1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự lãnh đạo của đảng bộ cơ sở đối với ủy ban nhân dân cùng cấp ở huyện vũ quang, tỉnh hà tĩnh

98 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 730,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 và xuất bản thành sách; sách Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền của tác giả Lê Hữu Nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2014… Nội dun

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

………***………

NGUYỄN TUYẾT LAN

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN CÙNG CẤP Ở HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

NGHỆ AN, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

………***………

NGUYỄN TUYẾT LAN

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN CÙNG CẤP Ở HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: CHÍNH TRỊ HỌC

Mã số: 60310201

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thái Sơn

NGHỆ AN, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học với đề tài “Sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh” là kết quả của quá trình cố gắng của bản thân và sự giúp

đỡ của các thầy giáo, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học vừa qua

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thái Sơn đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết để hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Vinh, khoa Chính trị đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình Cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

Trong quá trình thực hiện đề tài mặc dù bản thân đã cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và hội đồng bảo vệ luận văn để bản thân bổ cứu, hoàn chỉnh đề tài được tốt hơn nhằm vận dụng vào thực tiễn ở địa phương công tác./

TÁC GIẢ

Nguyễn Tuyết Lan

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Những đóng góp mới của luận văn 6

7 Kết cấu luận văn 7

B NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN CÙNG CẤP 8

1.1 Một số khái niệm liên quan về tổ chức Đảng và chính quyền 8

1.1.1 Khái niệm Đảng lãnh đạo 8

1.1.2 Khái niệm chính quyền địa phương 10

1.1.3 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về Đảng lãnh đạo chính quyền 13

1.2 Vị trí, vai trò của Đảng bộ, chính quyền ở địa phương 22

1.2.1 Vị trí, vai trò của Đảng bộ cấp xã 22

1.2.2 Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân và chính quyền cấp xã 27

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền cơ sở nói chung và Ủy ban nhân dân cùng cấp nói riêng 28

Kết luận chương 1 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN CÙNG CẤP Ở HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH 33

Trang 5

2.1 Khái quát về đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh 33 2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 33 2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 34 2.2 Tình hình lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh 38 2.2.1 Thực trạng của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh 38 2.2.2 Những kết quả đạt được của Đảng bộ các xã, thị trấn ở huyện Vũ Quang trong việc lãnh đạo Ủy ban nhân dân cùng cấp và chính quyền cơ sở 42 2.2.3 Những tồn tại, hạn chế của Đảng bộ xã, thị trấn trong việc lãnh đạo Ủy ban nhân dân cùng cấp và chính quyền cơ sở ở huyện Vũ Quang 55 Kết luận chương 2 62 CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN CÙNG CẤP Ở HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH 64 3.1 Quan điểm tăng cường sự đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh 64 3.1.1 Nội dung lãnh đạo của Đảng ủy đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp phải đảm bảo tính toàn diện, tuyệt đối 64 3.1.2 Kết hợp đổi mới nội dung với đổi mới phương thức lãnh đạo trong quá trình tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp 66 3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sự lãnh đạo của Đảng bộ xã đối với

Ủy ban nhân dân cùng cấp ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay 68 3.2.1 Nâng cao nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân

về vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn của Đảng bộ xã 68 3.2.2 Nâng cao năng lực, phẩm chất chính trị cho cán bộ đảng ủy các xã, thị trấn nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp 70

Trang 6

3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy cơ sở đối với chính

quyền và Ủy ban nhân dân cùng cấp 75

3.2.4 Đảng ủy cơ sở cần tăng cường chỉ đạo hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp 78

3.2.5 Đảng ủy cần tăng cường chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc giám sát, phản biện đối với chính quyền 81

Kết luận chương 3 82

C KẾT LUẬN 84

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

tố lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối trên tất cả mọi phương diện Nội dung này đã được khẳng định trong Điều 4, Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Nhà nước có làm tốt, làm đúng theo chủ trương của Đảng thì sẽ được nhân dân đồng tình, hưởng ứng tích cực, tạo nên sức mạnh

to lớn để xây dựng chủ nghĩa xã hội Nếu Nhà nước không làm tốt vai trò của mình thì sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đó là nguy cơ đe doạ đến sự tồn vong của Đảng và chế độ

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoàn thành chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh có vai trò làm cầu nối trực tiếp giữa toàn

bộ hệ thống chính trị với nhân dân Đây là đơn vị hằng ngày tiếp xúc và làm việc với nhân dân Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn có nhiệm vụ chuyển hóa đường lối của Đảng bộ huyện, xã thành những chính sách đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh thực tế địa phương nhằm mục đích phát triển địa phương Ngoài ra,

Ủy ban nhân dân cũng là đơn vị nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước làm cho nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực

Trang 8

2

Những năm qua, cùng với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, các Đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Vũ Quang luôn chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, xem đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết của Đảng Nhờ đó,

Ủy ban nhân dân xã, thị trấn luôn được quan tâm củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng đồng bộ, hiệu quả; bộ mặt nông thôn huyện Vũ Quang ngày càng khởi sắc, tạo được niềm tin giữa Đảng, chính quyền với nhân dân

Trước yêu cầu thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế - quốc tế trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh và mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở huyện Vũ Quang, nhằm tiếp tục phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, yếu kém về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân ở Huyện Vũ Quang, vấn đề rất cần thiết và cấp bách đặt ra là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và tìm ra những giải pháp để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân Vì thế,

chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy

ban nhân dân cùng cấp ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh” để làm luận văn tốt

nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Ủy ban nhân dân các cấp là một vấn đề quan trọng, có tính cấp bách, có tính thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu và cán bộ khoa học của Đảng và Nhà nước Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như:

Chương trình khoa học cấp Nhà nước: Đề tài cấp Nhà nước KX 05.09

(giai đoạn 2001 - 2005) có các chuyên đề: Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo

chính quyền; đề tài cấp Nhà nước KHXH 05.03 (giai đoạn 1996 - 2000), Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước do tác giả Trần Đình Nghiêm

làm chủ biên đã nghiệm thu và in thành sách; đề tài cấp Nhà nước (giai đoạn

2001 - 2005), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và

chính quyền các cấp do tác giả Phạm Ngọc Quang làm chủ nhiệm đã nghiệm thu

Trang 9

3

và xuất bản thành sách; sách Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền của tác giả Lê Hữu Nghĩa, Nxb Chính trị

Quốc gia Hà Nội (2014)… Nội dung các đề tài, sách đã đề cập đến những vấn

đề cơ bản như sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là tất yếu khách quan, là tiền đề và điều kiện để Nhà nước giữ vững tính chất xã hội chủ nghĩa, bản chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của mình Đảng phải luôn củng cố, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước, nắm chắc vai trò cầm quyền của mình - cầm quyền vì lợi ích của nhân dân Nội dung chủ yếu sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là Đảng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn để xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước

và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; tăng cường quản lý cán bộ, Đảng viên trong bộ máy Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh; tăng cường kiểm tra tổ chức Đảng và Đảng viên trong cơ quan Nhà nước, các tổ chức sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp Nhà nước trong việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước…

