1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Nghiên cứu một số đặc điểm nhân trắc học phát triển tai người Việt Nam

71 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Các bệnh nhi mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh được điều trị bằng phẫu thuật tạo hình tai một thì sử dụng khung sụn nhân tạo PPE tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện[r]

Trang 1

TRẦN NGỌC PHƯƠNG ANH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NHÂN TRẮC HỌC PHÁT TRIỂN TAI

NGƯỜI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y

ĐA KHOA

Hà Nội - 2020

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA Y DƯỢC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA Y DƯỢC

Người thực hiện: TRẦN NGỌC PHƯƠNG ANH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NHÂN TRẮC HỌC PHÁT TRIỂN TAI

NGƯỜI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:

Ban chủ nhiệm, thầy cô giáo Bộ môn Ngoại, Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy/Cô Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ trong hội đồng khoa học bảo vệ khóa luận đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em để hoàn chỉnh khóa luận tốt nghiệp này

Em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới:

PGS.TS Nguyễn Hồng Hà, trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt Tạo hình và Thẩm mỹ Bệnh viện Việt Đức, người thầy kính yêu đã tận tâm dìu dắt, giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

TS Nguyễn Việt Hoa, trưởng khoa Phẫu thuật Nhi và Trẻ sơ sinh Bệnh viện Việt Đức đã tạo mọi điều kiện cho em thu thập số liệu hoàn thành khoá luận này

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới cha mẹ, anh chị em trong gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ với em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2020

TRẦN NGỌC PHƯƠNG ANH

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em là Trần Ngọc Phương Anh, sinh viên khoá QH.2014.Y, ngành Y đa khoa, Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hồng Hà

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực

và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu

Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2020

Tác giả

TRẦN NGỌC PHƯƠNG ANH

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AI : Chỉ số tai (auricular index)

BMI : Chỉ số khối cơ thể (body mass index)

n : Số lượng

PPE : Polyethylene xốp (porous polyethylene)

SD : Độ lệch chuẩn (standard deviation)

X : Giá trị trung bình

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giải phẫu tai ngoài 3

1.1.1 Giải phẫu tai ngoài 3

1.1.2 Các mốc giải phẫu và chỉ số sử dụng trong nghiên cứu 4

1.2 Các nghiên cứu nhân trắc học tai trẻ em trên thế giới 5

1.2.1 Tóm lược lịch sử hình thành và phát triển nhân trắc học 5

1.2.2 Một số nghiên cứu nhân trắc học tai trẻ em trên thế giới 7

1.2.3 Một số nghiên cứu nhân trắc học tại Việt Nam 9

1.3 Các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học tai 9

1.3.1 Đo trực tiếp 9

1.3.2 Đo trên ảnh 9

1.3.3 Đo trên phim chụp cắt lớp vi tính dựng hình ba chiều (3D Computed Tomography) 10

1.4 Dị tật tai nhỏ bẩm sinh 10

1.4.1 Đại cương về dị tật tai nhỏ bẩm sinh 10

1.4.2 Ảnh hưởng tâm lý của dị tật tai nhỏ bẩm sinh trên bệnh nhi 12

1.5 Phẫu thuật tạo hình tai 14

1.5.1 Lịch sử phát triển của phẫu thuật tạo hình tai 14

1.5.2 Phương pháp sử dụng sụn sườn tự thân 15

1.5.3 Phương pháp sử dụng sụn nhân tạo bằng polyethylene xốp 16

1.5.4 Tình hình tại Việt Nam 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

Trang 7

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Nhóm 1 - Nghiên cứu đặc điểm nhân trắc học phát triển tai 20

2.1.2 Nhóm 2 - Bước đầu ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình tai 20

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu nhân trắc học phát triển tai 21

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 21

2.3.2 Chọn mẫu 21

2.3.3 Thiết lập biến số nghiên cứu 21

2.3.4 Phương pháp đo kích thước tai ngoài 22

2.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 23

2.4 Bước đầu ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình tai 23

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 23

2.4.2 Chọn mẫu 23

2.4.3 Tiến hành nghiên cứu 23

2.5 Sơ đồ nghiên cứu 26

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu nhân trắc học phát triển tai 28

3.2 Đặc điểm nhân trắc học phát triển tai người Việt Nam 31

3.3 Bước đầu ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình tai điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh 41

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 45

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu nhân trắc học phát triển tai 45

4.2 Đặc điểm nhân trắc học phát triển tai người Việt Nam 46

4.3 Bước đầu ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình tai ở trẻ mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh tại Bệnh viện Việt Đức 49

KẾT LUẬN 52

Trang 8

1 Một số đặc điểm nhân trắc học phát triển tai người Việt Nam 52

2 Bước đầu ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình tai điều trị trẻ mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh tại Bệnh viện Việt Đức 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Phân bố tuổi theo giới của nhóm nghiên cứu 29

Bảng 3.2 Tuổi trung bình của người trưởng thành 29

Bảng 3.3 Đặc điểm tăng trưởng của trẻ 30

Bảng 3.4 Kích thước tai trẻ em theo nhóm tuổi và giới 31

Bảng 3.5 Kích thước tai của người trưởng thành 35

Bảng 3.6 Chỉ số tai của trẻ theo nhóm tuổi 36

Bảng 3.7 Chỉ số tai của người trưởng thành 37

Bảng 3.8 Tỉ lệ kích thước tai trẻ so với người trưởng thành cùng giới (%) 37

Bảng 3.9 Tỉ lệ kích thước tai trẻ nam có số đo tai bố so với kích thước tai bố, trẻ nữ có số đo tai mẹ so với kích thước tai mẹ (%) 39

Bảng 3.10 Kết quả bước đầu ứng dụng nhân trắc trong tạo hình tai nhỏ khung sụn nhân tạo PPE 41

Bảng 4.1 Tỉ lệ % chiều dài tai của nhóm trẻ 5 – 6 tuổi so với người trưởng thành ở một số nghiên cứu trên thế giới 49

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới của đối tượng nghiên cứu 28

Biểu đồ 3.2 Đồ thị chiều rộng tai trái trung bình của trẻ theo nhóm tuổi 33

Biểu đồ 3.3 Đồ thị chiều dài tai trái trung bình của trẻ theo nhóm tuổi 34

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Loa tai phải (mặt ngoài)[55] 3

Hình 1.2 Các mốc giải phẫu và số đo sử dụng trong nghiên cứu của Barut (2003) [1] 4

Hình 1.3 Các mốc giải phẫu và số đo sử dụng trong nghiên cứu của Purkait (2013) [34] 5

Hình 2.1 Giản đồ tai trái [12] 22

Hình 2.2 Đo kích thước khung sụn nhân tạo trong mổ 24

Hình 2.3 Khung sụn PPE và vạt cân thái dương đỉnh với đầy đủ hai cung mạch 24

Hình 2.4 Da đầu tại chỗ lấy vạt không có sẹo xấu nhờ ứng dụng nội soi 24

Hình 2.5 Sau mổ 6 tháng, kết quả thẩm mỹ tốt chỉ với một lần phẫu thuật 25

Hình 2.6 Tai mới to hơn tai đối diện nhưng gia đình và bệnh nhân hiểu và hài lòng 25

Hình 3.1 Bệnh nhân số 1 trước và sau mổ 42

Hình 3.2 Bệnh nhân số 2 trước và sau mổ 43

Hình 3.3 Bệnh nhân số 4 trước và sau mổ 44

Trang 11

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Một trong những dị tật chiếm tỷ lệ lớn trong bất thường hình dạng vành tai bẩm sinh là dị tật tai nhỏ bẩm sinh Dị tật tai nhỏ bẩm sinh là sự phát triển bất thường của vành tai, đặc trưng bởi một hay cả hai vành tai có kích thước nhỏ bất thường và hình dáng bị biến dạng [18] Tỷ lệ mắc của dị tật tai nhỏ bẩm sinh trung bình trên thế giới là 2,06/10.000 trẻ mới sinh [25] Ở những trẻ sinh ra với dị tật này, bất thường

về thẩm mỹ sớm trở thành bất lợi lớn trong các giao tiếp xã hội và có thể gây ra sự chế nhạo, xa lánh hay chối bỏ ở các trẻ đồng trang lứa dẫn tới những sang chấn tâm

lý hay thậm chí là sự gián đoạn phát triển tâm lý, để lại những di chứng phức tạp trong sự phát triển tâm lý bình thường của trẻ [29] Trẻ nhỏ hình thành ý thức về bản thân ở độ tuổi 4 – 6, trong giai đoạn này trẻ rất nhạy cảm trong các giao tiếp xã hội Đây là thời gian quan trọng trong cuộc đời, có ảnh hưởng tới sự hình thành và hoàn thiện nhân cách của trẻ trong tương lai Do đó vấn đề phẫu thuật tạo hình tai được đặt

ra và khuyến khích thực hiện trước hoặc trong giai đoạn này [29, 35]

