Tính cấp thiết của đề tài Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, có nhiệm vụ tuyên truyền vận động, tổ chức, tập hợp, g
Trang 1
NGUYỄN THỊ HƯƠNG THỦY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRỰC THUỘC LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG HUYỆN ĐÔ LƯƠNG,
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN, 2017
Trang 2
NGUYỄN THỊ HƯƠNG THỦY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRỰC THUỘC LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG HUYỆN ĐÔ LƯƠNG,
TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN VIẾT QUANG
NGHỆ AN, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi đến các quý thầy, cô giáo của khoa Giáo dục chính trị Trường Đại học Vinh lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc về quá trình đào tạo trong suốt 2 năm học Cao học vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn về sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của Thầy giáo hướng dẫn - PGS.TS Trần Viết Quang; sự hỗ trợ, động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến cơ quan: Thư viện Đại học Vinh, Thư viện tỉnh Nghệ An, Liên đoàn Lao động tỉnh Nghệ An, Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương đã cung cấp những tài liệu, số liệu cho tôi hoàn thành đề tài
Nghệ An, tháng 8 năm 2017
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Hương Thủy
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
A MỞ ĐẦU 6
B NỘI DUNG 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 13
1.1 Khái niệm công đoàn và tổ chức công đoàn 13
1.2 Tính tất yếu nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở hiện nay 26
1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở 29
Kết luận chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRỰC THUỘC LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN 34
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 34
2.2 Đánh giá chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An hiện nay 40
Kết luận chương 2 75
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRỰC THUỘC LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN 77
3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 77
3.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 80
Kết luận chương 3 98
C KẾT LUẬN 100
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
5 CCVCLĐ Công chức, viên chức, lao động
7 CNLĐ Công nhân lao động
8 CNVCLĐ Công nhân, viên chức, lao động
17 TƯLĐTT Thỏa ước lao động tập thể
21 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
22 CBCCVCLĐ Cán bộ, công chức, viên chức, lao động
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đánh giá về hoạt động của CĐCS trong việc đại diện chăm lo bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CBCCVCLĐ 43 Bảng 2.2 Đánh giá của đoàn viên, CBCCVCLĐ về CĐCS chăm lo đời sống
cho CBCCVCLĐ 44 Bảng 2.3 Ý kiến đánh giá công tác tuyên truyền, vận động CBCCVCLĐ của
CĐCS 49 Bảng 2.4 Hình thức tuyên truyền, vận động CBCCVCLĐ của CĐCS 50 Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả 10 năm thực hiện hoạt động xã hội và vận động ủng
hộ xây dựng Quỹ “Mái ấm Công đoàn” huyện Đô Lương 2017) (tính đến ngày 20 tháng 5 năm 2017) 51 Bảng 2.6 Đánh giá của CBCCVCLĐ về các phong trào thi đua do CĐCS tổ
(2007-chức 54 Bảng 2.7 Sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chuyên môn đến hoạt động Công
đoàn 63 Bảng 2.8 Công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn 66
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, có nhiệm vụ tuyên truyền vận động, tổ chức, tập hợp, giáo dục và xây dựng đội ngũ công nhân lao động thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Trong tổ chức công đoàn, công đoàn cơ sở có vai trò hết sức quan trọng Bởi vì, công đoàn cơ
sở là nền tảng của tổ chức công đoàn Việt Nam, nơi trực tiếp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn; trực tiếp tập hợp công nhân, viên chức, lao động vào tổ chức công đoàn Do đó, để nâng cao chất lượng hoạt động trước hết công đoàn cơ sở phải gắn việc đổi mới nội dung với phương thức hoạt động xem đây là công tác trọng tâm của các cấp công đoàn
Ngày nay, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công đoàn Việt Nam luôn thể hiện rõ vai trò, chức năng của mình, đáp ứng yêu cầu của cách mạng dân tộc, dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa Cùng với quá trình phát triển của đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam đã có những bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng; giác ngộ chính trị, trình độ, học vấn chuyên môn, nghề nghiệp được nâng lên Tuy nhiên, phong trào CNVCLĐ và tổ chức công đoàn nước ta cũng đang đứng trước không ít những khó khăn, thách thức: suy thoái kinh tế sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt của công nhân, viên chức, lao động; chất lượng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng, phát triển của đất nước; phong trào CNVCLĐ
và hoạt động công đoàn còn gặp nhiều khó khăn về nội dung và phương thức hoạt động; một bộ phận cán bộ công đoàn còn hạn chế về trình độ và kinh nghiệm thực tế, kỹ năng hoạt động Tình hình trên đặt ra cho các cấp công đoàn phải chủ động trước mọi thách thức, nắm vững thời cơ, nhận thức đầy đủ và
Trang 8thực hiện tốt các chức năng của các tổ chức công đoàn, coi chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động là chức năng trung tâm xuyên suốt trong mọi hoạt động Đồng thời, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác phát triển đoàn viên, xây dựng công đoàn
cơ sở vững mạnh; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao năng lực trình độ và bản lĩnh đội ngũ cán bộ công đoàn, đó là những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong thời gian tới
Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự tạo điều kiện của các cấp chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở, phong trào công nhân, viên chức, lao động
và hoạt động Công đoàn tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Đô Lương nói riêng
đã đạt được những thành tựu quan trọng: Các cấp công đoàn đã vận động công nhân, viên chức, lao động thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hưởng ứng và thực hiện tốt Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” Thường xuyên quan tâm đến công tác bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công nhân, viên chức, lao động; vận động, giáo dục đoàn viên công đoàn và công nhân, viên chức, lao động tích cực tham gia học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt
Bên cạnh những kết quả cơ bản đã đạt được, công đoàn cơ sở vẫn còn một
số vấn đề tồn tại làm ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của các tổ chức công đoàn như: Vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CNVCLĐ ở các cấp công đoàn có lúc, có nơi chưa phát huy tốt; công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với CNVCLĐ chưa thường xuyên, chất lượng kiểm tra có mặt còn hạn chế; công tác tuyên truyền, giáo dục tuy có nhiều đổi mới, nhưng thực hiện chưa thường xuyên, liên tục, nội dung tuyên truyền chưa đa dạng, hình thức chưa phong phú, sát với yêu cầu cụ thể, chưa tập trung tuyên truyền về chính sách pháp luật, về tổ chức công đoàn
Trang 9cho người lao động và người sử dụng lao động nên kết quả còn hạn chế; cán bộ công đoàn cơ sở thay đổi thường xuyên nên kỹ năng, phương pháp hoạt động còn lúng túng; việc vận động, tổ chức phong trào thi đua ở một số địa phương, đơn vị chưa đi vào chiều sâu, nội dung chưa thiết thực, còn nặng hình thức
Là cán bộ được công tác tại Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Vinh, với mong muốn vận
dụng kiến thức lý luận kết hợp với thực tiễn, tôi lựa chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên
ngành Chính trị học
