Các tổ chức cơ sở Đảng trong Tập đoàn chưa thể hiện đúng vai trò chính trị thực sự trong công tác lãnh đạo quản lý sản xuất, công tác quản lý cán bộ dẫn đến hoạt động kinh doanh thua lỗ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
=== ===
LÊ QUỐC PHƯƠNG
NÂNG CAO VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TẠI TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN – 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
=== ===
LÊ QUỐC PHƯƠNG
NÂNG CAO VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TẠI TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HỮU QUYẾT
NGHỆ AN – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả đề tài xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và Quý Thầy cô giáo của Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tác giả bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quyết, giảng viên Trường Đại học Vinh, đã tận tâm hướng dẫn khoa học, giúp tác giả hoàn thành luận văn
Dù đã nỗ lực rất nhiều, song trong quá trình thực hiện luận văn, không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến quý báu của quý lãnh đạo, quý thầy cô giáo và quý bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Lê Quốc Phương
Trang 4Danh mục từ viết tắt
TĐ DKQGVN Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Trang 5MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU 1
B.NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG 10
1.1 Khái niệm và cơ sở lý luận về vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng 10
1.2 Một số nội dung liên quan đến vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng 20
1.3 Tính tất yếu của việc nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại doanh nghiệp, Tập đoàn kinh tế Nhà nước 37
Kết luận chương 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TẠI TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA 41
2.1 Tổng quan về Tập đoàn Dầu khí quốc gia 41
2.2 Thực trạng thực hiện vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia 54
2.3 Đánh giá thực hiện vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia 60
Kết luận chương 2 72
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TẠI TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA 73
3.1 Phương hướng nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia 73
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia 78
Kết luận chương 3 94
C.KẾT LUẬN 95
D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, các doanh nghiệp Nhà nước luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế đất nước, giúp Đảng, Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện tốt các chính sách kinh tế lớn
Để việc điều hành, lãnh đạo tốt hơn tại các doanh nghiệp, Tập đoàn kinh tế Nhà nước thì việc nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng trong chính các doanh nghiệp, Tập đoàn kinh tế Nhà nước có ý nghĩa cấp bách và cần thiết
Trong mọi cơ quan, đơn vị vai trò của tổ chức cơ sở Đảng có ý nghĩa rất quan trọng Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng, nơi trực tiếp triển khai và
tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng Tổ chức cơ sở Đảng cũng là nơi mà thông qua đó, mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng được quán triệt đến từng đảng viên, nhằm bảo đảm cho mọi hoạt động ở đơn vị cơ sở thực hiện đúng theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Tổ chức cơ sở Đảng là nơi nối liền cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng với quần chúng, là cầu nối giữa Đảng với dân Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với mọi mặt của đời sống
xã hội, các tổ chức cơ sở của Đảng là những hạt nhân chính trị, là đồn luỹ của Đảng ở cơ sở Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy” [39, tr.161] Tổ chức cơ sở Đảng vừa là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời cũng là nơi góp phần phát triển hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước Là một thành viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở, song tổ chức
cơ sở Đảng có vị trí, vai trò đoàn kết, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, sức mạnh của Đảng là sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân Trong mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng là những sợi chỉ đỏ nối liền Đảng với dân
Trang 7Nhận thức được vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở Đảng trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là kể từ khi Đảng, Nhà nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp Nhà nước đã và đang từng bước khẳng định được vị trí, vai trò và có đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước Các cấp ủy Đảng đã tích cực tuyên truyền, giáo dục cán bộ công nhân viên, người lao động và các thành viên trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đồng thời góp phần bảo đảm điều tiết hài hòa giữa 3 lợi ích: Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, tạo lập mối quan hệ giữa cấp ủy Đảng với Hội đồng Thành viên, Tổng Giám đốc và các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp, tạo môi trường làm việc lành mạnh, đoàn kết, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo hiện nay, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp là hết sức quan trọng, giúp định hướng tư tưởng chính trị cho doanh nghiệp phát triển Thực tế cho thấy, doanh nghiệp nào có tổ chức cơ sở Đảng mạnh thì các tổ chức đoàn thể cũng hoạt động tốt hơn, sản xuất kinh doanh thuận lợi, người lao động yên tâm, phấn khởi làm việc
Tuy nhiên trên thực tế vẫn có những tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp Nhà nước chưa hoàn thành vai trò chính trị trong điều hành lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước
Dầu khí là một trong những ngành năng lượng rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Nước ta Do đó, ngay từ năm 1993 Quốc hội đã ban hành Luật dầu khí và trải qua hai lần sửa đổi vào các năm 2000, 2008 Tiếp đó vào ngày 18 tháng 6 năm 2010 Thủ Tướng Chính phủ có quyết định số: 924/QĐ-TTg về việc Chuyển Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Và đến ngày 31 tháng 10
Trang 8năm 2013 Chính phủ đã ban hành nghị định số 149/2013/NĐ-CP quy định về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Ngày 23 tháng 7 năm 2015 Bộ Chính Trị ban hành nghị quyết số: NQ/TW về định hướng Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm
41-2025 và tầm nhìn đến năm 2035 với trọng tâm là: Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tồn trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu Trong đó tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí là lĩnh vực cốt lõi, cần phải được quan tâm chú trọng, tăng cường đầu tư phát triển không chỉ ở trong nước mà vươn ra nước ngoài Nghị quyết đã mở ra cơ hội lớn cho sự phát triển của Tập đoàn, tạo động lực lớn lao đối với niềm tin của mỗi công nhân viên ngành dầu khí Ngoài
ra Đảng, Nhà nước và Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản liên quan về điều hành, tổ chức quản lý Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam Cũng theo tổng cục thống kê trong năm 2016 Tập đoàn Dầu khí đã nộp ngân sách Nhà nước là gần 90.2 nghìn tỷ đồng (vượt 12% so với kế hoạch của năm) trên tổng thu ngân sách là gần 1.094 nghìn tỷ đồng chiếm 8.24% tổng thu ngân sách Điều đó, nói lên vị trí và tầm quan trọng của Tập đoàn Dầu khí trong nền kinh tế và vai trò trong việc góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và là đầu tàu kinh tế trong xây dựng và phát triển đất nước
Tuy nhiên trong thời gian gần đây hoạt động của Tập đoàn Dầu khí có nhiều có nhiều sai phạm nghiêm trọng liên quan đến công tác quản lý cán bộ, công tác bổ nhiệm cán bộ và năng lực yếu kém trong hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí và các công ty thành viên dẫn đến thất thoát nguồn vốn lớn của Nhà nước Những sai phạm này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của của nhân dân cả Nước vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản
lý của Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế và công tác quản lý cán bộ