Phẫu thuật tạo hình tai có lịch sử kéo dài qua nhiều thế kỷ cùng với sự hình thành và phát triển của nhiều kỹ thuật khác nhau, cùng đi theo sự hoàn thiện về mặt

kỹ thuật là hành trình tìm kiếm và hoàn thiện vật liệu tối ưu cho phẫu thuật tạo hình tai, từ việc sử dụng sụn sườn ở cuối thế kỷ 19 cho tới việc sản xuất và sử dụng vật liệu nhân tạo ở cuối thế kỷ 20 [3] Các phẫu thuật viên luôn mong muốn giảm số lần phẫu thuật và thực hiện tái tạo càng sớm càng tốt, trước độ tuổi đến trường để tránh ảnh hưởng tới tâm lý của trẻ Phương pháp tạo hình kinh điển bằng sụn sườn tự thân yêu cầu trẻ phải có lồng ngực đủ lớn để tạo hình khung sụn nên chỉ thực hiện được ở lứa tuổi từ 8 – 12 tuổi Với việc sử dụng khung sụn nhân tạo Polyethylene, từ những năm 1990, một nhóm các phẫu thuật viên Hoa Kỳ đã có thể triển khai tái tạo tai cho trẻ ở độ tuổi trước khi đi học Hiện tại ở Việt Nam, các bác sỹ khoa Phẫu thuật Hàm mặt Tạo hình và Thẩm mỹ Bệnh viện Việt Đức đã thực hiện thành công nhiều ca phẫu thuật tạo hình tai sớm bằng sụn nhân tạo một thì với sự hỗ trợ của nội soi cho trẻ chỉ

từ 3 – 6 tuổi [56] Nhưng vấn đề các phẫu thuật viên gặp phải là khi tái tạo tai sớm cho trẻ việc ước lượng được kích thước tai mới như thế nào cho phù hợp để sau này khi trưởng thành không cần phẫu thuật thêm nữa

Nhiều nghiên cứu nhân trắc học về kích thước tai ở trẻ nhỏ đã được thực hiện trên thế giới, ở các quốc gia, vùng lãnh thổ và chủng tộc khác nhau, như ở trẻ người

Trang 12

2

da trắng tại Thổ Nhĩ Kỳ và Bắc Mỹ [1, 12], trẻ người da vàng tại Trung Quốc [49] và trẻ người da đen tại Zimbabwe [29] Những nghiên cứu này đều có giá trị ứng dụng cao trong đánh giá và theo dõi sự phát triển bình thường của tai ở trẻ nhỏ cũng như việc lựa chọn kỹ thuật và vật liệu phù hợp trong phẫu thuật tạo hình tai cho các trẻ mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh Tuy nhiên hiện tại ở Việt Nam qua tìm hiểu trên y văn vẫn chưa có nghiên cứu nào về nhân trắc học tai trẻ em, chưa có một cơ sở dữ liệu nào về kích thước tai của trẻ qua từng giai đoạn phát triển của cuộc đời và các báo cáo về kỹ thuật tạo hình tai hiện mới tập trung chủ yếu tại bệnh viện Việt Đức

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một

số đặc điểm nhân trắc học phát triển tai người Việt Nam” với mục tiêu:

1 Mô tả một số đặc điểm nhân trắc học tai ở trẻ trong độ tuổi dưới 18, so sánh với người trưởng thành

2 Bước đầu ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình tai điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh tại bệnh viện Việt Đức

Trang 13

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu tai ngoài

1.1.1 Giải phẫu tai ngoài

Tai ngoài là một trong ba phần cấu trúc nên cơ quan tiền đình ốc tai Tai ngoài bao gồm có loa tai và ống tai ngoài ngăn cách với tai giữa bởi màng nhĩ, có nhiệm vụ thu nhận và dẫn truyền sóng âm thanh trong không khí đến màng nhĩ

Hình 1.1 Loa tai phải (mặt ngoài)[55]

Loa tai có hình vành loa cùng những chỗ lồi lõm giúp ta thu nhận âm thanh từ mọi phía mà không cần cử động tai hoặc xoay đầu về phía tiếng động như ở nhiều loài động vật Loa tai có hai mặt: mặt ngoài và mặt trong Mặt ngoài loa tai lõm không đều hướng nhẹ ra trước và có nhiều chỗ lồi, lõm Mặt trong loa tai áp vào sọ và hướng

ra sau, giới hạn với mặt bên sọ bởi rãnh tai sau

Xung quanh loa tai có 4 gờ: gờ luân chạy vòng theo chu vi loa tai, bắt đầu từ

gốc gờ luân (trụ gờ luân) Nơi gờ luân đổi hướng chạy xuống dưới có một mấu nhỏ

nhô lên là củ loa tai, phần dưới gờ gọi là đuôi gờ luân; gờ đối luân chạy song song

phía trước và trong gờ luân, phần trên tách thành hai trụ, giữa hai trụ là hố tam giác;

bình tai (gờ bình) là một gờ nhỏ chắn phía trước xoắn tai; gờ đối bình nằm đối diện

bình tai Dưới tất cả là dái tai

Trang 14

4

Loa tai được cấu tạo bởi da, sụn, dây chằng và cơ Lớp da phủ loa tai mỏng, dính chặt vào mặt ngoài của sụn Sụn tai là một mảnh sụn sợi đàn hồi, hình dạng lồi lõm như ở loa tai, nhờ vậy mà sụn tai có tác dụng tạo và giữ hình dáng của loa tai Ở dái tai không có sụn mà chỉ có mô sợi và mô mỡ phủ bởi da Các dây chằng của loa tai có tác dụng cố định loa tai vào mặt bên đầu và giữ hình dáng của loa tai, các cơ tai kém phát triển [54]

1.1.2 Các mốc giải phẫu và chỉ số sử dụng trong nghiên cứu

Các nghiên cứu của Farkas (1992) và Barut (2006) đưa ra các mốc giải phẫu

để sử dụng trong đo lường như sau [1, 12]:

- Gốc gờ luân (preaurale – pra): điểm trong nhất của mặt ngoài loa tai

- Củ loa tai (postaurale – pa): điểm ngoài nhất của mặt ngoài loa tai

- Đỉnh gờ luân (superaurale – sa): điểm trên nhất của mặt ngoài loa tai

- Gờ dái tai (subaurale – sa): điểm dưới nhất của mặt ngoài loa tai

Hình 1.2 Các mốc giải phẫu và số đo sử dụng trong nghiên cứu của Barut

(2003) [1]

Các nghiên cứu trên cũng xác định các số đo chiều rộng và chiều dài tai dựa trên các mốc giải phẫu như sau:

Trang 15

5

- Chiều rộng tai (pra-pa): là khoảng cách giữa gốc gờ luân và củ loa tai

- Chiều dài tai (sa-sba): là khoảng cách giữa hai đường thẳng song song đi qua đỉnh gờ luân và gờ dái tai và song song với đường thẳng đi qua gốc gờ luân và

củ loa tai

Các nghiên cứu của Kalcioglu (2003) và Purkait (2013) lại đưa ra cách xác định chiều dài tai khác: chiều dài tai là khoảng cách trực tiếp giữa đỉnh gờ luân và gờ dái tai, với chiều rộng tai được xác định tương tự như Farkas và Barut [22, 34]

Hình 1.3 Các mốc giải phẫu và số đo sử dụng trong nghiên cứu của Purkait

(2013) [34]

Để phục vụ cho việc đánh giá sâu hơn những khác biệt về sự phát triển chiều rộng và chiều dài tai giữa các nhóm tuổi và hai giới, các nghiên cứu của Barut (2006), Purkait (2013) và Zhao (2017) đã đưa ra chỉ số tai (Auricular Index – AI) như sau [1,

34, 49]:

