1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng an ninh các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đồng tháp

104 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

54 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHI

Trang 1

TRẦN MINH SANG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC,

CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Nghệ An, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Quang Thái

Nghệ An, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập và nghiên cứu thực hiện luận văn, cho tôi xin được bài

tỏ lòng biết ơn chân thành đến các cơ quan, tổ chức và các cá nhân đã tạo điều kiện

hỗ trợ giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu trường đại học Đồng Tháp, Phòng Đào tạo sau đại học, khoa Giáo dục chính trị trường Đại học Vinh, và tất cả quý Thầy, Cô đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, trang bị nhiều kiến thức quý báu trong suốt quá trình học

tập Đặc biệt, PGS.TS Trần Quang Thái người hướng dẫn khoa học cho tôi đã tận

tình, thường xuyên quan tâm định hướng, bồi dưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Tôi gởi lởi cảm ơn đến Ban giám hiệu các trường CĐN, CĐCĐ, CĐYT, Bộ môn Giáo dục quốc phòng an ninh trường Đại học Đồng Tháp và các đồng nghiệp

đã tận tình cung cấp thông tin, tư liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân đã có nhiều nỗ lực cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, nhưng với điều kiện thực tế của các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và kinh nghiệm chưa nhiều của bản than, luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của quý Thầy, Cô

và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, ngày 25 tháng 07 năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Minh Sang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa………1

Lời cảm ơn……….2

Mục lục………3

Danh mục viết tắt……… 4

A MỞ ĐẦU 5

B NỘI DUNG 12

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CAO, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP 12

1.1 Chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh 12

1.2 Tính tất yếu của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh trong trường đại học, cao đẳng 20

Kết luận chương 1 33

Chương 2 : THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP 34

2.1 Những nhân tố tác động đến chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 34

2.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh tại các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay 39

Kết luận chương 2 54

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 56

3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh các trường ĐH, CĐ tại Đồng Tháp 56

3.2 Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh 63

Kết luận chương 3 77

C KẾT LUẬN 78

D DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 80

E TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

F PHỤ LỤC……….84

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Bộ GD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo BGH : Ban giám hiệu

CĐCĐ : Cao đẳng cộng đồng

CĐ : Cao đẳng CĐN : Cao đẳng nghề

ĐH : Đại học GDQP-AN : Giáo dục quốc phòng - an ninh

GV : Giảng viên

HS, SV : Học sinh, Sinh viên NCKH : Nghiên cứu khoa học QPAN : Quốc phòng an ninh THPT : Trung học phổ thông THYT : Trung học y tế

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, Đảng ta chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh, trong đó, giáo dục quốc phòng và an ninh là một nhiệm vụ rất quan trọng Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 03.02.2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác

giáo dục quốc phòng – an ninh trong tình hình mới đã xác định: “Giáo dục quốc

phòng - an ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân” [11, tr.1], đặt dưới sự

lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, sự quản lý điều hành của chính quyền và vai trò tham mưu của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể Giáo dục quốc phòng và an

ninh là “…nhiệm vụ chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội; phải được chỉ đạo,

tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương”[11, tr.1]

Giáo dục quốc phòng và an ninh được tiến hành “bằng các hình thức phù hợp với

từng đối tượng”[11, tr.1] Theo quan điểm của Đảng, Nhà nước ta giáo dục quốc

phòng và an ninh là tổng thể các hoạt động giáo dục nhằm xây dựng, nâng cao phẩm chất và năng lực về quốc phòng - an ninh cho công dân Việt Nam trong các hoạt động nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Từ đó Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, quyết định, thông tư nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên GDQP-AN ngày càng có chất lượng, tăng lên

về số lượng, cụ thể là quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án

số 607/QĐ-TTg, ngày 24.4.2014“Đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc

phòng và an ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2020” [29,

tr.1] Việc nâng cao chất lượng môn học giáo dục quốc phòng- an ninh cho học sinh, sinh viên là một yêu cầu cần thiết Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên

Trang 7

chất lượng môn học là đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh đủ về số lượng, có chất lượng cao, đáp ứng cho nhiệm vụ trước mắt và cơ bản lâu dài Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện công tác GDQP-AN (2001-2010) của Bộ Quốc phòng đã nêu rõ đội ngũ giáo viên GDQP-AN còn thiếu về số lượng và bất cập về chất lượng, trong khi số lượng học sinh, sinh viên ngày càng tăng, song nguồn bổ sung giảng viên, giáo viên GDQP-AN còn hạn chế

Về hình thức giáo dục quốc phòng và an ninh được thực hiện tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, Khoa, Bộ môn GDQP-AN ở các trường cao đẳng, đại học Tuy nhiên, về đội ngũ giảng viên chủ yếu là sĩ quan biệt phái trong quân đội, công an, giảng viên được đào tạo ngắn hạn (6 tháng), ghép môn GDQP với thể dục Đội ngũ giảng viên được đào tạo chính quy, chuyên môn GDQP-AN còn ít, nên việc truyền đạt nội dung kiến thức cho sinh viên chưa đạt yêu cầu, phương pháp giảng dạy và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn hạn chế, sân bãi không đảm bảo dẫn đến việc sinh viên chưa tích cực, năng động trong tiếp thu kiến thức, từ đó dẫn đến chất lượng học GDQP-AN chưa cao

Theo khảo sát của tác giả, đội ngũ giảng viên GDQP-AN tại các trường CĐ,

ĐH trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp còn ít so với yêu cầu Chất lượng chuyên môn chưa cao, một số cán bộ giáo viên còn chưa đạt chuẩn giảng dạy so với quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phương pháp tổ chức dạy -học môn GDQP-AN còn nhiều bất cập, chưa tích cực sáng tạo, chưa đổi mới nên kết quả trong thời gian qua chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, công tác quản lý sinh viên học tập chưa đúng quy định, việc tự giác học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên GDQP-AN chưa cao, trang thiết bị phục vụ giảng dạy còn thiếu

Từ góc độ là giảng viên GDQP-AN, tôi nghĩ rằng việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bản tỉnh

Đồng Tháp trong tình hình mới là cần thiết

Từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” làm luận văn thạc sĩ của mình

Trang 8

Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu như sau:

Công trình “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” năm 2013,

trung tướng Bế Xuân Trường và Đại tá Nguyễn Bá Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách giúp cho cán bộ, chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước nhìn nhận rõ hơn bản chất khoa học, cách mạng, tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong những năm đổi mới Qua đó, luận chứng rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nêu rõ vì sao chúng

ta nhất quán khẳng định quan điểm và nguyên tắc kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Công trình “Giáo dục an ninh - trật tự” của nhóm tác giả Tạ Ngọc Vãng,

Bùi Văn Thịnh, Phạm Đình Xinh, Đinh Tuấn Anh, Phan Tấn Hoài, Nxb Giáo dục Việt Nam (2013), sách trình bày hệ thống pháp luật về an ninh trật tự của Việt Nam, những vấn đề cơ bản về an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ của các thế lực thù địch Đây là quyển sách có hàm lượng kiến thức cao, nhằm trang bị cho giảng viên dạy GDQP-AN nhiều kiến thức định hướng tốt cho công tác chuyên môn

Bài báo “Đổi mới phương pháp giảng dạy - khâu đột phá nâng cao chất

lượng giáo dục quốc phòng và an ninh” GS.TS.NGND Nguyễn Thiện Minh đăng

trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân (số 1-2014), nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDQP-AN cần tập trung ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên và xem đây là nội dung then chốt để nâng cao chất lượng môn học GDQP-AN

Bài báo “vai trò, tầm quan trọng của môn GDQP-AN trong các trường của

hệ thống giáo dục quốc dân”của Trung tướng GS.TS Nguyễn Ngọc Anh đăng

Trang 9

trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật (Bộ tư pháp) năm 2016 Bài báo xác định vai trò

và tầm quan trọng của công tác GDQP-AN trong hệ thống nhà trường, nhằm góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bài báo “Đổi mới, nâng cao chất lượng GDQP và AN”của Đại tá Đào Văn Chung đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật của Bộ tư pháp, (số chuyên đề