Xây dựng tổ chức công đoàn và nâng cao chất lượng hoạt động của công đoàn là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp công đoàn quan tâm Liên quan đến vấn đề về xây dựng tổ chức công đoàn, nâng cao chất lượng hoạt động của công đoàn được nghiên cứu và trình bày trong nhiều công trình tiêu biểu như:
- Một số công trình nghiên cứu liên quan đến quan điểm của Hồ Chí Minh
về giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam
Cuốn Bác Hồ với giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam của tác giả
PGS TS Bùi Đình Phong - NXB Lao động, Hà Nội, 2001 Nội dung của công trình đề cập đến giai cấp công nhân Việt Nam trên con đường dành độc lập, tự
do cho Tổ quốc là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của giai cấp vô sản
Cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh với giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam” (của GS Đỗ Quang Hưng, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2008) đã tập
hợp các bài viết của nhiều tác giả như: GS Đỗ Quang Hưng, TS Phùng Hữu Phú
về Hồ Chí Minh với giai cấp công nhân, với Công đoàn Việt Nam và di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, trong thời kỳ xây dựng đất nước theo con đường đi lên CNXH, nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp công nhân là phải tiên phong trên
Trang 10mặt trận kinh tế, phải thể hiện vai trò, sứ mệnh của mình bằng sức mạnh kinh tế, thực hành tiết kiệm
- Các sách, báo đề cập đến vấn đề công đoàn và hoạt động của công đoàn các cấp
“Đổi mới nội dung tổ chức cán bộ và phương thức hoạt động Công đoàn trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Vũ Oanh - NXB Lao động 1997 “Hệ thống Công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới“ do TS Vũ Đạt chủ biên NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 Đặng Ngọc Tùng (2007), “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam và tổ chức công đoàn vững mạnh”, Tạp chí Công nhân & Công đoàn “Vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn trong cách mạng Việt Nam”
do PGS.TSKH Nguyễn Viết Vượng chủ biên, NXB Lao động 2009 “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đổi mới” do
TS Lê Thanh Hà, NXB Lao động - 2007 “Nâng cao nhận thức pháp luật cho cán bộ công đoàn và công nhân lao động trong tình hình hiện nay” của tác giả Phan Thanh Tùng - Phạm Hoàng Hà, NXB Lao động Hà Nội 2014 “Giai cấp công nhân - giai cấp tiên phong trong quá trình xây dựng tổ chức công đoàn” của tác giả Nguyễn Thị Hường, Hà Nội 2012 Cù Thị Hậu: “Một số vấn đề về giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn hiện nay”, tạp chí Dân Vận 2005
Từ những công trình trên đề cập về giai cấp công nhân và hoạt động công đoàn các cấp trong giai đoạn hiện nay nhằm xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh
- Các luận văn Thạc sỹ đề cập đến vấn đề công đoàn và hoạt động của công đoàn các cấp
Luận văn Thạc sỹ, Nguyễn Thị Hoa, 2012, “Nâng cao hiệu quả phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Luận văn Thạc sỹ, Đặng Văn Vinh, 2013,
“Vai trò công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh”
Trang 11Những công trình nghiên cứu ở trên tập trung nghiên cứu về một số vấn
đề về phát triển lý luận về giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn trong điều kiện nền kinh tế thị trường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, về đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động công đoàn trong tình hình hiện nay, về công tác chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công nhân, viên chức, lao động Trong các công trình trên có đề cập đến xây dựng, cũng cố, đổi mới phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn trong giai đoạn hiện nay Kết quả của các công trình khoa học trên là chất liệu quý giá để tôi thực hiện đề tài luận văn
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn cơ sở của huyện, thành, thị trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt đối với huyện Đô Lương nơi tác giả công tác Vì vậy, đòi hỏi cấp thiết cần có nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống và khoa học về nâng cao chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở huyện
Đô Lương, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
2 Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, tác giả đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn
cơ sở trên địa bàn huyện Đô Lương trong thời gian tới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn
cơ sở
- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Trang 12- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tổ chức công đoàn cơ sở và chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: luận văn đánh giá hoạt động của tổ chức công đoàn cơ
sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
- Về thời gian: nghiên cứu chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ
sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, thời gian từ 2013 đến 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nghị quyết, chỉ thị của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn Lao động tỉnh Nghệ An, các nghị quyết của Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương về hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê và phương pháp phân tích đánh giá các vấn đề theo trình tự lịch sử, tôn trọng các nguyên tắc khách quan, trung thực, chính xác, dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ về thực trạng hoạt động của tổ chức công đoàn
cơ sở trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An để nghiên cứu đánh giá thực trạng đó và đề xuất một số phương hướng giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
Trang 13hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện
Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Từ thực tiễn nghiên cứu, luận văn chỉ ra những kết quả nổi bật, những ưu điểm và cả những tồn tại, hạn chế, khó khăn trong quá trình hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở Trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét và đề xuất các giải pháp góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn
cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Chính trị học ở các trường đại học và những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Trang 14B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ
1.1 Khái niệm công đoàn và tổ chức công đoàn
1.1.1 Khái niệm tổ chức công đoàn
Tổ chức công đoàn Việt Nam ra đời đã khẳng định được vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của mình như: đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho cán bộ, đoàn viên, NLĐ, tuyên truyền giáo dục, tham gia quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát… Vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn Việt Nam đã được khẳng định trong Hiến pháp
Các định nghĩa khái quát về tổ chức công đoàn Luật Công đoàn đã định nghĩa: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của GCCN và của NLĐ, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của
xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho CBCC, viên chức, công nhân và những NLĐ khác (sau đây gọi chung là NLĐ), cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý Nhà nước, quản
lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [27, tr.5-6]
Điều 10 Hiến pháp năm 2013 nêu ra vị trí pháp lý của công đoàn Việt Nam như: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của NLĐ được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm
lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà
Trang 15nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [12, tr.12-13]
Từ khi ra đời (1929), công đoàn Việt Nam đã giữ một vị trí quan trọng trong phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi của GCCN Ngày nay cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, để hòa nhập và đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi GCCN cũng như tổ chức công đoàn phải có những thay đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế của sự phát triển, đòi hỏi trình độ lao động, ý thức, kỹ năng tay nghề ngày càng được nâng cao