AI = Chiều rộng tai x 100 / Chiều dài tai

1.2 Các nghiên cứu nhân trắc học tai trẻ em trên thế giới

1.2.1 Tóm lược lịch sử hình thành và phát triển nhân trắc học

Việc đo đạc các kích thước của từng bộ phận cơ thể cũng như toàn bộ cơ thể

đã được thực hiện từ thời Hy Lạp cổ đại Rất nhiều phép đo từ thời cổ đại vẫn được

Trang 16

sử dụng các kỹ thuật nhân trắc học và được dùng như những nguyên tắc để sửa chữa những khiếm khuyết và sự mất cân đối

Những tiêu chuẩn chính về cơ thể con người đã được định nghĩa bởi các nghệ

sỹ Ai Cập cổ đại và có ảnh hưởng lớn đến người Hy Lạp và La Mã cổ đại Sang thời

kỳ Hy Lạp cổ đại, Polycleitus (khoảng 450 – 420 TCN) là một nhà điêu khắc đã dựa trên các tỷ lệ cơ bản của Ai Cập để định nghĩa nên các tiêu chuẩn tỷ lệ cơ thể lý tưởng đầu tiên Aristotle (384 – 322 TCN) đã đưa ra những triết lý về vẻ đẹp lý tưởng trong

các nghiên cứu về cơ thể và khuôn mặt Trong Physiognomica ông đã mô tả cách chỉ

ra tính cách của mỗi người dựa trên các đặc điểm cơ thể của họ [50]

Đến thời kỳ Phục hung Leonardo Da Vinci (1452 – 1519) tập trung nghiên cứu các tỷ lệ cơ thể và khuôn mặt được cho là lý tưởng và ứng dụng chúng vào những tác phẩm nghệ thuật của mình Từ thế kỷ 18 – 19, mục đích đo đạc chủ yếu là để chỉ

ra sự ưu việt của một số nhóm người so với các nhóm người khác

Tới thế kỷ 20, nhân trắc học bước vào thời kỳ của những tỷ lệ và phép đo khách quan:

- Jacques Joseph (1865 – 1934): được coi là cha đẻ của ngành tạo hình mũi hiện đại nhấn mạnh tầm quan trọng của mũi nhìn nghiêng với thẩm mỹ của khuôn mặt

- Brodie (1941): Nghiên cứu về sự tăng trưởng sọ mặt ở trẻ em

- Hunter (1966), Popovich và Thompson (1977): Nghiên cứu mối liên hệ giữa tăng trưởng đầu mặt và tăng trưởng chiều cao qua các giai đoạn phát triển

- Farkas (1994): Nghiên cứu sự phát triển các số đo đầu mặt trên người da trắng Bắc Mỹ

Trang 17

7

1.2.2 Một số nghiên cứu nhân trắc học tai trẻ em trên thế giới

Đến cuối thế kỷ 20, phẫu thuật tạo hình tai trong điều trị các trẻ mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh đã trở thành một lĩnh vực được nhiều chuyên gia phẫu thuật tạo hình quan tâm tới Tuy đã có nhiều tác giả đề cập đến sự phát triển kích thước của tai sau sinh trong y văn, vẫn chưa có một nghiên cứu nào đưa ra được những kết luận rõ ràng

về tuổi trưởng thành của kích thước tai Do đó giữa các bác sĩ phẫu thuật tạo hình có nhiều ý kiến trái chiều về việc lựa chọn thời gian tối ưu cho phẫu thuật tạo hình tai

Để giải đáp cho vấn đề này, Farkas đã công bố nghiên cứu nhân trắc học tai vào năm

1992, là tác giả đầu tiên nêu ra được các mốc thời gian cụ thể trong quá trình trưởng thành về kích thước tai [12]

Nghiên cứu của Farkas (1992)

Nghiên cứu được thực hiện trên 1590 trẻ người da trắng ở Bắc Mỹ trong độ tuổi từ 1 đến 18 tuổi, bao gồm cả hai giới, các số đo được lấy từ tai trái và rút ra được những kết quả sau [12]:

Ở mốc 1 tuổi, chiều rộng tai đã đạt 93,5% kích thước trưởng thành ở cả hai giới, chỉ kém trung bình 2,3mm so với kích thước trung bình của nhóm 18 tuổi Mặt khác, ở mốc 1 tuổi chiều dài tai mới chỉ đạt 76,4%, còn chênh lệch gấp năm lần (12,3mm) so với nhóm 18 tuổi Ở mốc 5 tuổi, chiều rộng tai đã đạt 96,7%, gần bằng kích thước trưởng thành trong khi chiều dài đạt 86,6% ở cả hai giới và còn thấp hơn 8,2mm so với nhóm 18 tuổi Sự tăng trưởng chiều rộng tai theo năm là tương đối ít, xen lẫn với các khoảng không ghi nhận sự phát triển Ở nam giới ghi nhận sự tăng chiều dài tai nhanh trong giai đoạn sớm từ 2 – 3 tuổi và sau đó chậm lại, với các khoảng ngắn không thay đổi Nữ giới cũng đi theo hình mẫu phát triển tương tự Chiều rộng tai đạt kích thước trưởng thành tại mốc 7 tuổi ở nam giới và 6 tuổi ở nữ giới, chiều dài tai trưởng thành tại mốc 13 tuổi ở nam giới và 12 tuổi ở nữ giới Tại thời điểm này, trung bình chiều dài tai kém hơn kích thước trung bình ở nhóm 18 tuổi khoảng từ 1,1 – 1,4mm

Nghiên cứu của Kalcioglu (2003) và Barut (2006)

Nghiên cứu của Kalcioglu được thực hiện trên 1552 trẻ ở Thổ Nhĩ Kỳ trong

độ tuổi từ 0 đến 18 tuổi, bao gồm cả hai giới, các số đo được lấy từ tai phải và rút ra được những kết quả sau [22]:

Trang 18

8

Chiều dài tai đạt mức trưởng thành ở tuổi 12 với trẻ nam và 11 với trẻ nữ còn chiều rộng tai đạt mức trưởng thành ở mốc 6 tuổi tại cả hai giới

Nghiên cứu của Barut được thực hiện trên 153 trẻ ở Thổ Nhĩ Kỳ trong độ tuổi

từ 6 đến 13 tuổi, bao gồm 87 trẻ nam và 66 trẻ nữ, các số đo được lấy từ cả hai tai và rút ra được những kết quả sau [1]:

Chiều rộng trung bình của tai trái lớn hơn đáng kể so với tai phải ở tất cả các đối tượng nghiên cứu Mặt khác, cho dù chiều dài trung bình của tai phải lớn hơn so với tai trái, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Khi so sánh giữa hai giới về chiều rộng và chiều dài của cả hai tai, quan sát thấy các giá trị này đều cao hơn ở nam giới, và các giá trị này đều có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của Purkait (2013)

Nghiên cứu của Purkait được thực hiện trên 2147 trẻ ở Ấn Độ trong độ tuổi từ

0 đến 18 tuổi, bao gồm 1163 trẻ nam và 984 trẻ nữ, các số đo được lấy từ tai phải và rút ra được những kết quả sau [34]:

Các số đo đều tăng trưởng rất nhanh trong 3 – 6 tháng đầu của thời kỳ sơ sinh

và sau đó tiếp tục phát triển với tốc độ chậm cho tới tuổi trưởng thành Tại trẻ mới sinh, chiều rộng đã đạt 70% kích thước trưởng thành và chiều dài đạt 61% Chiều rộng trưởng thành sớm hơn, ở trẻ nam 7 tuổi và trẻ nữ 6 tuổi Trong khi đó, chiều dài trưởng thành muộn hơn, ở trẻ nam 14 tuổi và trẻ nữ 13 tuổi

Nghiên cứu của Muteweye (2015)

Nghiên cứu của Muteweye được thực hiện trên 305 trẻ ở Zimbabwe trong độ tuổi từ 9 đến 13 tuổi, bao gồm cả hai giới, số đo về chiều dài tai được lấy từ cả hai tai

và rút ra được những kết quả sau [29]:

Chiều dài tai trung bình của tất cả các đối tượng nghiên cứu là 56,95±5,00mm (tai phải) và 56,86±4,92mm (tai trái) Chiều dài tai của nam lớn hơn ở nữ giới

Nghiên cứu của Zhao (2017)

