NGUYỄN HỮU THƯƠNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA H
Trang 1NGUYỄN HỮU THƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LONG AN - 2017
Trang 2NGUYỄN HỮU THƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS BÙI VĂN DŨNG
LONG AN - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ quý Thầy, Cô giảng viên Khoa Giáo dục Chính trị, Phòng đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An và đồng nghiệp, đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu, đã tận tình động viên, giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS TS Bùi Văn Dũng, người đã định hướng đề tài và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn các sở, ban ngành tỉnh Bình Phước đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tham gia đóng góp ý kiến quý báu, cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù rất cố gắng trong quá trình thực hiện song luận văn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy cô giáo, các anh chị và các bạn
Long An, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Hữu Thương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
BÌA LÓT 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG 4
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT ……….… ……… 5
MỞ ĐẦU……… 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 14
1.1 Các khái niệm có liên quan đến đề tài 14
1.2 Tổng quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm 23
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm ở các tỉnh khác 31
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 38
2.1 Tác động của các nhân tố về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đến quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước 38
2.2 Tình hình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước 45
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY 85
3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước hiện nay 85
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước hiện nay 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110
1 Kết luận 110
2 Kiến nghị 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Danh mục cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vực môi trường tại các Bộ 47 Bảng 2.2 Bảng tổng hợp lưu lượng nước thải của các dự án kinh tế trọng điểm 55 Bảng 2.3 Bảng tổng hợp chất thải rắn y tế giai đoạn 2011 – 2015 58 Bảng 2.4 Bảng tổng hợp chất thải rắn công nghiệp cần thu gom trên địa bàn tỉnh Bình Phước đến năm 2020 58 Bảng 2.5 Kết quả thanh tra, kiểm tra chấp hành Luật Bảo vệ môi trường 72 Bảng 2.6 Kết quả sử dụng đầu tư kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường 74 Bảng 2.7 Kết quả thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp…75
Trang 6BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
CP : Cổ phần (Công ty cổ phần)
CB,CC : Cán bộ, công chức
CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐTM : Đánh giá tác động môi trường
NGO : Tổ chức phi chính phủ
ODA : Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức QCVN : Qui chuẩn Việt Nam
KCN : Khu công nghiệp
KKT : Khu kinh tế
MTV : Một thành viên
NSNN : Ngân sách nhà nước
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TN và MT : Tài nguyên và Môi trường
NQ/TW : Nghị quyết /Trung ương
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng xu thế chung của thế giới, là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định trong xóa đói, giảm nghèo, song lại phải đương đầu với những thách thức lớn lao về môi trường Những thách thức này đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải sớm tìm ra các giải pháp giải quyết có hiệu quả các vấn đề môi trường ở Việt Nam
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc thực hiện các biện pháp khác nhau để bảo vệ môi trường Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [1]; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (Khóa XI) về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã khẳng định: “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh
xã hội Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội” [14] Nghị quyết khẳng định:
“Môi trường là vấn đề toàn cầu Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu
Trang 8hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững” [14] Bên cạnh đó, trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 khẳng định quan điểm: “Bảo vệ môi trường
là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của mọi người dân; phải được thực hiện thống nhất trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, phân cấp cụ thể giữa Trung ương và địa phương; kết hợp phát huy vai trò của cộng đồng, các tổ chức quần chúng và hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới
Nghị quyết Đại hội XII xác định: “Tài nguyên là tài sản quốc gia, nguồn lực quan trọng của đất nước, phải được đánh giá đầy đủ, hạch toán trong nền kinh tế; được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả
và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh Chú trọng sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, vật liệu mới
Ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên
do con người, nhất là do các dự án phát triển kinh tế gây ra Hạn chế, tiến tới khắc phục căn bản tình trạng huỷ hoại, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị Hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn,
xử lý theo pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường, tăng cường phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường
Chủ động xây dựng, triển khai và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chương trình, kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai cho từng giai đoạn Trước mắt tập trung xử lý hiệu quả tình trạng lũ lụt, hạn hán, sạt lở bãi sông, bãi biển, xâm nhập mặn và triều cường, đang tác động trực tiếp đến đời sống, sản xuất của nhân dân” [15]
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Phước có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế, an ninh, chính trị, quốc phòng của khu vực phía Nam và cả nước Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của tỉnh đã có
Trang 9những chuyển biến tích cực khá rõ rệt, cuộc sống của nhân dân có nhiều thay đổi Bình Phước đang nỗ lực phấn đấu vươn lên thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, đảm bảo an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