Trách nhiệm của những sai phạm này không những thuộc về Hội đồng quản trị, Ban giám đốc của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mà còn liên quan đến cấp ủy Đảng trong Tập đoàn, trực tiếp là Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí Việt nam
Trang 9và các Đảng bộ trực thuộc quản lý các công ty thành viên của Tập đoàn Dầu khí Các tổ chức cơ sở Đảng trong Tập đoàn chưa thể hiện đúng vai trò chính trị thực
sự trong công tác lãnh đạo quản lý sản xuất, công tác quản lý cán bộ dẫn đến hoạt động kinh doanh thua lỗ của các Công ty thành viên và một số cán bộ giữ vai trò cao trong Tập đoàn vi phạm nghiêm trọng những quy định của pháp luật
Rõ ràng những sai phạm tại Tập đoàn Dầu khí và các Công ty thành viên của Tập đoàn Dầu khí có trách nhiệm liên quan đến vai trò chính trị của tổ chức cơ
sở Đảng tại các Công ty thành viên, cao hơn nữa là Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí trong công tác điều hành, quản lý và giám sát
Thực trạng nêu trên đặt ra nhiều thách thức lớn đối với tổ chức cơ sở Đảng trong công tác lãnh đạo, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng đối với Tập đoàn Dầu khí Do vậy, cần có những phương hướng và giải pháp đồng bộ nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn trong giai đoạn hiện nay Xuất phát
từ những nguyên nhân và tính cấp bách trên, tác giả chọn đề tài “Nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Chính trị học
Tình hình nghiên cứu vai trò chính trị của các cơ sở Đảng tại Tập đoàn dầu khí Quốc gia giai đoạn hiện nay đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp, cụ thể đến vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tuy nhiên đã có các công trình nghiên cứu tổ chức Đảng trong các doanh nhiệp Nhà nước và những cuốn sách, báo cáo, bài báo trên các tạp chí có liên quan đến tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp Nhà nước và những tài liệu nghiên cứu liên quan đến Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Các công trình nghiên cứu luận án, luận văn liên quan đến các tổ chức
cơ sở Đảng trong các công ty, Doanh nghiệp Nhà nước nói chung:
Trang 10Trương Thị Mỹ Trang (2012), “Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở các tỉnh Trung Trung bộ giai đoạn hiện nay”, luận án tiến sĩ Khoa Học Chính trị, Học Viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Đoàn Anh Tuấn (2014), “Nâng cao chất lượng nhân Lực của Tập đoàn Dầu khí Quốc Gia Việt Nam”, luận án Tiến Sỹ kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia Thành phố Hồ chí minh; Tống Quốc Trường (2009), “Hoạt động của công ty tài chính dầu khí thuộc tập đoàn dầu khí Việt Nam: Kinh nghiệm và giải pháp”, luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học kinh tế Quốc Dân; Nguyễn Minh Tuấn (2003), “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Tổ chức Cơ sở Đảng trong doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, luận án Tiến sĩ lịch sử, học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Các luận án, luận văn tuy không nghiên cứu cụ thể trực tiếp là các tổ chức
cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia nhưng đã làm rõ thêm một số kiến thức về lý luận chung, khái niệm nội dung xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp Nhà nước Bên cạnh đó có luận án cũng đã đề cấp đến Tập đoàn Dầu khí giúp tác giả có thêm nguồn kiến thức về doanh nghiệp này Đồng thời đưa ra được một số thực trạng nguyên nhân và kinh nghiệm tổ chức hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng, nêu ra được phương hướng và những giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng trong doanh nghiệp Nhà nước Trên cơ sở đó giúp tác giả tiếp cận tốt hơn những nội dung liên quan đến việc nâng cao vai trò của các tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp Nhà nước nói chúng Từ đó tác giả có hướng phân tích và giải quyết các vấn đề xuyên suốt trong toàn luận văn, giúp luận văn hoàn thành được nhiệm vụ, mục tiêu đề ra
Các cuốn sách, kỷ yếu có nội dung liên quan đến Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam:
Trang 11Đảng bộ Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam (2015), “Sứ mệnh và tầm nhìn: Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển cùng những thành tích của Đảng
bộ Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam”, Nhà xuất bản Lao Động; Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (2015), “Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đồng hành, phát triển cùng đất nước: Giới thiệu về lịch sự các hoạt động của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong 40 năm qua”, Nhà xuất bản Lao Động
Thông qua những nội dung được thể hiện trong các cuốn sách trên giúp tác giả biết được cách thức tổ chức và mô hình hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Làm rõ hơn vai trò, vị trí tầm quan trọng của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia trong cơ cấu nền kinh tế của đất nước Giúp tác giả có được nguồn kiến thức tổng quan về Tập đoàn Dầu khí Quốc gia, xây dựng được nội dung luận văn phù hợp nội dung Đảng bộ của Tập đoàn Dầu khí, các Đảng bộ trực thuộc trên cơ sở phân tích giữa Tập đoàn Dầu khí với các công ty con, công ty liên kết và các đơn vị thành viên
Nhìn một cách tổng quan, dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu về các tổ chức cơ sở Đảng trong các Doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện trong một thời gian dài Hầu hết các công trình nghiên cứu đều được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, như tổng hợp các bài viết về tổ chức cơ
sở Đảng, quá trình hình thành và phát triển Tập đoàn Dầu khí; phân tích giá trị
và vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng nói chung và vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại các doanh nghiệp Nhà nước nói riêng, cụ thể hóa một số nội dung cốt lõi trong công tác tăng cường vai trò của tổ chức cơ sở Đảng tại các doanh nghiệp Nhà nước Bên cạnh đó, kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học về công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng cũng đề cập khá phong phú và
rõ nét những nội dung liên quan đến việc tăng cường vai trò chính trị của tổ
chức cơ sở Đảng tại doanh nghiệp, Tập đoàn kinh tế Nhà nước trong giai đoạn
hiện nay
Trang 12Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về vấn đề vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia giai đoạn hiện nay như đề tài tác giả lựa chọn
Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu, công trình nêu trên là nguồn tư liệu quý giá, giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về các vấn đề liên quan đến đề tài, đồng thời có thể kế thừa, học hỏi trong quá trình triển khai luận văn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn xây dựng, vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia, đề tài đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng để giải quyết những khó khăn, vương mắc tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung:
+ Làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về chính trị, vai trò chính trị, cơ sở lý luận, nội dung về vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại các Tập đoàn kinh tế Nhà nước nói chung và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia nói riêng
+ Đánh giá thực trạng vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia hiện nay, sự chỉ đạo của Đảng bộ và tổ chức cơ sở Đảng thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia đối với hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia và các công ty thành viên
+ Xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu, có tính khả thi nhằm nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Các tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia
Trang 13+ Vai trò của các tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia đối với công tác lãnh đạo, hoạt động quản lý sản xuất của Tập đoàn
+ Công tác chỉ đạo quản lý cán bộ, đảng viên, công nhân viên trong Tập đoàn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia từ năm 2006 đến nay (từ khi có Quyết định số 199/2006/QĐ-TTg ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam), đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp mà tác giả sử dụng nhiều trong đề