GDQP và AN trong nhà trường) khẳng định cần phải đổi mới phương pháp học là “lấy người học làm trung tâm” đồng thời biết kết hợp hài hòa giữa học tập với giáo dục, rèn luyện sinh viên, thực hiện đồng bộ các giải pháp, tăng cường cơ

dạy-sở vật chất, tài liệu mô hình học cụ

Bài báo “Đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, đáp ứng yêu

cầu bảo vệ Tổ quốc” của Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đăng trên Tạp chí Quốc phòng

toàn dân, (số 8-2014) chỉ rõ vị trí, vai trò quan trọng của công tác GDQP-AN trong thời đại ngày nay và khẳng định đây là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi tổ chức trong xã hội đều phải tích cực tham gia

Bài báo của Nguyễn Văn Tạo “Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục

quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới”, đăng trên

Tạp chí Tuyên giáo, (số 8-2013) Trên cơ sở xem môn họ GDQP-AN là một môn học được pháp luật quy định ở trường, tác giả nhận thấy thực trạng chất lượng GDQP-AN còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đề ra một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng môn học

Luận văn thạc sĩ của Trần Văn Duân “Phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục

quốc phòng - an ninh ở các trường đại học Đồng bằng sông Cửu Long”, nghiên

cứu về thực trạng của đội ngũ giảng viên GDQP-AN ở các trường đại học Đồng bằng sông Cửu Long, công trình cho thấy số lượng của đội ngũ giảng viên còn ít, chất lượng của đội ngũ giảng viên còn hạn chế, chưa ngang tầm với nhiệm vụ hiện nay và đề ra nhiều giải pháp phát triển đội ngũ có đủ số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu GDQP-AN trong các trường đại học trên địa bàn Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

Trang 10

Luận án tiến sĩ của Hoàng Văn Tòng “Quản lí giáo dục quốc phòng-an ninh

cho sinh viên các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh mới” khảo sát, nghiên cứu

về thực trạng quản lý GDQP-AN ở các trường đại học Việt Nam, trên cơ sở thực trạng còn tồn tại nhiều hạn chế, công trình đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý cũng như chất lượng môn học GDQP-AN trên phạm vi cả nước

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Chí Hải “Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo giáo

dục quốc phòng an ninh ở trường Đại học An Giang trong giai đoạn hiên nay” Tác

giả đã phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên của các trường trung học phổ thông và thực trạng giảng viên ở trường Đại học An Giang, từ đó đề xuất những giải pháp để xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên trong giai đoạn hiện nay

Nhìn chung những công trình, bài báo, luận văn, luận án khoa học trên đã cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn cần thiết về việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN ở nước ta hiện nay Song hiện nay theo hiểu biết của tôi, chưa có công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-

AN các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Vì vậy việc nghiên cứu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là cần thiết

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, luận văn đề xuất những phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa lý luận về việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh ở nước ta hiện nay

Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh các trường ĐH, CĐ tại Đồng Tháp

Đề ra những phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng

Trang 11

viên giáo dục quốc phòng - an ninh các trường ĐH, CĐ tại Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng chất đội ngũ giảng viên

GDQP-AN và đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục QP-AN các trường ĐH, CĐ tại Đồng Tháp

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục quốc phòng - an ninh

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp các phương pháp điều tra, khảo sát, tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp logic-lịch sử và các phương pháp đặc thù của chính trị học

6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn

Luận văn hệ thống những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục quốc phòng -

an ninh

Đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh các trường ĐH, CĐ tại Đồng Tháp trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn có cấu

Trang 12

trúc gồm 3 chương,7 tiết

Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đồng tháp

Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng -

an ninh các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục QP-AN các trường ĐH, CĐ trên địa bàn Đồng Tháp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn hiện nay

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1.1 Chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh

1.1.1 Khái niệm chất lượng đội ngũ giảng viên

Chất lượng dạy và học là mối quan tâm hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, hầu hết các nước trên thế giới đều ra sức tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học Với mong muốn làm sao để người dạy truyền đạt được kiến thức một cách dễ dàng, người học nắm bắt và vận dụng được kiến thức đó trong thời gian ngắn nhất vào thực tế sản xuất, nghiên cứu một cách

có hiệu quả, và do vậy càng lúc càng đặt ra những yêu cầu gay gắt trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy một cách thiết thực nhất

Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. Theo tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế, chất lượng là:

“Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có” Chất lượng là

khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa Theo Juran, “ Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu”, cho nên chúng ta phải căn

cứ vào thực tiễn nhu cầu mà nâng cao chất lượng cho phù hợp

Chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định của sự vật, hiện tượng xung quanh ta Chất lượng là cái làm nên phẩm chất giá trị của con người, cho nên bất kỳ sự vật hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội điều có chất lượng của nó Đồng thời chất lượng là sự tổng hợp những thuộc tính, những đặc điểm, những quy định tạo nên Đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Vai trò đó chỉ có thể thực hiện đầy đủ khi đội ngũ

Trang 14

này thực sự có chất lượng Đội ngũ giảng viên có chất lượng phải bao hàm các thành viên có đủ phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác tốt Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ giảng viên không phải là phép cộng lại đơn thuần chất lượng của mỗi con người

Ngoài các tiêu chí đánh giá chất lượng thông qua những tiêu chuẩn chung của nhà giáo, xuất phát từ đặc thù về hoạt động giáo dục đại học, chất lượng của đội ngũ giảng viên thể hiện thông qua ba khía cạnh cơ bản như: chất lượng đào tạo nguồn nhân lực (hoạt động đào tạo); chất lượng và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ; chất lượng các dịch vụ xã hội

Về chất lượng hoạt động đào tạo, với chức năng dạy học giảng viên có

nhiệm vụ trang bị cho sinh viên những tri thức khoa học hiện đại, kỹ năng, kỹ xảo

về một lĩnh vực khoa học nhất định; phát triển trí tuệ và năng lực hoạt động trí tuệ,

tư duy sáng tạo, trang bị phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp tự học, tiếp thu cái mới, hình thành thế giới quan khoa học, các chuẩn mực xã hội và các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Do vậy, đòi hỏi đội ngũ giảng viên trước hết phải có phẩm chất, năng lực của một nhà giáo, có nhân cách tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh, yêu nghề, yêu thương học trò, công bằng, tôn trọng nhân cách của người học Đồng thời, đội ngũ giảng viên phải có năng lực chuyên môn tốt, có kiến thức chuyên sâu, làm chủ được tri thức, ham hiểu biết tri thức mới và không ngừng tìm tòi, học hỏi nâng cao trình độ, kỹ năng Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên phải nắm vững kiến thức và kỹ năng về dạy và học, có phương pháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung và trong từng chuyên ngành cụ thể

Về chất lượng và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ, đội ngũ giảng

viên được biết đến như một lực lượng cán bộ học thuật có trình độ, chất lượng cao; bởi vậy, ngoài việc dạy học, GV phải chủ động tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) để bổ sung, cập nhật kiến thức, nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo;

Trang 15

khuyến khích, hướng dẫn, rèn luyện cho sinh viên phương pháp học thông qua nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn Để làm được điều đó, giảng viên cũng phải biết nghiên cứu, tìm tòi, giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên

và xã hội mà mọi người và khoa học chưa có lời giải

Về chất lượng các dịch vụ xã hội, đối với nhà trường và sinh viên, giảng

viên cần thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác quản lý, các công việc hành chính, tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, giới thiệu việc làm cho sinh viên Trong lĩnh vực chuyên môn, giảng viên làm phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự và tổ chức các hội thảo khoa học Đối với cộng đồng giảng viên thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung cấp thông tin, viết báo, tạp chí,

áp dụng các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng, truyền bá kiến thức khoa học và để nâng cao trình độ

Tóm lại, chất lượng của đội ngũ giảng viên chịu sự tác động của nhiều nhân

tố khác nhau như: năng lực, trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, kỹ năng

sư phạm, phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu vươn lên của từng cá nhân, điều kiện, môi trường làm việc, công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng cũng như các chế độ, chính sách ưu đãi và cơ chế kiểm tra, đánh giá công nhận Từ

những phân tích trên, có thể khái quát như sau: Chất lượng đội ngũ giảng viên là sự

tổng hòa những giá trị được tạo ra từ số lượng, cơ cấu tổ chức đội ngũ, phẩm chất chính trị, đạo đức, tinh thần trách nhiệm và trình độ năng lực của đội ngũ giảng viên; bảo đảm cho đội ngũ giảng viên thực hiện chức trách nhiệm vụ