Bên cạnh những tác động tích cực của các dự án phát triển kinh tế, tốc độ tăng trưởng nhanh cũng đặt ra những thách thức trong quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Phước lần thứ X nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng hệ thống chính trị là: “Nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường” theo Nghị quyết 01-NQ/TU ngày 11/12/2015 của Tỉnh ủy, tỉnh Bình Phước có các dự án trọng điểm như sau: Dự án Phát triển kinh tế và du lịch sinh thái Bù Gia Mập; Khu du lịch tâm linh Bà Rá; Khu di tích lịch sử và du lịch sinh thái Bộ Chỉ huy miền Tà Thiết; Ngoài ra trên địa bàn tỉnh hiện có: 08 khu công nghiệp đang hoạt động (Khu công nghiệp Chơn Thành I; Khu công nghiệp Chơn Thành II; Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú; Khu công nghiệp Nam Đồng Phú; Khu công nghiệp Minh Hưng - Hàn Quốc; Khu công nghiệp Minh Hưng III; Khu công nghiệp Đồng Xoài I; Khu công nghiệp Đồng Xoài II); 02 Khu công nghiệp đang đầu tư cơ sở hạ tầng (Khu công nghiệp Becamex - Bình Phước; Khu công nghiệp Đồng Xoài III); 03 Khu công nghiệp chưa đầu tư cơ sở hạ tầng (Khu công nghiệp Minh Hưng - Sikico; Khu công nghiệp Tân Khai II; Khu công nghiệp Việt Kiều) [16]
Các dự án kinh tế mặc dù đem lại lợi ích rất lớn cho địa phương nhưng vì lợi ích kinh tế, các chủ dự án thường sẽ bỏ qua những khoản chi phí lớn để phục hồi môi trường Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát, áp dụng các chế tài cần thiết để yêu cầu các dự án đảm bảo môi trường trong sạch cho địa phương Tuy
Trang 10nhiên, việc triển khai quản lý của Nhà nước về bảo vệ môi trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến hiệu qủa quản lý ở tỉnh chưa cao
Nhận thức được tầm quan trọng của quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Phước nêu trên, tác giả mong muốn nghiên cứu sâu hơn nội dung và làm rõ lý luận, thực tiễn, đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước Đó chính là lý do tác giả lựa chọn vấn đề: “Nâng
cao hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước hiện nay” làm đề tài
luận văn thạc sỹ chuyên ngành chính trị học
Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu như:
Về sách chuyên khảo, giáo trình:
- TS Trương Thị Minh Sâm (2004), “Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất”, Sách chuyên khảo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Tác giả trình bày một số vấn đề về thực trạng ô nhiễm môi trường trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất cho đến những năm 2004, và đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất
Đây cũng là một trong những tài liệu khá cụ thể về thực trạng môi trường Khu công nghiệp, Khu chế xuất Những kiến nghị mang tính định hướng chung cho tất cả các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, trong bối cảnh mà Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có thông tư hướng dẫn quản lý môi trường trong các Khu công nghiệp Tuy nhiên, diễn biến của môi trường và văn bản quản lý nhà nước về môi trường đã có nhiều thay đổi từ sau năm 2010 đến nay, nên tài liệu này mang ý nghĩa tham khảo cách thức tư duy [26]
- TS Lê Thanh Hải (2010) Giáo trình, “Quản lý môi trường đô thị và Khu công nghiệp”, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Giáo trình tham khảo những nội dung như: quản lý môi trường Khu công nghiệp theo hướng bền
Trang 11vững; quản lý các thành phần môi trường của Khu công nghiệp, cơ sở khoa học về môi trường tự nhiên, khí thải, chất thải và nước thải Các tiêu chí, chỉ số về ô nhiễm môi trường sinh thái và tự nhiên [18]
- TS Đỗ Trọng Hưng (2016), “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung bộ hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Sách tham khảo những vấn đề như: lý luận chung về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường; thực trạng tăng trưởng kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ thời gian qua, những vấn đề đặt ra cần giải quyết những mâu thuẫn giữa yêu cầu nhận thức đúng và thực tế nhận thức trong
xã hội về kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, mâu thuẫn giữa yêu cầu phải có hệ thống chính sách hợp lý với chính sách hiện có còn nhiều bất cập, việc ứng dụng khoa học và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, những giải pháp cụ thể để kết hợp hiệu quả tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ thời gian tới, [21]
- Học viện Hành chính Quốc gia (2011) Giáo trình: “Quản lý nhà nước về khoa học - công nghệ và tài nguyên - môi trường”, Nxb Lý luận Chính trị quốc gia, Hà Nội Giáo trình có nội hàm lý luận quản lý nhà nước về khoa học công nghệ và tài nguyên môi trường, các khái niệm nêu trong giáo trình rõ ràng, có tính hàn lâm [19]
Về luận án tiến sĩ:
- TS Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013), Luận án tiến sĩ Luật học “Pháp luật
sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” Luận án đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường và pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường
Luận án đã phân tích nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; các tiêu chí cơ bản xác định mức độ phù hợp
Trang 12của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; nội dung chủ yếu của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; phân tích các yếu tố tác động đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường Luận án đã phân tích và đánh giá một cách toàn diện và khách quan thực trạng pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Từ đó, chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế trong các quy định pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện hành Luận án đã đề ra được phương hướng và các giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay [17]
Như vậy, nghiên cứu để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm nói chung và trên các địa bàn cụ thể thì đã có nhưng để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm nói chung và trên địa bàn tỉnh Bình Phước hiện nay thì chưa có Vì vậy, sự nghiên cứu của chúng tôi có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng, mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, hình thành khung lý luận quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước;
Trang 13- Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ đặt ra, trong quá trình triển khai luận văn tác giả sử dụng các phương pháp:
Trang 14- Phương pháp phân tích, tổng hợp để hoàn thiện, làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm
và xây dựng hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm
- Phương pháp khảo sát thực địa, thống kê, phân tích - tổng hợp, so sánh
- đối chiếu, dự báo và logic - lịch sử để đánh giá tình hình bảo đảm môi trường tại địa bàn xung quanh các dự án trọng điểm, nghiên cứu các tài liệu thu thập được có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn từ đó nêu quan điểm, định hướng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trên cơ sở hệ thống hóa về lý luận, luận văn đã làm rõ các nội dung về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có ích cho việc nghiên cứu, học tập hoặc những ai quan tâm đến lĩnh vực hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết luận, quan điểm và những giải pháp được đề xuất trong luận văn
là những căn cứ khoa học có thể có hữu ích cho các nhà quản lý để hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 03 chương; 7 tiết
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM CẤP TỈNH