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công đoàn Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình trong hệ thống chính trị và trong đời sống của NLĐ Điều 1, Luật Công đoàn (sửa đổi năm 2012) cũng đã thể hiện được vị trí của tổ chức công đoàn trong hệ thống chính trị hiện nay Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn nhất của GCCN và của NLĐ, tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thành viên hệ thống CT-XH, là tổ chức trường học chủ nghĩa xã hội của NLĐ
Như vậy, công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, có nhiệm vụ trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ GCCN và NLĐ Công đoàn là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng
Với tính chất là tổ chức CT- XH của giai cấp CNLĐ, công đoàn kết nạp đông đảo CNVCLĐ Việt Nam không phân biệt giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo Công đoàn không chỉ bảo vệ lợi ích của NLĐ mà còn
Trang 16đại diện cho họ tham gia quản lý KT-XH Công đoàn là tổ chức CT-XH có tính chất nghiệp đoàn, thể hiện ở thành phần tham gia và mục đích tồn tại của công đoàn Các thành viên của công đoàn mặc dù không phân biệt về thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo nhưng nhất thiết phải thuộc về lực lượng lao động xã hội đã hoặc đang tham gia một công việc nhất định Công đoàn tồn tại chủ yếu nhằm chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ Do đó, công đoàn có thể coi là một tổ chức nghề nghiệp rộng lớn nhất, thu hút tham gia đông đảo của mọi tầng lớp trong xã hội
1.1.2 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn
1.1.2.1 Vị trí của tổ chức công đoàn
Vị trí của công đoàn là chỗ đứng của công đoàn trong hệ thống chính trị, được xác định thông qua mối liên hệ giữa công đoàn với các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị và trong xã hội Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam và trong bối cảnh xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vị trí của công đoàn Việt Nam được xác định từ Đại hội III và đã được phát triển ở Đại hội VI - Công đoàn Việt Nam, cho đến nay: Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị làm cầu nối giữa Đảng với quần chúng; là người cộng tác đắc lực, chỗ dựa của chính quyền Nhà nước; là đại diện hợp pháp của GCCN, NLĐ
Vị trí của công đoàn được thể hiện thông qua mối quan hệ chặt chẽ giữa công đoàn với các tổ chức trong hệ thống chính trị, với CNVCLĐ
Quan hệ với Đảng: Đảng lãnh đạo Công đoàn bằng đường lối, nghị quyết,
phương hướng và thông qua các đảng viên của Đảng; đồng thời, Đảng tôn trọng tính độc lập tương đối về mặt tổ chức của công đoàn Công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, là chỗ dựa vững chắc của Đảng và là sợi dây nối liền giữa Đảng với quần chúng Hạt nhân nòng cốt của tổ chức công đoàn là GCCN, đây
là lực lượng đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử của phát triển thời đại
Trang 17Quan hệ với tổ chức CT-XH khác: Công đoàn là thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, cùng với các tổ chức CT-XH, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hợp tác, đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ chung dưới sự lãnh đạo của Đảng
Quan hệ với giới chủ: Là mối quan hệ đại diện của NLĐ với NSDLĐ, hai
bên bình đẳng, tôn trọng nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm giải quyết hài hoà về lợi ích của mỗi bên trong quan hệ lao động Mục đích, nội dung hoạt động trong mối quan hệ giữa công đoàn với NSDLĐ là nhằm làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNLĐ; chung tay xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong các doanh nghiệp
Vị trí của công đoàn trong doanh nghiệp ngoài nhà nước: Công đoàn là
tổ chức CT-XH của công nhân và NLĐ trong doanh nghiệp, có vị trí là người đại diện hợp pháp duy nhất cho NLĐ trong quan hệ với giới chủ Trong mối quan hệ đó, công đoàn và chủ doanh nghiệp đảm bảo sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm giải quyết hài hoà và lợi ích của mỗi bên trong quan hệ lao động Nội dung và mục đích của mối quan hệ giữa công đoàn và NSDLĐ là nhằm làm cho doanh nghiệp phát triển, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của CNLĐ Công đoàn có trách nhiệm phối hợp với NSDLĐ vận động đoàn viên, CNLĐ sản xuất với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất… đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của doanh nghiệp; tạo cơ sở ổn định việc làm, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao thu nhập
cho NLĐ
1.1.2.2 Vai trò của tổ chức công đoàn
Trong suốt quá trình phát triển của cách mạng, Công đoàn luôn có vai trò tích cực tác động đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN ở Việt Nam, vai trò “trường học” của công đoàn vẫn được
Trang 18khẳng định và nội dung của nó ngày càng được mở rộng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công đoàn Việt Nam vẫn thể hiện rõ vai trò của mình đối với xã hội thông qua hệ thống tổ chức từ Trung ương đến địa phương, ngành, cơ sở, thông qua lực lượng đoàn viên, NLĐ và đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng Khi đánh giá vai trò của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải dựa trên cơ sở vai trò của công đoàn Việt Nam, được thể hiện trên các lĩnh vực sau:
Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn là thành viên trong hệ thống chính
trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, có vai trò xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, củng cố và giữ vững bộ máy Nhà nước, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân lao động, xây dựng Nhà nước thật sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị
Trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn vận động CNVCLĐ tham gia tích cực
trong việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; hoàn thiện cơ cấu và các chính sách kinh tế Vận động CNVCLĐ nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, giữ vững thương hiệu sản phẩm trên thị trường; tham gia thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội Một mặt Công đoàn đẩy mạnh hoạt động tại các doanh nghiệp; mặt khác công đoàn hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển đúng hướng theo sự quản lý của Nhà nước
Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn tích cực xây dựng GCCN vững mạnh,
không ngừng giúp GCCN nâng cao trình độ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình
độ học vấn, tay nghề, khoa học công nghệ, trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần củng cố khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức, trở thành nòng cốt khối Đại đoàn kết toàn dân tộc và là cơ sở xã hội vững chắc, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng
Trang 19cường sức mạnh của Nhà nước Công đoàn tuyên truyền, giáo dục NLĐ chống tiêu cực và các tệ nạn xã hội, xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho NLĐ
Trong lĩnh vực văn hoá, tư tưởng: Công đoàn giáo dục CNLĐ nâng cao
lập trường GCCN, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng; phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; giáo dục lối sống mới, xây dựng con người mới XHCN; phòng chống các tệ nạn xã hội, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, học vấn; quan tâm, chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho CNLĐ
Vai trò của công đoàn trong cơ chế ba bên: Với vai trò là người đại diện
và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ Hiện nay, các doanh nghiệp Nhà nước và đội ngũ CNLĐ trong khu vực này có xu hướng giảm dần; CNLĐ trong các thành phần kinh tế khu vực ngoài Nhà nước ngày càng tăng Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng chưa phản ánh được đầy đủ sự lớn mạnh của GCCN và tổ chức công đoàn Qua thực tế hiện nay cho thấy, một bộ phận không nhỏ CNLĐ trình