1.1.2 Khái niệm Giáo dục quốc phòng - an ninh

Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên) năm 1995, Nxb Đà Nẳng-TT từ điển học, HN-ĐN) “Giáo dục là hoạt động thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện

kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã

Trang 16

hội ”[32, tr.232] Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội, là điều kiện không thể thiếu được nhằm duy trì và phát triển con người và xã hội

“Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt”[19, tr.1] Như vậy, quốc phòng được hiểu là công cuộc giữ nước của dân tộc

ta Mục tiêu của quốc phòng nhằm bảo vệ, giữ vững chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự

ổn định và phát triển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

“An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc’’ [22, tr.1] An ninh quốc gia chính là trạng thái ổn định, có trật tự của một quốc gia, một chế độ xã hội Bảo đảm an ninh quốc gia là đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của một chế độ xã hội, của nhà nước

GDQP – AN là tổng thể tác động đến các thành viên trong xã hội, giúp họ có được phẩm chất và năng lực cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ QPAN theo vị trí, vai trò mà xã hội phân công GDQP-AN có vị trí, vai trò to lớn nên được quy định

là môn học bắt buộc ở các cơ sở giáo dục “Giáo dục quốc phòng và an ninh trong trường cao đẳng nghề, cơ sở giáo dục đại học là môn học chính khóa” [26, tr.3]

Có thể khẳng định giáo dục quốc phòng - an ninh là hoạt động có kế hoạch, có nội dung chương trình phương pháp và hình thức phù hợp với từng đối tượng, nhằm truyền thụ cho người học những tri thức, bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng quân sự

và những vấn đề về QPAN cần thiết để họ sẵn sàng làm tốt nghĩa vụ QPAN, bảo vệ

Tổ quốc theo chức trách

GDQP-AN là quá trình truyền thụ và lĩnh hội đường lối, chủ trương, chính sách đối nội và đối ngoại có liên quan đến Quốc phòng và an ninh của quốc gia và những kiến thức cần thiết khác, nhất là kiến thức về kỹ năng quân sự và giữ gìn an ninh quốc gia cho đối tượng giáo dục theo vai trò xã hội đảm nhiệm Là tổng thể

Trang 17

các hoạt động hướng đến mục tiêu chuẩn bị con người tham gia và thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, giữ vững chủ quyền và an ninh đất nước, bảo vệ vững chắc xã hội chủ nghĩa

1.1.3 Chất lượng và vai trò đội ngũ giảng viên GDQP-AN

Chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN là sự tổng hợp những quy chuẩn mang tính đặt thù như: phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, trình độ chuyên môn, số lượng và cơ cấu tổ chức của đội ngũ giảng viên

Về phẩm chất chính trị, đội ngũ giảng viên GDQP-AN hiện nay phải trong sáng, luôn giữ vững quan điểm, lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Luôn chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà Nước Nghiêm túc học tập và nghiên cứu các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Có nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo

vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội và bảo đảm quyền con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vì lợi ích con người Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, là sợi chỉ đỏ dẫn đường cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đối với mỗi thời kỳ cách mạng

Từ những lời dạy của Người, trong bối cảnh hiện nay đội ngũ giảng viên GDQP-AN không chỉ học tập thấm nhuần mà trong công tác giảng dạy cho sinh viên cần phải truyền tải những nội dung kiến thức đó nhằm tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động trong mỗi sinh viên Công tác giáo dục nhận thức phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm gốc, để mỗi sinh viên nhận thức rõ rằng: tận trung với nước, tận hiếu với dân, coi phục vụ nhân dân

là lẽ sống cao thượng nhất, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng chính là mục tiêu lớn nhất cần đạt tới Bằng hành động cụ thể, mỗi giảng viên phải gương mẫu trong lối sống, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, ra sức phục vụ lợi ích chung cho nhà trường, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; không ngừng rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành

Trang 18

nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà Nước

Về phẩm chất đạo đức lối sống, nâng cao phẩm chất đạo đức lối sống cho đội ngũ giảng viên GDQP-AN các trường ĐH, CĐ tại Đồng Tháp Có lối sống lành mạnh, giản dị, trong sáng, trung thực, luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng

Đó là bồi dưỡng lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, yêu quý và gắn bó với quê hương, đất nước, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao Là giảng viên có lối sống khiêm tốn, giản dị, đoàn kết với mọi người, với đồng chí, đồng nghiệp, trung thực, thẳng thắn, tích cực tự phê bình và phê bình Bằng các hình thức, phương pháp giáo dục thiết thực, phù hợp với cơ quan giúp cho đội ngũ giảng viên có nhận thức đúng đắn, đầy

đủ, sâu sắc về vai trò, nội dung đạo đức cách mạng của người giảng viên trong tình hình mới Qua đó, giúp cho đội ngũ luôn có thái độ, hành vi đúng đắn trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức của bản thân

Về trình độ chuyên môn, ngoài chuẩn mực phẩm chính tri, phẩm chất đạo đức lối sống, còn phải đáp ứng trình độ chuyên môn theo Luật GDQP-AN có hiệu lực năm 2014 chỉ rỏ về trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng an ninh “Giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh phải có bằng

cử nhân giáo dục quốc phòng và an ninh trở lên; trường hợp có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

và chứng chỉ đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh” [26, tr.7] Và “Giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh được bồi dưỡng, tập huấn định kỳ tại trường của lực lượng vũ trang nhân dân, trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh” [26, tr.7] Luật đã khẳng định tính pháp lý bắt buộc đội ngũ giảng viên GDQP-AN phải tự nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ

sư phạm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Về số lượng và cơ cấu tổ chức của đội ngũ giảng viên, số lượng của đội ngũ giảng viên là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ, phản ánh quy mô nhiều, ít của đội ngũ Tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục QPAN của từng trường mà cần có số

Trang 19

lượng và cơ cấu hợp lý, ngang tầm với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ Đội ngũ giảng viên giáo dục QPAN mạnh, nhất thiết phải được biên chế, kiện toàn thường xuyên, đảm bảo có số lượng hợp lý Không có số lượng hợp lý không thể có cơ sở

để tạo dựng thành đội ngũ giảng có chất lượng Bởi lẽ, sự thiếu hụt về số lượng gây

ra sự quá tải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng thời làm cho mỗi giảng viên không có điều kiện để học tập, tích lũy kiến thức nâng cao trình độ chất lượng không thể nâng lên Khi có số lượng giảng viên thích hợp sẽ tạo nên tính đồng bộ

và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của cả đội ngũ Yêu cầu nhiệm vụ giáo dục QPAN càng mở rộng, càng cần phải tăng số lượng giảng viên Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ còn phụ thuộc vào cách sắp xếp, sử dụng sao cho phát huy hết khả năng của từng người và cả đội ngũ, tức là phải có một cơ cấu cân đối, hợp lý về chuyên môn, nghiệp vụ, độ tuổi Cơ cấu giảng viên hợp lý trong mỗi bộ môn, mỗi khoa giáo dục QPAN sẽ tạo điều kiện để các thành viên bổ sung cho nhau những điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu của mỗi người, tạo thành một sức mạnh tổng hợp, hài hòa, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị, đồng thời hạn chế những thiếu sót trong quản lý, sử dụng đội ngũ giảng viên

- Vai trò đội ngũ giảng viên GDQP-AN trong bối cảnh hiện nay là rất quan

trọng, vì đây là tiền đề cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy và học cũng như nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên các trường CĐ,ĐH nói chung và đội ngũ giảng viên bộ môn GDQP-AN nói riêng

Trong vai trò nhà giáo, giảng viên giáo dục quốc phóng an ninh phải giỏi về kiến thức chuyên ngành, phải thực sự có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành mình nghiên cứu và chuyên môn-môn học mà mình giảng dạy Đây là điều kiện tiên quyết để khẳng định năng lực giảng dạy chuyên môn của giảng viên, sự truyền thụ kiến thức cũng như đánh giá sinh viên đều bắt nguồn từ kiến thức chuyên môn của người thầy Mặt khác, đây là cơ sở đầu tiên để sinh viên đặt niềm tin vào người thầy của mình