1.1 Các khái niệm có liên quan đến đề tài
1.1.1 Môi trường và ô nhiễm môi trường
1.1.1.1 Môi trường
Hiện nay ở trên thế giới và nước ta có nhiều cách tiếp cận về môi trường và vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau Trong cách tiếp cận chung là môi trường sinh thái trong đó con người sống tồn tại, vận động và phát triển Môi trường (enviroment) là thuật ngữ đa nghĩa, với cách hiểu đơn giản “Môi trường là tất cả những gì xung quanh con người” Đó là không khí, đất đai, nguồn nước, tiếng ồn, đó là những gì liên quan đến trật tự xã hội Và cùng với cách hiểu đó, hoạt động của con người bao gồm: sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất, rừng, biển, sông ngòi, ao hồ đã và đang làm cho môi trường sinh thái xung quanh chúng ta thay đổi [19, tr.23]
Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên
ngoài của một hệ thống nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó
Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh
Trang 16khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng (WikipediA- Bách khoa toàn thư mở)
"Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật" [24, Điều 3]
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội, Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ:
Trang 17môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các
cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triến
1.1.1.2 Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra Ngoài ra, ô nhiễm còn do một số hoạt động của tự nhiên khác có tác động tới môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính vật lý, hóa học, nhiệt độ, sinh học, chất hòa tan, chất phóng xạ ở bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó Chất gây ô nhiễm có thể là chất rắn (như rác) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải của dệt nhuộm, rượu, chế biến thực phẩm), hoặc chất khí (SO2 trong núi lửa phun, N02
trong khói xe, có từ khói đun ), các kim loại nặng như chì, đồng cũng có khi
nó vừa ở thể hơi vừa ở thể rắn như thăng hoa hay ở dạng trung gian
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật [24, Điều 3]
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải
Trang 18hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu
Khái niệm ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường đã được giải thích trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và cho đến nay Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam đã kế thừa các khái niệm này [24, Khoản 8, 9, 10 Điều 3] Theo đó:
Ô nhiễm môi trường là sự biến đối của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật [24, Điều 3]
Sự biến đổi các thành phần môi trường có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm Chất gây ô nhiễm được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lí khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm
Thông thường chất gây ô nhiễm là các chất thải, tuy nhiên, chúng còn có thể xuất hiện dưới dạng nguyên liệu, thành phẩm, phế liệu, phế phẩm và được phân thành các loại sau đây:
+ Chất gây ô nhiễm tích luỹ (chất dẻo, chất thải phóng xạ) và chất ô nhiễm không tích luỹ (tiếng ồn);
+ Chất gây ô nhiễm trong phạm vi địa phương (tiếng ồn), trong phạm vi vùng (mưa axít) và trên phạm vi toàn cầu (chất CFC);
+ Chất gây ô nhiễm từ nguồn có thể xác định (chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm không xác định được nguồn (hoá chất
Trang 19dùng cho nông nghiệp);
+ Chất gây ô nhiễm do phát thải liên tục (chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm do phát thải không liên tục (dầu tràn do sự cố tràn dầu)
Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường”
Như vậy, có thế hiểu trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay,
có nhiều yếu tố tác động đến môi trường, nhưng có thể nêu lên những tác động gây ô nhiễm môi trường của các yếu tố chủ yếu như: khí thải, nước thải và chất thải, nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu Ba nhóm yếu
tố ô nhiễm, suy thoái được quan tâm gồm: môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí
Khi sự cố gây ô nhiễm môi trường, xả nước thải chưa qua xử lý của một
số doanh nghiệp, dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước vào lưu vực sông Sài Gòn gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt và nước biến đổi màu, có mùi ô nhiễm nặng Đứng trước hiện tượng ô nhiễm môi trường nêu trên, chính quyền tỉnh Bình Phước đã kịp thời chỉ đạo các cơ quan chức năng phối kết hợp
xử lý, lấy mẫu phân tích làm rõ nguyên nhân, truy tìm doanh nghiệp, dự án gây
ô nhiễm, phong tỏa hiện trường thông tin kịp thời cho các tỉnh, thành phố trong vùng để phối kết hợp hạn chế thấp nhất ô nhiễm môi trường xảy ra Vào đầu tháng 7 năm 2016, Đài truyền hình VTV1 và nhiều Báo đài khác đã đưa tin: Người dân sống quanh khu vực thượng nguồn sông Sài Gòn đoạn qua tỉnh Bình Phước không khỏi bức xức vì tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng trên khu vực này, hiện tượng xác cá chết trắng sông, xác heo thối chôn dọc bờ bốc mùi hôi thối là những gì thượng nguồn sông Sài Gòn hiện đang phải gánh chịu từng ngày bởi
Trang 20tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng – sông Sài Gòn bị “bức tử”
Ngày 08/7/2016, sau khi nhận được thông tin có cá chết xuất hiện trên sông Sài Gòn đoạn thuộc địa phận xã Tân Hiệp đến xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Hớn Quản, UBND xã Minh Tâm và Tân Hiệp đã tiến hành kiểm tra, xác minh nội dung phản ánh Tại thời điểm kiểm tra, khu vực sông Sài Gòn đoạn chảy qua xã Minh Tâm và Tân Hiệp không còn hiện tượng cá chết nổi trên sông, cá chết chỉ xuất hiện vào ngày 06/7/2016 Theo thông tin được cung cấp, cá chết bắt nguồn từ nhánh sông chảy từ Campuchia chảy về ngã ba sông Tràm (ngã ba sông Tràm là thượng nguồn của sông Sài Gòn, cách cầu Sài Gòn 1 khoảng 50km gồm: 01 nhánh chảy từ Campuchia và 01 nhánh từ suối Cần Lê chảy về) trôi dạt đến xã Minh Tâm và Tân Hiệp, huyện Hớn Quản Sau khi có hiện tượng cá chết trên sông Sài Gòn, UBND xã Minh Tâm và Tân Hiệp, huyện Hớn Quản đã tổ chức tuyên truyền, vận động người dân không sử dụng cá chết không rõ nguyên nhân Tăng cường hệ thống quan trắc kịp thời phát hiện các hiện tượng gây ô nhiễm, kiên quyết xử
lý và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường, tuyên truyền tập huấn đến tận tổ dân phố và các doanh nghiệp, dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh về chấp hành luật bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường, hình thành ý thức giữ gìn vệ sinh chung, tiến tới xóa bỏ các phong tục tập quán lạc hậu, các thói quen nếp sống không văn minh, không hợp vệ sinh Thu gom và xử lý rác thải, xác động vật chết đúng quy định, cam kết không xả nước thải làm ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông Sài Gòn trên địa bàn tỉnh Bình Phước
1.1.2 Hiệu quả quản lý