tài Trên cơ sở phân tích đánh giá những luận án, luận văn, các báo cáo, tài liệu hiện hành về tổ chức cơ sở Đảng và vai trò của các cơ sở Đảng tại các doanh nghiệp, Tập đoàn kinh tế Nhà nước trong đó có Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Tác giả rút ra những ưu điểm, tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý, điều hành của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia nhằm đưa ra những giải pháp giúp nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia giai đoạn hiện nay
Phương pháp tổng hợp: Thông qua các luận án, luận văn, bài báo có liên quan
đến tổ chức cơ sở Đảng của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia và các nguồn tài liệu của Tập đoàn, tác giả bổ sung vào đề tài những nội dung còn thiếu, hoàn thiện một số nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Phương pháp quan sát: Thông qua các vụ việc xẩy ra tại Tập đoàn Dầu khí
trong từng điều kiện hoàn cảnh khác nhau nhằm thu thập những số liệu, nhận thức được bản chất vấn đề, phát hiện vấn đề nghiên cứu, đánh giá các vấn đề, giúp tác giả có được nguồn kiến thức tổng hợp về Tập đoàn Dầu khí Phương
Trang 14pháp quan sát cần phải phối hợp với các phương pháp khác để nhận biết được những nội dung bên trong của Tập đoàn Dầu khí
6 Những đóng góp mới của đề tài
6.1 Về ý nghĩa khoa học
+ Đề tài nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận về vai trò của tổ chức cơ sở Đảng; Vai trò của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia trong giai đoạn hiện nay
+ Đề tài có giá trị trong việc nghiên cứu hoàn thiện thêm các quy định, phương hướng nhằm nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia trong giai đoạn hiện nay
vụ chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn
+ Đề tài còn có thể làm tài liệu tham khảo, dẫn chứng cho nghiên cứu, học tập các môn liên quan đến chuyên ngành Chính trị học
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 03 chương, 08 tiết
Chương 1: Lý luận chung về vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
Chương 2: Thực trạng thực hiện vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia
Trang 15B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA TỔ
CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG 1.1 Khái niệm và cơ sở lý luận về vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm chính trị, vai trò chính trị
Theo định nghĩa của Từ điển Bách Khoa Việt Nam: "Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực Nhà nước, sự tham gia vào công việc của Nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước” [54, tr.478] Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng bao gồm pháp quyền, tôn giáo và các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng của chúng (Nhà nước, chính đảng, giáo hội) Chính trị ra đời từ kinh tế, do kinh tế quyết định, là tính thứ hai so với kinh
tế, chính trị phải được xây dựng trên cơ sở kinh tế, không được thoát ly những
đặc trưng và những nhiệm vụ kinh tế của xã hội
Theo V.I.Lênin thì chính trị "Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế " [26, tr.311–312], đồng thời chính trị có vị trí độc lập và có tác dụng to lớn đối với kinh tế
Ngoài ra còn có một số quan điểm liên quan đến khái niệm về chính trị của một số học giả nổi tiếng: Một quan điểm khá phổ biến trên thế giới cho rằng, chính trị thuộc lĩnh vực quyền lực, theo C.Mác (1818-1883), “Chính trị liên quan đến quyền lực và vấn đề là ở chỗ quyền lực không được phân phối đồng đều giữa các tầng lớp xã hội khác nhau Chính sự phân phối không bình đẳng này đã gây nên xung đột và đấu tranh giai cấp” [40, tr.24] Theo C.Mác, chính trị là một quá trình mà qua đó các giai cấp có xung đột về quyền lợi đấu tranh để giành lấy, nắm giữ hoặc gây ảnh hưởng quyền lực Nhà nước Để có
Trang 16cuộc sống tốt đẹp hơn chúng ta phải “Tiến tới tiêu thủ tất cả mọi giai cấp và tiến tới một xã hội không giai cấp” [28, tr.662]
Một quan điểm khác về chính trị, đồng ý với C.Mác ở một điểm là học giả tên là Max Weber (1864-1920), khi cũng cho rằng Chính trị thuộc lĩnh vực quyền lực và Nhà nước Tuy nhiên điểm khác biệt giữa họ là ở chỗ, Max Weber không cho rằng chính trị có thể được loại bỏ ra khỏi đời sống con người “Chính trị và Nhà nước chắc chắn không phải là điều hoàn hảo, nhưng người ta vẫn cần đến chúng, theo Weber chính trị là quá trình để giành lấy quyền lực và ảnh hưởng đến việc phân phối quyền lực giữa các thành viên trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia, xung đột và đấu tranh giai cấp chỉ là một phần trong quá trình này” [40, tr.25]
Cho dù còn có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến “Chính trị” nhưng chúng ta dễ thấy rằng chính trị là quá trình xung đột, tranh luận, tranh giành giữa các thành viên, tổ chức trong xã hội liên quan đến quyền lực, ảnh hưởng lẫn nhau Vai trò của chính trị trong đời sống kinh tế xã hội được thể hiện qua nhiều mặt:
Trước hết, vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế được thể hiện qua mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích về vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế như sau: "Tác động ngược lại của quyền lực Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế có thể có ba loại Nó có thể tác động cùng hướng - khi ấy sự phát triển diễn ra nhanh hơn; nó có thể tác động ngược lại sự phát triển kinh tế - khi
ấy thì hiện nay ở mỗi dân tộc lớn, nó sẽ tan vỡ sau một khoảng thời gian nhất định, hoặc là nó có thể cản trở sự phát triển kinh tế ở những hướng nào đó và thúc đẩy sự phát triển ở những hướng khác Trường hợp này rốt cuộc dẫn đến một trong hai trường hợp trên Tuy nhiên, rõ ràng là trong trường hợp thứ hai và thứ ba, quyền lực chính trị có thể gây tác hại lớn cho sự phát triển kinh tế và có thể gây ra sự lãng phí to lớn về sức lực và vật chất" [30, tr.678]
Trang 17Vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế còn thể hiện trong mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế Xét về tổng thể, sự vận động của kinh tế bị chi phối bởi chính các quy luật kinh tế khách quan, đồng thời, nó cũng chịu sự tác động ngược lại của chính trị, của quyền lực Nhà nước
Sự tác động của chính trị đối với kinh tế có thể theo những hướng khác nhau: thúc đẩy, kìm hãm hoặc vừa thúc đẩy mặt này, vừa kìm hãm mặt kia và do vậy, có thể làm thay đổi cơ sở kinh tế ở chừng mực nhất định Theo V.I.Lênin
“kinh tế quy định chính trị mà chính trị cũng tác động trở lại kinh tế Chính trị phản ánh kinh tế theo cách thức và vai trò của nó, nó chủ động chứ không thụ động một chiều trong sự phản ánh đó Bởi thế, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại” [27, tr.349]
Điều đó cho thấy, để phát triển kinh tế cần phải quan tâm đến chính trị, đặc biệt là định hướng chính trị của Đảng cầm quyền và bộ máy Nhà nước V.I.Lênin viết: "Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất" [26, tr.350] Trên thực tế, không có đường lối chính trị đúng thì không một giai cấp thống trị nào có thể giữ vững được sự thống nhất chính trị và do đó, cũng không
có khả năng lãnh đạo kinh tế
Vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế thể hiện qua vai trò lãnh đạo của Đảng chính trị đối với đời sống xã hội Trong cuộc đấu tranh giai cấp ấy nhất định sẽ dẫn đến việc hình thành các Đảng chính trị và các Đảng chính trị đó
sẽ đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Đảng chính trị là tổ chức có mục đích chính trị rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, tập hợp lôi cuốn quần chúng cùng hành động chung để đạt mục đích đề ra
Trang 181.1.1.2 Tổ chức cơ sở Đảng
Thuật ngữ TCCSĐ lần đầu tiên được V.I.Lênin đưa ra trong đại hội III Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga (25/4/1905): Mỗi tổ chức Đảng cho tới chi bộ công nhân phải ổn định những mối liên hệ đều đặn với Trung ương Sau
đó, trong bài viết "Tiến tới thống nhất", V.I.Lênin nhấn mạnh "Những điều kiện khách quan đòi hỏi rằng những chi bộ công nhân hợp pháp, nhỏ về quy mô và về hình thức công tác hiện nay phải làm cơ sở của tổ chức Đảng" [25, tr.259]
Theo Điều 21, Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định rõ:
Tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng,