Giảng viên GDQP-AN phải xác định môn dạy chính của mình, từ đó

Trang 20

chuyển tải nội dung kiến thức cho phù hợp như: Mục tiêu giáo dục toàn diện về mọi mặt cho học sinh, sinh viên, GDQP-AN đã tạo những cơ hội thiết thực cho thế

hệ trẻ tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, rèn luyện và hoàn thiện bản thân thông qua các giờ học thực hành trên thao trường, cùng với đó, các giờ học lý luận trên giảng đường đã trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về quan điểm đường lối quân sự của Đảng, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cũng như công tác Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay Mặt khác môn học GDQP-AN còn trang bị cho sinh viên những kiến thức hữu ích về một số loại vũ khí, khí tài, thông qua đó sinh viên có thể biết cách phân biệt, sử dụng và trang bị cho mình những kỹ thuật

cơ bản để sử dụng được một số loại vũ khí thông thường và biết cách phòng tránh khi đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn

Giảng viên dạy giáo dục quốc phòng mà không hiểu biết tường tận về nền quốc phòng của mình là một thiếu sót và ảnh hưởng lớn đến hình ảnh của người giảng viên Sự am hiểu về nền quốc phòng của mình là ít nhất phải nắm vững lịch

sử, truyền thống cũng như vai trò của nền quốc phòng và thể hiện nó một cách phù hợp trong các giờ giảng chuyên môn sẽ làm nun đúc niềm tự hào của lực lượng vũ trang đối với sinh viên, tạo ra động lực tích cực cũng như củng cố niềm tinh vào chủ trương chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước

Giảng viên phải có khối kiến thức nhất định về chương trình đào tạo Chúng

ta đều biết rằng mỗi giảng viên đều có thể là chuyên gia trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định, họ có kiến thức sâu về một chuyên ngành mà họ đảm nhận giảng dạy.Tuy nhiên, để bảo đảm sự gắn kết giữa các môn học, sự liên thông giữa các ngành học, giảng viên phải tự trang bị những kiến thức về chương trình đào tạo đã được phê duyệt Người giảng viên có kiến thức tổng thểvề chương trình đào tạo sẽ nhận thức rõ được vị trí, vai trò và sự tương tác giữa môn học mình đang đảm nhận, chuyên ngành mình đang giảng dạy với các môn học và chuyên ngành khác Điều này làm cho các kiến thức chuyên môn trong một chuyên ngành hẹp khi

Trang 21

truyền đạt cho sinh viên sẽ trở lên sinh động, thực tiễn và có tính ứng dụng cao, đồng thời làm cho sinh viên nhận thức được ý nghĩa của việc nghiên cứu môn học đối với chuyên nghành mà họ đang theo học Nếu giảng viên không nhận thức được vấn đề này, các kiến thức chuyên môn mà họ truyền đạt sẽ trở lên đơn điệu, tẻ nhạt và mang nặng tính giáo điều, lý luận, sinh viên có cảm giác miễn cưỡng và nảy sinh tư tưởng học cho có - học đối phó

Giảng viên GDQP-AN phải có kiến thức về năng lực sư phạm và môi trường giáo dục Năng lực sư phạm là yếu tố hàng đầu để đánh giá giảng viên có khả năng đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu của các chức danh giảng dạy cao hơn.Vì vậy, đã là người dạy học phải luôn có ý thức và thực hiện các hoạt động cụ thể khác để nâng cao năng lực sư phạm Năng lực sư phạm được cấu thành bởi nhiều năng lực khác nhau như: năng lực nắm vững và làm chủ tri thức thuộc lĩnh vực giảng dạy của mình (năng lực này càng được mở rộng và liên kết đối với các lĩnh vực liên quan thì càng tốt); Năng lực soạn bài giảng (Giảng viên phải biết đưa các tri thức vào bài giảng một cách khoa học, chứng minh thực tiển bằng doạn video ngắn và hợp lý nhất); Năng lực dạy học trên lớp (Diễn đạt nội dung chính xác, mạch lạc, văn phong giản

dị, cường độ hợp lý, giọng nói biểu cảm, sử dụng thuần thục phương tiện dạy học hiện đại, áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, phù hợp); Năng lực ứng xử sư phạm (giải quyết các tình huống phát sinh trong giờ học, nắm bắt diễn biến tâm lý của sinh viên, thiết lập cơ chế tương tác phù hợp, sinh động, thân thiện để sinh viên tham gia tích cực vào hoạt động dạy và học)

Trong vai trò người nghiên cứu khoa học, giảng viên GDQP-AN có nhiệm

vụ nghiên cứu về tình hình Quốc phòng của thế giới cũng như trong nước, phân tích làm rõ cũng như đưa ra những dự báo chính xác, khách quan về diễn biến của quốc phòng trong từng giai đoạn cụ thể, nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy-học của môn học GDQP-AN

1.2 Tính tất yếu của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo

Trang 22

dục quốc phòng - an ninh trong trường đại học, cao đẳng

1.2.1 Xuất phát từ bối cảnh quốc phòng - an ninh quốc tế, khu vực và tình hình trong nước

Thế giới, trong những năm tới, dự báo tình hình thế giới vẫn có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, chứa đựng những yếu tố khó lường Cuộc đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt, quyết liệt trong bối cảnh mới Xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, bạo loạn lật đổ, khủng bố, li khai dân tộc sẽ còn xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới Cùng với đó, sự phát triển của khoa học và công nghệ làm cho một số loại hình chiến tranh xâm lược kiểu mới tiếp tục tồn tại và phát triển: “chiến tranh thông tin”, “chiến tranh công nghệ cao” để chống lại các nước có chủ quyền không lệ thuộc vào Mỹ làm cho bầu không khí chính trị quốc tế hết sức nóng bỏng

Bối cảnh QPAN thế giới sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp khó lường, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và

sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng Tình hình chính trị-an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh mạng, chiến tranh cục bộ, tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực

Khu vực, Đông Nam Á có khả năng phát triển năng động nhưng cũng tiềm

ẩn nhiều nhân tố mất ổn định, nơi tập trung nhiều mâu thuẫn của thế giới và khu vực Chủ nghĩa đế quốc đang lợi dụng những mâu thuẫn, yếu kém của khu vực để chống phá các nước Tình hình biển Đông diễn ra tranh chấp của nhiều nước trong khu vực, làm cho tình hình thêm căng thẳng và phức tạp tác động đến nhận thức tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân

Trung Quốc thực hiện chủ trương “chấn hưng dân tộc Trung Hoa”, trỗi dậy mạnh mẽ, chủ động can dự vào các vấn đề chính trị, kinh tế, ngoại giao, an ninh thế

Trang 23

giới; tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ lợi ích cốt lõi, giành chủ quyền biển, đảo ở biển Hoa Đông và Biển Đông nhằm trở thành cường quốc hàng đầu ở châu Á và thế giới, cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Mỹ; chủ động sử dụng con bài đầu tư, viện trợ kinh tế, lôi kéo, chi phối một số nước, chia rẽ ASEAN, Việt Nam, Lào, Campuchia

Trong nước, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá quyết liệt Đảng và Nhà nước ta, hòng làm tan rã niềm tin, chia rẽ nội bộ, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc nhằm tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, trong đó đối tượng thanh niên, sinh viên là trong những mục tiêu trọng điểm để chúng tiến công Bên cạnh đó, sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, biểu hiện ở lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích, chạy theo đồng tiền, đang làm phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong nhiều tầng lớp nhân dân, trong đó sinh viên rễ bị tác động, ảnh hưởng nhất Trên thực tế, trước sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, một bộ phận cán bộ đảng viên, đoàn viên thanh niên ở nhiều lĩnh vực hoạt động biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, hoài nghi về con đường xạ hội chủ nghĩa, giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, chạy theo lối sống thực dụng, đề cao chủ nghĩa

cá nhân, bàng quan với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những biểu hiện đó trực tiếp tác động đến nhiệm vụ giáo dục QPAN ở các trường đại học, cao đẳng, đến tâm tư tình cảm của đội ngũ giảng viên, đến chất lượng, hiệu quả giáo dục QPAN cho sinh viên

Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói riêng Quan điểm này thể hiện một cách sinh động quy luật dựng nước phải gắn liền với giữ nước của dân tộc ta trong tiến trình cách mạng, trong điều kiện lịch sử mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.Từ khi ra đời cho tới nay, Đảng ta luôn coi trọng lĩnh vực quốc phòng, an ninh và coi đó là một nội dung lãnh đạo của Đảng, một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn căn cứ vào nhiệm vụ của

Trang 24

cách mạng trong từng thời kỳ để từ đó xác định đúng đắn nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cho phù hợp Các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, chủ yếu và thông qua diễn biến hoà bình, với mục đích xoá bỏ chế

độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển hướng cách mạng nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa Thực tế cho thấy, các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các thế lực thù địch đối với nước ta vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức, âm mưu và với vô vàn thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Căn cứ vào nhiệm vụ của cách mạng, nắm bắt và phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước Đảng ta đã xác định đường lối, chủ trương lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như sau:

Một là, quốc phòng, an ninh là vấn đề trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam Đại hội XII của Đảng đã xác định “Tăng cường quốc phòng, an

ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội” [17, tr.141] Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam Quan điểm này luôn được cụ thể hoá cho phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của cách mạng ở từng giai đoạn cụ thể của đất nước Từ khi chưa có chính quyền cũng như khi đã giành được chính quyền, trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quốc phòng, an ninh là lĩnh vực trọng yếu trong đời sống xã hội Minh chứng cho điều này được thể hiện đầy đủ, sinh động trong các nghị quyết của Đảng ta ở các thời kỳ cũng như trong thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Trong thời kỳ đổi mới, để phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong

sự nghiệp quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo

vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các

Trang 25

thành quả cách mạng Quan điểm mang tính lý luận này về quốc phòng, an ninh

tiếp tục được Đảng ta khẳng định trong các kỳ đại hội tiếp theo của Đảng Cương

lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia,

trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân”[16, tr.82]

Như vậy, sự nghiệp xây dựng quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn Đảng, toàn dân; trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng Bên cạnh đó, để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới cần phải nắm vững những

tư tưởng chỉ đạo về việc kết hợp thực hiện các nhiệm vụ trong cùng một thể thống nhất, như kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế; phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quốc phòng, an ninh

Hai là, nền quốc phòng và an ninh mang tính chất của dân, do dân, vì dân phát triển theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại Đây là quan điểm xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa

và truyền thống của dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn hoà bình, ổn định trên tất

cả các phương diện, hướng tới quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với các quốc gia trên thế giới đặc biệt là những nước láng giềng; đồng thời, tạo ra môi trường an toàn, ổn định để phát triển đất nước Quan điểm này xác định tính chất của quốc phòng, an ninh cũng như mục đích và phương hướng phát triển quốc phòng, an ninh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Hiện nay quan điểm về xây dựng nền quốc phòng toàn dân đã được đổi mới

cả về nội dung lẫn tổ chức thực hiện Trước diễn biến phức tạp, gay gắt và quyết

Trang 26

liệt của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hiện nay trên thế giới, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, chúng ta cần tỉnh táo nhận biết rõ bạn – thù, đồng thời tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh đủ sức bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; ngăn chặn, đầy lùi, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp, phá hoại của các thế lực thù địch Để thực

hiện nhiệm vụ đó, Đảng ta đã khẳng định: “Xây dựng ‘thế trận lòng dân’; xây

dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” [17, tr.63]

Nền quốc phòng của nước ta là nền quốc phòng toàn dân, với tính tự vệ tích cực Mục tiêu của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hoà bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa Với tính chất, mục tiêu đó, nền quốc phòng và an ninh được xây dựng theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường và ngày càng hiện đại Phương hướng này chỉ rõ phải xây dựng , phát huy tiềm năng và lực lượng mọi mặt của đất nước cả về chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội vào cũng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia Văn kiện Đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: “Tăng cường nguồn

lực cho quốc phòng, an ninh.Tích cực, chủ động chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ Quốc trong mọi tình huống” [17, tr.63]

Trong quá trình tăng cường sức mạnh Quốc phòng- an ninh, phải quán triệt sâu sắc tính chất, nội dung, yêu cầu về toàn dân, toàn diện, tự lực, tự chủ, tự cường và hiện đại Đây chính là tư tưởng xuyên suốt quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc tăng cường sức mạnh Quốc phòng, an ninh trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Ba là, sức mạnh quốc phòng, an ninh là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, sức mạnh của thế trận Quốc phòng toàn dân và gắn với thế trận an ninh nhân dân

Quan điểm này chỉ rõ sức mạnh tổng hợp của nền Quốc phòng toàn dân và

Trang 27

an ninh nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Sức mạnh ấy là sự kết tinh, phản ánh sức mạnh của chế độ chính trị, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của trí tuệ và sức lực con người Việt Nam, của truyền thống dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước ta Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, là sức mạnh nguồn cội để

từ đó phát huy cao độ ý chí tự chủ, tự cường của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân thành một khối vững chắc, với niềm tin, sự quyết tâm không gì lay chuyển nổi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo

vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo

vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nhiệp hóa hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo

vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia , trật tựi an toàn xã hội” [17, tr.61- 62] Đây là quan điểm chỉ đạo các hoạt động xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cũng như tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới

Bên cạnh đó, Đảng và nhân dân ta cũng ý thức sâu sắc rằng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Đây là một chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn nhằm củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Trên cơ

sở chủ trương, chiến lược đó, chúng ta đã huy động và kết hợp được sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài tạo ra tiền đề thuận lợi cho việc giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước Sự kết hợp đúng đắn những nỗ lực của dân tộc, những khả năng và sức mạnh trong nước với sự giúp đỡ của quốc tế đã và

Trang 28

đang làm cho sức mạnh của chúng ta được nhân lên gấp bội Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay còn là sức mạnh của sự kết hợp giữa thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân trong một thể thống nhất, hoàn chỉnh Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII xác định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc” [17, tr.62]

Để thực hiện tốt sự chỉ đạo này, phải tiếp tục củng cố và hoàn thiện nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận

an ninh nhân dân trên từng địa bàn tỉnh, thành phố; đặc biệt, xây dựng thế trận trên các địa bàn chiến lược, gắn liền với việc xây dựng lực lượng chính quy, cơ động, tinh nhuệ

Bốn là, tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của toàn dân; trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Xác định cũng cố

quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị

và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” [17, tr.62] Quan điểm này xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, của toàn dân, của lực lượng vũ trang đối với vấn đề tăng cường quốc phòng, an ninh trong giai đoạn hiện nay ở nước ta Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, của toàn dân, các tổ chức kinh tế, xã hội đối với việc thực hiện các nhiệm vụ

về quốc phòng, an ninh

Năm là, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quốc phòng và

an ninh Đây là quan điểm nhất quán của Đảng, quan điểm này xác định nguyên tắc

lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; đồng thời, chỉ rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh ở nước ta

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kể từ khi có Đảng đã khẳng định, sự

Trang 29

lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, của sự nghiệp quốc phòng, an ninh nói riêng Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng là người lãnh đạo, tổ chức quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chỉ có Đảng mói có đủ năng lực tổ chức, động viên, huy động đầy đủ mọi khả năng của đất nước và lực lượng của nhân dân vào quá trình xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu, hành động của các thế lực thù địch Đảng đề ra đường lối, chiến lược quốc phòng - an ninh để lãnh đạo Nhà Nước và toàn xã hội triển khai các hoạt động xây dựng, củng cố nền Quốc phòng toàn dân, thế trận An ninh nhân dân

Sự nghiệp đổi mới của Nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, giữ vững sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội; thu nhập và đời sống của nhân dân được cải thiện Tuy nhiên còn nhiều tồn tại yếu kém và phát sinh những nhân tố mới ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, tham nhũng, quan liêu làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng Quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực còn yếu kém, nhiều vụ việc xảy ra do yếu kém trong quản lý nhà nước gây ra băn khoăn, lo lắng trong nhân dân

Kinh tế tuy ổn định và tăng trưởng nhưng chưa bền vững; năng suất, chất lượng hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp; đầu tư dàn trải, lãng phí còn lớn; tỷ lệ thất nghiệp, nghèo đói còn cao Tình hình tranh chấp, khiếu kiện của nhân dân, nhất

là khiếu kiện về đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng còn diễn biến phức tạp và chưa được giải quyết thoả đáng, gây bức xúc trong xã hội, các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, chia rẽ sự đoàn kết nhân dân với Đảng, Nhà nước

Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phải có giải pháp đột phá ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống,