1.1.2.1 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ quản lý là một phương thức làm cho hoạt động hướng tới mục tiêu được hoàn thành với một hiệu quả cao, bằng và thông qua những người
Trang 21khác Phương thức này bao gồm những chức năng hay hoạt động cơ bản mà nhà quản lý có thể sử dụng, đó là hoạch định, tổ chức, điều khiển, và kiểm soát
Quản lý là quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm soát nhân tài, vật lực và thông tin của một tổ chức một cách có ích và có hiệu quả nhằm theo đuổi những mục tiêu của tổ chức
1.1.2.2 Hiệu quả của quản lý
Kết quả của một quá trình quản lý là đầu ra của quá trình đó, theo nghĩa chưa đề cập gì đến chi phí bỏ ra trong quá trình đó Hiệu quả khi so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, chúng ta có khái niệm hiệu quả Hiệu quả cao khi kết quả đạt được cao hơn so với chi phí; và hiệu quả thấp khi chi phí bỏ ra nhiều hơn kết quả đạt được Trong thực tế, hoạt động quản lý có hiệu quả khi:
Đầu vào giảm và đầu ra giữ nguyên; Đầu vào giữ nguyên và đầu ra tăng lên; Đầu vào giảm và đầu ra tăng lên So sánh hiệu quả và kết quả:
Hiệu quả gắn liền với phương tiện, trong khi kết quả gắn liền với mục tiêu thực hiện, hoặc mục đích;
Hiệu quả là làm được việc, còn kết quả là làm đúng việc;
Hiệu quả tỉ lệ thuận với kết quả đạt được, nhưng tỉ lệ nghịch với chi phí
bỏ ra
Thuật ngữ hiệu quả là kết quả thực hiện một chủ trương, chính sách được xác định qua việc so sánh các kết quả đạt được với toàn bộ các nguồn lực đã sử dụng Hiệu quả thể hiện ở kết quả đạt được là tối đa, chi phí thì tối thiểu (Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Hành chính-NXB Lao động, HN 2002, tr 321)
Có thể nói rằng lý do tồn tại của hoạt động quản lý chính là vì muốn có hiệu quả; và chỉ khi nào quan tâm đến hiệu quả thì người ta mới quan tâm đến hoạt động quản lý
1.1.2.3 Khái niệm quản lý nhà nước
Khái niệm: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực của nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và
Trang 22hoạt động của con người, quản lý nhà nước khác với dạng quản lý của các chủ thể khác ở chỗ các chủ thể này không dùng quyền lực pháp luật của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ quản lý mà chỉ dùng phương thức giáo dục, vận động quần chúng Quản lý nhà nước cũng có nội dung quản lý hành chính nhà nước vì hành chính nhà nước là một dạng hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nước [20, tr.27]
Quản lý nhà nước đối với dự án kinh tế: là nhà nước sử dụng quyền lực hành chính nhà nước nhằm đảm bảo cho các dự án nhà nước và các thành phần kinh tế đầu tư có hiệu quả, ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất các nhân tố tác động ảnh hưởng đến hoạt động của các dự án kinh tế
1.1.2.4 Hiệu quả quản lý nhà nước
Hiệu quả là một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn, là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá chất lượng quản lý kinh tế - xã hội Hiệu quả quản lý là chỉ tiêu phát triển độ sử dụng các yếu tố của lao động để tạo ra một kết quả hoạt động là tối đa tương ứng với một chi phí tối thiểu
Hiệu quả quản lý nhà nước là sự tác động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đối với mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội để đảm bảo các nhu cầu thực tế của sự phát triển kinh tế và đời sống mạnh mẽ và đúng hướng, đảm bảo các yêu cầu phát triển văn hóa - xã hội, khoa học kỹ thuật, phục vụ công cộng, bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ quốc phòng, an ninh, trật tự, pháp luật, pháp chế kỷ luật, kỷ cương, xã hội trong từng thời kỳ nhất định Nếu không đáp ứng được các yêu cầu đó thì không thể nói hoạt động quản lý nhà nước có hiệu quả
Căn cứ để đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước là: Có hai cách đánh giá: Cách thứ nhất: Kết quả thực hiện mục tiêu, chương trình và nhiệm vụ của quản lý nhà nước thông qua các kế hoạch của nhà nước trong từng thời kỳ nhất định có tính đến việc chi phí thực hiện kế hoạch đó Cách thứ hai: Đánh giá việc tổ chức và hoạt động cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước thông qua
Trang 23các yếu tố sau: (1) Cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước; (2) Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền; (3) Năng lực, phong cách,
uy tín của CB,CC và nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức; (4) Thời gian đầu tư để giải quyết các tình huống quản lý; (5) Tính pháp chế, kỷ luật, kỷ cương nhà nước
Thông qua các nguyên tắc, phương pháp và biện pháp quản lý nhà nước đối với các dự án kinh tế, coi trọng hàng đầu chất lượng, bắt buộc đăng ký dự án đối với mọi chủ đầu tư, phê duyệt nhiều bước đối với các dự án thuộc diện xin phép nhà nước, nhằm ngăn ngừa từ trong dự định các nguy cơ, hiểm họa của các chủ đầu tư mà các nhà hoạt động đầu tư có thể gây ra cho xã hội, bảo vệ nhân dân trước mọi rủi ro
Như vậy, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước là kết quả của sự tác động của các cơ quan hành chính nhà nước lên các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế và các lĩnh vực khác theo sự định hướng của nhà nước
1.1.3 Dự án kinh tế trọng điểm
Khái niệm dự án: Dự án là một tập hợp các đề xuất nhằm thực hiện một phần hay toàn bộ công việc để đạt được mục tiêu, yêu cầu nào đó trong khoảng thời gian xác định với một sự ràng buộc nhất định về nguồn lực thực hiện
Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [25, Điều 3]
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB): Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện cụ thể, trong khoảng thời gian xác định, dựa trên những nguồn lực xác định
Dự án kinh tế: là dự án trong lĩnh vực kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu mang tính kinh tế Các dự án kinh tế được phân biệt với các dự án mang
Trang 24tính chất xã hội, từ thiện, tôn giáo hay các dự án thuần túy bảo vệ môi trường, cảnh quan là ở tính kinh tế của dự án
Từ những khái niệm nêu trên, có thể nêu lên khái niệm về dự án kinh tế trọng điểm: Dự án kinh tế trọng điểm là những dự án kinh tế góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (của địa phương, của quốc gia) như: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, bảo vệ môi trường… trong từng giai đoạn nhất định, có tác động lan tỏa, kích thích các ngành kinh tế, các lĩnh vực khác cùng phát triển
1.2 Tổng quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự
án phát triển kinh tế trọng điểm
1.2.1 Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
Quản lý nhà nước về môi trường là trách nhiệm được phân công của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho các cơ quan nhà nước có liên quan đến môi trường Trên phương diện chung về bảo vệ môi trường, các nước cũng như Việt Nam coi đó là công việc chung của cả xã hội
Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước đóng vai trò quan trọng không chỉ ban hành ra các văn bản pháp luật, để các tổ chức, cá nhân cùng vận hành trong khuôn khổ pháp luật về môi trường Đồng thời, đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể liên quan đến bảo vệ môi trường nhằm tạo ra môi trường an toàn cho sự tồn tại, vận động và phát triển xã hội
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển
xã hội [20, tr.12]
Quản lý nhà nước về môi trường: là hoạt động quản lý, giám sát, điều chỉnh của ngành tài nguyên môi trường nhằm hạn chế tối đa các tác động có hại tới môi trường do các hoạt động phát triển gây ra, đảm bảo cân bằng sinh thái
Trang 25nhằm phát triển bền vững [19]
Nội dung quản lý nhà nước về môi trường:
(1) Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật môi trường;
(2) Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình, đề
án quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường;
(3) Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường;
(4) Xây dựng, thẩm định và phê duyệt qui hoạch bảo vệ môi trường, thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kiểm tra, xác nhận các công trình bảo vệ môi trường, tổ chức xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường;
(5) Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm, cải thiện và phục hồi môi trường;
(6) Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về môi trường; (7) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;
(8) Đào tạo nhân lực khoa học và quản lý môi trường, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường;
(9) Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực về bảo vệ môi trường;
(10) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện ngân sách nhà nước cho các hoạt động về bảo vệ môi trường;
(11) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường [24, Điều 139]
1.2.2 Các dự án kinh tế trọng điểm
Cho đến nay, chưa có tiêu chí chung nhất để xác định dự án kinh tế trọng
Trang 26điểm mà chỉ có tiêu chí xác định dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B và
C Theo các tiêu chí, dự án nhóm A thường có mức đầu tư có qui mô lớn hoặc
có tính chất ý nghĩa quan trọng, là dự án công trình trọng điểm của Bộ, ngành, lĩnh vực và địa phương Chính vì vậy, ngoài dự án quan trọng quốc gia thì dự án nhóm A cũng được xem là dự án trọng điểm
Theo quy định của Luật đầu tư công 2014 có đưa ra căn cứ, tiêu chí để
xác định dự án quan trọng quốc gia như sau:
Thứ nhất, sử dụng vốn đầu tư công từ 10.000 tỷ đồng trở lên;
Thứ hai, ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm:
+ Nhà máy điện hạt nhân;
+ Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở lên;
Thứ ba, sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa
nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 héc ta trở lên;
Thứ tư, di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000
người trở lên ở các vùng khác;
Thứ năm, dự án đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được
Quốc hội quyết định
Nếu dự án nào thuộc một trong những tiêu chí nêu trên thì thuộc dự án quan trọng quốc gia
Tiêu chí xác định dự án nhóm A tại Điều 8 Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 Dự án quan trọng quốc gia là dự án đầu tư độc lập hoặc cụm công trình liên kết chặt chẽ với nhau thuộc một trong các tiêu chí dưới đây:
Dự án không phân biệt tổng mức đầu tư thuộc một trong các trường hợp
Trang 27sau đây:
a) Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt;
b) Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng,
an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh;
c) Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an ninh có tính chất bảo mật quốc gia;
d) Dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ;
e) Dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất;
f) Dự án có tổng mức đầu tư từ 2.300 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Giao thông, bao gồm cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ;
b) Công nghiệp điện;
c) Khai thác dầu khí;
d) Hóa chất, phân bón, xi măng;
e) Chế tạo máy, luyện kim;
f) Khai thác, chế biến khoáng sản;
g) Xây dựng khu nhà ở;
Dự án có tổng mức đầu tư từ 1.500 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây: a) Giao thông, trừ các dự án quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
Trang 28Dự án có tổng mức đầu tư từ 1.000 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây: a) Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản;
b) Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên;
c) Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới;
d) Công nghiệp, trừ các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này;
Dự án có tổng mức đầu tư từ 800 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây: a) Y tế, văn hóa, giáo dục;
b) Nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh, truyền hình;
c) Kho tàng;
d) Du lịch, thể dục thể thao;
e) Xây dựng dân dụng, trừ xây dựng khu nhà ở quy định tại điểm g khoản 2 Điều này
Như vậy, Dự án kinh tế trọng điểm thường có qui mô lớn về vốn, có tác động lan tỏa, kích thích phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi lớn, với sự quản
lý của các Bộ, ngành và địa phương nhằm các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
1.2.3 Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm
Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với dự án đầu tư nói chung và đối với dự án phát triển kinh tế trọng điểm nói riêng nhằm hướng đến những mục tiêu chung của bảo vệ môi trường
Thứ nhất: Khắc phục và phòng chống suy thoái về môi trường;
Thứ hai: Hướng đến tạo ra xã hội phát triển tuân thủ chín nguyên tắc phát
triển bền vững;
Thứ ba: Xây dựng công cụ quản lý bảo vệ môi trường có hiệu lực trên
toàn lãnh thổ quốc gia;
Thứ tư: Người nào gây ô nhiễm phải trả tiền cho việc khắc phục hậu quả
Trang 29đó Và đây chính là nền tảng của các nước trong đó có Việt Nam đề ra các chính sách qui định về phí môi trường Từ đó, làm cơ sở áp dụng trong quản lý nhà nước về môi trường đối với các dự án kinh tế trọng điểm
Nội dung chủ yếu quản lý nhà nước về môi trường đối với các dự án kinh tế trọng điểm như sau:
Thứ nhất, quản lý công tác qui hoạch, các dự án kinh tế trọng điểm sử
dụng nguồn vốn NSNN khi trình Chủ tịch UBND các cấp phê duyệt chủ trương lập Dự án phải phù hợp với qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, qui hoạch phát triển ngành, qui hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải đảm bảo tính khả thi của dự án, bao gồm: Các điều kiện về nguồn vốn, địa điểm và tiến độ thực hiện theo qui hoạch;
Thứ hai, quản lý nhà nước về môi trường đối với các dự án kinh tế trọng
điểm phải đảm bảo hai mục đích chính; (1) Thực hiện đúng qui hoạch, hạn chế tình trạng qui hoạch một đằng, thực hiện qui hoạch một nẻo; (2) Kịp thời phát hiện vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn để kiến nghị điều chỉnh qui hoạch;
Thứ ba, quản lý công tác lập kế hoạch và phân phối vốn: Công tác lập kế