Nghiên cứu của Zhao được thực hiện trên 480 trẻ ở Trung Quốc trong độ tuổi

từ 1 đến 18 tuổi, bao gồm cả hai giới, các số đo được lấy từ cả hai tai và rút ra được những kết quả sau [49]:

Trang 19

9

Chiều rộng và chiều dài tai tăng theo tuổi Chiều dài tai đạt mức trưởng thành

ở mốc 14 tuổi đối với cả hai giới Chiều rộng tai trưởng thành tại 7 tuổi với trẻ nam

và 5 tuổi với trẻ nữ Chỉ số tai thay đổi theo hai xu hướng khác nhau giữa hai giới Những người trong cộng đồng này quan tâm tới chiều dài tai nhiều hơn chiều rộng

1.2.3 Một số nghiên cứu nhân trắc học tại Việt Nam

Ở Việt Nam hiện tại đã có một số công trình nghiên cứu về nhân trắc đầu mặt như sau [50]:

- Phạm Thị Hương Lan và Hoàng Tử Hùng (1999): Nghiên cứu so sánh đặc điểm cung răng người Việt với người Ấn Độ và Trung Quốc

- Lê Đức Lánh (2002): Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu mặt và cung răng ở

140 trẻ từ 12 – 15 tuổi bằng cách đo trực tiếp và trên mẫu hàm thạch cao

- Võ Trương Như Ngọc (2010): Nghiên cứu đặc điểm kết cấu sọ mặt và đưa ra tiêu chuẩn khuôn mặt hài hoà từ 18 – 25 tuổi bằng cả ba phương pháp đo

- Hồ Thị Thuỳ Trang (2015): Nghiên cứu tuổi xương đốt sống cổ và ứng dụng khảo sát tăng trưởng hệ thống sọ mặt giai đoạn 8 – 18 tuổi

Tuy nhiên hiện qua tìm hiểu trong y văn tại Việt Nam vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về nhân trắc học tai

1.3 Các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học tai

1.3.1 Đo trực tiếp

Đo trực tiếp trên lâm sàng cho chúng ta biết chính xác kích thước thật và đưa

ra các chỉ số Đây là phương pháp dễ thực hiện, thao tác đơn giản và không đòi hỏi máy móc, kỹ thuật phức tạp Tuy nhiên phương pháp này tiêu tốn nhiều thời gian và yêu cầu người thực hiện nắm chắc các mốc giải phẫu trên tai và phương pháp đo Mặt khác, kết quả đo dễ bị ảnh hưởng bởi tính chất đàn hồi của mô mềm Do đó khi lựa chọn phương pháp này cần người thực hiện có kinh nghiệm và cần sự giám sát khi

đo để giảm tối đa sai số do kỹ thuật đo

1.3.2 Đo trên ảnh

Thực hiện trên ảnh chụp chuẩn hoá tư thế thẳng và nghiêng Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau như nhân trắc, hình sự,…

Trang 20

10

với nhiều ưu điểm: tiết kiệm thời gian, nhân lực, dễ lưu trữ, bảo quản và trao đổi thông tin, kỹ thuật chụp ảnh chuẩn hoá giúp cho việc đánh giá và so sánh kết quả được đồng nhất và dễ dàng hơn Mặt khác thông qua việc phân tích ảnh chuẩn hoá nhà nghiên cứu có thể đưa ra các đánh giá về sự tương quan của các cấu trúc, sự cân xứng của gương mặt Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải có phần mềm riêng nhằm phục vụ cho quá trình phân tích hình ảnh và người thực hiện cần có sự thành thạo trong việc sử dụng phần mềm này

Hai phương pháp nêu trên có tác dụng bổ trợ qua lại cho nhau và có thể được

sử dụng làm cơ sở đối chiếu lẫn nhau [46]

1.3.3 Đo trên phim chụp cắt lớp vi tính dựng hình ba chiều (3D Computed Tomography)

Trong vài năm trở lại đây nhiều kỹ thuật dựng hình ba chiều đã được ứng dụng trong việc đo đạc trên mô mềm, bao gồm nhiều phương pháp như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ,… trong đó chụp cắt lớp vi tính được cho là phương pháp chụp cho ra kết quả chính xác nhất [46] Hình ảnh thu được nhờ kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính dựng hình ba chiều có nhiều ưu điểm vượt trội so với cách đo cổ điển trên lâm sàng nhờ loại bỏ được sai số do xác định sai mốc giải phẫu cũng như do tính chất của mô mềm Thay vào đó nhà nghiên cứu thu được hình ảnh đa trục, đa chiều,

mô tả chi tiết và chính xác cấu trúc giải phẫu phức tạp của tai ngoài ngay cả với những cấu trúc nhỏ, khó đo trực tiếp trên lâm sàng Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của phương pháp này lại là yêu cầu về máy móc kỹ thuật cao, giá thành đắt và chỉ có thể thực hiện tại các cơ sở y tế, bệnh viện lớn

1.4 Dị tật tai nhỏ bẩm sinh

1.4.1 Đại cương về dị tật tai nhỏ bẩm sinh

Dị tật tai nhỏ bẩm sinh là tình trạng bệnh lý gây ra bởi những khiếm khuyết trong giai đoạn phát triển phôi thai, dẫn tới sự phát triển không hoàn thiện của các thành phần cấu tạo nên tai ngoài trong bào thai, đặc trưng bởi những biến dạng hình dạng và kích thước tai ngoài, đi từ những bất thường nhỏ trong cấu trúc tai cho tới tình trạng tai ngoài hoàn toàn biến mất [24]

Bệnh căn của dị tật tai nhỏ đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ Có nhiều giả thuyết về di truyền học cũng như ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự hình

Trang 21

11

thành tai ngoài trong thời kỳ phôi thai nhưng chưa có tác giả nào đưa ra được những kết luận mang tính khẳng định về nguyên nhân dẫn đến dị tật tai nhỏ bẩm sinh Các yếu tố nguy cơ được nhiều tác giả đề ra bao gồm [18, 24, 25]:

- Đột biến ngẫu nhiên

- Di truyền: hội chứng Treacher – Collins

- Tuổi của mẹ khi mang thai: tuổi cao tăng nguy cơ

- Số lần mang thai nhiều

- Mẹ mắc bệnh khi mang thai: đái tháo đường thai kỳ,…

- Mẹ sử dụng một số loại thuốc, rượu hoặc chất kích thích trong thời kỳ mang thai: Isotretionin (thuốc điều trị mụn, biệt dược Accutane), Thalidomide (thuốc điều trị ung thư), Mycophenolat mofetil (thuốc ức chế miễn dịch), Methamphetamine,…

- Trẻ sinh thiếu tháng, thiếu cân

- Suy thai

Ống tai bắt đầu hình thành vào tuần thứ năm của thai kỳ, với tai ngoài hay cụ thể là loa tai được biệt hoá vào tuần thứ bảy Loa tai phát triển từ khe mang thứ nhất Khe mang thứ nhất hình thành nên các gò lồi của His Ba gò lồi đầu tiên phát sinh từ cung hàm dưới, tách ra trước và hình thành nên bình tai, gờ luân và một phần xoắn tai Ba gò lồi còn lại phát sinh từ cung xương móng, tách ra sau và hình thành nên đối bình tai, gờ đối luân, phần còn lại của xoắn tai, dái tai và các phần còn lại của loa tai [45] Bất kỳ gián đoạn nào trong thời kỳ hình thành của tai đều gây nên các dị tật và thời điểm gián đoạn càng sớm thì gây nên các dị tật càng nghiêm trọng hơn

Có nhiều tác giả đã đề xuất các hệ thống phân độ dị tật tai nhỏ bẩm sinh Marx phát triển hệ thống đầu tiên vào năm 1926, gồm ba phân độ, với hai phân độ đầu tiên dựa vào các mốc giải phẫu còn nhận diện được và phân độ thứ ba là chỉ còn di tích dái tai rất nhỏ hoặc hoàn toàn không có tai ngoài [28] Tanzer công bố hệ thống phân

độ của mình vào năm 1978 bao gồm năm typ từ 1 tới 5 dựa trên mức độ bất thường

và giới thiệu hai khái niệm mới là dị tật không tai ngoài (anotia) và dị tật vành tai bị vùi (cryptopia) [17] Weerda đưa ra hệ thống phân độ của mình vào năm 1988, gồm những cải biên dựa trên phân độ của Marx và Tanzer [13] Sau đó, hệ thống phân độ của Nagata (1993) bao gồm năm typ được đánh giá là rất thuận lợi vì có mối tương quan với phương pháp phẫu thuật [38]:

Trang 22

12

- Loại Lobule: những người bệnh này vẫn có tai nhỏ, sai vị trí dái tai nhưng không có xoăn tai, không có lỗ tai hoặc gờ bình

- Loại Concha: tai nhỏ, sai vị trí của dái tai, xoăn tai (có hoặc không có lỗ tai),

gờ bình và gờ đối bình, khuyết gian bình nhĩ

- Loại Concha nhỏ: tai nhỏ, sai vị trí dái tai, và lõm nhỏ thay vì hõm xoăn

- Loại Anotia (không tai): những người bệnh này không có tai hoặc chỉ có một vết tích nhỏ

- Microtia không điển hình: những người bệnh này có biến dạng nhưng không xếp được vào các loại trên

Tỷ lệ mắc của dị tật tai nhỏ bẩm sinh có sự khác biệt giữa các quốc gia khác nhau và các chủng tộc khác nhau, với tỷ lệ mắc trung bình vào khoảng 2,06/10.000 trẻ mới sinh Tỷ lệ mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh cao hơn tại Trung và Nam Mỹ, châu

Á và Bắc Âu so với khu vực Bắc Mỹ và các vùng khác của châu Âu Theo chủng tộc,

tỷ lệ mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh cao hơn ở các nhóm người Mỹ bản địa, người Mỹ Latinh và người châu Á so với nhóm người da trắng [25]

Ở các bệnh nhân mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh, trên 70% là dị tật tai nhỏ bẩm sinh đơn thuần (không mắc cùng các dị tật bẩm sinh khác hoặc nằm trong hội chứng bẩm sinh), thường chỉ bị ở một tai, liên quan tới tai phải nhiều hơn tai trái và nam mắc nhiều hơn nữ [11, 15]

1.4.2 Ảnh hưởng tâm lý của dị tật tai nhỏ bẩm sinh trên bệnh nhi

Dị tật tai nhỏ bẩm sinh không phải là một bệnh lý gây ra nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, nhưng lại là một biến dạng mà người khác có thể dễ dàng quan sát thấy bởi tính mất cân đối giữa hai tai và vị trí xuất hiện của biến dạng này Trong các giao tiếp xã hội thường ngày, sự chú ý không mong muốn và những thắc mắc về ngoại hình của mình về lâu dài sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực lên tâm lý của người mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh

Nếu không được điều trị phù hợp, dị tật tai nhỏ bẩm sinh có thể dẫn tới áp lực tâm lý lên các bệnh nhân không chỉ trong thời thơ ấu mà còn là những gánh nặng đi theo họ đến tuổi trưởng thành Theo Brent, những trẻ mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh bắt đầu nhận ra sự khác biệt về tai của mình so với những người xung quanh ở độ tuổi 3

Trang 23

13

đến 4 [7] Đây là thời điểm rất nhạy cảm trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, sự xa lánh, trêu chọc hay bắt nạt của những trẻ đồng trang lứa hay sự xấu hổ, chối bỏ từ bố, mẹ là những cản trở lớn trong sự tham gia vào các giao tiếp xã hội của trẻ và gây ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình phát triển tâm lý của trẻ [23] Những ảnh hưởng này có thể quan sát được trong những bức vẽ tự hoạ của trẻ mắc

dị tật tai nhỏ bẩm sinh: phía tai mắc dị tật bị bôi đen hoặc gương mặt được vẽ ở góc nghiêng, chỉ thể hiện ra phía tai bình thường [21] Khi người bệnh mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh đạt độ tuổi trưởng thành, họ nhận thức được nhiều vấn đề khác mà dị tật của mình mang lại: khó khăn trong những mối quan hệ chuyên nghiệp tại nơi làm việc cũng như khó khăn trong những mối quan hệ cá nhân và việc tìm kiếm bạn đời

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng tâm lý của dị tật tai nhỏ bẩm sinh đến người bệnh trước và sau khi trải qua phẫu thuật tạo hình tai đã được công bố: Horlock (2005), Steffen (2008) và Li (2010) [19, 23, 39] Các nghiên cứu này đều rút ra được những kết quả tương đồng: các vấn đề tâm lý ở trẻ mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh không được điều trị sẽ tăng dần theo tuổi và tăng mạnh nhất ở những thời kỳ trẻ trải qua nhiều thay đổi về tâm sinh lý và môi trường xung quanh như khi trẻ bắt đầu đi học, khi trẻ bước vào độ tuổi dậy thì và khi trẻ bước vào độ tuổi trưởng thành Những vấn

đề tâm lý mà người bệnh mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh thường gặp phải bao gồm: cảm giác không hoà nhập được với môi trường xung quanh, giảm sự hoà đồng, vấn đề về hành vi bạo lực và nổi loạn, rối loạn tâm trạng trầm cảm, rối loạn lo âu, sự tự thu mình, xa lánh khỏi các mối quan hệ xã hội,…

Tình trạng tâm lý của người bệnh mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh được cải thiện đáng kể sau khi trải qua phẫu thuật tạo hình tai: hầu hết bệnh nhân nhận được sự ủng

hộ và thái độ tích cực từ người thân và bạn bè, họ chấp nhận chiếc tai mới là một phần của cơ thể mình, phần lớn những bệnh nhân trải qua phẫu thuật tạo hình tai bằng sụn sườn tự thân cảm thấy sẹo lấy sụn trên ngực là chấp nhận được so với lợi ích chiếc tai mới đem lại, nhiều bệnh nhân đánh giá kết quả sau phẫu thuật tốt hơn so với

kỳ vọng và họ có thể sống một cuộc sống bình thường, hài lòng với diện mạo mới của mình và cảm thấy tự tin hơn trong các mối quan hệ xã hội [39]

Trang 24

14

1.5 Phẫu thuật tạo hình tai

1.5.1 Lịch sử phát triển của phẫu thuật tạo hình tai

Phẫu thuật tạo hình tai là một vấn đề quan trọng nhưng nhiều thách thức trong lĩnh vực tạo hình qua nhiều thế kỷ cho tới nay Cấu tạo ba chiều phức tạp và cấu trúc xoắn tinh tế yêu cầu những phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm và cách tiếp cận tỉ mỉ Chỉ khi đó mới đạt được kết quả đáp ứng tiêu chuẩn thẩm mỹ, ổn định về mặt cơ học

và đảm bảo về lâu dài Năm 1944, tác giả Suraci đã đề ra bảy tiêu chuẩn cốt yếu trong tạo hình tai: kích thước đúng, sự tương đồng về hình dạng, sự tương đồng về chiều dài, góc tai – sọ đúng, khả năng duy trì hình dạng và kích thước, độ cứng của tai và đồng đều màu da [42]

Những bằng chứng đầu tiên của tạo hình tai trong y văn phương Tây được tìm thấy trong các ghi chép của các tác giả người Italia vào thế kỷ 16 mô tả công việc của gia đình Branca tại Sicily, đặc biệt là Antonio Branca, người đã tiếp cận tái tạo tai bằng phần da lấy từ cánh tay Gaspare Tagliacozzi (1545–1599), phẫu thuật viên và nhà giải phẫu học người Italia, đã mô tả quá trình tái tạo tai một phần bằng vạt tại chỗ

và vạt tự do Phải đến tận năm 1845 thì bác sĩ phẫu thuật tạo hình người Đức Johan Friedrich Dieffenbach mới một lần nữa tiếp cận tái tạo tai một phần và mô tả quy trình tái tạo nửa trên và nửa dưới tai, tác giả này vẫn giữ quan điểm không khuyến khích tái tạo tai toàn bộ bởi tỷ lệ thành công thấp Vào năm 1870, von Szymanowski

đã mô tả việc sử dụng vạt hai thuỳ trong tái tạo nửa dưới tai Bắt đầu từ đầu thế kỷ

20, các mô tả về việc sử dụng các vạt có cuống trong tái tạo tai tăng lên Các vạt vùng lân cận ở sau và trên tai được mô tả bởi Smith (1917) và Ombredanne (1925) Gillies (1920) mô tả một vạt ở dưới tai trong tái tạo nửa dưới tai [3]