là hạt nhân chính trị ở cơ sở Ở xã, phường, thị trấn có từ 3 đảng viên chính thức trở lên, lập TCCSĐ (trực thuộc cấp ủy cấp huyện), ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ 3 đảng viên chính thức trở lên, lập TCCSĐ (Tổ chức cơ sở Đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở)"
Theo khoản 2, Điều 10 điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua ngày 19 tháng 01 năm 2011) ghi rõ
"Tổ chức cơ sở Đảng được lập tại đơn vị hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh" Điều lệ Đảng cũng có quy định riêng cho tổ chức Đảng trong quân đội nhân dân Việt Nam và công an nhân dân Việt Nam
Như vậy, TCCSĐ của Đảng cộng sản Việt Nam gồm chi bộ cơ sở, Đảng
bộ cơ sở Đảng bộ cơ sở có 2 loại: Đảng bộ cơ sở có các chi bộ trực thuộc; Đảng
bộ cơ sở có Đảng bộ bộ phận và chi bộ trực thuộc Các TCCSĐ đều có cấp uỷ cấp trên trực tiếp Ví dụ: Huyện uỷ là cấp trên trực tiếp của TCCSĐ ở xã, thị trấn thuộc huyện đó; quận uỷ là cấp trên trực tiếp của TCCSĐ ở phường thuộc quận
Trang 191.1.1.3 Doanh nghiệp, Tập đoàn kinh tế Nhà nước
Theo khoản 7 điều 4 luật Luật số: 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
Mục tiêu khi thành lập các Tập đoàn kinh tế là:
Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cần phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế
Giữ vai trò bảo đảm cân đối trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế
Thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong Tập đoàn
Tăng cường vị trí của doanh nghiệp Nhà nước trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa, và các Tập đoàn kinh tế Nhà nước hoạt động
có hiệu quả sẽ làm nòng cốt trong hệ thống nền kinh tế
Song khác với các Tập đoàn kinh tế thế giới, hầu hết đều đi từ các công ty nhỏ, hoạt động rất hiệu quả, tích tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các Tập đoàn khổng lồ, các Tập đoàn kinh tế Việt Nam được thành lập dựa trên các tổng công ty có quy mô chưa lớn, yếu kém trong quản lý, quen dựa vào bao cấp taọ ra độc quyền, phần lớn vị trí chủ chốt được bổ nhiệm vì lý do chính trị, cơ cấu vốn Nhà nước, không hẳn là dựa trên năng lực quản trị kinh doanh, dẫn đến một số Tập đoàn làm ăn thiếu hiệu quả có thể gây tác hại lớn cho nền kinh tế
Trang 201.1.2 Cơ sở lý luận về vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
1.1.2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò chính trị của tổ chức
cơ sở Đảng
Ngay từ đầu của phong trào công nhân quốc tế, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Liên đoàn phải tổ chức thành chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, ban chấp hành Trung ương và đại hội từ đó lấy tên là Liên đoàn những người cộng sản" [29, tr.339] Để thực hiện mục đích của Liên đoàn là lật đổ giai cấp tư sản, Liên đoàn phải được tổ chức lại và có như vậy "Liên đoàn những người cộng sản mới bắt đầu giữ vai trò lãnh đạo trong những hội công nhân, nông dân và các hội khác" [29, tr.347] Mác - Ăngghen còn nhấn mạnh: Biến mỗi chi bộ thành trung tâm và hạt nhân của hiệp hội công nhân Chi bộ có nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện nghị quyết của Liên đoàn những người cộng sản và quản lý đảng viên
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã tập trung chăm lo xây dựng và phát triển các tổ chức Đảng bằng cách xác lập vai trò lãnh đạo của các tổ chức công nhân xã hội chủ nghĩa trong các nhà máy, công xưởng, khu dân cư , phát triển thành chi bộ cơ sở của Đảng Bônsêvích Lênin viết: "Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với tất cả quần chúng lao động Những chi
bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình để rèn luyện Đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống" [27, tr.232]
V.I.Lênin nhấn mạnh: Để giành được thắng lợi trong bước chuyển có tính chất chiến lược này, các TCCSĐ phải đem hết sức lực, đem hết chú ý để tạo ra,
để phát huy tính chủ động, sáng tạo lớn hơn nữa ở cơ sở Lênin nhiều lần nhấn mạnh: TCCSĐ là nền tảng của Đảng, là đơn vị chiến đấu cơ bản, là tế bào trong
tổ chức của Đảng, hạt nhân chính trị của Đảng ở cơ sở và có mối liên hệ chặt chẽ, sâu rộng với quần chúng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội
Trang 21Các tổ chức cơ sở vững mạnh thì các cấp bộ Đảng mới mạnh, toàn Đảng mới mạnh, điều đó thấy được vai trò của TCCSĐ trong quá trình tổ chức hoạt động
1.1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm công tác xây dựng TCCSĐ Trong diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, thay mặt cho Đại hội
và 50 vạn đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất mạnh: "Mỗi chi bộ phải là một hạt nhân vững chắc, lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cầm kiện, xây dựng Nhà nước Mỗi cấp uỷ Đảng phải là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy phong trào cách mạng sôi nổi tiến lên" [31, tr.777] Người còn nhấn mạnh: "Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng" [34, tr.23]
Người cho rằng: "Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt"[32, tr.492] Hồ Chủ tịch nhấn mạnh: Chi bộ là gốc rễ của Đảng, là nền tảng của Đảng, Đảng mạnh là do chi bộ đều mạnh Chi bộ là đồn luỹ của Đảng chiến đấu trong quần chúng Chi bộ là sợ dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng lao động Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến việc xây dựng chi
bộ, đảng bộ cơ sở, nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng Người chỉ rõ
"Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt" [35, tr.96] Do đó, một tổ chức muốn mạnh thì trước hết chi bộ đó phải mạnh, hoạt động hiệu quả
1.1.2.3 Quan điểm của Đảng về vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
Trang 22cơ sở (nhà máy, công xưởng, hầm mỏ, đồn điền, đường phố) đến huyện bộ, thi
bộ, khu bộ, tỉnh bộ, thành bộ và Trung ương
Điều lệ Đảng công sản Đông dương (tháng 10-1930) khẳng định: chi bộ (nhà máy, công sở, trường học ) là "căn bản tổ chức của Đảng" Điều lệ do Đại hội lần thứ nhất thông qua chỉ rõ: "Căn bản về đường lối tổ chức của Đảng là chi
bộ sản nghiệp (nhà máy, mỏ, đồn điền, công xưởng, công sở, trại lính ) tất cả đảng viên nằm trong một sản nghiệp đều phải vào trong chi bộ đó Các đảng viên khác như tri thức, tiểu thương gia, người đi ở thì phải lấy chỗ ở của họ
làm gốc tổ chức ra chi bộ làng và xã" [16, Điều 12]
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai (1951) đã quy định; xây dựng
hệ thống tổ chức Đảng từ các chi bộ ở các cơ sở Mỗi chi bộ cấp xã phường (khu phố), thị trấn nhiều nhất không quá 50 đảng viên, xí nghiệp không quá 70 đảng viên Nơi quá đông đảng viên có thể thành lập Đảng bộ cơ sở gồm nhiều chi bộ, đến huyện, tỉnh thành, xứ, khu, hoặc liên khu và cấp Trung ương
Trong Điều lệ Đảng, Đại hội II dành một chương nói về TCCSĐ với tiêu đề: Chi bộ là nền tảng tổ chức của Đảng "ở những xã, xí nghiệp, khu phố mà có đảng viên quá đông thì tuỳ theo quan hệ về kinh tế, địa dư và tuỳ theo số đảng viên và tổ chức ra nhiều chi bộ" [19, Điều 24]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức III, Đảng ta tiếp tục khẳng định những nguyên tắc, quy định về hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV hệ thống tổ chức của Đảng được quy định: TCCSĐ dưới 30 đảng viên thì thành lập chi bộ, có chi uỷ Tổ chức Đảng có trên 30 đảng viên thì thành lập Đảng bộ, có chi bộ trực thuộc
Điều 10 của Điều lệ Đảng do Đại hội VIII thông qua quy định về hệ thống
tổ chức Đảng được rút gọn như sau:
"Hệ thống tổ chức của Đảng được lập tương xứng với hệ thống tổ chức của Nhà nước Tổ chức cơ sở Đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp kinh tế hoặc công tác đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ huyện, quận, thị
Trang 23xã, thành phố thuộc tỉnh Cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định lập hoặc giải thể Đảng bộ, chi bộ trực thuộc" [53, tr.207]
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã khẳng định:
“Thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi tổ chức, bảo đảm bộ máy tinh gọn, có hiệu lực, hiệu quả Đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở Đảng, gắn xây dựng tổ chức cơ sở Đảng với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở” [20, Tr 264]