độ giác ngộ về giai cấp còn hạn chế, ý thức và hiểu biết về pháp luật chưa cao, dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, kỷ luật lao động còn nhiều Thực trạng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, thu nhập của NLĐ, thậm chí trở thành nguyên nhân của các vụ xung đột làm nảy sinh mâu thuẫn và các vụ tranh chấp lao động, làm ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung
Trong cơ chế thị trường, do cạnh tranh về kinh tế, NSDLĐ dù vô tình hay
cố tình, còn vi phạm lợi ích của NLĐ Công đoàn với tư cách là người đại diện cho NLĐ có trách nhiệm tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định
Trang 20và tiến bộ trong doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ Khi quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ được bảo vệ, NLĐ sẽ tự nguyện, nhiệt tình hăng hái tham gia hoạt động công đoàn, làm cho vai trò công đoàn ngày càng có ảnh hưởng tích cực hơn đối với doanh nghiệp nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung
1.1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn
Chức năng của công đoàn luôn gắn chặt với các mặt hoạt động của tổ chức công đoàn và NLĐ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của NLĐ Do đó chức năng của công đoàn mang tính khách quan, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn và có thể thay đổi cho phù hợp với các điều kiện KT- XH
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, công đoàn tập hợp CNLĐ đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản để bảo vệ quyền và lợi ích của đoàn viên CNLĐ Công đoàn không thể không tập hợp, vận động, giáo dục họ để tiến hành cuộc đấu tranh, vì vậy, giáo dục đã phát triển thành chức năng cơ bản của tổ chức công đoàn Dưới chế độ XHCN, chức năng của công đoàn vừa có sự kế thừa phát triển, đồng thời có sự thay đổi do sự thay đổi vị trí, vai trò của GCCN
và tổ chức công đoàn trong xã hội Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, công đoàn có chức năng đại diện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ Công đoàn có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần của NLĐ Công đoàn đại diện và tổ chức NLĐ tham gia quản lý cơ quan, đơn vị; tổ chức quản lý KT-XH, quản lý Nhà nước Trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật Đồng thời, công đoàn có trách nhiệm tổ chức giáo dục, động viên NLĐ phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Trang 21Chức năng của công đoàn là một chỉnh thể, một hệ thống đồng bộ, trong
đó chức năng bảo vệ lợi ích là chức năng trung tâm, là mục tiêu hoạt động của công đoàn; chức năng tham gia quản lý là phương tiện; chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần để đạt được mục tiêu
Từ chức năng chung của tổ chức công đoàn được pháp luật quy định, CĐCS trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước cần thực hiện các chức năng một cách sáng tạo với nội dung, phương thức phong phú và phù hợp để CĐCS thực
sự là chỗ dựa đáng tin cậy của NLĐ Công đoàn là một tổ chức quan trọng nằm trong hệ thống chính trị Việt Nam Thông qua hoạt động của công đoàn, mọi chủ trương, biện pháp của công đoàn Việt Nam đi vào thực tiễn, gắn liền với đời sống việc làm của CNLĐ Việc nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá vai trò của các công đoàn trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… là góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề hoạt động của công đoàn trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Thứ nhất: Tổ chức công đoàn đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ Một trong những chức năng của công đoàn Việt Nam hiện nay là bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ Công đoàn Việt Nam phải thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích CNLĐ vì trình độ và kinh nghiệm quản lý của chính quyền các cấp còn non kém Để giải quyết các vấn đề trên phải thực hiện có lộ trình, thời gian để giải quyết các vấn đề Vì vậy, công đoàn phải là người bảo vệ lợi ích CNVCLĐ chống lại tệ nạn quan liêu, chống lại các biểu hiện tiêu cực Đó là chức năng số
1 bảo vệ khác biệt so với sự bảo vệ trong chủ nghĩa tư bản
Công đoàn Việt Nam thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ không bằng cách đấu tranh chống lại Nhà nước làm suy yếu Nhà nước, không mang tính đối kháng giai cấp, không phải là đấu tranh giai cấp Ngược lại Công đoàn vận động, tổ chức cho CNVCLĐ tham gia xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh Đồng thời Công đoàn bảo vệ chính lợi ích của Nhà nước - Nhà
Trang 22nước của dân, do dân, vì dân Đấu tranh chống lại các thói hư, tật xấu của một số người, nhóm người lạc hậu bị tha hoá, đấu tranh chống lại những hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, bảo vệ chính quyền Nhà nước, bảo vệ quyền lợi của đoàn viên CNLĐ
Thực tế hiện nay của nước ta, trong điều kiện hàng hoá nhiều thành phần, các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, CNLĐ làm việc trong sự quản lý của chủ doanh nghiệp (không phải doanh nghiệp quốc doanh), đã xuất hiện quan hệ chủ thợ, tình trạng vi phạm đến quyền, lợi ích CNLĐ có xu hướng phát triển Vì vậy, chức năng đại diện, chăm
lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CNVCLĐ của công đoàn
có ý nghĩa hết sức quan trọng Để thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích, công đoàn chủ động tham gia cùng chính quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho CNLĐ Công đoàn tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, các chế độ theo quy định, trong việc ký kết HĐLĐ của CNLĐ; đại diện CNLĐ thương lượng, ký kết TƯLĐTT; trong vấn đề thương lượng, giải quyết tranh chấp lao động; tổ chức đình công theo Bộ Luật Lao động Quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể và sự nghiệp phúc lợi tập thể; Bảo hiểm xã hội; Bảo hộ lao động; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của CNVCLĐ; phát huy dân chủ, bình đẳng, công bằng xã hội; phát triển các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch, tham quan nghỉ mát
Trong quá trình thực hiện các nội dung hoạt động nhằm thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc các vấn đề cơ bản như: Lợi ích của NLĐ phải gắn liền với lợi ích của Nhà nước, của tập thể, sự tồn tại của Nhà nước chính là sự đảm bảo lợi ích cho NLĐ Lợi ích của NLĐ không chỉ thuần túy ở cơm ăn, áo mặc mà cao hơn là lợi ích chính trị (đại diện là Nhà nước), lợi ích kinh tế, lợi ích văn hoá, tinh thần, lợi ích trước mắt, hàng ngày, lâu dài, lợi ích cá nhân, tập thể, Nhà nước Nhà nước là người bảo đảm, công đoàn là người bảo vệ lợi ích cho CNVCLĐ Đây là vấn đề quan trọng nói lên
Trang 23mối quan hệ khăng khít, biện chứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi Đồng thời, nó là
cơ sở nhận thức về lợi ích của CNVCLĐ trong điều kiện mới, thể hiện đúng bản chất cách mạng của công đoàn Việt Nam
Thứ hai: Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý
cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế xã hội, quản lý Nhà nước trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật
Theo quy định của Điều 11 Luật Công đoàn (sửa đổi năm 2012) nêu rõ: Công đoàn “Tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về kinh tế - xã hội, lao động việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động và chính sách, pháp luật khác liên quan đến tổ chức công đoàn, quyền, nghĩa vụ của NLĐ” [27, tr.12]
Tham gia ý kiến bằng văn bản với cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ;
Tham dự các cuộc họp, hội nghị, hội thảo liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ do cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tổ chức;
Tham gia với tư cách là thành viên các ủy ban, hội đồng do các cơ quan,
tổ chức và doanh nghiệp thành lập để giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ
Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phối hợp với tổ chức công đoàn cùng cấp theo nguyên tắc: Xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế phối hợp công tác Định kỳ hàng năm tổ chức tổng kết, đánh giá hoạt động phối hợp công tác của các bên và xây dựng chương trình, kế hoạch công tác chung Các Bộ, ngành, Ủy ban Nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tôn trọng quyền thành lập, gia nhập và hoạt động Công đoàn của NLĐ theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam; thừa nhận tổ chức công đoàn được thành lập và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức công đoàn hoạt động
Trang 24Tổ chức công đoàn các cấp khi tham gia quản lý Nhà nước, quản lý
KT-XH với các Bộ, ngành liên quan ở Trung ương, Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan Nhà nước khác, các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập có quyền và trách nhiệm tham gia, phối hợp trong việc xây dựng chế độ chính sách, pháp luật, chủ trương phát triển KT-XH, thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác; tuyên truyền, vận động, giáo dục, phổ biến chính sách pháp luật NLĐ; tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và các chính sách có liên quan trực tiếp đến NLĐ; tham gia điều tra tai nạn lao động, giải quyết khiếu nại, tố cáo; hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp lao động; đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ theo quy định của pháp luật
Tham gia chính thức Hội đồng tiền lương quốc gia, Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội và các ủy ban, Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp; tham gia các
ủy ban, hội đồng cùng cấp có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tổ chức, cải tiến lề lối làm việc và thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
Phối hợp với cơ quan Nhà nước, cơ quan quản lý cùng cấp chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; hướng dẫn, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước của NLĐ thuộc phạm vi quản lý, chỉ đạo; vận động cơ quan, tổ chức doanh nghiệp thực hiện ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật vào sản xuất; xây dựng các tiêu chuẩn, quy phạm
an toàn, vệ sinh lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp, vệ sinh công nghiệp, bảo vệ môi trường (Nghị định số 200/2013/NĐ-CP)
Thứ ba: Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng
và phát triển bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 25Chức năng giáo dục của công đoàn Việt Nam ngày càng mở rộng và phát triển thông qua hoạt động thực tiễn trong lao động sản xuất và tham gia các phong trào thi đua… góp phần cho CNVCLĐ nhận thức và hiểu được lợi ích của
họ gắn với lợi ích tập thể, lợi ích của xã hội Muốn có lợi ích và muốn lợi ích của mình được bảo vệ trước hết, phải thực hiện tốt nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ của người công dân đối với cơ quan, đơn vị và xã hội Trên cơ sở đó xây dựng ý thức lao động mới, lao động có kỷ luật và có tác phong công nghiệp Nâng cao tinh thần tự giác học tập văn hoá, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện tay nghề để đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Công đoàn tuyên truyền, giáo dục cho CNVCLĐ vững tin vào đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển KT-XH mà Đảng ta đã lựa chọn Giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc, của địa phương Tuyên truyền chính sách, pháp luật của Nhà nước Giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, xây dựng lối sống văn hoá lành mạnh, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật góp phần xây dựng GCCN vững mạnh Với tinh thần thường xuyên cảnh giác và đấu tranh chống lại những âm mưu thù địch Chức năng của công đoàn là một chính thể, một hệ thống đồng bộ, trong
đó chức năng bảo vệ lợi ích hết sức được coi trọng, mang ý nghĩa trung tâm, là mục tiêu hoạt động của công đoàn Việt Nam; chức năng tham gia quản lý mang
ý nghĩa phương tiện; chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần để đạt được mục tiêu Do vậy, công đoàn Việt Nam đồng thời quan tâm tới cả 3 chức năng không coi nhẹ chức năng này, xem nặng chức năng kia
Chức năng của công đoàn là một chỉnh thể, một hệ thống đồng bộ, đan xen tương tác lẫn nhau Trong đó chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động mang ý nghĩa trung tâm - mục tiêu hoạt động công đoàn
Nhiệm vụ của công đoàn thể hiện:
Công đoàn là đại diện cho người lao động tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng và thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, các chính sách, các cơ
Trang 26chế quản lý kinh tế, các chủ trương chính sách có liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của người lao động
Công đoàn tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật
về kinh tế - xã hội, lao động, việc làm, tiền lương, BHXH, BHYT, bảo hộ lao động và chính sách, pháp luật khác liên quan đến tổ chức công đoàn, quyền, nghĩa vụ của người lao động
Công đoàn phối hợp với cơ quan nhà nước nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật bảo hộ lao động, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn, vệ sinh lao động
Công đoàn tham gia với cơ quan nhà nước quản lý BHXH, BHYT; giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động, tập thể người lao động theo quy định của pháp luật; tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; tham gia xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; phối hợp tổ chức các phong trào thi đua trong cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp
Công đoàn tập hợp, giáo dục và tuyên truyền pháp luật để người lao động hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, của các cơ quan và các tổ chức Công tác tuyên truyền bao gồm: tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công đoàn, người lao động; quy định của công đoàn; tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức chấp hành pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đấu tranh phòng, chống tham nhũng
Công đoàn tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, viên chức, người lao động; tổ chức và phát động nhiều phong trào thi đua: Phong trào Lao động giỏi, lao động sáng tạo; phong trào Học tập nâng cao trình độ chuyên
Trang 27môn, nghiệp vụ; phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao trong CNVCLĐ
+ Công đoàn phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức công đoàn; phát triển đoàn viên tại các CĐCS; tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người lao động gia nhập vào tổ chức công đoàn; đa dạng hóa các hình thức, phương pháp
tổ chức, nâng cao chất lượng sinh hoạt và hoạt động công đoàn Bồi dưỡng nghiệp vụ đối với cán bộ công đoàn
Tóm lại, sự thừa nhận của xã hội, của nhà nước trên các phương diện khác nhau đã khẳng định chức năng, nhiệm của tổ chức công đoàn, đồng thời tạo điều kiện pháp lý xã hội cho hoạt động Công đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
1.2 Tính tất yếu nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở hiện nay
1.2.1 Quyền hạn của công đoàn cơ sở
- Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam
- Điều 18 của Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XI ghi rõ nhiệm vụ, quyền hạn của CĐCS trong các cơ quan nhà nước, cơ quan của tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập như sau:
Thứ nhất, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước và nhiệm vụ của tổ chức công đoàn Vận động đoàn viên và NLĐ nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, pháp luật, khoa học kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ
Thứ hai, phối hợp với thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị tổ
chức thực hiện quy chế dân chủ, tổ chức hội nghị CBCC cơ quan, đơn vị; cử đại diện tham gia các hội đồng xét và giải quyết các quyền lợi của đoàn viên và NLĐ Hướng dẫn, giúp đỡ NLĐ giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng việc làm