Bên cạnh đó, trên các tạp chí khoa học cũng có nhiều bài viết về nội dung

này Tác giả Nguyễn Trọng Phúc trong bài: Nhà nước pháp quyền và vai trò

lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 7/2014

đã khẳng định: Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền càng phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Đảng lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước Quyết định tổ chức bộ máy Nhà nước và bố trí, phân công cán bộ Kiểm tra hoạt động của Nhà nước và lãnh đạo nhân dân, hệ thống chính trị tham gia xây dựng, quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước và cán bộ, công chức…

Tác giả Hà Thị Khiết trong bài: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để

nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 3/2014 đã nêu lên rằng: xây dựng Đảng

Trang 10

4

không chỉ là công việc của Đảng mà còn là công việc của nhân dân Nhân dân luôn góp ý, nêu sáng kiến tham gia xây dựng đường lối của Đảng và chính nhân dân là lực lượng thực hiện hăng hái, có hiệu quả đường lối đó; nhân dân giám sát cán bộ, Đảng viên, công chức và các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật…; Liên quan đến vấn

đề này, tác giả Nguyễn Thế Trung cũng có bài: Về lòng dân, ý Đảng trong giai

đoạn hiện nay đăng trên Tạp chí Cộng sản số 5/2015, đã đưa ra kết luận: Đảng

ta từ nhân dân mà ra, ý Đảng bắt nguồn từ lòng dân và chính lòng dân đã kết thành ý Đảng Đảng lãnh đạo Nhân dân thì Nhân dân cũng có quyền nói lên ý kiến của mình Ý Đảng không thể khác với lòng dân…

Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị cũng đã luận giải về

sự lãnh đạo của Đảng ở các cấp độ khác nhau: Đổi mới phương thức lãnh đạo

của thành ủy đối với chính quyền Tỉnh Hà Tĩnh hiện nay - thực trạng và giải pháp, của Trần Vĩnh Tuyến, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2005); Sự lãnh đạo của Huyện ủy đối với

chính quyền huyện Đông Anh thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, của

Tô Văn Minh, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh (2006) [45]; Sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với

chính quyền cơ sở ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay, của

Trần Văn Tường, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh (2006) [54]; Sự lãnh đạo của Đảng đối với HĐND huyện

Bù Đăng, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay, của Nguyễn Hoàng Giang,

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Trường Đại học Vinh (2015) [28]… Các tác giả đã bàn đến sự lãnh đạo của Đảng, phương thức lãnh đãnh của Đảng đối với chính quyền, Hội đồng nhân dân trên từng địa bàn cụ thể trong thời gian qua

cũng như những năm tiếp theo trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ

Như vậy, các chương trình, đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học nêu trên phần lớn đi vào nghiên cứu những vấn đề lớn, những vấn đề chung về Đảng lãnh đạo Nhà nước Nhưng dưới góc độ của chuyên ngành Chính

Trang 11

5

trị học, sự lãnh đạo của Đảng đối Ủy ban nhân dân nói chung và đối với Ủy ban nhân dân cấp cơ sở nói riêng chưa được các tác giả đi sâu nghiên cứu Có thể nói, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở Huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh Do đó chúng tôi cho rằng việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề này vừa có tính cấp bách cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở Huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và Ủy ban nhân dân nói chung

- Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở Huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua

- Thứ ba: Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về vai trò và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Cụ thể, đề tài nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng

bộ cấp cơ sở đối với chính quyền và Ủy ban nhân dân cùng cấp trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

Trang 12

6

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung sự lãnh đạo của các Đảng bộ xã, thị trấn đối với các Ủy ban nhân dân cùng cấp thuộc địa bàn Huyện Vũ Quang Tỉnh Hà Tĩnh trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2020

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của Đảng cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi dự kiến sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:

- Phương pháp lịch sử - lôgic,

- Phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh

- Phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa

- Phương pháp thống kê…

6 Những đóng góp mới của luận văn

Đề tài góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân; phân tích đóng góp những kinh nghiệm

về sự lãnh đạo của các Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu tham khảo cho các Đảng bộ cơ sở huyện Vũ Quang trong quá trình lãnh đạo chính quyền Ngoài ra, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục

Trang 13

7

vụ nghiên cứu và giảng dạy môn xây dựng Đảng ở Trường Chính trị Tỉnh Hà

Tĩnh và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện của Tỉnh Hà Tĩnh

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu thành 3 chương, 9 tiết

Trang 14

8

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ

ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN CÙNG CẤP

1.1 Một số khái niệm liên quan về tổ chức Đảng và chính quyền

1.1.1 Khái niệm Đảng lãnh đạo

Hiến pháp 1992 và 2013 đã hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Sự lãnh đạo của Đảng đối với thể chế chính trị và đối với toàn

xã hội là một nguyên tắc bất di bất dịch, là một nguyên lý đối với thể chế chính trị Việt Nam hiện nay Trong lịch sử xây dựng, phát triển của thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện một cách khác nhau thông qua các thời kỳ cách mạng Qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy trong các quan

hệ xã hội, thì quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo là một trong những quan

hệ chính yếu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Cho nên, vấn đề lãnh đạo và quản lý đã trở thành đối tượng nghiên cứu và bàn luận của các nhà tư tưởng, các nhà chính trị Ở Việt Nam, mãi tới những năm gần đây, mới xuất hiện những đầu sách, chuyên luận bàn về lãnh đạo, quản lý, vấn đề lãnh đạo và quản lý cũng dần được làm rõ Có thể nói ở góc độ chung nhất, “lãnh đạo là sự ảnh hưởng mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo, thông qua quá trình thông tin để đạt tới mục tiêu cụ thể” [27, tr.14] Trên cơ sở những dấu hiệu chung của khái niệm lãnh đạo, chúng ta có thể hiểu: “Lãnh đạo là một chức năng hoạt động xã hội của con người (cá nhân hay tập thể) bằng phương pháp tác động, gây ảnh hưởng, thuyết phục (một cá nhân, một tập thể, một cộng đồng xã hội, một dân tộc) nhằm tổ chức các mối quan hệ, tập hợp các thành viên, để huy động mọi khả năng và ý chí của họ, hành động đạt những mục tiêu chung, đã xác định” [23, tr.35]

Trang 15

9

Một số công trình nghiên cứu đi sâu vào việc phân biệt khái niệm lãnh đạo với khái niệm quản lý, chỉ ra dấu hiệu đặc trưng của khái niệm lãnh đạo ở chỗ nó hướng vào việc “nhận thức, lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh của hệ thống; làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống (bao gồm việc phân tích các mâu thuẫn trong quá trình phát triển), phát hiện nhân tố mới; tổng kết được quy luật, xu thế phát triển của hệ thống; đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống” [27, tr.18] Nói khái quát nhất, lãnh đạo là: “đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện” [45, tr.568] Mặc dù, phân tích, đánh giá ở những điểm khác nhau, nhưng điểm chung các tác giả đều nhất trí đặc trưng của lãnh đạo là tính định hướng và sự vươn tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu rằng lãnh đạo là khả năng, tài năng vạch phương hướng, chỉ đường và bằng

ý chí, niềm tin, phẩm hạnh của mình (của tổ chức) nhằm lôi cuốn, cổ vũ mọi người thực hiện mục tiêu của cá nhân, tổ chức đã định

Đối với hệ thống chính trị Việt Nam, sứ mệnh lịch sử của Đảng là cầm quyền và lãnh đạo đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về đảng nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, đã lý giải nhiều về đảng lãnh đạo Sự tương đồng cao về khái niệm đảng lãnh đạo thể hiện ở chỗ: tính định hướng chính trị, tổ chức lực lượng, thuyết phục, truyền bá các quan điểm tư tưởng nhằm lôi kéo các tầng lớp khác trong xã hội đi theo và thực hiện những mục tiêu chính trị của đảng Còn khi nói Đảng Cộng sản lãnh đạo là nói Đảng đưa ra những định hướng về quan điểm, nguyên tắc xây dựng đất nước theo mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội; lựa chọn các nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và vận động thuyết phục, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hiện cho bằng được các mục tiêu ấy

Đảng Cộng sản Việt Nam là một yếu tố cấu thành của hệ thống chính trị

và đồng thời cũng là hạt nhân của hệ thống đó Đảng có quyền lực chính trị được toàn thể nhân dân thừa nhận và được xác lập thông qua thực tiễn cách

Trang 16

10

mạng lâu dài Một số tác giả còn phân tích khái niệm “Đảng cầm quyền” để phân biệt với khái niệm “Đảng lãnh đạo” Theo các nhà chính trị học, các nhà tư tưởng ở phương Tây, thì thuật ngữ “Đảng cầm quyền”, “Đảng chấp chính”,

“Đảng nắm chính quyền” đã được dùng từ lâu ở các nước phương tây để chỉ rõ

vai trò, vị thế và trách nhiệm của Đảng khi đã có chính quyền; phân biệt Đảng

nắm chính quyền với những Đảng không nắm chính quyền, chưa dành được chính quyền hoặc vị trí đối lập Dù diễn đạt ngôn từ hay chỉ ra các đặc điểm khác nhau trong chi tiết, nhưng hầu hết các ý kiến đều thể hiện quan điểm chung

đó là: Đảng cầm quyền có nghĩa là Đảng lãnh đạo chính quyền, chi phối chính quyền, làm cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện và thực hiện tư tưởng, đường lối của Đảng đó, phù hợp với lập trường và phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mà Đảng đó đại diện Xét về bản chất, Đảng cầm quyền tức là Đảng lãnh đạo trong điều kiện có chính quyền Đảng cầm quyền là Đảng đã chi phối, dẫn dắt chính quyền, sử dụng quyền lực nhà nước trên thực tế để thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng Như vậy chúng ta có thể hiểu dù ở cấp nào, từ trung ương đến chính quyền cơ sở thì đều chịu sự lãnh đạo của Đảng cấp đó

1.1.2 Khái niệm chính quyền địa phương

Nhà nước là thiết chế gắn với lãnh thổ quốc gia nên một trong những công việc đầu tiên của Nhà nước là phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, đồng thời thiết lập quyền lực, bộ máy quản lý trên các đơn

vị hành chính lãnh thổ Số lượng cơ quan hành chính địa phương được quyết định bởi số lượng đơn vị lãnh thổ, số lượng các cấp chính quyền nhằm thực hiện quyền lực trên lãnh thổ đó Vì vậy, có thể hiểu rằng bộ máy quản lý, điều hành trên các đơn vị hành chính lãnh thổ được gọi là chính quyền địa phương hay Chính quyền địa phương là hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức ở địa phương để thực hiện quản lý, điều hành công việc của nhà nước trên địa bàn địa phương Ở đây ta có thể nghiên cứu đến bản chất của vấn đề chứ không phải bản thân thuật ngữ chính quyền địa phương Có thể thấy rằng thuật ngữ chính quyền

Trang 17

11

địa phương chỉ là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những thiết chế được thành lập

để quản lý, điều hành trên đơn vị lãnh thổ nhất định và để quản lý, điều hành trên một đơn vị lãnh thổ Những thiết chế đó có nhiệm vụ, quyền hạn như pháp luật quy định và đó là những thiết chế quyền lực nhà nước hay quyền lực của cộng đồng lãnh thổ ở địa phương, tùy theo những quy định của từng quốc gia Điều này phụ thuộc vào hệ thống chính trị, hình thức chỉnh thể của nhà nước, tùy thuộc vào trình độ phát triển của nền dân chủ xã hội, vào cách thức quản lý

xã hội của nhà nước và nhiều yếu tố khác

Trong từ điển Tiếng Việt, khái niệm chính quyền địa phương được hiểu là

“bộ máy điều hành, quản lý công việc của Nhà nước ở các cấp” Chính quyền hay quyền lực, được hiểu là quyền và khả năng buộc một ai đó phải lệ thuộc vào

ý chí của mình” [58, tr 450]

Thuật ngữ “Chính quyền địa phương” được phổ biến trong đời sống chính trị - xã hội, khoa học, chính trị, luật học, trong nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong một số văn bản pháp luật ở nước ta từ trước đến nay Tuy nhiên, chưa có một văn bản hiện hành nào giải thích rõ ràng và đầy đủ về khái niệm “Chính quyền địa phương” Chính quyền được thiết lập trên các đơn vị hành chính của quốc gia luôn là quyền lực nhà nước chính thống nên nhà nước thực hiện quyền lực trên đơn vị hành chính lãnh thổ theo đúng các quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ

Nhà nước là một tổ chức công quyền chính thống trong xã hội, vì vậy chính quyền được thiết lập trên đơn vị hành chính của quốc gia là quyền lực nhà nước chính thống, do đó những thiết chế được thành lập để thực hiện quyền lực nhà nước trên đơn vị lãnh thổ luôn phải hợp hiến và hợp pháp, có nhiệm vụ quyền hạn được Hiến pháp và pháp luật quy định và bảo vệ

Các thiết chế được thành lập để quản lý trên các đơn vị lãnh thổ, có thể tham gia vào các quan hệ dân sự với tư cách là pháp nhân, đồng thời những cơ quan đó đại diện cho quyền lực nhà nước, thay mặt nhà nước hay nhân dân địa

Trang 18

12

phương tham gia vào các mối quan hệ mang tính quyền lực hay một số quan hệ kinh tế với tư cách là một pháp nhân công pháp - đại diện cho cộng đồng lãnh thổ để thực hiện những công việc chung của cộng đồng lãnh thổ thông qua việc

ký kết các hợp đồng hành chính, thực hiện công vụ nhà nước Các thiết chế được thành lập để quản lý có các nhiệm vụ, quyền hạn nhất định do pháp luật quy định đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định

Có thể hiểu chính quyền địa phương là thiết chế nhà nước hay thiết chế tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phương có tư cách pháp nhân quyền lực công, được thực hiện một cách hợp hiến, hợp pháp để quản lý, điều hành mọi mặt đời sống mọi mặt đời sống xã hội trên một đơn vị hành chính lãnh thổ của một quốc gia, trong giới hạn thẩm quyền, thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy rằng, khái niệm chính quyền địa phương được phân hóa theo hai quan điểm: quan điểm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp và quan điểm chính quyền địa phương theo nghĩa rộng

Theo quan điểm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp: Hiến pháp và pháp luật nước ta khi quy định về chính quyền địa phương thường đề cập đến 2

cơ quan: Cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương tức là Hội đồng nhân dân

và cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương là Ủy ban nhân dân hay còn gọi

là Ủy ban hành chính Chương V của Hiến pháp năm 1946 và chương VII của Hiến pháp năm 1959 quy định “Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính”, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 cũng có tên chương là “Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, chúng ta có các luật với tên gọi của hai luật cũng là 2 cơ quan này Ví dụ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983, năm 1989, năm 2003 Nhưng có một ngoại lệ là sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc, ngày 29/4/1958 tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I đã thống qua Luật

Trang 19

13

số 110 với tên gọi là: “Luật tổ chức chính quyền địa phương”, hiện nay là Luật

tổ chức Chính quyền địa phương

Để xác định rõ bản chất pháp lý, cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương hiện nay ở nước ta cần nhấn mạnh một số nội dung cơ bản như chính quyền địa phương của nước ta hiện nay được quan niệm là bộ phận hợp thành, gắn bó hữu cơ của chính quyền nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý thông qua đó nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình ở địa phương

Không phải mọi cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở địa phương, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương đều nằm trong cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương Như vậy chính quyền địa phương của nước

ta, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 được tổ chức 3 cấp đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, thị xã (gọi chung là cấp huyện); xã, thị trấn, phường (gọi chung là cấp xã) Ở tất cả các đơn vị hành chính nói trên, không phân biệt sự khác nhau về vị trí, tính chất, vai trò ở thành thị hay nông thôn, đều được xác định cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều tổ chức Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân

Trong phạm vi của luận văn này, khái niệm chính quyền địa phương cấp

cơ sở được giới hạn ở vai trò, chức năng, vị trí của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn, là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc, làm việc hàng ngày với người dân tại các địa phương trong cả nước

1.1.3 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về Đảng lãnh đạo chính quyền

Trong sự nghiệp nghiên cứu của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê nin đã dành sự quan tâm thích đáng cho vấn đề Đảng lãnh đạo chính quyền V.I Lênin đã chỉ ra rằng chỉ có một Đảng chân chính mới bảo đảm duy nhất cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản tác động đến mọi quá

Trang 20

14

trình xã hội, trước hết là thông qua hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội Vai trò lãnh đạo của Đảng là ở chỗ lãnh đạo nhà nước, các tổ chức xã hội, thông qua các tổ chức này, Đảng lãnh đạo toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Lênin chỉ ra rằng: “Trong nước cộng hoà chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan Nhà nước giải quyết mà lại không

có chỉ thị của Ban Chấp hành trung ương Đảng” [32, tr38] Tuy nhiên, sau khi lãnh đạo chính quyền, Lênin cũng đã phát hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước có dấu hiệu không cụ thể, chồng chéo Lênin đã yêu cầu: cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của Đảng (và của Ban Chấp hành Trung ương của nó) với nhiệm vụ chính quyền Xô Viết và các cơ quan Xô-Viết, còn về Đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt như hiện nay

Với quan điểm duy vật biện chứng và khoa học về lịch sử, C.Mác đã chứng minh quá trình chuyển biến vai trò lãnh đạo sang tay giai cấp công nhân, xuất phát từ sự phát triển của lực lượng sản xuất là một tất yếu lịch sử Thông qua việc giành được quyền lực nhà nước bằng cách lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản đã thiết lập nên nhà nước của mình, thiết lập nên quyền lãnh đạo đối với nhà nước Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã chỉ rõ:

“Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp

vô sản là giai cấp thực sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [35, tr.610]

Trong cuộc đấu tranh giai cấp có tính lịch sử này, giai cấp vô sản cần có một đảng chân chính lãnh đạo - Đảng cộng sản Bởi vì lịch sử đấu tranh giai cấp

đã khẳng định một điều, để giành được thắng lợi tất yếu phải xây dựng được cho mình một Đảng cách mạng Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản Đó là những người kiên quyết nhất, là bộ phận cổ vũ tất cả các bộ phận

Trang 21

Theo C Mác và Ph.Ăngghen: “cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản ở nước mình đã” [34, tr 611] Và “Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu”[33, tr623-624]

Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn dành

sự quan tâm đến việc xây dựng tổ chức Đảng Người xác định: “Trước hết phải

có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” [36, 267-268] Người đã tập trung xây dựng và rèn luyện những chiến sĩ cách mạng ưu tú

từ các giai cấp, tầng lớp lao động để hình thành một Đảng cách mạng chân chính Người cũng yêu cầu chính phủ (suy rộng ra là cơ quan nhà nước các cấp) phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết: “việc gì có lợi cho dân thì phải làm, việc

gì có hại cho dân thì phải tránh” [37, 22] Bác luôn khẳng định nhà nước là của dân Đảng đại diện cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động, lãnh đạo nhà nước thực thi nhiệm vụ mà nhân dân giao phó Do vậy, quyền lực là thống nhất, không có sự phân chia quyền lực Người cho rằng: “trong Đảng và Nhà nước ta

Trang 22

16

có sự phân công chặt chẽ như các bộ phận trong chiếc kim đồng hồ; cái kim dây cót khác nhau nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau Thiếu một bộ phận nào cũng không được” [38, 555-556] Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng đã từng lưu ý rằng, trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, để tránh những sai lầm, khuyết điểm, Đảng phải không ngừng phát huy dân chủ trong sinh hoạt và công tác, đảm bảo sự lãnh đạo tập thể, đi đúng đường lối quần chúng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, chống độc quyền, độc đoán, kéo bè, kéo cánh Để phát huy dân chủ trong điều kiện một Đảng cầm quyền, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” Đảng lãnh đạo là một cách thức (quan trọng nhất) mang lại lợi ích cho giai cấp công nhân, cho dân tộc và quốc tế Lợi ích đó là chính trị, kế tiếp là các lợi ích khác, nhằm đạt được dân chủ, bình đẳng, công bằng, văn minh,… Ngoài ra, không có một tổ chức nào có thể thay thế Đảng Cộng sản trong việc mang lại lợi ích cho số đông người lao động

Thực hiện quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã từng bước hoàn thiện về quan niệm Đảng lãnh đạo Nhà nước và cơ quan Nhà nước các cấp Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý Đó là các nhiệm vụ: Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể; xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội và cụ thể hoá chiến lược

đó thành những kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; quản lý hành chính - xã hội

và hành chính - kinh tế; điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn xã hội theo kế hoạch, giữ vững pháp luật, kỹ cương nhà nước và trật tự xã hội, giữ vững quốc phòng và an ninh

Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nêu rõ quan điểm cần thiết sữa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn

Trang 23

17

các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước

Tổ chức và hoạt động bộ máy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó

Đại hội VII cũng đã chủ trương cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, coi trọng hoạt động của tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm và quyền hạn các cá nhân của người đúng đầu chính phủ, đứng đầu bộ, ngành trong quản lý và điều hành Theo đó, nghị quyết hội nghị Trung ương 2 (12-1991), khoá VII, nhấn mạnh: “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là điều kiện quan trọng nhất để tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, làm cho sự lãnh đạo của Đảng có chất lượng và có hiệu quả hơn, đồng thời làm cho sự quản lý và điều hành của Nhà nước có hiệu quả, pháp luật được tôn trọng, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy” [16, 56] Đảng lãnh đạo Nhà nước chứ không làm thay Nhà nước Cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ

và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Nhà nước thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng

Thực hiện quan điểm chỉ đạo đó, ngày 15 tháng 4 năm 1992, Quốc hội khoá VIII đã thông qua Hiến pháp sữa đổi, quy định những vấn đề cơ bản nhất

về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII (1/1995), khoá VII, chủ trương tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa” [17, 78] Nghị quyết Trung ương 3 (6/1997), khoá VIII, đã khẳng định những thành tựu quan trọng về xây dựng

Trang 24

18

Nhà nước pháp quyền XHCN và những đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan Nhà nước

Nghị quyết Hội nghị Trung ương VII (năm 1999), khoá VIII, chủ trương tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong tổng thể bộ máy của hệ thống chính trị Coi cải cách hành chính là nhiệm vụ thường xuyên, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác cải cách hành chính

Đại hội IX của Đảng đã tiếp tục khẳng định nội dung tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho

sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của đảng

và Hiến pháp, pháp luật của nhà nước”[18, tr.98] Để cụ thể hoá nghị quyết đại hội, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX đã ban hành Nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”

Việc khẳng định Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng (Văn kiện Đại hội

IX của Đảng và Điều 2, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 1992 sửa đổi,

bổ sung) đã thể hiện bước phát triển mới về quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời cũng là sự đổi mới có tính nguyên tắc trong quan hệ giữa Đảng với Nhà nước nói chung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với

hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng Nó đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn chỉnh cả về phía Đảng và cả phía Nhà nước

Đại hội X đã nêu rõ “Đảng phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nhất là phương thức lãnh đạo Nhà nước, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo

và sức chiến đấu của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân Phải xây dựng hệ thống các quy chế về sự lãnh đạo của Đảng ở các ngành, các cấp Đảng hoạt động

Trang 25

hệ thống chính trị phát huy vai trò, vị trí của mình Ngược lại, nếu phương thức lãnh đạo của Đảng không tốt, sẽ kìm hãm sự phát huy năng lực của các tổ chức trong hệ thống chính trị Do vậy, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, đó cũng chính là điều kiện để tổ chức cơ sở Đảng thực hiện tốt chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng ở cơ sở

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Tập trung rà soát, bổ sung, điều chỉnh, ban hành mới, xây dựng đồng bộ hệ thống các quy chế, quy định, quy trình công tác để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị Khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước” [20, 264]

Như vậy, qua các kỳ đại hội và các hội nghị Trung ương Đảng, Đảng ta từng bước hoàn thiện về quan niệm Đảng lãnh đạo Nhà nước và cơ quan nhà nước các cấp Có thể nhận thấy rằng, mạch tư duy về nội dung Đảng lãnh đạo Nhà nước được xác định khá rõ: Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, các nghị quyết, nguyên tắc giải quyết các vấn

đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng Đảng tập trung lãnh đạo xây dựng Nhà nước thực sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, có phân công, phân cấp quản lý, tôn trọng, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và người đứng đầu các tổ chức trong công tác cán bộ

Trang 26

Đảng ngày càng xác định rõ hơn nội dung của phương thức lãnh đạo và các phương thức, các con đường đổi mới phương thức lãnh đạo Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991), đã chỉ rõ: "Đảng lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị" "Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng

Trang 27

21

thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu

sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được đổi mới theo hướng không ngừng mở rộng dân chủ và công khai; các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng phát huy vai trò tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân và vai trò người phản biện đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Đảng và các tổ chức Đảng ngày càng coi trọng và tôn trọng vai trò các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp Vai trò của các tổ chức Nhà nước ngày càng được phát huy, được đổi mới

về tổ chức và phương thức hoạt động, tính chủ động, hiệu lực và hiệu quả ngày càng được nâng cao Ngày càng phân định rõ hơn chức năng của các tổ chức Đảng và các cơ quan Nhà nước, nhất là ở trung ương, giảm bớt sự chồng chéo, lấn sân của nhau

Bên cạnh đó, Đảng đã bố trí cán bộ, đảng viên của mình giữ những cương

vị chủ chốt trong bộ máy chính quyền các cấp, nhờ đó, giữ vững được sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với hệ thống chính trị Đảng cũng đã ngày càng xác định rõ hơn nội dung, phạm vi lãnh đạo, mối quan hệ lãnh đạo của cấp ủy với cơ quan nhà nước, nhất là ở trung ương Đã xây dựng được quy chế làm việc của trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, cũng như xây dựng chương trình công tác của cấp ủy toàn khóa, hàng năm hệ thống quy chế, văn bản đó đã cho phép xử lý đúng đắn hơn, rành mạch hơn (nhưng không phải cứng nhắc, máy móc) mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền, giữa

cơ quan đảng và cơ quan chính quyền, giúp cho cấp ủy tập trung trí tuệ và sức lực lãnh đạo những vấn đề lớn và quan trọng

Quá trình xây dựng và ban hành Nghị quyết của Đảng đã không ngừng được cải tiến (chú ý hơn đến công tác tham mưu, tư vấn, sử dụng chuyên gia,

Trang 28

né tránh không dám chịu trách nhiệm, hoặc đẩy các công việc đáng lẽ thuộc thẩm quyền mình giải quyết sang cho cấp ủy để giữ "chốt an toàn"; vẫn còn tình trạng cấp trên ôm đồm nhiều việc của cấp dưới mà không dám mạnh dạn phân cấp, nên cấp trên không còn thời gian và sức lực để đầu tư suy nghĩ những vấn

đề lớn, quan trọng hơn hoặc có tầm chiến lược Đồng thời, cũng vẫn còn tình trạng cấp ủy buông lỏng lãnh đạo chính quyền, không phát huy được vai trò lãnh đạo, thậm chí bị cơ quan chính quyền lấn sân v.v và v.v

Thực tế đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX): "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm tránh cả hai khuynh hướng: hoặc buông lỏng sự lãnh đạo, hoặc bao biện, làm thay, nhất là phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước" [18, 18]

1.2 Vị trí, vai trò của Đảng bộ, chính quyền ở địa phương

1.2.1 Vị trí, vai trò của Đảng bộ cấp xã

Các Đảng bộ xã – thị trấn có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay Đảng bộ xã, thị trấn là một thành viên của hệ thống chính trị ở cơ sở, nhưng là thành viên giữ vị trí, vai trò hạt nhân lãnh đạo

Trang 29

23

hệ thống đó, bảo đảm cho hoạt động ở cơ sở theo đúng định hướng của Đảng Đảng bộ các xã, thị trấn là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, nơi tiến hành trực tiếp công tác tuyên truyền, giáo dục và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đảng bộ xã, thị trấn là nơi giáo dục, rèn luyện, đề nghị kết nạp đảng viên mới và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng

Về hoạt động lãnh đạo, Đảng bộ các xã, thị trấn vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa là nơi góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách thông qua tổng kết hoạt động thực tiễn năng động, sáng tạo của đảng viên và quần chúng Thực tiễn phong phú, sinh động ở cơ sở là một trong những điều kiện quan trọng góp phần tạo nên trí tuệ cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam

Vị trí hạt nhân chính trị của Đảng bộ xã, thị trấn thể hiện vai trò đoàn kết

và lãnh đạo toàn diện các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Đảng

bộ xã, thị trấn còn là nơi giáo dục, tổ chức, động viên cán bộ, đảng viên và quần chúng thực hiện có hiệu quả cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đảng bộ xã, thị trấn là trung tâm, tập hợp mọi lực lượng ở cơ sở thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở

Các Đảng bộ xã, thị trấn lãnh đạo qua các kỳ Đại hội đại biểu “Đại hội thảo luận văn kiện của cấp uỷ cấp trên; đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ vừa qua; quyết định nhiệm kỳ tới; bầu cấp uỷ; bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên” [34, 16] Giữa 02 kỳ đại hội, cấp uỷ chịu trách nhiệm với đại hội đại biểu “lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị quyết, chỉ thị của

Trang 30

24

cấp trên” [34, 19] Như vậy, cấp uỷ Đảng địa phương mà cụ thể ở đây là Đảng

uỷ, Ban Thường vụ Đảng uỷ, được Đảng bộ uỷ nhiệm, giao quyền là “vị chỉ huy tối cao” trong địa phương của mình Từ thẩm quyền chung được quy định trong Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam và các văn bản hướng dẫn của cấp ủy cấp trên, Đảng uỷ phân công, giao quyền và uỷ quyền cho tập thể Ban Thường vụ Đảng

uỷ, tập thể Thường trực Đảng uỷ và các cá nhân đồng chí Bí thư Đảng uỷ Vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của tập thể và các cá nhân trong đảng uỷ được Đảng bộ các xã, thị trấn xác định như sau

Đảng uỷ có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác tư tưởng, công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng và công tác tổ chức, cán bộ của địa phương Đảng uỷ có trách nhiệm quán triệt Nghị quyết của Đảng và các chỉ thị của trung ương, của tỉnh, của huyện và nghị quyết đại hội Đảng bộ xã, Đảng uỷ tiến hành thảo luận và quyết định những đề án chuyên đề về phát triển kinh tế -

xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác tư tưởng, công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng và công tác tổ chức, cán bộ Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách xã hàng năm do Ủy ban nhân dân xã trình bày Thông qua báo cáo, Đảng uỷ ra nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy vai trò của chính quyền, mặt trận, các đoàn thể quần chúng trong xã Chuẩn

bị đại hội Đảng bộ xã, thị trấn nhiệm kỳ tiếp theo Đề xuất với huyện uỷ các vấn

đề xét thấy cần thiết thuộc thẩm quyền của Huyện uỷ và cấp uỷ cấp trên

Ban Thường vụ Đảng uỷ xã, thị trấn là cơ quan thay mặt Đảng uỷ lãnh đạo và điều hành mọi công việc của Đảng bộ giữa hai lần hội nghị Đảng uỷ Thẩm quyền chủ yếu của Ban Thường vụ Đảng uỷ là: Tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng uỷ xã, thị trấn và các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ chính trị, các cấp uỷ tỉnh, huyện Quyết định một số chủ trương, biện pháp thực hiện nghị quyết mà không triệu tập Ban Chấp hành, sau

đó báo cáo lại trước hội nghị Ban Chấp hành kỳ họp gần nhất Triệu tập các

Trang 31

25

cuộc họp thường kỳ của Đảng uỷ, báo cáo tình hình và đề xuất chủ trương chỉ đạo tiếp theo Lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp giữa các tổ chức như Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng, lực lượng vũ trang, công an về các mặt công tác trên địa bàn xã, thị trấn; kiểm tra việc thi hành Nghị quyết đại hội

và cấp uỷ theo phân công, nghị quyết và chỉ thị của cấp uỷ cấp trên Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc tổ chức thực hiện những công việc quan trọng Quyết định, bố trí cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của xã, thị trấn Báo cáo tình hình

về các mặt công tác của Đảng bộ xã, thị trấn về Ban thường vụ Huyện uỷ

Thường trực Đảng uỷ gồm Bí thư và các Phó bí thư Đảng uỷ Thường trực Đảng uỷ không phải là một cấp, một cơ quan của tổ chức Đảng Thẩm quyền của Thường trực Đảng uỷ chủ yếu do Ban Thường vụ uỷ quyền Thay mặt Ban Thường vụ Đảng uỷ, Thường trực Đảng uỷ chỉ đạo, kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ, của Ban Thường vụ và của cấp uỷ cấp trên, giải quyết công việc hàng ngày của Đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các

kỳ họp của Ban Thường vụ

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, Bí thư Đảng uỷ có vai trò rất quan trọng trong Đảng bộ Bí thư đảng uỷ

xã, thị trấn là người đứng đầu tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn và là người đại diện cho đảng bộ, có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành mọi mặt công tác của đảng

uỷ, đảng bộ và chịu trách nhiệm trước cấp uỷ cấp trên Bí thư đảng uỷ xã là cán

bộ lãnh đạo chủ chốt, là người đứng đầu đảng bộ, Ban Thường vụ và đảng uỷ là linh hồn của cơ quan lãnh đạo xã, thị trấn Đó là người đề xướng, chủ trì tổ chức mọi hoạt động của Ban Thường vụ đảng uỷ xã, ban chấp hành đảng bộ xã, từ xây dựng nội bộ Đảng đến lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn xã, thị trấn lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, lãnh đạo các tổ chức xã hội trên địa bàn xã

Bí thư Đảng uỷ là người chịu trách nhiệm cao nhất trong Đảng bộ, Ban Thường vụ và thường trực Đảng uỷ; cùng Đảng bộ, Ban Thường vụ và Thường

Trang 32

26

trực Đảng bộ chịu trách nhiệm trước Huyện uỷ, Ban Thường vụ Huyện uỷ, trước Đảng bộ và nhân dân trong xã, thị trấn về sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực ở địa phương

Bí thư Đảng uỷ chuẩn bị việc chỉ đạo chủ trì và kết luận các cuộc họp Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ, các hội nghị giao ban thường trực; chuẩn

bị cho đại hội đảng bộ nhiệm kỳ tiếp theo; Kiểm tra việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành; chủ động đề xuất, trao đổi trong thường trực cấp

uỷ những vấn đề lớn, quan trọng để đưa ra Ban Thường vụ, Ban Chấp hành; Chỉ đạo việc sơ, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng

Bí thư Đảng uỷ cùng với đồng chí Phó Bí thư Thường trực và Phó Bí thư - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn giải quyết công việc hàng ngày của Đảng

bộ, lãnh đạo Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã tổ chức triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ có liên quan đến công tác quản lý nhà nước ở địa phương Chỉ đạo các đồng chí Phó bí thư Đảng uỷ thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của cấp uỷ và phụ trách một số công việc theo quy chế

Đồng chí Phó Bí thư - Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, thị trấn chịu trách nhiệm chính, trực tiếp về những nội dung công việc được phân công cụ thể, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước cấp xã, thị trấn Chỉ đạo xây dựng bộ máy chính quyền từ xã đến cơ sở trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, đúng pháp luật; Tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, Quốc phòng - An ninh, công tác tổ chức và cán bộ thuộc thẩm quyền Chỉ đạo công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch hằng năm, 5 năm, các chương trình, đề án kinh tế - xã hội, Quốc phòng -