Trang 30

quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, gắn bó tình cảm yêu nước với yêu chế độ, bảo

vệ Tổ quốc với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa

Bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt, vì vậy phải chăm lo xây dựng các lực lượng vũ trang có quân số hợp lý, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, được bố trí phù hợp trên các địa bàn chiến lược và có lực lượng cơ động mạnh, đồng thời tham gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các công trình trọng điểm, công trình phát triển kinh tế và phòng thủ biên giới, biển đảo, xây dựng các đơn vị kinh tế - quốc phòng giúp đỡ nhân dân khu vực biên giới, hải đảo, xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự

Phải có hệ thống kiến thức khoa học, tiến bộ, đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình

1.2.2 Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục quốc phòng - an ninh của các trường ĐH, CĐ

Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 03.05.2007 của Bộ chính trị xác định: “Giáo dục quốc phòng - an ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, việc phổ cập và tăng cường giáo dục quốc phòng là nhiệm vụ chung của Đảng, Nhà nước và toàn

xã hội; phải được chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương” [11, tr.2]

Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh quy định tiêu chuẩn giảng viên, giáo viên giảng dạy GDQP-AN: “Giáo viên, giảng viên GDQP-AN phải có trình độ cử nhân GDQP-AN trở lên; đối với người đã có trình độ cử nhân trở lên ở chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và chứng chỉ đào tạo giáo viên, giảng viên GDQP-AN” [26, tr.8] Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh đã thể hiện rõ những quy định về trách nhiệm của các chủ thể trong nhiệm vụ GDQP-AN, đặc biệt yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên làm công tác giảng dạy môn GDQP-

AN ở các trường học Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; nhận

Trang 31

thức đúng về nguồn gốc, bản chất chiến tranh; các quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân để tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Thông tư số 03/2017/TT-BGDĐT, ngày 13 tháng 01 năm 2017 của BGD&ĐT (xem Phụ lục 11) về việc “Ban hành chương trình giáo dục quốc phòng

và an ninh trong trường trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm và cơ sở giáo dục đại học” Kèm theo chương trình GDQP-AN, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 03 năm 2017 Thay thế Quyết định số 80/2007/QĐ-BGDĐTngày 24 tháng 12 năm

2007 của Bộ trưởng BGD&ĐT ban hành chương trình giáo dục Quốc phòng - an ninh trình độ trung cấp chuyên nghiệp và Thông tư số 31/2012/TT-BGDĐT ngày

12 tháng 9 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Chương trình giáo dục quốc phòng - an ninh trong trường cao đẳng sư phạm và cơ sở giáo dục đại học Theo đó tại chương 4 thông tư này có một số thay đổi so với thông tư

số 31/2012/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 9 năm 2012 là: từ 9 tính chỉ (135 tiết) lên

11 tính chỉ (165 tiết) và từ 3 học phần chia lại thành 4 học phần Cụ thể như sau;

“Cơ sở giáo dục đại học bao gồm: Đại học vùng, đại học quốc gia, trường đại học, học viện Căn cứ mục tiêu đào tạo và tính chất đặc thù của môn học, chương trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh trong các trường cao đẳng sư phạm và các cơ sở giáo dục đại học gồm 4 học phần với tổng thời lượng 165 tiết

Học phần I: Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam (gồm có 30 tiết lý thuyết)

Học phần II: Công tác quốc phòng và an ninh (gồm có 30 tiết lý thuyết) Học phần III: Quân sự chung, chiến thuật, kỹ thuật bắn súng ngắn và sử dụng lựu đạn (gồm 85 tiết, trong đó 20 lý thuyết - 65 tiết thực hành)

Học phần IV: Hiểu biết chung về quân, binh chủng (gồm 20 tiết, trong đó 10

lý thuyết- 10 tiết thực hành) [31, tr 6]

Đồng thời trang bị cho sinh viên những kiến thức về chiến tranh công nghệ cao; kiến thức về xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên,

Trang 32

phong trào toàn dân đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ biên giới, biển đảo Việt Nam

Nắm vững đường lối quân sự của Đảng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc,xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; bổ sung kiến thức về phòng thủ dân sự và những kỹ năng quân sự; sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; kết hợp phát triển kinh tế

xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; trên cơ sở đó góp phần nâng cao nhận thức

và ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác giáo dục quốc phòng - an ninh trong ngành giáo dục, công tác GDQP-AN cho sinh viên có những chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp đến việc tổ chức thực hiện GDQP-AN cho sinh viên ở nhà trường, đội ngũ giảng viên, giáo viên GDQP-AN cho sinh viên ở các trường đại học ngày càng có chất lượng, hiệu quả Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của ngành GD&ĐT Qua đó, BGD& ĐTcó đánh giá qua năm 2 thực hiện (từ năm 2014 đến 2016) của Đề án số 607/QĐ-TTg, ngày 24.4.2014 như sau “Đội ngũ giáo viên, giảng viên chưa đáp ứng kịp với yêu cầu đào tạo phát triển cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt có địa phương gần như chưa có giáo viên đã qua đào tạo dù ở bất

kỳ hình thức nào, chưa có phương án và giải pháp cụ thể cho việc tạo nguồn giảng viên giáo dục quốc phòng trong các trường đại học” [9, tr.24]

Công tác GDQP-AN phải được tiến hành toàn diện, đồng bộ, có chiều sâu; nội dung GDQP-AN cần tập trung tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về QPAN; xây dựng lòng yêu nước,

tự hào, tự tôn dân tộc cho học sinh, sinh viên; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là bản

Trang 33

chất thâm độc của chiến lược diễn biến hoà bình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của sinh viên đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi người giáo viên GDQP-AN phải có kiến thức tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên ngành khác nhau

Trang 34

Kết luận chương 1

Đội ngũ giảng viên GDQP-AN là lực lượng nòng cốt của các trường CĐ,

ĐH, chất lượng giảng viên đóng vai trò quyết định chất lượng giáo dục QPAN Chất lượng đội ngũ giảng viên ở các trường là tổng hòa những giá trị được tạo ra từ

số lượng cơ cấu tổ chức đội ngũ, phẩm chất chính trị, đạo đức, tinh thần trách nhiệm và trình độ năng lực của đội ngũ giảng viên; bảo đảm cho đội ngũ giảng viên thực hiện chức trách nhiệm vụ, đáp ứng mục tiêu yêu, cầu nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh của trung tâm Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục QPAN là yêu cầu vừa thường xuyên, vừa cấp thiết hiện nay

Giáo dục quốc phòng - an ninh là chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, góp phần nâng cao vị thế chính trị, quân sự của các nước trong khu vực

và trên thế giới Có vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Cần phải xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc, đảm bảo ổn định

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

Vì vậy, GDQP-AN là một trong những chủ trương chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà Nước ta hiện nay

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP

2.1 Những nhân tố tác động đến chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng-an ninh các trường Đại học, Cao đẳng, trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

2.1.1 Môi trường giảng dạy

Đây là một trong những yếu tố tác động không ít đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên GDQP-AN cả nước nói chung và đội ngũ giảng viên GDQP-AN tỉnh Đồng Tháp nói riêng Môi trường làm việc là một trong những vấn đề bao hàm tất cả những gì có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động và sự phát triển, nâng cao năng lực giảng dạy của mỗi giảng viên QPAN như: Sự quan tâm của ban BGH Trường tạo các điều kiện thuận lợi tốt nhất có thể,

cơ sở vật chất tiện nghi, đầy đủ, khang trang, các chế độ chính sách như chế độ đãi ngộ - lương- thưởng, mối quan hệ giữa lãnh đạo đối với đội ngũ giảng viên, công tác kiểm tra giám sát thường xuyên, dân chủ Môi trường làm việc tốt là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên QPAN, đồng thời quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhà trường

Xây dựng môi trường làm việc tốt là một trong những nội dung, nhiệm vụ hàng đầu mà BGH các trường quan tâm thực hiện; có môi trường làm việc tốt thì mỗi cá nhân cán bộ giảng viên mới có điều kiện làm việc tốt, phát huy hết khả năng của mình, chung sức thực hiện nhiệm vụ của đơn vị Bên cạnh đó, BGH các trường tạo những điều kiện cần thiết để cán bộ giảng viên tiếp cận với môi trường bên ngoài về trình độ công nghệ, khoa học - kỹ thuật nhằm theo kịp với tình hình kinh

tế, xã hội đang ngày một phát triển như hiện nay

Đây cũng là yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng, năng lực hoạt