Cùng với sự hoàn thiện của kỹ thuật, nhu cầu tìm kiếm vật liệu đảm bảo tính

ổn định của tai mới cũng tăng lên Bên cạnh vật liệu cổ điển là sụn sườn tự thân, nhiều vật liệu nhân tạo cũng được ghi nhận như ngà, silicone, kim loại, cao su, Teflon và gần đây nhất là polyethylene xốp (porous polyethylene – PPE) vào cuối thế kỷ 20 [8, 27] Hiện tại, hai vật liệu chủ yếu được sử dụng trong phẫu thuật tạo hình tai là sụn sườn tự thân và sụn nhân tạo làm bằng vật liệu PPE

Trang 25

15

1.5.2 Phương pháp sử dụng sụn sườn tự thân

Vào năm 1908, Schmieden là người đầu tiên sử dụng sụn sườn tự thân và vạt

da ngực trong tái tạo tai nhưng kết quả không khả quan Sau Thế chiến I, Gillies đã

mô tả kỹ thuật sử dụng sụn từ hai xương sườn VII và VIII, tạo hình sụn tai và chôn dưới phần da không có tóc ở vùng chũm, sau đó ông thu hoạch cả sụn và da vùng này

và che phủ chúng bằng một vạt khác lấy từ vùng cổ [3]

Vào năm 1959, Tanzer đã tiên phong công bố một quy trình tái tạo tai bốn bước [43, 44] Trợ lý của Tanzer là Brent sau đó đã cải tiến phương pháp này thành một quy trình ba hoặc bốn bước [5-7]:

- Bước 1: tạo túi da phía trước tai dị tật, loại bỏ di tích sụn và chôn khung sụn mới vào Trong kỹ thuật của Brent, khung sụn cũng được tạo từ sụn sườn VI – VIII nhưng mỏng hơn so với khung sụn của Tanzer Ống dẫn lưu chân không giúp tạo hình tai mới và giảm biến chứng nhiễm trùng, hoại tử da

- Bước 2: khác với Tanzer, trong bước 2 mới tiến hành đặt lại vị trí của dái tai

- Bước 3: nâng tai mới bằng việc đặt mẩu sụn hình chêm phía sau tai và che phủ bằng mô ghép da độ dày toàn bộ, tạo bình tai

Nagata đã tiếp tục phát triển kỹ thuật phức tạp hơn và công bố quy trình phẫu thuật hai bước vào năm 1994 [33, 30-32]

- Ở độ tuổi 6 – 10, trẻ đã có thể chủ động tham gia vào quyết định thực hiện phẫu thuật [20]

 Nhược điểm:

Trang 26

- Khó đạt được độ vểnh tốt, kết quả thẩm mỹ kém hơn so với khung sụn nhân tạo [3]

- Biến chứng khi lấy sụn sườn: tràn khí màng phổi, xẹp phổi, để lại sẹo [8, 9]

- Phải phẫu thuật 2 – 4 lần, mỗi lần cách nhau 6 – 12 tháng gây tăng nguy cơ biến chứng, tốn kém, đau đớn, kéo dài thời gian điều trị

1.5.3 Phương pháp sử dụng sụn nhân tạo bằng polyethylene xốp

Nhiều vật liệu nhân tạo đã được lựa chọn sử dụng trong phẫu thuật tạo hình tai như silicone, ngà,… nhưng đều không đạt được kết quả mong đợi và có nhiều biến chứng như thải loại, nhiễm trùng, lạc chỗ, xơ hoá và tính thẩm mỹ thấp [26] Phẫu thuật tạo hình tai yêu cầu vật liệu có thể giữ hình dạng ổn định, tương hợp với mô mềm, tỷ lệ tiêu thấp [2] Vào đầu nằm 1980, Berghaus và cộng sự đã bắt đầu thử nghiệm và nghiên cứu với nhựa nhiệt dẻo tổng hợp PPE [37] Vào năm 1982, Berghaus đã cấy khung sụn PPE đầu tiên trên bệnh nhân và đạt được kết quả có tính thẩm mỹ cao và không có biến chứng

PPE là vật liệu nhựa nhiệt dẻo tổng hợp có tính tương hợp sinh học cao với nguy cơ nhiễm trùng thấp Đây là vật liệu xốp với cấu trúc lỗ nhỏ từ 40 đến 200 µm, cho phép mô mềm phát triển đan xen vào cấu trúc này nhanh và dễ dàng Mặt khác vật liệu này dễ chỉnh sửa trong phẫu thuật bằng dao mổ hoặc bằng nhiệt [40] Kỹ thuật tái tạo tai bằng vật liệu PPE yêu cầu phải che phủ khung sụn bằng vạt cân thái dương – đỉnh kích thước tối thiểu 11cm x 12cm để đảm bảo che phủ tốt khung sụn

mà không bị quá căng, lấy với đủ toàn bộ hai nhánh động mạch đỉnh và nhánh trán cộng với cả vòng nối giữa hai nhánh mạch này Trùm lên lớp cân này là mô ghép da

độ dày toàn bộ lấy từ da sau tai hoặc mô da ghép tự do Những lớp này có khả năng trượt lên nhau và di động độc lập so với khung sụn, nhờ đó giảm thiểu nguy cơ bộc

lộ khung sụn sau phẫu thuật do các tác động cơ học [36]

Trang 27

17

Thành công của vật liệu PPE trong phẫu thuật tạo hình tai khiến vật liệu này sớm được sản xuất quy mô lớn, với các tên gọi Medpor và Omnipore Cho đến nay, PPE đã trở thành vật liệu thay thế duy nhất cho sụn sườn tự thân trong phẫu thuật tạo hình tai

 Ưu điểm:

- Không phụ thuộc vào số lượng sụn sườn của bệnh nhi nên có thể thực hiện từ rất sớm, ngay từ độ tuổi 3 – 4 tuổi, trước khi trẻ đi học [35, 40]

- Độ tuổi thực hiện phẫu thuật sớm, giảm gánh nặng tâm lý lên bệnh nhi

- Giảm số lượng ca mổ, giảm sự khó chịu và đau đớn của bệnh nhân

- Kết quả thu được có tính thẩm mỹ cao [4]

- Vật liệu PPE có tính tương hợp sinh học cao, nhanh chóng hoà hợp với mô mềm xung quanh [3]

 Nhược điểm:

- Nguy cơ nhiễm trùng, hở khung sụn và thải loại cao [3, 35]

- Khó khăn hơn trong việc lựa chọn kích thước khung sụn [35]

- Tại Việt Nam, khung sụn nhân tạo rất đắt tiền và chưa được bảo hiểm y tế chi trả

1.5.4 Tình hình tại Việt Nam

Ở Việt Nam đã có những đề tài báo cáo về phẫu thuật tạo hình tai nhỏ bằng sụn sườn tự thân với 2 đến 4 thì phẫu thuật được thực hiện ở một số trung tâm lớn trong cả nước như Hà Nội , Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên phương pháp phẫu thuật tạo hình tai sớm, một thì bằng khung sụn nhân tạo thì chỉ mới được lần đầu vào

2017 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Hà Nội

Từ những năm 1990 Nguyễn Thị Minh và cộng sự tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã nghiên cứu về vạt cân thái dương nông trong tạo hình tai nhỏ bẩm sinh Sau đó kỹ thuật tạo hình tai nhỏ bằng sụn sườn nhiều thì cũng đã được nhân rộng ra một số bệnh viện ở Hà Nội

Đến khoảng 2006 Nguyễn Hồng Hà và cộng sự đã tiến hành tạo hình tai bằng sụn sườn tự thân cho các dị tật bẩm sinh và mắc phải theo kỹ thuật của Firmin, một

Trang 28

18

nữ giáo sư hàng đầu về tạo hình tai của Pháp Năm 2012 kíp phẫu thuật Tạo hình của Bệnh viện Việt Đức đã thành công trong ca vi phẫu nối ghép ta đứt rời đầu tiên của Việt Nam Cho đến nay ca nối tai vi phẫu này cũng chỉ là ca thứ 5 trên thế giới nối ghép vi phẫu thành công mà không hề xảy ra một biến chứng nào đó sau mổ

Ở Việt Nam, từ 2008 các bác sỹ tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM đã bước đầu tiếp cận phẫu thuật tạo hình tai hai thì bằng sụn sườn tự thân theo kỹ thuật của Nagata với các kết quả: tổng thời gian phẫu thuật còn dài (12 – 14 tháng với tai nhỏ độ III và 18 – 22 tháng với tai nhỏ độ IV), để lại sẹo xấu [51] Đến năm 2012, họ