hoạch đối với các dự án kinh tế trọng điểm phải đi trước một bước trên cơ sở qui hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt, xác định dự án kinh tế trọng điểm theo kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn để có kế hoạch phân bố vốn một cách
có hiệu quả Điều kiện phân bổ vốn nguồn đầu tư từ NSNN: đối với các dự án kinh tế trọng điểm hàng năm khi có đủ các điều kiện
Đối với các dự án chuẩn bị đầu tư: phải phù hợp với qui hoạch phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt theo thẩm quyền Đối với các dự án chuẩn bị đầu
tư phải có quyết định đầu tư từ thời điểm trước ngày 31/10 năm trước năm kế hoạch Thời gian và vốn bố trí để thực hiện các dự án nhóm B không quá 5 năm
và các dự án nhóm C không quá 3 năm;
Thứ tư, thẩm quyền và thời gian phân bổ vốn: UBND tỉnh lập phương án
phân bổ vốn trình HĐND tỉnh quyết định Theo Nghị quyết của HĐND tỉnh,
Trang 30UBND tỉnh phân bổ và quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý đã đủ các điều kiện qui định, đảm bảo khớp với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư, cơ cấu vốn trong nước, vốn ngoài nước, cơ cấu kinh tế, mức vốn các dự án kinh tế trọng điểm của nhà nước đúng với Nghị quyết của Quốc Hội, chỉ đạo của Chính phủ về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN hàng năm
Thứ năm, UBND tỉnh tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và trên cơ sở
báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc nhà nước và các chủ đầu tư điều chỉnh kịp thời những nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án và điều chỉnh kịp thời kế hoạch vốn, đảm bảo cho các dự án hoạt động với các điều kiện tốt nhất Đồng thời, xử lý và tháo gỡ kịp thời những vướng mắc và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đầu tư, giải phóng mặt bằng, bảo vệ môi trường
Như vậy, quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm phải đảm bảo qui hoạch, phân bổ vốn theo kế hoạch và điều chỉnh kịp thời nguồn vốn, đảm bảo sự kiểm tra, giám sát xử lý kịp thời cho dự án thực hiện tốt và đảm bảo quản lý nhà nước nhằm bảo vệ môi trường
Hay có thể hiểu từ một cách tiếp cận khác: Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm là hoạt động quản lý, giám sát và điều chỉnh của các cơ quan chức năng của nhà nước đối với các dự
án kinh tế trọng điểm chuyên sản xuất hàng hóa, khai thác tài nguyên thiên nhiên và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp nhằm hạn chế tối đa các tác động có hại tới môi trường do hoạt động phát triển kinh tế gây ra, đảm bảo cân bằng sinh thái, phát triển bền vững của địa phương
1.2.4 Hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự
án phát triển kinh tế trọng điểm
Hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm hiện nay ở thế giới nói chung và nước ta nói riêng đang
có những diễn biến phức tạp và đặt ra những thách thức mới
Trang 31Phát triển nhanh và nhiều các dự án kinh tế trọng điểm dẫn đến phát thải công nghiệp ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu
và sa mạc hóa, hiện nay là xu thế toàn cầu hóa, dân số tiếp tục gia tăng và đô thị hóa nhanh chóng
Có nhiều cách tiếp cận hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế trọng điểm Có thể nêu lên nội dung chủ yếu như sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước là sự tác động quan trọng để Dự án phát triển
kinh tế trọng điểm sẽ góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực có sẵn tại các địa phương Khi một dự án được triển khai nó sẽ kết nối các nguồn lực mà địa phương có lợi thế Như vậy, nếu như trước khi có dự án kinh tế trọng điểm, các nguồn lực hoặc chưa được sử dụng một cách có hiệu quả, thì nay các nguồn lực đó sẽ được hoạt động và sử dụng một cách hợp lý, tối ưu nhất để thực hiện mục tiêu của dự án;
Thứ hai, dự án phát triển kinh tế trọng điểm được nhà nước triển khai,
chính là động lực, là “đòn bẩy”, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Mỗi loại nguồn lực ở địa phương đều có giới hạn nhất định, trong đó có nguồn vốn từ NSNN Chính vì vậy, hàng năm các tỉnh phải có qui hoạch, lựa chọn các dự án để lựa chọn đầu tư nhằm tránh đầu tư một cách dàn trải, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư Nhưng đồng thời khi có qui hoạch tốt, phù hợp với điều kiện của địa phương và lựa chọn đầu tư hợp lý, các dự án này sẽ góp phần sử dụng hiệu quả các nguồn lực về lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ Qua đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tạo được hiệu quả kinh tế lớn Từ đó, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
Thứ ba, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường đối với các dự án phát
triển kinh tế trọng điểm, thể hiện sự quản lý của nhà nước nhằm tạo sự tác động của dự án phát triển kinh tế trọng điểm đến các ngành, lĩnh vực khác, kích thích
Trang 32quá trình phát triển các ngành, lĩnh vực khác cùng phát triển Có thể nói, khi một dự án được triển khai và đi vào hoạt động nó sẽ tạo việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp cho địa phương
Ngoài ra, dự án khi triển khai nó còn giải quyết sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác sẵn có tại địa phương như: nguồn nguyên liệu, cơ sở hạ tầng đã được xây dựng từ trước, giải quyết bảo vệ môi trường;
Thứ tư, dự án phát triển kinh tế trọng điểm đầu tư vào lĩnh vực y tế thì ngoài
việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của dự án là nâng cao chất lượng y tế, góp phần khám chữa bệnh kịp thời cho người dân, nâng cao sức khỏe người dân, thì nó còn góp phần nâng cao chất lượng dân số, nâng cao được chất lượng lao động tại địa phương, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương, có ý nghĩa góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường;
Thứ năm, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường đối với các dự án phát
triển kinh tế trọng điểm, thể hiện thông qua các bước thẩm định, phê duyệt của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các dự án nhằm đảm bảo cho các dự án khi triển khai có tính khả thi, ngăn ngừa rủi ro cho các dự án bởi các nhân tố tác động có thể khó lường đối với các dự án, đảm bảo cho các dự án thực hiện các mục tiêu đã đề ra một cách có hiệu quả
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các
dự án phát triển kinh tế trọng điểm ở các tỉnh khác
1.3.1 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai
Tỉnh Đồng Nai có diện tích 5.907,2 Km2, với dân số 2.872.700 người Trong giai đoạn 2011 - 2015 kinh tế của tỉnh tăng trưởng cao bình quân 5 năm là 12,31 %, thu hút hình thành 33 khu công nghiệp, tỷ lệ dân số tăng tự nhiên là 1,1
% tốc độ tăng nhanh dân nhập cư tính chung là 1,77 %, tốc độ đô thị hóa tăng
nhanh, lượng dự án và số doanh nghiệp trong và ngoài nước đăng ký và hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh tăng 20 đến 30 %/năm