Trang 28Cùng các thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị cải thiện điều kiện làm việc, chăm lo đời sống của đoàn viên, NLĐ, tổ chức các hoạt động văn hóa thể dục, thể thao, hoạt động xã hội trong đoàn viên, NLĐ
Thứ ba, kiểm tra, giám sát việc thi hành các chế độ, chính sách, pháp luật,
bảo đảm việc thực hiện quyền của đoàn viên và NLĐ Đấu tranh ngăn chăn tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Phát hiện và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo giải quyết các tranh chấp lao động
và thực hiện các quyền của CĐCS theo quy định của pháp luật
Thứ tư, tổ chức vận động đoàn viên, NLĐ trong cơ quan, đơn vị thi đua
yêu nước, thực hiện nghĩa vụ của CBCC, viên chức, lao động tham gia quản lý
cơ quan, đơn vị, cải tiến lề lối làm việc thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
Thứ năm, phát triển, quản lý đoàn viên; xây dựng CĐCS vững mạnh và
tham gia xây dựng Đảng
Thứ sáu, quản lý tài chính, tài sản của công đoàn theo quy định của pháp
luật và Tổng LĐLĐ Việt Nam
1.2.2 Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở nhằm phát huy vai trò của công đoàn trong hệ thống chính trị
Tổ chức công đoàn có vị trí, vai trò quan trọng hệ thống chính trị nước ta Cần xác định chỗ đứng của công đoàn trong hệ thống chính trị, được xác định thông qua mối liên hệ giữa công đoàn với các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị và trong xã hội Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và trong bối cảnh xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vị trí của công đoàn Việt Nam được xác định rất cụ thể Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị làm cầu nối giữa Đảng với quần chúng; là người cộng tác đắc lực, chỗ dựa của chính quyền Nhà nước; là đại diện hợp pháp của GCCN, NLĐ Vị trí của công
Trang 29đoàn được thể hiện thông qua mối quan hệ chặt chẽ giữa công đoàn với các tổ chức trong hệ thống chính trị, với công nhân viên chức lao động
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, tổ chúc công đoàn với tinh cách là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động cần khẳng định vị trí, vai trò của mình trong hệ thống chính trị Do vậy, để phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong hệ thống chính trị, cần nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở
Tổ chức công đoàn cơ sở phải không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động hướng về cơ sở; vận động cán bộ, đoàn viên tiên phong trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng; tham mưu cho Đảng những quyết sách đúng đắn, sáng tạo
Tổ chức công đoàn cơ sở cần phát triển đoàn viên, xây dựng CĐCS vững mạnh có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức công đoàn Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để NLĐ hiểu về công đoàn, hiểu lợi ích của bản thân khi gia nhập công đoàn
Công đoàn thường xuyên nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đoàn viên và kịp thời lắng nghe những ý kiến của đoàn viên, đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết Tuyên truyền, giáo dục, động viên CNVCLĐ phát huy quyền làm chủ đối với tổ chức công đoàn góp phần xây dựng hệ thống chính trị
Nói cách khác, cần nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn
cơ sở nhằm phát huy vai trò của công đoàn trong hệ thống chính trị
1.2.3 Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở để khắc phục những yếu kém của tổ chức công đoàn cơ sở hiện nay
Hiện nay, tổ chức công đoàn cơ sở có những hạn chế, yếu kém đó là: Có Công đoàn chưa tổ chức sinh hoạt định kỳ đúng theo quy định Điều lệ Công đoàn Việt Nam; nội dung, chất lượng sinh hoạt chưa được đổi mới Một số phong trào thi đua chưa đều giữa các cơ sở
Trang 30Do vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động CĐCS là nâng cao chất lượng chỉ đạo của công đoàn cấp trên đối với cơ sở, đòi hỏi nâng cao chất lượng cán bộ và hoạt động CĐCS thông qua việc bồi dưỡng nghiệp vụ công đoàn
Tăng cường công tác kiểm tra, khảo sát, kịp thời uốn nắn những sai sót, hạn chế Phân công cụ thể cán bộ phụ trách, tăng cường bám nắm cơ sở được phân công để có đôn đốc chỉ đạo
Kiểm điểm, phê bình những cá nhân chưa làm tốt nhiệm vụ Chọn điểm,
mô hình CĐCS hoạt động có chất lượng xây dựng, rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng nhằm thúc đẩy hoạt động công đoàn
Củng cố nâng cao nội dung sinh hoạt, hội họp từ Ban chấp hành CĐCS đến tổ công đoàn Khắc phục ngay việc đánh giá không đúng thực chất hoặc tổ chức mang tính đối phó, hình thức Tổ chức nhiều hoạt động thu hút đoàn viên, CNVCLĐ tham gia Tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng, phối hợp với lãnh đạo đơn
vị, chủ sử dụng lao động để tạo điều kiện cho CĐCS hoạt động tốt hơn
1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn
Trang 31Xây dựng, sửa đổi, bổ sung quy chế phối hợp công tác giữa ban chấp hành Công đoàn và thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị; cử đại diện Công đoàn tham gia vào các hội đồng có liên quan đến quyền, lợi ích của đoàn viên, NLĐ theo quy định của pháp luật
Tham gia với thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ; quy chế đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho NLĐ
Phối hợp với thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị phát động,
tổ chức các phong trào thi đua có hiệu quả (có nội dung và kết quả cụ thể); cải tiến lề lối làm việc, thực hiện cải thiện điều kiện làm việc, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác
Chất lượng của tổ chức công đoàn được đánh giá qua việc vận động NLĐ phát hiện, ngăn chặn hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; không để xảy ra đơn thư vượt cấp; phối hợp với thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị phát động tổ chức các phong trào thi đua hiệu quả, thiết thực, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên, NLĐ Hàng năm xây dựng, triển khai
kế hoạch về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội theo Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW (cùng ngày 12/12/2013) của Bộ Chính trị về ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
1.3.2 Xây dựng tổ chức công đoàn
Chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn phụ thuộc vào việc xây dựng
tổ chức Công đoàn Theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về hướng dẫn xây dựng CĐCS vững mạnh và đánh giá chất lượng hoạt động CĐCS dựa trên các chỉ tiêu và các nội dung, cụ thể
- Có từ 90-100% số NLĐ gia nhập Công đoàn
- Có 80% trở lên số tổ Công đoàn, CĐCS được xếp loại vững mạnh
Trang 32- Có 100% cán bộ Công đoàn mới tham gia lần đầu được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về lý luận, nghiệp vụ công tác Công đoàn
Việc kiện toàn và công nhận các chức danh từ tổ phó Công đoàn trở lên,
có quyết định bằng văn bản của BCH hoặc ban thường vụ CĐCS và quản lý hồ
sơ đầy đủ theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam
Xây dựng, triển khai kế hoạch hoạt động của CĐCS có hiệu quả; có quy chế hoạt động và tổ chức sinh hoạt BCH, ban thường vụ, UBKT theo quy định;
có quy chế chi tiêu nội bộ, khen thưởng, thăm hỏi, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp
vụ đối với cán bộ CĐCS
Có sổ ghi chép đủ nội dung, diễn biến các cuộc họp BCH, ban thường vụ, UBKT theo quy định và quản lý cán bộ, đoàn viên Công đoàn bằng sổ hoặc trên máy vi tính
Hàng năm có báo cáo công khai dự toán, quyết toán thu chi tài chính Công đoàn tại hội nghị BCH; công khai quyết toán thu chi quỹ xã hội tại hội nghị Công đoàn của đơn vị theo quy định của Tổng Liên đoàn
Hoàn thành dự toán thu tài chính; thực hiện đầy đủ các khoản chi đối với đoàn viên, NLĐ Không vi phạm quy định sử dụng, quản lý tài chính Công đoàn
Thực hiện chế độ thông tin hai chiều đầy đủ, chính xác và kịp thời với đoàn viên, NLĐ và báo cáo định kỳ với Công đoàn cấp trên