Trang 36

động khoa học của Nhà trường, bởi lẽ, người giảng viên nếu có khả năng độc lập nghiên cứu khoa học, tự họ sẽ tự giác, chủ động tìm tòi, khám phá tri thức lý luận

và thực tiễn mới của nền QPAN Chỉ khi có trình độ, năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, người giảng viên mới có sự đam mê nghiên cứu sâu về các lĩnh vực mà mình giảng dạy mà không ngần ngại dành thời gian và công sức cho hoạt động này Tuy nhiên, những yếu tố này không phải tự nhiên có được mà mỗi người phải trải qua quá trình tự học, tự rèn, tự trau dồi khả năng viết, khả năng quan sát, nhận định, phân tích, đánh giá, xử lý một vấn đề Hơn nữa, nội dung và phương pháp trong một bài giảng đặt thù của môn học GDQP-AN cần có sự đầu tư một cách nghiêm túc khoa học Chỉ những ai có tâm huyết với nghề, những ai chịu đầu tư "hi sinh" lợi ích cá nhân vì sự nghiệp chung, không coi dạy học chỉ là "nghề kiếm tiền" thuần túy thì lúc đó mới có những sản phẩm khoa học trí tuệ thực sự góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN

Ngoài ra cần nói thêm về môi trường chuyên môn là những điều kiện, nhân

tố thuận lợi cho các hoạt động chuyên môn được diễn ra một cách bài bản, quy củ;

là nơi tổ chức các hoạt động chuyên môn một cách nề nếp để nâng cao chất lượng chuyên môn Một môi trường chuyên môn dân chủ, bình đẳng tạo điều kiện cho mỗi giảng viên thể hiện được năng lực soạn bài, giảng bài, ứng dụng công nghệ tin học trong thiết kế giáo án điện tử, năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn, kết hợp linh hoạt các phương pháp sư phạm tích hợp mới, tất yếu năng lực chuyên môn của đội ngũ sẽ được củng cố và phát huy; đồng thời, năng lực nghiên cứu khoa học của mỗi giảng viên cũng từ đó được nâng cao

Về tinh thần làm việc không khí khẩn trương, sôi động, cần mẫn, cẩn trọng, nghiêm túc từ mọi hoạt động trong môi trường làm việc và môi trường chuyên môn

sẽ thúc đẩy, cuốn hút mọi người vào guồng xoáy bận rộn nhưng đầy đam mê, hứng khởi, đồng thời truyền cảm hứng cho người khác Ngược lại, tâm trạng thoái mái, vui vẻ, niềm đam mê, sẵn sàng nghiên cứu lại là liều thuốc bổ tạo sự hứng khởi trong công việc, giúp cho chất lượng, hiệu quả, năng lực hoạt động khoa học được

Trang 37

nâng lên Thay vì tìm kiếm sự giúp đỡ hoặc chờ đợi sự đôn đốc, thúc ép từ phía người quản lý hoặc người khác, mỗi người sẽ thử thách chính mình và chịu trách nhiệm với những việc mình làm một cách nghiêm túc nhất có thể Đôi khi sự ỷ lại trong công việc sẽ là rào cản vô hình làm kiềm chế năng lực làm việc và nghiên cứu khoa học

Về điều kiện vật chất, phương tiện nghiên cứu khoa học, làm việc ổn định với phòng làm việc tương đối đầy đủ tiện nghi, máy vi tính, máy in, hệ thống mạng internet, thư viện điện tử, cổng thông tin điện tử thông suốt, sẽ góp phần tạo nên môi trường nghiên cứu khoa học thuận lợi Ngược lại, cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu những phương tiện, vật dụng cần thiết nêu trên sẽ cản trở hoặc làm cho các hoạt động khoa học trở nên trì trệ, kém năng động, ít hiệu quả Thực tế cho thấy không ít cơ quan, tổ chức, đơn vị có môi trường làm việc không tốt dẫn đến những hậu quả có thể nhìn thấy được như: chất lượng, hiệu quả làm việc kém; mất đoàn kết; thậm chí có nơi cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên có trình độ cao có năng lực xin thôi việc để chuyển công tác đến nơi khác có điều kiện tốt hơn

Một trong những yếu tố hết sức quan trọng nữa của GDQP -AN là đầu tư, phát triển phương tiện kỹ thuật dạy học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa nhằm

hỗ trợ cho đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo nhằm nâng cao chất lượng để đội ngũ giảng viên giảng dạy Giáo dục quốc phòng AN là môn học có tính đặc thù, cần có cơ sở vật chất và điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy học riêng biệt, nhất là khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực Để ứng dụng

có hiệu quả các phần mềm tin học hiện đại, cần phải có các phòng học chuyên dùng được trang bị thiết bị âm thanh, tranh ảnh, mô hình, học cụ, máy chiếu, máy tính, Các phòng học như thế sẽ dễ dàng giúp cho sinh viên hiểu rõ các nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh, như: về kỹ thuật, chiến thuật và nghệ thuật quân

sự Đặc biệt, nếu phòng học được trang bị máy bắn điện tử, máy bắn laze, thiết bị tập bắn như máy bắn tập, sẽ tạo cho các bài giảng về đường đạn, góc bắn, uy lực của vũ khí huỷ diệt lớn, kỹ thuật bắn súng trở nên hấp dẫn, sát với thực tế chiến

Trang 38

đấu, không những làm cơ sở để người học nắm chắc, hiểu sâu từng nội dung, mà còn có thể tự mình biết kết quả để điều chỉnh từng phát bắn Ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ tạo được sự hứng thú, say mê, rèn luyện bản lĩnh, tâm lý cho học viên, mà còn góp phần quản lý chặt chẽ, đánh giá chính xác, trung thực kết quả học tập, rèn luyện của từng sinh viên

Thực tế hiện nay điều kiện về môi trường của các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp phần nào đáp ứng được yêu cầu Tuy nhiên ngoài việc quan tâm của Ban giám hiệu và cơ sở vật chất của nhà trường thì các chế độ đãi ngộ cũng như chính sách khuyến khích thu hút nhân tài chưa thật sự cải thiện

2.1.2 Các chế độ, chính sách đối với giảng viên

Hiện tại đội ngũ giảng viên các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hưởng theo các chế độ chính sách được quy định trong Thông tư số 15/2015/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BQP-BCA-BNV-BTC, ngày 16 tháng 7 năm

2015 quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên GDQP-AN chính thức phát huy hiệu lực từ ngày 01 tháng 9 năm 2015 Đây là Thông tư liên tịch được ký kết của 6 Bộ: GD&ĐT, LĐ-TB&XH, Quốc phòng, Công an, Nội vụ và Bộ Tài chính quy định chế độ bồi dưỡng giờ giảng; chế độ trang phục; định mức giờ chuẩn giảng dạy đối với giáo viên, giảng viên GDQP-AN

và khung định mức giờ chuẩn giảng dạy đối với cán bộ quản lý GDQP-AN Đồng thời cũng được phụ cấp thêm chế độ phụ cấp ưu đãi cho nhà giáo theo quy định tại quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 6-10-2005 của Thủ tướng Chính phủ, giáo viên GDQP-AN được hưởng 1% mức lương cơ bản chung cho một tiết giảng ngoài sân (thực hành)

Trên cơ sở các chính sách đãi ngộ đối với giảng viên giáo dục QPAN, Đảng

ủy, Ban giám hiệu của các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp thường xuyên quan tâm, chăm lo giải quyết tốt các chính sách đãi ngộ đối với giảng viên, trước hết là chính sách cán bộ và đảm bảo cải thiện điều kiện làm việc, vật chất dạy học như văn phòng phẩm, tài liệu, giáo trình nghiên cứu, tiền giảng dạy và

Trang 39

nghiên cứu khoa học, giải quyết chế độ nghỉ hưu, chuyển công tác kịp thời, qua đó tạo được bầu không khí tâm lý tích cực, động viên được tinh thần hăng hái, sự nỗ

lực cố gắng vươn lên của mọi giảng viên giáo dục QPAN

Đây là nhân tố không thể thiếu bởi chế độ, chính sách, kinh phí hoạt động khoa học chính là tiền đề, là đòn bẩy, là động lực quan trọng để động viên, khuyến khích sự nỗ lực của đội ngũ giảng viên Trong xã hội, lợi ích kinh tế được coi là