Trang 33Sông Đồng Nai chảy qua 10 tỉnh Đông Nam bộ và thành phố Hồ Chí Minh với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tăng cao, cũng là những nhân tố tác động gây ô nhiễm môi trường ngày càng gay gắt Trong năm 2016, 11 tỉnh, thành phố thuộc lưu vực sông Đồng Nai đã có nhiều chính sách, thực hiện nhiều đợt quan trắc, giám sát môi trường và cơ sở hạ tầng bảo vệ nguồn nước, nên chất lượng nguồn nước dần được cải thiện Kết quả quan trắc 5 đợt trong năm 2016 trên hệ thống sông Đồng Nai cho thấy chỉ số chất lượng nước đáp ứng mục đích sinh hoạt
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về điều kiện tự nhiên, thông tin thủy văn, thông tin khí tượng, hiện trạng môi trường, số liệu quan trắc đã được
Ủy ban bảo vệ môi trường hệ thống lưu vực sông Đồng Nai thực hiện nhằm chia
sẻ thông tin dữ liệu giữa 11 tỉnh, thành phố có lưu vực sông để phối hợp quản lý
và xử lý các vấn đề liên vùng, liên ngành
Bên cạnh những kết quả trên, thì lưu vực sông Đồng Nai vẫn còn xảy ra nhiều vụ ô nhiễm môi trường kéo dài, tình trạng khai thác cát trái phép và lợi dụng nạo vét, duy tu luồng để hút cát gây bức xúc trong dư luận Một số điểm nóng ô nhiễm như: kênh Ba Bò, suối Linh, suối Săn Máu, sông Cần Giuộc tiến độ khắc phục còn chậm Đối với 138 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đến nay đã có 37 cơ sở đã được chứng nhận hoàn thành không gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, còn lại 100 cơ sở chưa hoàn thành xử lý ô nhiễm, trong đó có 70 cơ sở đã quá hạn xử lý Ngoài ra, chất lượng nước sông Thị Vải tuy được cải thiện nhưng tốc độ đã chững lại và có dấu hiệu xấu đi Một
số điểm nóng ô nhiễm cục bộ phát sinh mới như: sông Chà Và, sông Buông
Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh thể hiện như sau:
Thứ nhất, UBND tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo bảo vệ môi trường theo
nhiệm kỳ 5 năm do chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban, xây dựng đề án bảo vệ môi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025, trình và được HĐND
Trang 34tỉnh thông qua;
Thứ hai, chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định số 54/2011/QĐ-UB ngày 01
tháng 09 năm 2011, ban hành Chương trình bảo vệ môi trường tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2025; Quyết định số 3532/QĐ- UB ngày 05 tháng 11 năm 2014 ủy quyền cho Trưởng Ban Ban quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai tổ chức Thẩm định và Phê duyệt báo cáo tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết đối với các dự án đầu tư trong Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Những văn bản nêu trên triển khai thực hiện Luật bảo vệ môi trường và Nghị quyết của tỉnh ủy về những nội dung chỉ đạo và thực hiện Chương trình bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
Thứ ba, thành lập và Ban hành qui chế quản lý tài chính của Quĩ bảo vệ
môi trường tỉnh Đồng Nai, thu hút các nguồn tài chính cho quĩ và quản lý sử dụng hiệu quả quĩ bảo vệ môi trường;
Thứ tư, lưu vực sông Đồng Nai gồm 11 tỉnh, thành phố, để bảo vệ nguồn
nước sạch cho hàng chục triệu con người, UBND tỉnh là thành viên tích cực và chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường với các tỉnh trong lưu vực về xử lý các hiện tượng gây ô nhiễm môi trường nước thải, khai thác cát gây sạt lở và tạo bụi ô nhiễm môi trường, chia sẻ thông tin hiện trạng môi trường, số liệu quan trắc trong ủy ban bảo vệ môi trường hệ thống lưu vực sông Đồng Nai;
Thứ năm, tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho người dân
với nhiều hình thức đa dạng và phong phú, đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào chương trình từ bậc tiểu học, trong sinh hoạt tổ, ấp dân phố, phổ biến Luật bảo vệ môi trường trong cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội Hình thành thói quen chấp hành pháp luật và ý thức bảo vệ môi trường, đồng thời, kết hợp chặt chẽ việc kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở với kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm về bảo vệ môi trường cũng góp phần nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường [12]
Trang 351.3.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Tây Ninh
Tỉnh Tây Ninh có diện tích tự nhiên 4.032,61 km2 với dân số 1.095.583 người; là một trong những tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Đến nay, tỉnh Tây Ninh có 09 Khu công nghiệp nằm trong quy hoạch Khu công nghiệp Việt Nam với tổng diện tích đất tự nhiên 4.492,24 ha Với nhiều dự án kinh tế trọng điểm đã và đang triển khai hoạt động đầu tư Trong đó, 05 Khu công nghiệp đã được cấp phép thành lập với tổng diện tích đất được duyệt 3.384,43 ha, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê là 1.473,66 ha, diện tích đất đã cho thuê là 570,91 ha trong tổng số 1.473,66 ha theo quy hoạch đạt tỷ lệ lấp đầy 38,74%
Nguồn phát sinh bụi: nguồn phát sinh chủ yếu từ các phương tiện vận chuyển, và từ hoạt động sản xuất của một số dự án kinh tế trọng điểm và doanh nghiệp với ngành nghề như: sản xuất khung tranh, tái chế cao su, giấy, Tuy nhiên, các dự án kinh tế trọng điểm, các doanh nghiệp đã có ý thức được việc bảo vệ môi trường trong lao động sản xuất và có biện pháp xử lý đạt quy chuẩn quy định, xây dựng cơ sở hạ tầng thuận lợi cho việc lưu thông và vận chuyển hàng hóa, sử dụng xăng đạt tiêu chuẩn Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh, chất lượng môi trường ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh đã bị suy giảm đáng lo ngại do hoạt động của các dự án kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp Trong đó, phải kể đến là nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm do chất thải
Từ thực trạng về ô nhiễm môi trường do các dự án kinh tế và các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh gây ra Để khắc phục tình trạng nêu trên về ô nhiễm môi trường, UBND tỉnh Tây Ninh đã có những biện pháp chủ yếu như sau:
Thứ nhất, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường, lấy phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm làm nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên;
Thứ hai, ban hành văn bản pháp lý về bảo vệ môi trường xử lý chất thải
Trang 36rắn nguy hại sơ bộ tập trung tại các Khu công nghiệp, xây dựng hệ thống quan trắc và xử lý nước thải đối với các dự án kinh tế trọng điểm, trong các khu công nghiệp, xử lý tiếng ồn và khói bụi với những tiêu chí cụ thể theo qui định của Tổng cục môi trường;
Thứ ba, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường,
kết hợp với xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường nhằm động viên sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân trong việc quản lý môi trường, bảo vệ tài nguyên và khai thác, sử dụng lâu bền các kết cấu hạ tầng xử lý chất thải;
Thứ tư, khuyến khích và có chính sách nhằm hướng đến xây dựng mô
hình dự án kinh tế trọng điểm và Khu công nghiệp xanh - sạch - đẹp UBND tỉnh đã khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường, ưu đãi về đất đai cho nhà máy xử lý chất thải trong Khu công nghiệp, tăng cường phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường tại các dự án kinh tế trọng điểm và Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh [22]