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề ra 10 nhiệm vụ về xây dụng Đảng và xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Trong đó có 2 nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI đề ra, cho ta thấy được tầm quan trọng của TCCSĐ trong điều hành, hoạt động ở các cấp Đảng
Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn hiến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ
Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu
Chúng ta dễ thấy xuyên suốt qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn khẳng định vài trò nền tảng rất quan trọng của từng TCCSĐ trong quá trình tồn tại và hoạt động của Đảng
Tổ chức cơ sở Đảng là hạt nhân chính trị ở cơ sở
Tổ chức cơ sở Đảng là nơi tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Nói một cách khác, mọi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có được thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả hay không, trước hết là do TCCSĐ hoạt động tốt hay không
Trang 24Một chi bộ, Đảng bộ cơ sở nếu không nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách pháp luật thì nền kinh tế xã hội không thể phát triển, an ninh trật tự không được đảm bảo, nghĩa vụ đối với Nhà nước không hoàn thành, quyền làm chủ của nhân dân bị xâm phạm
Tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp liên hệ giữa Đảng và quần chúng, nếu chúng ta nói sức mạnh của quần chúng bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, thì ngược lại sức mạnh của Đảng lại bắt nguồn từ mối liên hệ chặt chẽ, máu thịt giữa TCCSĐ, đảng viên với quần chúng ở cơ sở Quần chúng nhận xét
sự lãnh đạo của Đảng, tin vào sự lãnh đạo của Đảng, trước hết và trực tiếp là thông qua hoạt động của TCCSĐ và cán bộ, đảng viên ở cơ sở
Tổ chức cơ sở Đảng là nơi giáo dục, rèn luyện, sàng lọc đảng viên, nơi đào tạo cán bộ cho Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng Chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phụ thuộc một phần rất quan trọng ở chất lượng lãnh đạo của TCCSĐ Thực tiễn đã chứng minh: Việc giáo dục, rèn luyện cán
bộ, đảng viên của Đảng tốt hay không tốt, vấn đề kết nạp đảng viên có chất lượng hay không và đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng đúng hay sai, tất cả đều phụ thuộc một phần rất quan trọng ở chất lượng lãnh đạo của TCCSĐ
Tổ chức cơ sở Đảng còn là nơi thẩm định tính đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nơi phản ánh tâm tư nguyện vọng, những yêu cầu và kinh nghiệm của quần chúng được đề xuất với Đảng nhằm góp phần hoàn thiện đường lối, chính sách và tạo cơ sở để đường lối, chủ trương chính sách của Đảng đi vào cuộc sống
Như vậy, có thể nói sự tồn tại, phát triển, vững mạnh của các TCCSĐ luôn luôn quyết định sự tồn tại, phát triển vững mạnh của toàn Đảng, của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Nước ta Do đó, việc chăm lo xây dựng củng cố các TCCSĐ nói chung, các tổ chức Đảng trong doanh nghiệp nói riêng là một yêu cầu khách
Trang 25quan, là vấn đề then chốt, có ý nghĩa hết sức quan trọng, là trách nhiệm của toàn
Có thể khẳng định các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có được thực hiện tốt hay không, có đi vào và trở thành hiện thực trong cuộc sống hay không là nhờ vai trò lãnh đạo của các TCCSĐ Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, các chủ trương chính sách của Đảng có đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân, có đem lại nguồn cổ vũ, động viên cho nhân dân hay không, đều phụ thuộc vào vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và của các TCCSĐ nói riêng Vì vậy, xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định trực tiếp đến việc thực hiện thắng lợi các đường lối, quyết sách lớn
và phát triển kinh tế, giữ vững ổn định mọi mặt của đất nước
1.2 Một số nội dung liên quan đến vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
1.2.1 Nội dung vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
1.2.1.1 Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị
Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của TCCSĐ Để thực hiện tốt vai trò này, các cơ sở Đảng cần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị cụ thể các nội dung:
Tổ chức cơ sở Đảng cần bám sát các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, kế hoạch, quyết sách của Chính phủ, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy cấp trên để tiếp tục thực hiện tốt, toàn diện, sâu sắc các nhiệm vụ chính trị được giao, giữ
Trang 26vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò lãnh đạo, hạt nhân chính trị của tổ chức Đảng
Trên cơ sở thực hiện nghiêm đường lối chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, mỗi TCCSĐ trong các đơn vị phải nắm vững các chỉ đạo của Đảng ủy cấp trên trực tiếp, để truyền đạt cụ thể chính xác cho lãnh đạo tại đơn vị và lãnh đạo cán
bộ, đảng viên trong đơn vị thực hiện tốt đường lối về thực hiện nhiệm vị chính trị của Đảng ủy cấp trên giao phó TCCSĐ hướng dẫn cán bộ, đảng viên trong đơn vị thực hiện quyền và nghĩa vụ giám sát lại hoạt động của TCCSĐ và lãnh đạo tại đơn vị
Bện cạnh đó các TCCSĐ cần nghiên cứu cụ thể tình hình của đơn vị để có
ý kiến tham mưu phù hợp, kịp thời cho Đảng ủy cấp trên về tình hình của đơn
vị, từ đó đưa ra các quyết sách phù hợp, kịp thời Các TCCSĐ phải luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động sáng tạo, không ngừng cải tiến lề lối, phương pháp làm việc, nâng cao hiệu quả công tác, hoàn thành tốt các nhiệm
vụ được giao
Các tổ chức cơ sở Đảng cần duy trì nghiêm kỷ cương, nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình chống lại các quan điểm sai trái gây ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc từ đơn vị TCCSĐ khi giải quyết các vấn đề trong nội bộ đơn vị phải thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở, công khai minh bạch, giải quyết thấu tình hợp lý, đúng người, đúng tội, không để mất đoàn kết trong nội bộ, gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín của TCCSĐ tại đơn vị
1.2.1.2 Lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng
Lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức, lối
sống của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay đã thực sự trở thành vấn đề cấp bách Để góp phần phòng, chống, đấu tranh đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:
Trang 27Tổ chức cơ sở Đảng cần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng các cấp, nhất là nâng cao chất lượng xây dựng các chương trình, kế hoạch tuyên truyền, học tập lý luận chính trị, quán triệt nghị quyết, biên soạn tài liệu, chất lượng đội ngũ báo cáo viên Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nhất là giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng Khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo, lạc hậu về nội dung, phương pháp đào tạo Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền cổ động, hoạt động văn hóa - văn nghệ, tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng
và nghệ thuật, có tác dụng định hướng, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí tích cực tham gia đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức Ngoài ra TCCSĐ cần tăng cường giáo dục những yêu cầu, chuẩn mực đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh cho cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn
vị, tránh xa lối sống không lành mạnh, các tệ nạn xã hội
1.2.1.3 Lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ
Công tác tổ chức cán bộ là khâu then chốt, là mặt trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, là nhân tố quyết định sự thành công Công tác cán bộ gồm nhiều khâu liên hoàn, đan xen nhau, bao gồm việc đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ… Đồng thời với việc chuẩn bị đường lối chính trị, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phải xây dựng quy hoạch cán bộ Đường lối nào thì cán bộ ấy, đường lối cán bộ phải phục vụ cho đường lối chính trị, phải đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của đường lối chính trị
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, Đoàn thể, nhân dân “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, đem tình