đã ứng dụng thành công kỹ thuật sử dụng vật da – cân – cơ thái dương có cuống làm mảnh ghép trong thì hai thay vì sử dụng mảnh ghép tự do và cải tiến các công đoạn

từ kỹ thuật của Nagata, hoàn tất các chi tiết của khung sụn vành tai ngay trong thì một Nhờ vậy, thời gian phẫu thuật được rút ngắn đáng kể, kết quả vảnh tai hoàn chỉnh hơn và hạn chế số lượng vết thương trên cơ thể bệnh nhân tuy nhiên vẫn còn nhược điểm là phần da che phủ vành tai vẫn có thể mọc tóc [52, 53]

Năm 2017 BS Trần Thị Thanh Huyền và cộng sự đã công bố báo cáo đánh giá kết quả tạo hình tai hai thì bằng sụn sườn tự thân trong điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh trên 30 bệnh nhân từ tháng 01/2008 tới tháng 06/2016 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức với những kết quả khả quan: 100% khung sụn sống tốt, 6/30 bệnh nhân mang tóc trên tai mới, đa số bệnh nhân cho rằng sẹo thành ngực kín đáo, tất cả các bệnh nhân và gia đình đều hài lòng với kết quả ngay sau phẫu thuật [57]

Từ 2017 BS Nguyễn Hồng Hà và cộng sự đã nghiên cứu ứng dụng khung sụn nhân tạo PPE trong tạo hình tai chỉ với một thì phẫu thuật Các tác giả đã cải tiến ứng dụng kỹ thuật nội soi trong lấy vạt cân thái dương – đỉnh che phủ cho khung sụn nhân tạo mà không để lại sẹo xấu cho vùng da đầu giống như các kỹ thuật bóc vạt kinh điển [56] Phẫu thuật tạo hình tai một thì bằng khung sụn nhân tạo PPE là một kỹ thuật khó, yêu cầu quá trình đạo tạo lâu dài, phẫu thuật viên kinh nghiệm Ngay ở Hoa kỳ cũng chỉ có 2 trung tâm lớn thông báo đã triển khai thành công kỹ thuật lấy vạt nội soi trong tạo hình tai [16]

Đến tháng 11/2019, sau hai năm nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật, các bác sỹ Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ – Bệnh viện Việt Đức đã thực hiện thành công nhiều ca phẫu thuật tạo hình tai bằng sụn sườn tự thân một thì với sự hỗ trợ của nội soi đạt được nhiều ưu điểm vượt trội: kết quả gần tương tự như sử dụng sụn nhân tạo

Trang 30

20

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên hai nhóm bệnh nhân dựa theo hai mục tiêu của đề tài

2.1.1 Nhóm 1 - Nghiên cứu đặc điểm nhân trắc học phát triển tai

Đo đạc chỉ số nhân trắc trên các bệnh nhi nhập viện điều trị và bố mẹ của bệnh nhi tại Khoa Phẫu thuật Nhi và Trẻ sơ sinh, Bệnh viện Việt Đức trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 01 năm 2020

Số đo của các bệnh nhi được sử dụng để xây dựng một số chỉ số nhân trắc học phát triển của tai, số đo của các bố mẹ được sử dụng tính số đo của người trưởng thành

 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:

- Tất cả các bệnh nhi dưới 18 tuổi nhập viện điều trị tại Khoa Phẫu thuật Nhi

và Trẻ sơ sinh, Bệnh viện Việt Đức trong khoảng thời gian thực hiện nghiên cứu

- Bố và/hoặc mẹ của tất cả các bệnh nhi trên

- Các bệnh nhi có chỉ số khối cơ thể (BMI) trên mức –2SD theo bảng chỉ số BMI chuẩn cho trẻ em của Tổ chức Y tế Thế giới [47]

 Tiêu chuẩn loại trừ

- Các bệnh nhi hoặc bố mẹ bệnh nhi có dị tật tai bẩm sinh, chấn thương hoặc

đã trải qua phẫu thuật gây biến dạng tai ngoài

- Các bệnh nhi hoặc bố mẹ bệnh nhi không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Nhóm 2 - Bước đầu ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình tai

Bước đầu ứng dụng nhân trắc trong phẫu thuật tạo hình tai cho các bệnh nhi mắc dị tật tai nhỏ sớm, một thì sử dụng khung sụn nhân tạo Polyethylene tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện Việt Đức trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 03 năm 2020

Trang 31

21

 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Tất cả các bệnh nhi dưới 18 tuổi mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh được điều trị bằng phẫu thuật tạo hình tai một thì sử dụng khung sụn nhân tạo

- Dị tật tai nhỏ bẩm sinh là tình trạng bất thường bẩm sinh trong đó tai ngoài của trẻ kém phát triển, hình dáng biến dạng và kích thước nhỏ bất thường

- Không phân biệt về giới tính, nơi sinh sống, thể trạng và các tình trạng bệnh lý khác

 Tiêu chuẩn loại trừ

- Các bệnh nhi gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Khoa Phẫu thuật Nhi và Trẻ Sơ sinh, Bệnh viện Việt Đức từ tháng 11/2019 đến tháng 01/2020

- Khoa Phẫu thuật Hàm mặt Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện Việt Đức từ tháng 01/2020 đến tháng 03/2020

2.3 Phương pháp nghiên cứu nhân trắc học phát triển tai

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp tiến cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Chọn mẫu

Chúng tôi lấy mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn:

- Tất cả các bệnh nhi nhập viện điều trị và bố và/hoặc mẹ của bệnh nhi tại Khoa Phẫu thuật Nhi và Trẻ sơ sinh, Bệnh viện Việt Đức trong thời gian nghiên cứu và đủ tiêu chuẩn vào mẫu nghiên cứu Với phương pháp này, chúng tôi đã chọn được 168 trẻ và 183 người trưởng thành

2.3.3 Thiết lập biến số nghiên cứu

- Giới: nam hoặc nữ

- Tuổi: với trẻ sơ sinh (dưới 12 tháng tuổi) tính theo tháng, với trẻ từ đủ 12 tháng tuổi tính theo năm (12 – 23 tháng: 1 tuổi; 24 – 35 tháng: 2 tuổi,…)

Trang 32

- Chỉ số tai (Auricular Index – AI): Chiều rộng tai x 100 / Chiều dài tai

2.3.4 Phương pháp đo kích thước tai ngoài

Đo trực tiếp 2 chỉ số bề mặt trên cả hai tai của các đối tượng nghiên cứu (chiều

rộng tai và chiều dài tai, được mô tả ở dưới) sử dụng thước cặp caliper nhựa (0 – 150mm) có độ chia nhỏ nhất là 1mm

Hình 2.1 Giản đồ tai trái [12]

Chiều rộng (pra-pa) được đo giữa điểm trong nhất (gốc gờ luân, preaurale, pra)

và ngoài nhất (củ loa tai, postaurale, pa) của mặt ngoài loa tai Chiều dài (sa-sba) là khoảng cách quy chiếu giữa mức ngang điểm cao nhất (đỉnh gờ luân, superaurale, sa) trên mép tự do của loa tai và mức ngang điểm thấp nhất (gờ dái tai, subaurale, sba) trên mép tự do của loa tai

Trang 33

23

2.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData và được phân tích, xử lý bằng phần mềm STATA

2.4 Bước đầu ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình tai

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp tiến cứu mô tả cắt ngang

2.4.2 Chọn mẫu

Chúng tôi lấy mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn:

- Các bệnh nhi mắc dị tật tai nhỏ bẩm sinh được điều trị bằng phẫu thuật tạo hình tai một thì sử dụng khung sụn nhân tạo PPE tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện Việt Đức trong thời nghiên cứu và

đủ tiêu chuẩn vào mẫu nghiên cứu Với phương pháp này, chúng tôi đã chọn được 4 mẫu

2.4.3 Tiến hành nghiên cứu

- Lập kế hoạch điều trị phù hợp với phương pháp phẫu thuật

- Đo kích thước nhân trắc của tai bên lành, bên bệnh

- Dự tính kích thước của tai tạo hình: Sử dụng kết quả mục tiêu 1 để ước lượng kích thước của tai tạo hình