1.3.2 Bài học rút ra cho tỉnh Bình Phước
Trên cơ sở kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án kinh tế trọng điểm của các tỉnh nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét
có thể tham khảo cho bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Phước như sau:
Thứ nhất, dự án kinh tế trọng điểm trực tiếp khai thác các nguồn lực tạo ra
sản phẩm hàng hóa để phát triển kinh tế - xã hội Do đó, nhà nước cần sớm xây dựng và ban hành Luật quản lý các dự án kinh tế trọng điểm, hình thành thể chế pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tại địa phương được tham gia thẩm định lựa chọn dự án kinh tế trọng điểm có công nghệ, kỹ thuật thân thiện môi trường;
Thứ hai, UBND tỉnh cũng như các chủ thể quản lý về môi trường cần xây
dựng kết cấu hạ tầng hoàn thiện đảm bảo xử lý nước thải công nghiệp, khí thải
và thu gom chất thải rắn, gắn kết chặt chẽ với chủ đầu tư dự án về xử lý môi trường, sớm phát hiện và kịp thời xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường
Trang 37trong quá trình triển khai các dự án kinh tế trọng điểm;
Thứ ba, xây dựng qui chế chung phối kết hợp giữa chính quyền địa
phương các cấp và các cơ quan có chức năng và Ban quản lý dự án kinh tế trọng điểm nhằm quản lý chặt chẽ ô nhiễm môi trường trong từng dự án kinh tế và từng khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, từng bước chuyển từ khu công nghiệp truyền thống sang khu công nghiệp sinh thái;
Thứ tư, chỉnh sửa và bổ sung Luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực môi trường, theo hướng đa dạng hình thức xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường và nâng mức phạt tương xứng kết hợp với hoàn nguyên môi trường, áp dụng qui định của thế giới về xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng ô nhiễm môi trường;
Thứ năm, mở rộng các hình thức thu hút các nguồn lực trong và ngoài
nước duy trì và phát triển quĩ bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, chính quyền địa phương các cấp và nhân dân tham gia bảo vệ môi trường;
Thứ sáu, tuyên truyền và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho người
dân với nhiều hình thức phong phú: Tọa đàm, băng rôn, phát trên loa truyền thanh, phổ biến đến từng tổ dân phố nơi cư trú, giáo dục ý thức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường cho đội ngũ những người tham gia dự án kinh tế trọng điểm, trong cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ công chức các cơ quan chính quyền địa phương, thi tìm hiểu về bảo vệ môi trường, hình thành thói quen chấp hành pháp luật và ý thức bảo vệ môi trường
Trang 38Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã hệ thống làm rõ khung lý thuyết về các khái niệm: môi trường, ô nhiễm môi trường, hiệu quả quản lý, quản lý nhà nước, hiệu quả quản lý nhà nước và dự án kinh tế trọng điểm
Trên cơ sở các khái niệm nêu trên, luận văn đã tổng quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án kinh tế trọng điểm, quản lý nhà nước đối với các dự án kinh tế trọng điểm, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án kinh tế trọng điểm và kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các dự án kinh tế trọng điểm, từ đó rút ra bài học có thể vận dụng cho quản lý nhà nước đối với các dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Khung lý thuyết nêu trên là căn cứ cơ sở để luận văn phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước ở chương 2
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MỒI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1 Tác động của các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hội đến quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các dự án kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước
2.1.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Tỉnh Bình Phước nằm về phía tây của vùng Đông Nam Bộ Việt Nam với diện tích tự nhiên 6876,67km2 là tỉnh có diện tích lớn nhất miền Nam, dân số toàn tỉnh 950.416 người Tỉnh lỵ của Bình Phước hiện nay là thị xã Đồng Xoài, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 121 km theo đường Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14 và 102 km theo đường Tỉnh lộ 741 Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính bao gồm: thị xã Đồng Xoài, thị xã Phước Long, thị xã Bình Long, huyện Bù Gia Mập, huyện Phú Riềng, huyện Đồng Phú, huyện Hớn Quản, huyện Bù Đăng, huyện Lộc Ninh, huyện Bù Đốp, huyện Chơn Thành với tổng số 111 xã, phường, thị trấn (14 phường, 5 thị trấn và 92 xã) Bình Phước là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 270 km đường biên giới với Vương quốc Campuchia, tỉnh là cửa ngõ đồng thời là cầu nối của vùng với Tây Nguyên và Campuchia
Bình Phước là vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung bộ xuống đồng bằng Tây Nam bộ, nhìn chung địa hình Bình Phước tương đối bằng phẳng nhưng độ cao và độ dốc biến động lớn, phân bố không đều, phong phú về địa mạo, một số nơi địa hình bị chia cắt, gồm dạng địa hình đồng bằng và bán đồng bằng, trung du, đồi bát úp, núi thấp, cao nguyên thấp
Trang 40Bình Phước là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình không phức tạp, phần lớn diện tích tỉnh Bình Phước là đồi đất đỏ bazan nối tiếp nhau, có địa hình tương đối thoải lượng sóng nhẹ với đỉnh bằng Độ cao trung bình chung của tỉnh không vượt quá 200 m
Trong năm đầu mới tái lập, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh chỉ đạt 2,6 triệu đồng/người/năm Đến nay, kinh tế - xã hội phát triển theo hướng tích cực đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn và thúc đẩy quá trình đô thị hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, đặc biệt là người dân ở khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cuối năm 2016, thu nhập bình quân đầu người ước đạt hơn 42 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 16 lần so với năm đầu tái lập tỉnh Phát triển công nghiệp được ưu tiên đầu tư, bước đầu có hiệu quả rõ nét: Những năm đầu mới tái lập tỉnh, Bình Phước là tỉnh thuần nông Cơ cấu kinh tế chủ yêu là nông - lâm nghiệp Sản xuât công nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong nền kinh tế (chiếm khảng hơn 2,4% GRDP của tỉnh), chủ yếu là chế biến và khai thác mỏ với
31 doanh nghiệp tư nhân Năm 1997, giá trị sản xuất công nghiệp chỉ đạt gần 123
tỷ đồng Bình Phước hiện có 13 khu công nghiệp, trong đó có 8 khu công nghiệp đang hoạt động, 2 khu đang đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, 3 khu đang hoàn chỉnh thủ tục đầu tư Các khu công nghiệp đang hoạt động có gần 800 ha diện tích đất để cho thuê Hiện nay đã cho thuê hơn 530 ha, trong đó có 60 dự án trong nước và 107 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký gần 3.400 tỷ