"động lực cơ bản và trực tiếp", song đối với chế độ chính sách nếu được quan tâm thực hiện đúng mức, nó còn cho chúng ta nhiều hơn thế Chỉ tiêu, định mức công tác, các danh hiệu thi đua chỉ là một phần, điều quan trọng hơn cả là tư cách, phẩm giá, phẩm chất đạo đức, danh dự của một trí thức khó có thể "định giá" trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Những bất cập về chế độ, chính sách, sự quan tâm đãi ngộ chưa thỏa đáng, sự thiếu công bằng trong nhìn nhận, đánh giá, tôn vinh là nguyên nhân làm thui chột động lực và sự nhiệt tình của đội ngũ giảng viên Tuy nhiên ngoài các chế độ theo quy định trên thì nhìn chung chưa có giảng viên nào được hưởng thêm các chế độ đãi ngộ khác từ các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Đây cũng là một trong những vấn đề mà ban giám hiệu các trường cần quan tâm trong thời gian tới

2.1.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ

Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng theo đúng yêu cầu tiêu chuẩn của mỗi chức danh, hạng-ngạch, học hàm học vị Thường xuyên quan tâm đến chính sách khi cử đội ngũ đi học như hỗ trợ học phí, tạo điều kiện về thời gian cho đội ngũ giảng viên

có thể vừa học vừa làm yên tâm công tác Thông qua đào tạo, bồi dưỡng cơ quan, đơn vị có được đội ngũ giảng viên có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị vững vàn để đảm đương nhiệm vụ Bên cạnh đó, cần quan tâm đến việc thực hiện các chính sách đối với các đội ngũ giảng viên thuộc diện gia đình chính sách, thương binh, liệt sĩ, cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số Đây là những nội dung rất nhạy cảm trong công tác cán bộ

Đào tạo đội ngũ giảng viên GDQP-AN là kế hoạch hoá việc xây dựng, phát

Trang 40

triển đội ngũ GV, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ GDQP-AN trong tình hình mới Giảng viên GDQP-AN giữ vai trò quyết định đến chất lượng GDQP -AN cho SV Chỉ thị số 62-CT/TW ngày12 tháng 2 năm

2001của Bộ Chính trị về việc “tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân

trước tình hình mới” [10, tr 1] đã xác định giảng viên GDQP-AN là một trong sáu loại

hình GV cần được ưu tiên đào tạo Ngoài chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy, theo quy định của pháp luật hiện hành, giảng viên GDQP-AN còn phải kiêm nhiệm một số công tác khác như; tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương, ở cơ quan, nhà trường nơi mình công tác để giúp lãnh đạo cơ quan về chỉ đạo và tổ chức thực hiện các công tác QPAN theo quy định của pháp luật; chủ trì hoặc phối hợp hướng dẫn, tổ chức thi đấu các môn thể thao quốc phòng trong sinh viên Do vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên GDQP-AN là một công việc quan trọng của từng địa phương, không chỉ giữ vai trò quyết định đến chất lượng đội ngũ GDQP-AN

mà còn ảnh hưởng tới các hoạt động quốc phòng - an ninh của từng địa phương, Vì vậy mà mỗi địa phương phải có những kế hoạch cụ thể cho công tác đào tạo đội ngũ giảng viên GDQP-AN cho phù hợp

2.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh tại các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay

2.2.1 Đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh tại các trường

ĐH, CĐ tại Đồng Tháp

- Về số lượng, qua thống kê tại các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Đồng

Tháp tính đến tháng 5 năm 2017 có 16 giảng viên trực tiếp giảng dạy bộ môn GDQP-AN (xem Phụ lục 5) Theo quy định, đội ngũ giảng viên cơ hữu GDQP-AN của các trường ĐH, CĐ trên địa bàn Tỉnh Đồng Tháp hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng Trong đó; cơ cấu tổ chức trường Cao Đẳng nghề Đồng Tháp (xem Phụ lục 3), đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường hiện chỉ có 01 giảng viên làm công tác giảng dạy kiêm quản lý sinh viên và làm tham mưu đề xuất trường quân

sự địa phương Thành phố SaĐéc đến giảng dạy; cơ cấu tổ chức trường Cao Đẳng

Ngày đăng: 29/01/2021, 21:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh “vai trò, tầm quan trọng của môn GDQP-AN trong các trường của hệ thống giáo dục quốc dân” đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật (Bộ tư pháp) năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “vai trò, tầm quan trọng của môn GDQP-AN trong các trường của hệ thống giáo dục quốc dân”
[2] Bộ Quốc phòng (2007), Giáo trình Giáo dục Quốc phòng (Dùng cho bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh đối tượng 2), Tập 1, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục Quốc phòng
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 2007
[3] Bộ Quốc phòng (2007), Giáo trình Giáo dục quốc phòng (Dùng cho bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh đối tượng 1), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục quốc phòng
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 2007
[4] Bộ Quốc phòng (2009), Quốc phòng Việt Nam (Sách trắng Quốc phòng Việt Nam), Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc phòng Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2009
[5] Bộ Công an (2008), Giáo trình vận động quần chúng bảo vệ an ninh trật tự, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vận động quần chúng bảo vệ an ninh trật tự
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2008
[6] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Giáo trình Giáo dục quốc phòng - an ninh (Dùng cho đào tạo giáo viên GDQP-AN), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục quốc phòng - an ninh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
[7] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2014
[8] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Các văn bản hiện hành về Giáo dục quốc phòng - an ninh và công tác quốc phòng trong ngành giáo dục đào tạo, Nxb. Quân đội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản hiện hành về Giáo dục quốc phòng - an ninh và công tác quốc phòng trong ngành giáo dục đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Quân đội
Năm: 2010
[9] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Các văn bản hiện hành về Giáo dục quốc phòng - an ninh và công tác quốc phòng trong ngành giáo dục đào tạo, Nxb Quân đội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản hiện hành về Giáo dục quốc phòng - an ninh và công tác quốc phòng trong ngành giáo dục đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Quân đội
Năm: 2016
[10] Bộ Chính trị (2001), Chỉ thị số 62-CT/TW ngày12 tháng 2 năm về “tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trước tình hình mới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trước tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2001
[11] Bộ Chính trị (2007), Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 03.05.2007 về sự tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng – an ninh,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 12-CT/TW ngày 03.05.2007 về sự tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng – an ninh
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2007
[12] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Chỉ thị số: 57/2007/CT-BGDĐT, ngày 04 tháng 10 năm 2007 về “tăng cường công tác GDQP-AN trong ngành giáo dục”, Hà Nội.[13 Đại tá Đào Văn Chung “Đổi mới, nâng cao chất lượng GDQP và AN”, trên tạp chí Dân chủ và pháp luật (Bộ tư pháp) năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tăng cường công tác GDQP-AN trong ngành giáo dục”, Hà Nội. [13 Đại tá Đào Văn Chung “Đổi mới, nâng cao chất lượng GDQP và AN
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
[14] PGS.TS.GVCC. Đoàn Minh Duệ, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung (Đồng chủ biên) (2012), Giáo trình Chính trị học, Nxb. Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chính trị học
Tác giả: PGS.TS.GVCC. Đoàn Minh Duệ, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Nghệ An
Năm: 2012
[15] Trần Văn Duân “Phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh ở các trường đại học Đồng bằng sông Cửu Long”, luận văn thạc sĩ (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh ở các trường đại học Đồng bằng sông Cửu Long”
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia-sự thật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia-sự thật. Hà Nội
Năm: 2016
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[19] Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[20] Nguyễn Chí Hải (2015) “Nâng cao chất lượng độ ngũ giáo giáo dục quốc phòng an ninh ở trường Đại học An Giang trong giai đoạn hiên nay”.Luận văn thạc sĩ (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng độ ngũ giáo giáo dục quốc phòng an ninh ở trường Đại học An Giang trong giai đoạn hiên nay”
[21] GS.TS.NGND. Nguyễn Thiện Minh “Đổi mới phương pháp giảng dạy - khâu đột phá nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh”, đăng Tạp chí Quốc phòng toàn dân (số 1-2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp giảng dạy - khâu đột phá nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w