc cũng tương đối ít (5,9%)

3.1.5 Thông tin nhận định chung về phần mềm quản lý xét nghiệm

Bảng 3.4 Tổng hợp thông tin nhận định chung về phần mềm quản lý xét nghiệm:

Stt Nhận định chung về phần mềm quản lý xét nghiệm Tần số Tỉ lệ

Trang 38

người bệnh tốt hơn trên giấy tờ Không nhiều lắm 1 5,9

7 Phần mềm có giúp giảm thời gian chờ

đợi của người bệnh

Không nhiều lắm 0 0,0

8 Phần mềm có giúp quản lý dữ liệu

thống kê số liệu, lập kế hoạch, báo cáo

theo quy định có nhanh và chính xác

10 4 Giao diện phần mềm quản lý xét

nghiệm hiện tại Đơn giản

16 94,1

Không thân thiện 0 0,0

11 Vấn đề tuổi tác có ảnh hưởng đến việc ộ

sử dụng máy vi tính

12 Được tập huấn sử dụng lại khi có sự

thay đổi cấu trúc phần mềm

Các lợi ích mà phần mềm mang lại cho nhân viên khi làm việc là giúp giảm thời gian làm việc (94,1%), giúp giảm thời gian chờ đợi của người bệnh (100%), giúp quản

lý thông tin người bệnh tốt hơn trên giấy tờ (94,1%), giúp quản lý dữ liệu thống kê số liệu, lập kế hoạch, báo cáo theo quy định có nhanh và chính xác (100%) Điều đó làm

đa số nhân viên (94.1%) hài lòng và rất hài lòng với phần mềm đang sử dụng hiện nay

3.1.6 Thông tin nhận định về chức năng phần mềm quản lý xét nghiệm

3.1.6.1 Nhận định về chức năng phần mềm từ nhân viên sử dụng

Bảng 3.5.Nhận định về chức năng phần mềm quản lý xét nghiệm từ người sử dụng:

Trang 39

Stt Nhận định về chức năng của phần mềm

Tỉ lệ (%)

1 Tiếp nhận yêu cầu xét nghiệm 3 Có 17 100,0

6 Kết nối phần mềm quản lý bệnh viện (kết nối

HIS - LIS) và liên thông kết quả xét nghiệm

3.1.6.2 Nhận định về chức năng phần mềm từ nhân viên phụ trách CNTT:

Về chức năng tiếp nhận yêu cầu xét nghiệm

Qua trao đổi với nhân viên phụ trách CNTT của Khoa xét nghiệm và quan sát các thao tác của NVYT tại Khoa Xét nghiệm thì phân hệ xét nghiệm trên phần mềm eHopital và phần mềm quản lý xét nghiệm Medilab đều có chức năng “Tiếp nhận yêu cầu xét nghiệm với các tính năng chi tiết như:

- Thông tin hành chính và thông tin bệnh tật của người bệnh

- Thông tin về khoa và người chỉ định xét nghiệm

- Thông tin về kết quả xét nghiệm: tên xét nghiệm; ngày giờ yêu cầu; ngày giờ lấy mẫu; ngày giờ thực hiện; người thực hiện; kết quả của xét nghiệm theo từng chỉ

Trang 40

số; ngày giờ trả kết quả; người nhập liệu và các thông tin về kết quả xét nghiệm

có liên quan khác

- Nhân viên phòng xét nghiệm trực tiếp cập nhật thông tin yêu cầu xét nghiệm

- Thông tin được nhận từ hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện

- Thông tin được nhận thông qua thiết bị đọc mã trên phiếu chỉ định xét nghiệm (barcode, QR code hoặc mã khác)

- Cấp nhãn mẫu xét nghiệm

- Cho phép tra cứu thông tin người bệnh, bệnh phẩm theo nhiều tiêu chí như mã bệnh phẩm, tên bệnh phẩm, trạng thái, thời gian, lịch sử thực hiện xét nghiệm

và cho phép hiển thị, in kết quả tìm kiếm

- Cho phép quản lý danh sách, thông tin chi tiết các chỉ định và kết quả xét nghiệm

đã thực hiện; quản lý được trạng thái của quá trình xét nghiệm như đã lấy/chưa lấy mẫu, đã xét nghiệm/chưa xét nghiệm, đã có kết quả/chưa có kết quả

Về quản lý hàng đợi:

Qua khảo sát, được biết chức năng quản lý hàng đợi chì đang có trên phân hệ xét nghiệm trên phần mềm eHopital, chưa có trên phần mềm Medilab Việc sử dụng chức năng để gọi bệnh nhân vào chỉ đang trong giai đoạn thử nghiệm và hoàn chỉnh kết nối giữa HIS-LIS nên chỉ có một số nhân viên trong khoa xét nghiệm được biết đến

Quản lý kết quả xét nghiệm

Theo nhân viên phụ trách CNTT của Khoa xét nghiệm, thì phần mềm quản lý xét nghiệm có chức năng “Quản lý kết quả xét nghiệm” với các tính năng chi tiết như:

- Cập nhật, lưu trữ, hiển thị các kết quả xét nghiệm của người bệnh đã được thực hiện tại khoa cận lâm sàng kèm theo thông tin của người bệnh

- Thông tin về kết quả xét nghiệm: tên xét nghiệm; ngày giờ yêu cầu; ngày giờ lấy mẫu; ngày giờ thực hiện; người thực hiện; kết quả của xét nghiệm theo từng chỉ số; ngày giờ trả kết quả; người nhập liệu và các thông tin về kết quả xét nghiệm

có liên quan khác

- Kết nối được với các máy xét nghiệm để nhận kết quả trực tiếp

- Cảnh báo kết quả bất thường

- Ghi chú kết quả nếu cần thiết

- Khóa kết quả xét nghiệm khi đã hoàn thành

Ngày đăng: 29/01/2021, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w