1.3.3 Công đoàn cơ sở phối hợp với chủ sử dụng lao động tham gia quản lý
Công đoàn có trách nhiệm hướng dẫn người lao động; tham gia với người
sử dụng lao động ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật; tham gia giải quyết việc làm và bảo đảm việc làm cho người lao động, đề ra các biện pháp nâng cao năng suất, chất lượng; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các nội quy, quy chế của đơn vị, doanh nghiệp
Trang 33Công đoàn có trách nhiệm tham gia xây dựng và giám sát định mức lao động, thời gian làm việc, nghỉ ngơi; tham gia thực hiện các chế độ về bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động; tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế
độ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các loại bảo hiểm khác mà đơn vị, doanh nghiệp tham gia theo quy định của pháp luật
Công đoàn tham gia thực hiện chế độ khen thưởng, kỷ luật lao động
Tham gia phân phối quỹ phúc lợi và chăm lo đời sống cho người lao động; tham gia, phối hợp tổ chức các phong trào thi đua trong lao động sản xuất, nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay nghề cho người lao động Tham gia giải quyết tranh chấp lao động Ngoài ra, một nội dung hết sức quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt động CĐCS là thông qua công tác kiểm tra công đoàn Kiểm tra việc thực hiện các quy định trong điều lệ Công đoàn Việt Nam là nhiệm vụ của ban chấp hành các cấp Công đoàn Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp là cơ quan thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của ban chấp hành cùng cấp và cấp dưới Công tác kiểm tra được quy định tại điều 39, Điều lệ công đoàn Việt Nam khóa XI “Công tác kiểm tra của công đoàn là nhiệm vụ của ban chấp hành mỗi cấp nhằm đảm bảo việc thực hiện Điều lệ, Nghị quyết, Chỉ thị và các Quy định của tổ chức công đoàn Mỗi cấp Công đoàn phải tổ chức, tiến hành công tác kiểm tra của cấp đó và chịu
sự kiểm tra của cấp trên” Kiểm tra việc chấp hành điều lệ Công đoàn Việt Nam
là một hoạt động qua trọng trong công tác xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, thực chất là xem xét, đối chiếu giữa thực tiễn quá trình tổ chức hoạt động Công đoàn theo chức năng, nhiệm vụ của công đoàn các cấp theo quy định Điều
lệ Công đoàn Việt Nam Thông qua các cuộc kiểm tra giúp ban chấp hành, ban thường vụ các cấp Công đoàn thấy được những việc làm tốt để duy trì, phát huy trong tổ chức hoạt động và những việc chưa làm được để tiếp tục thực hiện kế hoạch hàng năm, bám sát sự chỉ đạo của công đoàn cấp trên; đồng thời thông qua việc kiểm tra chấp hành Điều lệ giúp đoàn viên Công đoàn các cấp sửa chữa những thiết sót, khuyết điểm và thực hiện điều lệ tốt hơn
Trang 34Ủy ban kiểm tra Công đoàn là cơ quan thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của ban chấp hành, được quy định tại điều 40, Điều lệ Công đoàn Việt Nam: “Ủy ban kiểm tra Công đoàn được thành lập ở các cấp Công đoàn, do ban chấp hành Công đoàn cấp đó bầu ra và phải được Công đoàn cấp trên công nhận Ủy ban kiểm tra Công đoàn mỗi cấp chịu sự chỉ đạo của ban chấp hành cấp đó và sự chỉ đạo của Ủy ban kiểm tra Công đoàn cấp trên” Theo quy định trên thì ủy ban kiểm tra Công đoàn là một tổ chức trong hệ thống tổ chức của công đoàn, được hình thành để làm nhiệm vụ kiểm tra Điều đó có nghĩa ủy ban kiểm tra Công đoàn khác với các ban chuyên môn, nghiệp vụ của công đoàn cả về sự hình thành, chức năng, nhiệm vụ cũng như phương pháp hoạt động, nhưng là một trong những hoạt động của CĐCS được xem xét, đánh giá
Kết luận chương 1
Công đoàn cơ sở có vững mạnh thì tổ chức công đoàn mới mạnh Vị trí, vai trò của công đoàn phụ thuộc vào những gì công đoàn mang lại cho đoàn viên Để nâng cao chất lượng sinh hoạt, trước hết công đoàn cơ sở phải gắn với việc đổi mới nội dung với phương thức hoạt động Căn cứ vào chức năng, nhiệm
vụ của tổ chức công đoàn, các chương trình hoạt động của cấp trên và nhiệm vụ chính trị của địa phương để xây dựng kế hoạch thực hiện có hiệu quả CĐCS vững mạnh Xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh, không ngừng phát huy dân chủ của cán bộ, đoàn viên công đoàn nhằm tạo môi trường để khơi dậy tính sáng tạo của đoàn viên công đoàn đóng góp trí tuệ vào việc xây dựng, bổ sung nội dung, phương pháp hoạt động công đoàn Mặt khác, xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh là một trong những tiền đề quan trọng để củng cố tổ chức công đoàn,
là nền móng để xây dựng tổ chức công đoàn từ trung ương đến địa phương lớn mạnh
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRỰC THUỘC LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Đô Lương là một huyện nằm phía Tây bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 60 km về phía Tây, phía Nam tiếp giáp với huyện Thanh Chương, phía Bắc tiếp giáp với huyện Tân kỳ, phía Tây Giáp với huyện Anh Sơn, phía Đông giáp với huyện Yên Thành Tổng diện tích tự nhiên 35.594 ha Tổng dân số 19,8 vạn người năm 2016, gồm 33 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn
Đô Lương là huyện đất chật, người đông, địa hình phức tạp, vừa có đồng bằng, vừa có miền núi, vừa có vùng ven sông, vừa có vùng bán sơn địa Mỗi vùng có những đặc điểm sinh thái tạo nên nhiều lợi thế quan trọng như: Tiềm năng đất đai, tài nguyên khoáng sản đá, cát, sạn, sét sứ và cao lanh, với trữ lượng lớn lại nằm trên điểm giao cắt của các tuyến Quốc lộ 7A, 15A, đường 46, N5; có các điểm du lịch văn hóa gắn với sinh thái, nguồn lực lao động dồi dào; các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đầu tư nhiều năm đã và đang phát huy hiệu quả Được Tỉnh chọn đầu tư xây dựng nhà máy xi măng Sông Lam và định hướng phát triển thành thị xã tạo khả năng hình thành một trung tâm Đô thị lớn của các huyện vùng Tây Bắc Nghệ An; nhân dân có truyền thống cần cù lao động, năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, nghề truyền thống như: Trồng dâu nuôi tằm, đan lát, bánh đa, kẹo lạc… nhất là hoạt động dịch vụ thương mại
Trang 36Những năm gần đây Đảng bộ huyện Đô Lương đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Kinh tế ngày càng tăng trưởng với tốc độ nhanh
Khu công nghiệp nhỏ Thị trấn và Thượng sơn đã được triển khai, 3 công
ty có vốn đầu tư Hàn Quốc góp phần thu hút các doanh nghiệp, nhà máy đi vào hoạt động Công tác chỉnh trang đô thị và vùng phụ cận được triển khai tích cực,
hệ thống điện chiếu sáng, cấp thoát nước, nâng cấp trung tâm thương mại, ghép gạch Bloc vỉa hè Thu hút đầu tư xây dựng mới khu đô thị Nam Thị trấn, khu đô thị Cầu Dâu… đã và đang từng bước hình thành một đô thị hội đủ các tiêu chí thành Thị xã
Xây dựng cơ bản phục vụ cho phát triển kinh tế phục vụ đời sống có bước tiến nhảy vọt Nhiều cơ sở hạ tầng và công trình phục vụ cho việc phát triển kinh
tế - văn hóa của huyện được hoàn thành và duy trì khá tốt, góp phần giữ gìn phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa gắn với du lịch như: Đền Quả Sơn, Chùa
Bà Bụt, Đền Đức Hoàng, khu di tích lịch sử Truông Bồn… huyện Đô Lương đã góp phần cùng với Đảng và Nhà nước xây dựng tôn tạo Nghĩa trang liệt sỹ của huyện thành khu nghĩa trang Quốc tế Việt - Lào Vấn đề an sinh xã hội được đảm bảo, nắm bắt triển khai kịp thời các chính sách của Đảng và Nhà nước về
an sinh xã hội đã có tác động ổn định tình hình chính trị - xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010-2015 đạt 9,60%; thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 30,25 triệu đồng tăng 2 lần so với năm 2010 Chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực; CN-XD tăng từ 23,23% năm 2010 lên 26,69% năm 2015, dịch vụ tăng từ 44,45% lên 46,64% và tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 26,67%
Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng từ 932,6 tỷ đồng năm 2010 lên 1.139 tỷ đồng năm 2015
Trang 37Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện
Đô Lương theo hướng tích cực; hạ tầng kinh tế xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng, bộ mặt nông thôn và đô thị có nhiều khởi sắc Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt Để đạt được mục tiêu phát triển huyện Đô Lương trở thành huyện khá tốp đầu của tỉnh, xây dựng Đô Lương thành Thị xã theo hướng là huyện trọng điểm về kinh tế, hình thành một trung tâm kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An cần phải có tăng trưởng kinh tế nhanh, chất lượng tăng trưởng cao và đô thị hoá nhanh hơn
Tuy vậy, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế đó là:
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân chỉ đạt 9,6% mục tiêu
12 - 13% Kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của huyện; sản xuất nông nghiệp chưa có bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng Kinh tế hợp tác xã chậm đổi mới; công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản còn bất cập
Về Văn hóa - Xã hội: Đầu tư xâu dựng cơ sở vật chất ở các trường sáp nhập khối trung học cơ sở, các trường mầm non vùng khó khăn chưa đáp ứng yêu cầu cho dạy và học Số người, số xóm, số cơ quan có người sinh con vi phạm chính sách dân số còn cao; công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động chưa đáp ứng yêu cầu, lao động thiếu việc làm còn lớn Tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số cơ sở sản xuất nhưng giải quyết còn chậm gây bức xúc trong nhân dân
2.1.2 Hệ thống tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
- Tổ chức bộ máy của LĐLĐ huyện Đô Lương:
LĐLĐ huyện có các loại hình tổ chức trực thuộc bao gồm:
Công đoàn giáo dục huyện tập hợp lực lượng đoàn viên là cán bộ, giáo viên, nhân viên thuộc biên chế sự nghiệp Giáo dục cấp huyện, gồm các trường Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở trên địa bàn huyện
Trang 38CĐCS trong các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp cấp huyện, trừ các đơn vị có tổ chức công đoàn theo hệ thống ngành dọc từ Trung ương như: Điện, Ngân hàng, Kho bạc, các trường THPT, Kiểm lâm, Bưu điện, Viễn thông, Lâm trường
CĐCS các doanh nghiệp, hợp tác xã tập hợp lực lượng đoàn viên là cán
bộ, công nhân, lao động
Từ năm 2007 đến nay, theo quyết định 974/QĐ-TLĐ của Tổng LĐLĐ Việt Nam, LĐLĐ huyện có thêm mô hình CĐCS xã, thị trấn tập hợp đoàn viên
là CBCC, bán chuyên trách công tác tại 33 xã, thị trấn
Ban Chấp hành là cơ quan lãnh đạo hoạt động LĐLĐ huyện giữa 2 kỳ đại hội Ban Chấp hành có 19 Ủy viên, trong đó phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm; ủy viên ban Thường vụ (có 5 đồng chí) thay mặt Ban Chấp hành chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành, điều hành các hoạt động giữa hai kỳ họp Ban Chấp hành
Cơ quan LĐLĐ huyện có 6 cán bộ chuyên trách, phần lớn đã qua đào tạo nghiệp vụ; tỷ lệ cán bộ chuyên trách là đảng viên đạt 100% Đội ngũ cán bộ chuyên trách thành phần xuất thân từ gia đình là cán bộ Công tác quy hoạch, bố trí cán bộ LĐLĐ huyện ít biến động Quá trình công tác cơ bản là cán bộ trẻ do vậy kinh nghiệm còn hạn chế, đây là một trở ngại trong quá trình đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của LĐLĐ huyện
LĐLĐ huyện Đô Lương là đơn vị hoạt động theo ngành dọc, tổ chức các hoạt động dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của LĐLĐ tỉnh Nghệ An, thông qua
ý kiến chỉ đạo, thống nhất của cấp uỷ, chính quyền đồng cấp ở một số nội dung liên quan, thực hiện cả hai nhiệm vụ cùng một lúc, đó là thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của công đoàn dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của LĐLĐ tỉnh và thực hiện nhiệm vụ chính trị của huyện giao Hiện nay để hoàn thành nhiệm vụ do LĐLĐ cấp trên và cấp uỷ huyện là rất nặng nề, vì số lượng cán bộ chuyên trách của huyện ít, không đủ số lượng để tham gia, xử lý tất cả các công việc, làm ảnh
Trang 39hưởng đến kết quả hoạt động, địa bàn rộng, nên việc bố trí thời gian để thường xuyên tham dự các hoạt động với các đơn vị còn gặp nhiều khó khăn, công tác khảo sát, xúc tiến, vận động CNLĐ gia nhập tổ chức công đoàn, thành lập CĐCS trong các doanh nghiệp gặp khó khăn, công nhân lao động chưa nhận thức và hiểu hết quyền và trách nhiệm khi gia nhập tổ chức công đoàn; công tác tuyên truyền, giáo dục, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho NLĐ còn hạn chế; tình trạng thực hiện chính sách cho NLĐ tại một số đơn
vị chưa tốt
Trước tình trạng đó LĐLĐ huyện đã chủ động tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền đồng cấp, ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp với các phòng ban liên quan, tiến hành kiểm tra, khảo sát việc chấp hành pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp, đề nghị các cơ quan, ban ngành liên quan
xử lý Trong những năm qua LĐLĐ huyện thường xuyên quan tâm đến công tác chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho NLĐ, phối hợp với cơ quan liên quan, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách cho NLĐ Hàng năm
tổ chức khảo sát đoàn viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đề nghị hỗ trợ xây
mới, tu sửa nhà “Mái ấm Công đoàn”, trợ cấp cho CNVCLĐ có hoàn cảnh khó
khăn, ốm đau, hoạn nạn , tổ chức phát động nhiều phong trào thi đua, trong đó nổi bật là phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới
- CĐCS trên địa bàn huyện:
Tính đến ngày 01/5/2017, Liên đoàn Lao động huyện Đô Lương có 157 CĐCS quản lý với 8.420 đoàn viên Trong đó CĐCS khối cơ quan hành chính,
sự nghiệp có 22 CĐCS với 874 đoàn viên, chiếm tỷ lệ 10,4%; Công đoàn Giáo dục có 90 CĐCS trường học với 2.636 đoàn viên, chiếm 31,3%; có 33 CĐCS
xã, thị trấn với tổng 1.040 đoàn viên, chiếm tỷ lệ 12,3%; có 12 CĐCS khối doanh nghiệp với 3.870 đoàn viên, chiếm tỷ lệ 46%;
+ CĐCS các đơn vị hành chính sự nghiệp
CĐCS các đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn huyện có 22 CĐCS chủ yếu là cán bộ công chức, viên chức CĐCS đơn vị hành chính sự nghiệp tổ
Trang 40chức hoạt động, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp trên, của cấp ủy chính quyền đồng cấp, hầu hết các CĐCS hành chính sự nghiệp đều triển khai và hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và tích cực tham gia và phát động nhiều phong trào thi đua, như: cải cách thủ tục hành chính; phấn đấu người cán bộ công chức “Trung thành, sáng tạo, tận tuỵ, gương mẫu” góp phần xây dựng Công đoàn ngày càng vững mạnh
+ Công đoàn Giáo dục huyện
Công đoàn giáo dục huyện hoạt động theo ngành nghề trên lĩnh vực giáo dục, chủ yếu là lực lượng giáo viên, trực tiếp làm công tác giảng dạy, kết quả hoạt động Công đoàn được đánh giá trên kết quả từng năm học, công đoàn giáo dục có 90 CĐCS trường học, chiếm tỷ lệ 31,3% CĐCS trong toàn huyện với tổng số 2.636 đoàn viên
Công đoàn giáo dục phát động các phong trào thi đua theo năm học, các cán bộ, đoàn viên tích cực tham gia các hoạt động do Công đoàn cấp trên phát động và dành được nhiều thành tích đáng ghi nhận, như phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, phong trào “Giỏi việc trường, đảm việc nhà”, phong trào “Mỗi Thầy Cô giáo là một tấm gương tự học sáng tạo”, phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã có nhiều sáng kiến được công nhận cả ba cấp học, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn
+ CĐCS xã, thị trấn
Trên địa bàn huyện có 33 CĐCS xã, thị trấn, chủ yếu là cán bộ công chức CĐCS xã, thị trấn tổ chức hoạt động, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp trên, của cấp ủy chính quyền đồng cấp, các CĐCS xã, thị trấn đều bám nhiệm vụ cấp uỷ, chính quyền, tổ chức triển khai và hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và tích cực tham gia và phát động nhiều phong trào thi đua góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị ngày càng vững mạnh
+ CĐCS khối doanh nghiệp
Trên địa bàn huyện có 12 doanh nghiệp trong đó có 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Số lượng đoàn viên công đoàn đông nhất thuộc CĐCS