- Phẫu thuật tạo hình tai nhỏ một thì bằng khung sụn nhân tạo Bóc tách vạt cân thái dương – đỉnh che phủ khung sụn có sự hỗ trợ nội soi

- Khám lại sau phẫu thuật 2 – 6 tháng để đánh giá kết quả gần, kết quả xa, chụp ảnh sau mổ, đo đạc và ghi chép kích thước hình dạng trục của tai mới

so với bên lành

- Các chỉ số nghiên cứu: tuổi, giới, dị tật tai đơn thuần hay phối hợp, sự nổi

rõ của khung sụn vành tai, biến chứng, mức độ hài lòng của bệnh nhân

Trang 34

24

Hình 2.2 Đo kích thước khung sụn nhân tạo trong mổ

Hình 2.3 Khung sụn PPE và vạt cân thái dương đỉnh với đầy đủ hai cung mạch

Hình 2.4 Da đầu tại chỗ lấy vạt không có sẹo xấu nhờ ứng dụng nội soi

Trang 35

25

Hình 2.5 Sau mổ 6 tháng, kết quả thẩm mỹ tốt chỉ với một lần phẫu thuật

Hình 2.6 Tai mới to hơn tai đối diện nhưng gia đình và bệnh nhân hiểu và hài

lòng

Ngày đăng: 29/01/2021, 21:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C. Barut và E. Aktunc (2006), "Anthropometric measurements of the external ear in a group of Turkish primary school students", Aesthetic Plast Surg, 30(2), tr. 255-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anthropometric measurements of the external ear in a group of Turkish primary school students
Tác giả: C. Barut và E. Aktunc
Năm: 2006
2. A. Berghaus (1985), "Porous polyethylene in reconstructive head and neck surgery", Arch Otolaryngol, 111(3), tr. 154-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Porous polyethylene in reconstructive head and neck surgery
Tác giả: A. Berghaus
Năm: 1985
3. A. Berghaus và M. S. Nicolo (2015), "Milestones in the History of Ear Reconstruction", Facial Plast Surg, 31(6), tr. 563-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Milestones in the History of Ear Reconstruction
Tác giả: A. Berghaus và M. S. Nicolo
Năm: 2015
4. A. Berghaus, K. Stelter, A. Naumann và J. M. Hempel (2010), "Ear reconstruction with porous polyethylene implants", Adv Otorhinolaryngol, 68, tr. 53-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ear reconstruction with porous polyethylene implants
Tác giả: A. Berghaus, K. Stelter, A. Naumann và J. M. Hempel
Năm: 2010
5. B. Brent (1992), "Auricular repair with autogenous rib cartilage grafts: two decades of experience with 600 cases", Plast Reconstr Surg, 90(3), tr. 355- 74; discussion 375-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Auricular repair with autogenous rib cartilage grafts: two decades of experience with 600 cases
Tác giả: B. Brent
Năm: 1992
6. B. Brent (1999), "Technical advances in ear reconstruction with autogenous rib cartilage grafts: personal experience with 1200 cases", Plast Reconstr Surg, 104(2), tr. 319-34; discussion 335-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical advances in ear reconstruction with autogenous rib cartilage grafts: personal experience with 1200 cases
Tác giả: B. Brent
Năm: 1999
7. B. Brent (2002), "Microtia repair with rib cartilage grafts: a review of personal experience with 1000 cases", Clin Plast Surg, 29(2), tr. 257-71, vii Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microtia repair with rib cartilage grafts: a review of personal experience with 1000 cases
Tác giả: B. Brent
Năm: 2002
8. J. A. Cabin, M. Bassiri-Tehrani, A. P. Sclafani và T. Romo, 3rd (2014), "Microtia reconstruction: autologous rib and alloplast techniques", Facial Plast Surg Clin North Am, 22(4), tr. 623-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microtia reconstruction: autologous rib and alloplast techniques
Tác giả: J. A. Cabin, M. Bassiri-Tehrani, A. P. Sclafani và T. Romo, 3rd
Năm: 2014
9. K. K. Constantine, J. Gilmore, K. Lee và J. Leach, Jr. (2014), "Comparison of microtia reconstruction outcomes using rib cartilage vs porouspolyethylene implant", JAMA Facial Plast Surg, 16(4), tr. 240-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of microtia reconstruction outcomes using rib cartilage vs porous polyethylene implant
Tác giả: K. K. Constantine, J. Gilmore, K. Lee và J. Leach, Jr
Năm: 2014
10. S. Cugno và N. W. Bulstrode (2019), "Cartilage exposure following autologous microtia reconstruction: An algorithmic treatment approach", J Plast Reconstr Aesthet Surg, 72(3), tr. 498-504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cartilage exposure following autologous microtia reconstruction: An algorithmic treatment approach
Tác giả: S. Cugno và N. W. Bulstrode
Năm: 2019
11. K. Deng, L. Dai, L. Yi, C. Deng, X. Li và J. Zhu (2016), "Epidemiologic characteristics and time trend in the prevalence of anotia and microtia in China", Birth Defects Res A Clin Mol Teratol, 106(2), tr. 88-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiologic characteristics and time trend in the prevalence of anotia and microtia in China
Tác giả: K. Deng, L. Dai, L. Yi, C. Deng, X. Li và J. Zhu
Năm: 2016
12. L. G. Farkas, J. C. Posnick và T. M. Hreczko (1992), "Anthropometric growth study of the ear", Cleft Palate Craniofac J, 29(4), tr. 324-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anthropometric growth study of the ear
Tác giả: L. G. Farkas, J. C. Posnick và T. M. Hreczko
Năm: 1992
13. M. B. Forrester và R. D. Merz (2005), "Descriptive epidemiology of anotia and microtia, Hawaii, 1986-2002", Congenit Anom (Kyoto), 45(4), tr. 119- 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Descriptive epidemiology of anotia and microtia, Hawaii, 1986-2002
Tác giả: M. B. Forrester và R. D. Merz
Năm: 2005
14. Y. Y. Fu, C. L. Li, J. L. Zhang và T. Y. Zhang (2019), "Autologous cartilage microtia reconstruction: Complications and risk factors", Int J PediatrOtorhinolaryngol, 116, tr. 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Autologous cartilage microtia reconstruction: Complications and risk factors
Tác giả: Y. Y. Fu, C. L. Li, J. L. Zhang và T. Y. Zhang
Năm: 2019
15. S. Genc, E. Kahraman, H. E. Ozel, I. B. Arslan, A. Demir và A. Selcuk (2012), "Microtia and congenital aural atresia", J Craniofac Surg, 23(6), tr.1733-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microtia and congenital aural atresia
Tác giả: S. Genc, E. Kahraman, H. E. Ozel, I. B. Arslan, A. Demir và A. Selcuk
Năm: 2012
16. Karol A. Gutowski (2007), "Grabb & Smith's Plastic Surgery, 6th Edition", Plastic and Reconstructive Surgery, 120(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Grabb & Smith's Plastic Surgery, 6th Edition
Tác giả: Karol A. Gutowski
Năm: 2007
17. J. Harris, B. Kọllộn và E. Robert (1996), "The epidemiology of anotia and microtia", J Med Genet, 33(10), tr. 809-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The epidemiology of anotia and microtia
Tác giả: J. Harris, B. Kọllộn và E. Robert
Năm: 1996
18. L. D. Hartzell và S. Chinnadurai (2018), "Microtia and Related Facial Anomalies", Clin Perinatol, 45(4), tr. 679-697 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microtia and Related Facial Anomalies
Tác giả: L. D. Hartzell và S. Chinnadurai
Năm: 2018
19. N. Horlock, E. Vogelin, E. T. Bradbury, A. O. Grobbelaar và D. T. Gault (2005), "Psychosocial outcome of patients after ear reconstruction: a retrospective study of 62 patients", Ann Plast Surg, 54(5), tr. 517-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychosocial outcome of patients after ear reconstruction: a retrospective study of 62 patients
Tác giả: N. Horlock, E. Vogelin, E. T. Bradbury, A. O. Grobbelaar và D. T. Gault
Năm: 2005
20. A. L. Johns (2016), "Timing pediatric ear reconstruction: The case for a range of options", J Plast Reconstr Aesthet Surg, 69(4), tr. 567-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Timing pediatric ear reconstruction: The case for a range of options
Tác giả: A. L. Johns
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w