Trang 28hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [37, tr.269]
Công tác cán bộ có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của nước ta do Đảng lãnh đạo, để làm tốt công tác này, cấp uỷ cần lãnh đạo xây dựng và thực hiện chủ trương về kiện toàn tổ chức, sắp xếp bộ máy và quy chế hoạt động của đơn vị Lãnh đạo xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của cấp
uỷ, chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển tài năng Cấp uỷ cần đề xuất ý kiến để cấp trên xem xét, quyết định các vấn đề về tổ chức và cán bộ của đơn vị thuộc thẩm quyền của cấp trên
Các tổ chức cơ sở Đảng cần tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng và của cả hệ thống chính trị, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức và mối quan hệ giữa các tổ chức trong đơn vị, bảo đảm bộ máy tinh gọn, năng động, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
Đổi mới đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, quán triệt đến cán bộ, đảng viên đường lối đổi mới và quan điểm của Đảng về công tác tổ chức và cán
bộ, tạo chuyển biến cơ bản vững chắc trong công tác này, xây dựng đội ngũ cán
bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thực sự
có năng lực, phẩm chất, gương mẫu, bảo đảm tính kế thừa và phát triển Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, coi trọng việc nắm tình hình chính trị, nhất là những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên
Các TCCSĐ cần kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở Đảng, chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, gắn xây dựng cơ sơ sở Đảng với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
Trang 291.2.1.4 Lãnh đạo công tác xây dựng các tổ chức đoàn thể trong đơn vị
Các tổ chức đoàn thể trong cơ quan có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội ở từng cơ quan, đơn vị
Để thực hiện tốt công tác lãnh đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể, các TCCSĐ cần thực hiện tốt các nội dung sau:
Tổ chức cơ sở Đảng lãnh đạo cán bộ, đảng viên thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của đơn vị được giao Bên cạnh đó cán bộ đảng viên cũng thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Ngoài ra cán bộ, đảng viên trong đơn vị tham gia xây dựng và bảo vệ đơn vị, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chung của đơn vị
Qua hoạt động thực tế của các đơn vị có thể khẳng định yếu tố quan trọng nhằm xây dựng TCCSĐ vững mạnh là cần phải biết phát huy vai trò lãnh đạo của cấp uỷ trong chi bộ và các các tổ chức đoàn thể
Lãnh đạo nhưng phải trên nguyên tắc tôn trọng tính tự chủ, vai trò tích cực, chủ động sáng tạo không can thiệp quá sâu vào hoạt động của các tổ chức đoàn thể nhưng cũng không để xảy ra tình trạng buông xuôi Đảng lãnh đạo các
tổ chức đoàn thể bằng chủ trương, bằng sự gương mẫu của đảng viên, sự định hướng đúng đắn cho hoạt động của các tổ chức đoàn thể chứ không thể bằng mệnh lệnh, áp đặt…
Để củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể các cấp uỷ Đảng cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo bằng những việc làm cụ thể như: Nghiên cứu, đưa nội dung lãnh đạo xây dựng các tổ chức đoàn thể vững mạnh vào nghị quyết của đại hội Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận Các cấp uỷ Đảng cần tạo điều kiện để công đoàn, Đoàn thanh niên tham gia tích cực vào công tác xây dựng Đảng, đưa nội dung lãnh đạo các tổ chức đoàn thể vào chương trình công tác hàng năm, đồng thời
Trang 30kiểm tra đôn đốc việc thực hiện, định kỳ làm việc với các tổ chức đoàn thể báo cáo tình hình tâm tư, nguyện vọng cũng như những kiến nghị của đoàn viên
1.2.2 Phương thức nâng cao vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
1.2.2.1 Quan tâm lãnh đạo, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng
Để thực hiện có hiệu quả đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên TCCSĐ cần thực hiện một số phương thức sau:
Tổ chức cơ sở Đảng cần xây dựng được mục tiêu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân là tuyên truyền sâu rộng
để cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn, toàn diện về vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục chính trị tư tưởng Trong giai đoạn hiện nay, công tác giáo dục chính trị tư tưởng càng có ý nghĩa và cấp bách hơn, khi mà các thế lực thù địch trong, ngoài nước luôn ra sức tuyên truyền, nói xấu chế độ ta, làm hiểu sai những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước Do đó, các TCCSĐ trong từng đơn vị cần nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo trong công tác tuyên truyền đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trong từng đơn vị, tạo động lực chung cho toàn Đảng, toàn Dân
Muốn công tác tuyên truyền giáo dục chính trị đạt hiệu quả, các TCCSĐ cần xác định rõ nội dung công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với từng tổ chức Đảng và đảng viên Đó là tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cho cán bộ, đảng viên và đoàn viên trẻ trong toàn đơn vị Đây là nội dung giáo dục cơ bản, nền tảng, quan trọng hàng đầu về tư tưởng chính trị đối với cán bộ, đảng viên, là cơ sở của sự thống nhất trong nhận thức và hành động Cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần, hiểu rõ nội dung giáo dục tuyên truyền thì mới tạo được tính tự giác, gương mẫu trong thực hiện công việc
Trang 31Bên cạnh đó, TCCSĐ luôn quan tâm, tìm kiếm, cập nhật kiến thức mới, nâng cao trình độ hiểu biết, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy các cấp, cũng như lãnh đạo điều hành tại đơn vị Đó là những thông tin mới về tình hình thời sự trong nước và quốc tế, những kiến thức mới về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước Trong từng mỗi đơn vị, cán
bộ, đảng viên cần nắm chắc quyết sách, phương hướng phát triển của đơn vị, để thực hiện đúng, hiệu quả
Công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm giúp mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò, trách nhiệm, tinh thần gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Mỗi cán bộ, đảng viên cần biến quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng của tổ chức Đảng thành quá trình tự giáo dục,
tự bồi dưỡng, gắn với việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống Thực hiện yêu cầu này, ở mỗi
tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị, ban thường vụ cấp ủy, ban lãnh đạo và đồng chí
bí thư cấp ủy, người đứng đầu cần chỉ đạo, lựa chọn một số vấn đề bức xúc, nổi cộm thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống để chi bộ, đảng bộ bàn biện pháp phấn đấu khắc phục, tạo chuyển biến, đẩy lùi, tiến tới giải quyết dứt điểm tình trạng sai phạm này
Đổi mới hình thức, phương pháp tiến hành công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Các cấp ủy TCCSĐ cần sử dụng tổng hợp nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, trong các buổi sinh hoạt thường kỳ của chi bộ đến những sinh hoạt
về hoạt động chuyên môn, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cần được thường xuyên phổ biến, tuyên truyền, từ trực tiếp đến gián tiếp TCCSĐ cần kết hợp với cầp ủy tại địa phương để có phương pháp tiến hành tốt nhất về việc quán triệt cho cán bộ, đảng viên tại nơi cư trú
Ngoài những nội dung và cách thức tiến hành, để nâng cao hiệu quả và để cán bộ, đảng viển hiểu rõ thực tế hơn thì TCCSĐ cần lấy những vụ việc tiêu
Trang 32biểu trong công việc phù hợp với ngành nghề của đơn vị để nêu gương người tốt, việc tốt, lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực, đồng thời phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi
cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống… Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói: “Một tấm gương sống còn hơn trăm bài diễn văn tuyên truyền” [36, tr.263] Do đó, Người đã có ý kiến với Ban Tuyên huấn Trung ương về việc làm
và xuất bản sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục những gương người tốt, việc tốt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Thực tế hiện nay cũng cho thấy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chỉ có hiệu quả thiết thực khi cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn tư cách, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, gần dân, chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân Có như vậy, mới ngăn chặn có hiệu quả biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng
1.2.2.2 Đổi mới cách ra nghị quyết, tổ chức quán triệt nghị quyết
Tổ chức cơ sở Đảng cần chú trọng lãnh đạo, triển khai học tập, nghiên cứu các chủ trương, nghị quyết của cấp trên về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị Cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết bằng
kế hoạch, chương trình hành động và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo để các đơn
vị triển khai thực hiện Khi xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng, chú trọng việc đổi mới cách ra nghị quyết, cụ thể hóa nghị quyết gắn với tập trung kiểm tra, giám sát việc triển khai nghị quyết, cách ra nghị quyết cần bám sát với thực tế của đơn vị
Để hạn chế việc quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng còn nhiều yếu kém như: Việc tổ chức triển khai ở một số nơi chưa kịp thời, còn hình thức, chất lượng chưa cao, sự phối hợp chưa chặt chẽ và có biểu hiện khoán trắng, trình độ
và năng lực báo cáo viên còn hạn chế, phương pháp triển khai dàn trải, nặng về đọc tài liệu, ít liên hệ thực tiễn làm cho người nghe thiếu tập trung, thiếu thu hút
Trang 33Nhằm khắc phục những hạn chế trên, các cấp ủy cần quan tâm đổi mới cách thức tiến hành việc học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng với nhiều giải pháp đồng bộ Chẳng hạn như: việc xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai học tập nghị quyết từ trên xuống phải bám sát kế hoạch của cấp trên và vận dụng phù hợp với tình hình ở cơ sở, đồng thời, sắp xếp thời gian và lựa chọn hình thức học tập hợp lý đối với từng cấp, từng loại hình…
Qua thực tế tình hình, để công tác tổ chức triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong toàn đơn vị ngày càng nâng cao chất lượng và hiệu quả, các cấp ủy cần chú trọng một số vấn đề sau:
Các cấp ủy Đảng, đồng chí bí thư cấp ủy trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng một cách chặt chẽ, nghiêm túc, tránh tình trạng triển khai, quán triệt qua loa, hình thức và khoán trắng cho cơ quan tuyên truyền khác Kiên quyết thực hiện đúng các quy định về học tập lý luận chính trị, phát huy vai trò nêu gương của lãnh đạo chủ chốt các cấp trong triển khai, quán triệt, nghiên cứu, học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng
Cấp ủy đảng các cấp tiếp tục quan tâm củng cố, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ tốt việc triển khai, học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng Chú ý lựa chọn báo cáo viên có phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp sư phạm tốt và nghiên cứu thực tế, nắm thật chắc nội dung của nghị quyết để truyền đạt các chủ trương của Đảng theo chuyên đề đạt mục đích, yêu cầu đề ra
Tổ chức cơ sở Đảng cần quán triệt cán bộ, đảng viên phải tự giác nâng cao ý thức và chấp hành nghiêm những quy định trong việc nghiên cứu học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng, xem đây là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi cán bộ, đảng viên Qua đó, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong Đảng, giúp cán bộ, Đảng viên phát huy và giữ vững vai trò tiên phong, gương mẫu trước nhân dân, có ý thức thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao
Trang 34Đổi mới, nâng cao chất lượng học tập, triển khai nghị quyết của Đảng là khâu đầu tiên và rất quan trọng nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, là điều kiện tiên quyết đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống
1.2.2.3 Xây dựng và thực hiện nghiêm chế độ làm việc theo chương trình, kế hoạch
Các cấp ủy Đảng cần thực hiện nghiêm túc chế độ làm việc theo chương trình, kế hoạch vì: Chương trình, kế hoạch có vai trò quan trọng trong tổ chức hoạt động của cơ quan, tổ chức cũng như của cá nhân
Khi các cấp ủy làm việc theo chương trình, kế hoạch sẽ giúp cho cơ quan,
tổ chức đạt được mục tiêu một cách tương đối chính xác, đảm bảo tính ổn định trong hoạt động của cơ quan, tổ chức
Giúp tăng tính hiệu quả làm việc của cấp ủy cũng như cơ quan, tổ chức:
có chương trình, kế hoạch tốt sẽ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực cho
cơ quan, tổ chức trong các hoạt động, hạn chế được rủi ro trong quá trình hoạt động, giúp cho cấp ủy và chính quyền chủ động công việc
Giúp đơn vị chủ động ứng phó với mọi sự thay đổi trong quá trình điều hành cơ quan, tổ chức một cách linh hoạt mà vẫn đạt mục tiêu đã đề ra Khi có chương trình, kế hoạch giúp cho lãnh đạo cơ quan phân bổ và sử dụng hợp lý quỹ thời gian, huy động được các đơn vị giúp việc, bố trí lực lượng tập trung theo một kế hoạch thống nhất, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng các đơn vị để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đã đề ra Ngoài rà còn đảm bảo cho thủ trưởng
cơ quan điều hành hoạt động được thống nhất, tránh chồng chéo và mâu thuẫn trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy được trí tuệ của tập thể lãnh đạo cơ quan
Khi các cơ quan, tổ chức có chương trình, kế hoạch sẽ làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát, đánh giá mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức
Trang 351.2.2.4 Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
Tập trung dân chủ là nguyên tắc trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Để xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh Đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt của Đảng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng Đảng, được V.I.Lênin xác định trong học thuyết về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta, yếu tố quan trọng để Đảng không ngừng chỉnh đốn, đổi mới và phát triển Theo Người, “Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp tổ chức thống nhất lại theo một nguyên tắc nhất định Nguyên tắc ấy là dân chủ tập trung Nghĩa là: tập trung trên nền tảng dân chủ, dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung” [37, tr.240-241]
Điểm lại một số giai đoạn cách mạng cũng như từng nhiệm vụ cụ thể, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn được coi trọng trong hoạt động, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng từ Trung ương tới cơ sở
Hội nghị Trung ương 6 lần 2 (khoá VIII) của Đảng đã thông qua Nghị quyết quan trọng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó nhấn mạnh: “Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng” Bởi vậy, cần phải “Nâng cao nhận thức thống nhất trong Đảng
về nguyên tắc tập trung dân chủ Xây dựng và bổ sung các quy định, quy chế thực hiện nguyên tắc này Cụ thể hóa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu, quy định cụ thể về bảo lưu ý kiến, bảo đảm cho người có ý kiến bảo lưu được phát biểu đầy đủ trong tổ chức Đảng và một số cơ quan lý luận thích hợp” [3, tr.31]
Trong các kỳ Đại hội: IX, X, XI và XII Đảng ta tiếp tục khẳng định phải phát huy dân chủ trong sinh hoạt, coi trọng và thực hiện đúng quy chế làm việc, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng Nghị quyết Đại hội XI của Đảng còn mở rộng nội hàm của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, đó là: “Phát huy dân chủ
Trang 36phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội, phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân” [17, tr.48]
Văn kiện Đại hội XII của Đảng cũng xác định rất rõ: “Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng Đảng Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” Đây cũng chính là những yếu tố bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của Đảng và
“Thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo
và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu” [18, tr.191]
Để nâng cao việc và phát huy tập trung dân chủ của TCCSĐ cũng như các đơn vị cần làm tốt một số công tác sau:
Cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, cấp ủy viên các cấp có nhận thức đúng, đầy đủ về bản chất, nội dung, mối quan hệ biện chứng của nguyên tắc tập trung dân chủ Trong nguyên tắc tập trung dân chủ, hai thành tố “tập trung” và “dân chủ” không tách rời nhau mà hòa quyện với nhau, tập trung trên cơ sở dân chủ, dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung Từ nhận thức đúng, các cấp ủy chỉ ra được kết quả và những yếu kém trong tổ chức thực hiện, tìm ra các nguyên nhân chủ quan, khách quan của những khuyết điểm hoặc những biểu hiện cố tình vi phạm nguyên tắc để khắc phục
Nâng cao chất lượng thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, mở rộng sinh hoạt dân chủ Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
là biểu hiện cụ thể nội dung, yêu cầu của nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Theo đó, mọi vấn đề thuộc về đường lối, chủ trương của Đảng đều do tập thể các cơ quan lãnh đạo hoặc TCCSĐ dân chủ bàn
Trang 37bạc và quyết định theo đa số, cá nhân không được tự quyết định những vấn đề thuộc về chức năng, quyền hạn của TCCSĐ
Phát huy vai trò của bí thư, cấp uỷ trong việc duy trì các nền nếp, chế độ, thủ tục, nguyên tắc của Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng Đội ngũ bí thư, cấp ủy là người chủ trì về công tác Đảng, là hạt nhân đoàn kết, phát huy sức mạnh tập thể thực hiện sự lãnh đạo đối với mọi hoạt động của đơn vị Thực tiễn công tác xây dựng Đảng những năm qua cho thấy, ở đâu, nơi nào đội ngũ bí thư, cấp ủy có phẩm chất, năng lực, tính đảng, tính nguyên tắc cao, thì nơi đó nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm túc; các chế độ, nền nếp được giữ vững, đoàn kết nội bộ được tăng cường, vai trò, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy được khẳng định trong thực tiễn
Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong cấp ủy, cơ sở Đảng các cấp Thực hiện nguyên tắc cấp ủy cấp trên kiểm tra, giám sát cấp ủy cấp dưới, kiểm tra chéo, kiểm tra định kỳ và không định kỳ Cùng với việc kiểm tra, giám sát các mặt hoạt động của các TCCSĐ, cần chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, nền nếp, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng; tiếp tục kiểm tra, bổ sung, hoàn thiện các quy định chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động
cụ thể của các loại hình TCCSĐ
Nắm vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ là một đảm bảo quan trọng để xây dựng Đảng ta vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới Đây là nội dung quan trọng
để các đơn vị cũng như TCCSĐ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao
1.2.2.5 Thật sự gần gũi nhân dân, nói đi đôi với làm
Ngày 15-5-2016, Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW
về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” So với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI), Chỉ thị số 05-
Trang 38CT/TW mở rộng nội dung toàn diện, đầy đủ hơn, không chỉ học và làm theo Bác
về đạo đức, mà cả về tư tưởng và phong cách của Người Trong đó, phong cách
Hồ Chí Minh kết tinh những gì cốt lõi, tinh túy nhất của tư tưởng và đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là con người Hồ Chí Minh
Trong mọi công tác, cán bộ đảng viên phải luôn gần gũi với nhân dân, giúp đỡ nhân dân, khi đó mới hiểu được tâm tư tình cảm, nguyện vọng của người dân Xây dựng mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, đây là nhân
tố quyết định sự vững mạnh của Đảng, ổn định của hệ thống chính trị Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, ông cha ta cũng
đã xác định nhân dân là gốc của nước, "chở thuyền là dân và lật thuyền cũng là dân" Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin
và những giá trị truyền thống của dân tộc, luôn luôn nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân, Người cho rằng: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân" [38, tr.276]
Ngoài ra nói thì phải làm là thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm Để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói với việc làm phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình Có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm Để nói đi đôi với làm, còn cần có sự cố gắng, bền bỉ và quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì,
dù lớn hay nhỏ, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được Nói đi đôi với làm thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng yêu cầu cán bộ, đảng viên đã nói thì phải làm, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước” [37, tr.108] Cán bộ lãnh đạo làm gương cho nhân viên, cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ, đảng viên làm gương cho
Trang 39nhân dân Đồng thời, cần giao cho một đơn vị hoặc cá nhân thường xuyên kiểm tra, giám sát và nhắc nhở đối với những tổ chức, cá nhân đã đưa ra lời hứa và yêu cầu tổ chức, thực hiện cho đúng Có những việc cần giao cho nhân dân kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện
Trong công tác tổ chức Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ:
“Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào Nếu không vậy thì những nghị quyết và những chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng” [36, tr.250]
Trong từng đơn vị để cấp ủy đảng, cũng như lãnh đạo đơn vị thực hiện tốt
nội dung trên cần phải làm tốt một số nội dung sau:
Tiếp tục xây dựng hệ thống chính trị trong các đơn vị trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giải quyết kịp thời, đúng luật pháp yêu cầu, tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu bức xúc, chính đáng của nhân dân
Tiếp tục quán triệt đường lối của Đảng, nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của nhân dân
Động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, bảo vệ sự thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
1.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá vai trò chính trị của tổ chức cơ sở Đảng
Thứ nhất: Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị
Tổ chức cơ sở Đảng lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm đường lối chỉ đạo, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định pháp luật liên quan Các cơ sở Đảng trực tiếp tại đơn vị luôn kịp thời, chủ động phối hợp với tập thể lãnh đạo đơn vị tập trung nguồn lực triển khai có hiệu quả việc thực
Trang 40hiện nhiệm vụ chính trị được giao, nhiệm vụ phát triển sản xuất, kinh doanh và hoàn thành các chỉ tiêu mà Đảng và Chính phủ giao phó
Tổ chức cơ sở Đảng luôn quán triệt sâu sát chủ trương, quyết sách của đơn vị cho từng cán bộ, đảng viên nắm và thực hiện đúng, giúp hoàn thành tốt
kế hoạch kinh doanh của đơn vị được cấp trên giao phó
Tổ chức cơ sở Đảng lãnh đạo đơn vị chăm lo đời sống cho cán bộ, đảng viên trong đơn vi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giúp người lao động yên tâm công tác phục vụ cho đơn vị Tuy theo từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh các Danh nghiệp cần có chiến lược cụ thể nhằm phát triển bền vững, đảm bảo hoạt động sản xuất của đơn vị luôn ổn định, bảo vệ môi trường, bảo vệ tài sản cho doanh nghiệp và người lao động
Thứ hai: Lãnh đạo tốt công tác chính trị tư tưởng
Trước hết tổ chức cơ sở Đảng phải là người gương mẫu thấm nhuần các quản điểm, lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết, chỉ thị của Đảng vì cơ sở Đảng là nền tảng, hạt nhân tại mỗi cơ sở Các TCCSĐ có trách nhiệm phổ biến, quán triệt kịp thời các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, chính sách của cấp trên giúp đơn vị và toàn thể cán bộ công nhân viên nắm rõ Tạo không khí thoải mái, tâm lý ổn định để cán bộ, đảng viên yên tâm công tác hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao Các TCCSĐ thường xuyên cập nhật kiến thức về tư tưởng chính trị của Đảng ủy cấp trên để kip thời phổ biến cho cán bộ công nhân viên nhằm nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng, phát hiện sớm các tư tượng lệch lạc để có biện pháp phòng ngừa đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm trái với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
Các cơ sở Đảng phải thường xuyên cập nhật trình độ chuyên môn cho công nhân viên trong toàn thể đơn vị, đặc biệt là các kỹ thuật mới, tân tiến, trình
độ cao để kiến thức chuyên môn của cán bộ, công nhân viên không lạc hậu thụt lủi so với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh