1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường sự lãnh đạo của đảng bộ cơ sở đối với hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ở quận tân phú, thành phố hồ chí minh

109 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước yêu cầu thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm tiếp tục phát huy những

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 02

LỜI CẢM ƠN 03

MỞ ĐẦU 04

CHƯƠNG I: Những vấn đề lý luận cơ bản về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với HĐND, UBND 11

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 11

1.2 Vị trí, vai trò của Đảng bộ, chính quyền cấp cơ sở 26

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với HĐND, UBND các cấp 33

Kết luận Chương I 38

CHƯƠNG II: Thực trạng lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với HĐND, UBND ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh 39

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với HĐNH, UBND ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh 39

2.2 Tình hình thực hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với HĐND, UBND các phường ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh 52

Kết luận Chương II 79

CHƯƠNG III: Quan điểm và giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với HĐND, UBND ở quận Tân Phú 81

3.1 Quan điểm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với chính quyền ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh 81

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sự lãnh đạo của Đảng bộ phường đối với chính quyền cơ sở 85

Kết luận Chương III 101

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học với đề tài “Tăng cường sự

lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả của quá trình cố gắng

không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy, cô; các bạn lớp cao học Chính trị học khóa 23 – Trường Đại học Vinh Qua trang viết này em xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ em trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua

Đặc biệt, em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với Thầy PGS.TS Nguyễn Thái Sơn – Phó Trưởng Khoa Chính trị học trường Đại học Vinh đã trực tiếp tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Vinh, Trường Đại học Sài Gòn, khoa Chính trị học đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay chúng ta đang tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, có khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đổi mới Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là một trong những nội dung cực

kỳ quan trọng trong thể chế chính trị của nước ta Trong mối quan hệ này, Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối trên tất cả mọi phương diện Nội dung này đã được khẳng định trong Điều 4, Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Nhà nước có làm tốt, làm đúng theo chủ trương của Đảng thì sẽ được nhân dân đồng tình, hưởng ứng tích cực, tạo nên sức mạnh to lớn để xây dựng chủ nghĩa xã hội Nếu Nhà nước không làm tốt vai trò của mình thì sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đó là nguy cơ đe doạ đến sự tồn vong của Đảng và chế độ

Nằm trong hệ thống chính quyền bốn cấp; Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh có vai trò làm cầu nối trực tiếp giữa toàn bộ hệ thống chính trị với nhân dân Đây là đơn vị hằng ngày tiếp xúc và làm việc với nhân dân Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp phường

có nhiệm vụ chuyển hóa đường lối của Đảng bộ quận, thành phố thành những chính sách đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh thực tế địa phương nhằm mục đích phát triển địa phương Ngoài ra, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp phường cũng là đơn vị nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân,

tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho Nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực

Những năm qua, cùng với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, 11 Đảng bộ phường ở quận Tân Phú luôn chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, xem đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để thực hiện thắng lợi các chủ trương, Nghị quyết của Đảng Nhờ đó, Ủy ban nhân

Trang 5

dân, Hội đồng nhân dân 11 phường luôn được quan tâm củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng đồng bộ, hiệu quả; đời sống kinh tế, xã hội quận Tân Phú ngày càng khởi sắc, tạo được niềm tin giữa Đảng, chính quyền với nhân dân

Trước yêu cầu thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm tiếp tục phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, yếu kém về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp cơ sở ở quận Tân Phú, vấn đề rất cần thiết và cấp bách đặt ra là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và tìm ra những giải pháp để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân

dân Vì thế, tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tăng cường sự lãnh đạo

của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành

Chính trị học

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là một vấn đề quan trọng, có tính cấp bách, có tính thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu và cán bộ khoa học của Đảng và Nhà nước Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như :

Chương trình khoa học cấp Nhà nước: Đề tài cấp Nhà nước KX 05.09

(giai đoạn 2001 - 2005) có các chuyên đề: Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền; đề tài cấp Nhà nước KHXH 05.03 (giai đoạn 1996 - 2000), Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước do tác giả Trần Đình Nghiêm

làm chủ biên đã nghiệm thu và in thành sách; đề tài cấp Nhà nước (giai đoạn

2001 - 2005), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và chính quyền các cấp do tác giả Phạm Ngọc Quang làm chủ nhiệm đã nghiệm thu

và xuất bản thành sách; sách Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền của tác giả Lê Hữu Nghĩa, Nxb Chính trị

Quốc gia Hà Nội (2014)… Nội dung các đề tài, sách, đã đề cập đến những vấn

Trang 6

đề cơ bản như sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là tất yếu khách quan, là tiền đề và điều kiện để Nhà nước giữ vững tính chất nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của mình Đảng phải luôn củng cố, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước, nắm chắc vai trò cầm quyền của mình - cầm quyền vì lợi ích của nhân dân Nội dung chủ yếu sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là Đảng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn

để xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; tăng cường quản

lý cán bộ, Đảng viên trong bộ máy Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh; tăng cường kiểm tra tổ chức Đảng và đảng viên trong cơ quan Nhà nước, các tổ chức sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp Nhà nước trong việc thực hiện các Nghị quyết của Đảng

và pháp luật của Nhà nước…

Bên cạnh đó, trên các tạp chí khoa học cũng có nhiều bài viết về nội dung

này Tác giả Nguyễn Trọng Phúc trong bài: “Nhà nước pháp quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số

7/2014 đã khẳng định: Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền càng phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Đảng lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước Quyết định tổ chức bộ máy Nhà nước và bố trí, phân công cán bộ; kiểm tra hoạt động của Nhà nước và lãnh đạo nhân dân, hệ thống chính trị tham gia xây dựng, quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước và cán bộ, công chức,…

Tác giả Hà Thị Khiết trong bài: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh”, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 3/2014 đã nêu lên rằng: xây dựng Đảng

không chỉ là công việc của Đảng mà còn là công việc của nhân dân Nhân dân luôn góp ý, nêu sáng kiến tham gia xây dựng đường lối của Đảng và chính nhân

Trang 7

dân là lực lượng thực hiện hăng hái, có hiệu quả đường lối đó; nhân dân giám sát cán bộ, Đảng viên, công chức và các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp trong việc hiện thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật…; Liên quan đến

vấn đề này, tác giả Nguyễn Thế Trung cũng có bài: “Về lòng dân, ý Đảng trong giai đoạn hiện nay” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 5/2015, bài viết đã đưa ra kết

luận: Đảng ta từ nhân dân mà ra, ý Đảng bắt nguồn từ lòng dân và chính lòng dân đã kết thành ý Đảng Đảng lãnh đạo Nhân dân thì Nhân dân cũng có quyền nói lên ý kiến của mình Ý Đảng không thể khác với lòng dân…

Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị cũng đã luận giải về

sự lãnh đạo của Đảng ở các cấp độ khác nhau, chẳng hạn như: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Thành ủy đối với chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị của Trần Vĩnh Tuyến, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2005); “Sự lãnh đạo của Quận ủy đối với chính quyền quận Đông Anh thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, của Tô Văn Minh, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006); “Sự lãnh đạo của Đảng bộ phường đối với chính quyền cơ sở ở quận Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay”, của Trần Văn Tường, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006); “Sự lãnh đạo của Đảng đối với HĐND quận Bù Đăng, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn hiện nay”, của Nguyễn Hoàng

Giang, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Trường Đại học Vinh (2015)… Các tác giả đã bàn đến sự lãnh đạo của Đảng, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, HĐND trên từng địa bàn cụ thể trong thời gian qua cũng như những năm tiếp theo trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ

Như vậy, các chương trình, đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học nêu trên phần lớn đi vào nghiên cứu những vấn đề lớn, những vấn đề chung về Đảng lãnh đạo Nhà nước Nhưng dưới góc độ của chuyên ngành Chính trị học, sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nói

Trang 8

chung và đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp cơ sở nói riêng chưa được các tác giả đi sâu nghiên cứu Có thể nói, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

Do đó, tôi cho rằng việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề này vừa có tính cấp bách cả

về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở Quận Tân Phú,

thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng bộ cấp cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nói chung

Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở Quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua

Thứ ba: Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về vai trò và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Cụ thể, đề tài nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng

bộ cấp cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trên địa bàn quận Tân

Phú, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường đối với các Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thuộc địa bàn Quận

Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2020

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của Đảng cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng với

Nhà nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau

6 Những đóng góp mới của luận văn

Đề tài góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; đóng góp những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của các Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân cùng cấp ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu tham khảo cho các Đảng bộ cơ sở quận Tân Phú trong quá trình lãnh đạo chính quyền Ngoài ra, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ

nghiên cứu và giảng dạy ở các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp quận

Trang 10

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu thành 3 chương, 7 tiết

Trang 11

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN,

ỦY BAN NHÂN DÂN

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm Đảng lãnh đạo

Trong cuốn “Phát triển kỹ năng lãnh đạo” của John C Maxwell đã định nghĩa lãnh đạo “là gây ảnh hưởng” [23, tr.18] Có quan điểm cho rằng: “Lãnh đạo là sự ảnh hưởng mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo, thông qua quá trình thông tin để đạt tới mục tiêu cụ thể” [23, tr.14] Từ việc tìm dấu hiệu chung của khái niệm, có tác giả đã khái quát: “Lãnh đạo là một chức năng hoạt động xã hội của con người (cá nhân hay tập thể) bằng phương pháp tác động, gây ảnh hưởng, thuyết phục (một cá nhân, một tập thể, một cộng đồng xã hội, một dân tộc) nhằm tổ chức các mối quan hệ, tập hợp các thành viên, để huy động mọi khả năng và ý chí của họ, hành động đạt những mục tiêu chung, đã xác định” [31,tr.35]

Một số tác giả đi sâu vào việc phân biệt khái niệm lãnh đạo với khái niệm quản lý, chỉ ra dấu hiệu đặc trưng của khái niệm lãnh đạo ở chỗ nó hướng vào việc “nhận thức, lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh của

hệ thống; làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống (bao gồm việc phân tích các mâu thuẫn trong quá trình phát triển), phát hiện nhân tố mới; tổng kết được quy luật, xu thế phát triển của hệ thống; đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống” [37, tr.18] Nói khái quát nhất, lãnh đạo là: “đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện” [35,tr.568]

Mặc dù, phân tích, đánh giá ở những điểm khác nhau, nhưng điểm chung nhất là các tác giả đều nhất trí đặc trưng của lãnh đạo là tính định hướng và sự vươn tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức Từ những định nghĩa trên, có thể

Trang 12

hiểu rằng lãnh đạo là khả năng, tài năng vạch phương hướng, chỉ đường và bằng

ý chí, niềm tin, phẩm hạnh của mình (của tổ chức) nhằm lôi cuốn, cổ vũ mọi người thực hiện mục tiêu của cá nhân, tổ chức đã định

Từ những quan điểm về khái niệm lãnh đạo như đã nêu, nhiều tác giả đã

đề cập đến khái niệm Đảng lãnh đạo Có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về đảng nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, lý giải nhiều về Đảng lãnh đạo Sự tương đồng cao về khái niệm Đảng lãnh đạo thể hiện ở chỗ: tính định hướng chính trị, tổ chức lực lượng, thuyết phục, truyền bá các quan điểm tư tưởng nhằm lôi kéo các tầng lớp khác nhau trong xã hội đi theo và thực hiện những mục tiêu chính trị của Đảng Còn khi nói Đảng Cộng sản lãnh đạo là nói Đảng đưa ra những định hướng về quan điểm, nguyên tắc xây dựng đất nước theo mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội; lựa chọn các nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và vận động thuyết phục, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hiện cho bằng được các mục tiêu ấy

Một số tác giả còn phân tích khái niệm “Đảng cầm quyền” để phân biệt với khái niệm “Đảng lãnh đạo” Theo các nhà chính trị học, các nhà tư tưởng phương Tây, thì thuật ngữ “Đảng cầm quyền”, “Đảng chấp chính”, “Đảng nắm chính quyền” đã được dùng từ lâu ở các nước phương Tây để chỉ rõ vai trò, vị

thế và trách nhiệm của Đảng khi đã có chính quyền; phân biệt Đảng nắm chính

quyền với những Đảng không nắm chính quyền, chưa dành được chính quyền hoặc ở vị trí đối lập Dù diễn đạt ngôn từ hay chỉ ra các đặc điểm khác nhau trong chi tiết, nhưng hầu hết các ý kiến đều thể hiện quan điểm chung là: Đảng cầm quyền có nghĩa là Đảng lãnh đạo chính quyền, chi phối chính quyền, làm cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện và thực hiện tư tưởng, đường lối của Đảng đó, phù hợp với lập trường và phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mà Đảng đó đại diện Xét về bản chất, Đảng cầm quyền tức là Đảng lãnh đạo trong điều kiện có chính quyền Đảng cầm quyền là Đảng đã chi phối, dẫn dắt chính quyền, sử dụng quyền lực nhà nước trên thực tế để thực hiện mục tiêu

Trang 13

chính trị của Đảng Như vậy chúng ta có thể hiểu dù ở cấp nào, từ trung ương đến chính quyền cơ sở thì đều chịu sự lãnh đạo của Đảng cấp đó

1.1.2 Khái niệm chính quyền

Thuật ngữ “Chính quyền địa phương” được phổ biến trong đời sống chính trị - xã hội, khoa học, chính trị, luật học, trong nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong một số văn bản pháp luật ở nước ta từ trước đến nay Tuy nhiên, chưa có một văn bản hiện hành nào giải thích rõ ràng và đầy đủ về khái niệm “Chính quyền địa phương”

Trong từ điển Tiếng Việt cũng chưa đưa ra khái niệm chính quyền địa phương mà mới chỉ đưa ra thuật ngữ chính quyền được hiểu là “bộ máy điều hành, quản lý công việc của Nhà nước ở các cấp” Chính quyền hay quyền lực, được hiểu là quyền và khả năng buộc một ai đó phải lệ thuộc vào ý chí của mình” [58, tr450]

Nhà nước là thiết chế gắn với lãnh thổ quốc gia nên một trong những công việc đầu tiên của Nhà nước là phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, đồng thời thiết lập quyền lực, bộ máy quản lý trên các đơn

vị hành chính lãnh thổ Số lượng cơ quan hành chính địa phương được quyết định bởi số lượng đơn vị lãnh thổ, số lượng các cấp chính quyền nhằm thực hiện quyền lực trên lãnh thổ đó Vì vậy, có thể hiểu rằng bộ máy quản lý, điều hành trên các đơn vị hành chính lãnh thổ được gọi là chính quyền địa phương; hay chính quyền địa phương là hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức ở địa phương thực hiện quản lý, điều hành công việc của nhà nước trên địa bàn địa phương Ở đây ta có thể nghiên cứu đến bản chất của vấn đề chứ không phải bản thân thuật ngữ chính quyền địa phương Có thể thấy rằng thuật ngữ chính quyền địa phương chỉ là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những thiết chế được thành lập

để quản lý, điều hành trên đơn vị lãnh thổ nhất định và để quản lý, điều hành trên một đơn vị lãnh thổ thì có những thiết chế đó có nhiệm vụ, quyền hạn như pháp luật quy định và như vậy đó là những thiết chế quyền lực nhà nước hay

Trang 14

quyền lực của cộng đồng lãnh thổ ở địa phương, tùy theo những quy định của từng quốc gia Điều này phụ thuộc vào hệ thống chính trị, hình thức chỉnh thể của nhà nước, tùy thuộc vào trình độ phát triển của nền dân chủ xã hội, vào cách thức quản lý xã hội của nhà nước và nhiều yếu tố khác

Chính quyền được thiết lập trên các đơn vị hành chính của quốc gia luôn

là quyền lực nhà nước chính thống nên nhà nước thực hiện quyền lực trên đơn vị hành chính lãnh thổ theo đúng các quy định của pháp luật và được pháp luật bảo

vệ

Nhà nước là một tổ chức công quyền chính thống trong xã hội, vì vậy chính quyền được thiết lập trên đơn vị hành chính của quốc gia là quyền lực nhà nước chính thống, do đó những thiết chế được thành lập để thực hiện quyền lực nhà nước trên đơn vị lãnh thổ luôn phải hợp hiến và hợp pháp, có nhiệm vụ quyền hạn được Hiến pháp và pháp luật quy định và bảo vệ