An ninh… trình Ban Thường vụ, Ban Chấp hành xem xét, quyết định; Thay mặt thường trực chủ trì thực hiện quy chế phối hợp giữa Ủy ban nhân dân xã, thị trấn với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; phụ trách công tác dân vận chính quyền,

Trang 33

27

công tác tiếp dân Chủ động đề xuất những vấn đề thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân với Thường trực, bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, điều hành giữa cấp uỷ Đảng và chính quyền

1.2.2 Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân và chính quyền cấp xã

Chính quyền cấp cơ sở hay cấp xã, thị trấn có vai trò rất quan trọng Ở cấp xã, thị trấn thì chính quyền địa phương bao gồm hai cơ quan chủ yếu là Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu tập trung nhấn mạnh, đi sâu nghiên cứu vấn đề Đảng lãnh đạo Ủy ban nhân dân cùng cấp nên ở đây về cơ bản chúng tôi cũng đề cập nhiều hơn, sâu hơn về vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã Chính quyền địa phương ở Việt Nam là một

bộ phận hợp thành của chính quyền Nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức Nhà nước khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước theo qui định của pháp luật (Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân), nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ

và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên cũng như nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn

Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy

Trang 34

28

hành chính nhà nước ở cơ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền địa phương cấp cơ sở, gần dân nhất Uỷ ban nhân dân cấp xã có từ 4 đến 5 thành viên, gồm Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 ủy viên quân sự và 1 ủy viên công an Người đứng đầu Uỷ ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân của xã, thị trấn bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín Thông thường, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn sẽ đồng thời là một Phó Bí thư Đảng ủy của xã, thị trấn Uỷ ban nhân dân cấp xã hoạt động theo hình thức chuyên trách và không chuyên trách

Nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban nhân dân được thực thi trên các lĩnh vực: kinh tế; văn hóa, xã hội; quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính,… và việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của cấp uỷ

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền cơ sở nói chung và Ủy ban nhân dân cùng cấp nói riêng

Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng luôn luôn là yếu tố then chốt, đóng vai trò quyết định cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng Củng cố, tăng cường, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng còn là nhiệm vụ cấp bách trong bối cảnh hiện nay Thực tiễn cho thấy nơi nào cấp ủy Đảng trong sạch, vững mạnh, quan tâm lãnh đạo chỉ đạo chính quyền địa phương thì nơi đó đạt hiệu quả cao trong hoạt động, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, quyền dân chủ của người dân được phát huy Mối quan hệ giữa cấp ủy Đảng với đối với chính quyền được thể hiện trên ba nội dung chủ yếu là: chỉ đạo việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng trên địa bàn địa phương và thông qua định hướng phát triển của địa phương; thông qua công tác tổ chức cán bộ; thông qua việc kiểm tra, giám sát của cấp ủy Đảng Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với chính quyền là bảo đảm cao nhất cho quyền dân chủ của nhân dân, cho sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của cơ quan nhà nước ở địa phương Vì

Trang 35

29

vậy, bảo đảm tốt sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với chính quyền là một điều kiện quyết định để tăng cường xây dựng chính quyền địa phương, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước Một trong những công cụ chủ yếu để cấp ủy Đảng lãnh đạo chính quyền địa phương là thông qua nghị quyết, chủ trương, định hướng của cấp ủy Đảng Những văn bản của chính quyền một mặt phải đúng pháp luật nhưng mặt khác phải thể hiện được chủ trương, định hướng, nghị quyết của Đảng

Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với chính quyền, bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đồng thời phát huy được vai trò, chức năng của chính quyền cần phải thực hiện những nội dung cơ bản như xây dựng

cơ chế ban hành văn bản của cấp ủy Đảng và chính quyền Nội dung quy chế cần xác định rõ những vấn đề nào thì cần cấp ủy ra nghị quyết, những vấn đề nào thuộc Hội đồng nhân dân, những vấn đề nào thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân; quy định thời hạn Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ra văn bản sau khi cấp ủy có nghị quyết

Bên cạnh đó cần nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy Đảng, chất

lượng các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Sinh hoạt của cấp ủy đảng cần chú trọng đến quan điểm chính trị trong các lĩnh vực mà tổ chức đảng

có trách nhiệm lãnh đạo; các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cần thể hiện được tính chiến đấu trong việc triển khai nghị quyết của cấp ủy đảng, phải đóng vai trò là “cầu nối” để đưa nghị quyết, chủ trương của cấp ủy vào cuộc sống

Các cấp ủy Đảng và đảng viên phải tôn trọng pháp luật và cơ quan nhà

nước Đảng bắt buộc tất cả các tố chức, các cán bộ, đảng viên của Đảng phải tôn trọng quyền lực của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, nghiêm chỉnh chấp hành văn bản pháp quy của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, coi đó là kỷ luật của Đảng

Ngoài ra, để thực hiện tốt và tăng cường mối quan hệ giữa cấp ủy đảng

Trang 36

30

với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, cần kiện toàn đảng đoàn, ban cán sự, cần có chế độ sinh hoạt định kỳ với nội dung được xác định, không được lẫn lộn hoặc kết hợp làm một với sinh hoạt của lãnh đạo chính quyền Bên cạnh việc kiện toàn tổ chức, bộ máy của chính quyền địa phương, cũng cần chú trọng, kiện toàn, củng cố cấp ủy đảng và bộ máy tham mưu của Đảng Bộ máy tham mưu cho cấp ủy đảng dù ở cấp nào cũng cần phải tinh gọn, làm đúng chức năng tham mưu của Đảng, đủ năng lực để giúp cấp ủy thẩm tra, kiểm tra việc quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng trong hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và giúp cấp ủy quản lý cán bộ chủ chốt Đồng thời cũng cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa bộ máy tham mưu của Đảng với bộ máy giúp việc của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, có thực hiện được như vậy thì cấp ủy đảng mới thực hiện được sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiện toàn tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương Nâng cao năng lực tổ chức của Đảng trước hết chính là nâng cao năng lực của cấp ủy và bộ máy tham mưu trong việc xây dựng, kiện toàn, sử dụng chính quyền địa phương như là một công cụ sắc bén nhất để tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của cấp ủy Vai trò và hiệu lực quản lý của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được nâng cao

là dấu hiệu quan trọng nhất nói lên trình độ và năng lực tổ chức của cấp ủy đảng địa phương Hiệu lực của chính quyền địa phương do cán bộ quyết định Cấp ủy Đảng lãnh đạo về công tác cán bộ thì trước hết phải có sự thống nhất nhận thức

về tiêu chuẩn, cơ cấu cấp ủy Xuất phát từ chức năng lãnh đạo chính trị của Đảng, cán bộ cấp ủy phải là những nhà chính trị, được rèn luyện thử thách vững vàng về chính trị, đứng vững trên lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và biết vận dụng vào thực tiễn địa phương để xem xét, phân tích, xử lý các vấn đề đặt ra Đây là vấn đề không mới trong khoa học tổ chức

Để tăng cường mối quan hệ giữa cấp ủy với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, đồng thời đảm bảo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là cơ quan quyền lực thực sự, đại diện cho nhân dân ở địa phương thì bí thư hoặc phó bí thư

Trang 37

31

cấp ủy nên kiêm chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã đưa ra việc thực hiện thí điểm đề án nhất thể hóa một số tổ chức và chức danh lãnh đạo Đảng, chính quyền ở các cấp chính quyền địa phương, trong đó có cấp xã, thị trấn, trong đó việc tiếp tục thực hiện mô hình bí thư đồng thời là chủ tịch Ủy ban nhân dân ở cấp xã

Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi chung đối với mọi cấp chính quyền Sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nguyên tắc chủ đạo, căn bản nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng nhằm đảm bảo cho chính quyền thực sự là của dân, tăng tính chủ động, hiệu quả của chính quyền, phát huy dân chủ, khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước Tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân làm việc trong bộ máy của Đảng và Nhà nước đều phải triệt để tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước

Kết luận chương 1

Lãnh đạo là việc đề ra đường lối, chỉ đạo mọi hoạt động có mục đích và

có tổ chức của chủ thể đến các đối tượng, nhằm đạt tới những lợi ích của chủ thể, thực hiện mục tiêu do chủ thể đặt ra Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, có vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối trên tất cả mọi phương diện nhằm đưa đất nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, văn minh

Chính quyền địa phương có vai trò đặc biệt trong việc điều hành, quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn, để xây dựng bộ máy trong sạch vững mạnh, phát huy có hiệu lực hiệu quả hoạt động, trước hết cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Trang 38

32

Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp để không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức

cơ sở Đảng là vấn đề có tầm quan trọng hiện nay

Trong những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của phương thức lãnh đạo và yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước bằng nhiều hình thức, biện pháp, cách thức lãnh đạo và đã mang lại những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tốt hơn vai trò của chính quyền các cấp

Trang 39

33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN

NHÂN DÂN CÙNG CẤP Ở HUYỆN VŨ QUANG,

TỈNH HÀ TĨNH

2.1 Khái quát về đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Vũ Quang là huyện miền núi biên giới nằm ở phía tây tỉnh Hà Tĩnh được thành lập theo Nghị định 27/2000/NĐ-CP ngày 04/8/2000 của Chính phủ, huyện được thành lập trên cơ sở chia tách ra từ 12 xã của 3 huyện gồm các xã: 6 xã (Đức Liên, Đức Hương, Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Giang, Ân Phú) thuộc huyện Đức Thọ; 5 xã (Hương Thọ, Hương Minh, Hương Đại, Hương Điền, Hương

Quang) thuộc huyện Hương Khê và 1 xã (Sơn Thọ) thuộc huyện Hương Sơn

Phía Đông giáp huyện Đức Thọ; phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với 43km đường biên giới; phía Nam giáp huyện Hương Khê; phía Bắc giáp huyện Hương Sơn

Đơn vị hành chính của huyện gồm 11 xã và 01 thị trấn; 79 thôn xóm; Tổng số hộ: 8.830 hộ; Dân số: 30.117 người; Mật độ dân số: 47,23 người/km2; Dân tộc thiểu số: 86 hộ = 357 nhân khẩu (Lào Thừng ở xã Hương Quang); Số lao động: 17.261 người; Tỷ lệ phát triển dân số: 9,7%; Thu nhập bình quân đầu người: 28,95 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 11,92%, số hộ cận nghèo chiếm 9,93%

Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện: 63.766 ha; Đất nông nghiệp: 6.149 ha = 9,64 %; Đất Lâm nghiệp: 47.640 ha = 74,71%; Đất nuôi trồng thủy sản: 71,08 ha = 0,11%; Đất ở: 352 ha = 0,55%; Đất chuyên dùng: 1.386 ha = 2,17%; Đất tôn giáo tín ngưỡng: 13,15 ha = 0,02%; Đất nghĩa trang, nghĩa địa:

161 ha = 0,25%; Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 724,43 ha = 1,13%;

Trang 40

so với các huyện trong toàn tỉnh

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

Vũ Quang là huyện nằm xa các trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh Hà Tĩnh; có đường biên giới dài trên 43 km giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Vũ Quang là căn cứ địa kháng chiến của cụ Phan Đình Phùng; có an toàn khu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, là nơi sản xuất súng đạn và in tiền tài chính của Chính phủ Trên địa bàn huyện còn có Vườn Quốc gia Vũ Quang với thảm thực vật đa dạng, nhiều loài động vật quý hiếm Việc phát triển kinh tế xã hội của huyện được gắn với quốc phòng an ninh, an toàn biên giới, hợp tác hữu nghị với nước bạn Lào

Về sản xuất nông nghiệp, Vũ Quang là một huyện trọng điểm của tỉnh

Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng phát triển nông, lâm nghiệp Cơ cấu các ngành kinh

tế của huyện trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theo chiều hướng tốt, tăng tỷ trọng phát triển về công nghiệp Tuy nhiên nếu xem xét cơ cấu các ngành thể hiện ở tỷ trọng GDP thì Vũ Quang còn thể hiện là huyện độc canh sản xuất nông nghiệp

Phát triển lâm nghiệp: Hướng khai thác tài nguyên rừng hiện nay chủ yếu là làm chất đốt cho dân cư và một phần gỗ cho dân dụng Ngoài các khu rừng mới trồng của lâm trường, các khu vực khoanh nuôi của huyện, các khu rừng khác do nhân dân địa phương tự khai thác củi, chưa được quản lý chặt chẽ

Ngày đăng: 29/01/2021, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[10]. Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh (2011), Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh, tập III (1975 -2010), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh, tập III (1975 -2010)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Hà Tĩnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[13]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016) Tài liệu học tập các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn Quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn Quốc lần thứ XII của Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[14]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[15]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2012), Tài liệu chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2012
[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Hội nghị Trung ương 2 khoá VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương 2 khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1991
[17]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị Trung ương VIII khoá VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương VIII khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[18]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[23]. John C. Maxwell (2012), Phát triển kỹ năng lãnh đạo, Nxb Lao động- Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kỹ năng lãnh đạo
Tác giả: John C. Maxwell
Nhà XB: Nxb Lao động- Xã hội
Năm: 2012
[25]. Thu Huyền, Ái Phương (2011), Văn kiện Đại hội Đảng XI, Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam và những quy định mới về chức năng, nhiệm vụ quy chế hoạt động của các cơ sở Đảng, Nxb Lao Động, Tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng XI, Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam và những quy định mới về chức năng, nhiệm vụ quy chế hoạt động của các cơ sở Đảng
Tác giả: Thu Huyền, Ái Phương
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2011
[26]. Hà Thị Khiết (2014), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh”, Tạp chí Cộng sản số 3/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh”
Tác giả: Hà Thị Khiết
Năm: 2014
[27]. Nguyễn Hữu Lam (1997), Nghệ thuật lãnh đạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật lãnh đạo
Tác giả: Nguyễn Hữu Lam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[28]. V.I. Lênin (1974), Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1974
[29]. V.I. Lênin (1975), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1975
[30]. V.I. Lênin (1979), Toàn tập, tập 14, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1979
[31]. V.I. Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
[32]. V.I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977
[33]. Các Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác và Ph.Ăngghen
Tác giả: Các Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
[36]. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w