Các thiết chế được thành lập để quản lý trên các đơn vị lãnh thổ, có thể tham gia vào các quan hệ dân sự với tư cách là pháp nhân, đồng thời những cơ quan đó đại diện cho quyền lực nhà nước, thay mặt nhà nước hay nhân dân địa phương tham gia vào các mối quan hệ mang tính quyền lực hay một số quan hệ kinh tế với tư cách là một pháp nhân công pháp - đại diện cho cộng đồng lãnh thổ để thực hiện những công việc chung của cộng đồng lãnh thổ thông qua việc

ký kết các hợp đồng hành chính, thực hiện công vụ nhà nước Các thiết chế được thành lập để quản lý có các nhiệm vụ, quyền hạn nhất định do pháp luật quy định đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định

Như vậy có thể hiểu chính quyền địa phương là thiết chế nhà nước hay thiết chế tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phương có tư cách pháp nhân quyền lực công, được thực hiện một cách hợp hiến, hợp pháp để quản lý, điều hành mọi mặt đời sống xã hội trên một đơn vị hành chính lãnh thổ của một quốc

Trang 15

gia, trong giới hạn thẩm quyền, thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định

Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy rằng, khái niệm chính quyền địa phương được phân hóa theo hai quan điểm: quan điểm quan niệm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp và quan điểm chính quyền địa phương theo nghĩa rộng

Quan điểm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp: Hiến pháp và pháp

luật nước ta khi quy định về chính quyền địa phương thường đề cập đến 2 cơ quan: Cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương tức là Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương là Ủy ban nhân dân

Theo quy định về chính quyền địa phương được thể hiện trong các bản Hiến pháp cụ thể như sau: Chương V của Hiến pháp năm 1946 và chương VII của Hiến pháp năm 1959 quy định “Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính”, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 cũng có tên chương là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, chúng ta có các luật với tên gọi của hai luật cũng là 2 cơ quan này

Ví dụ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983, năm

1989, năm 2003 Nhưng có một ngoại lệ là sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc, ngày 29/4/1958 tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I đã thống qua Luật số 110 với tên gọi là: “Luật tổ chức chính quyền địa phương”, hiện nay là Luật tổ chức Chính quyền địa phương

Quan điểm chính quyền địa phương theo nghĩa rộng : Nếu chính quyền

địa phương chỉ bao gồm hai cơ quan là Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân

là chưa đầy đủ, không phản ánh đúng thực tế phát triển pháp luật của nước ta những năm vừa qua về chính quyền địa phương

Bắt đầu từ năm 1962 đến năm 1994 và 2003, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân không trực tiếp sử dụng tên gọi “Chính quyền địa phương” Các phiên bản Luật về sau đã bổ sung them nhiều Điều, mục đích để

Trang 16

quy định về cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Luật năm

1962 lần đầu tiên quy định Hội đồng nhân dân các cấp thành lập các Ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân; quy định Ủy ban hành chính các cấp có quyền quyết định thành lập, bãi bỏ các cơ quan chuyên môn Ủy ban hành chính Các

cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban hành chính cùng cấp, thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với Ủy ban hành chính cấp này

Vì vậy, theo quan điểm này; khái niệm chính quyền địa phương nếu hiểu chỉ gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là hẹp, không phù hợp và không phản ánh sự phát triển của pháp luật về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, làm giảm đi mục đích và ý nghĩa của việc thành lập các Ban của Hội đồng nhân dân và vai trò của chúng trong việc góp phần tăng cường hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương nói chung, hoạt động bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương nên quan niệm rộng hơn, không chỉ Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân mà còn bao gồm các cơ quan;

tổ chức được thành lập trên cơ sở Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Để xác định rõ bản chất pháp lý, cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương và sự khác nhau cơ bản, có nguyên tắc giữa khái niệm “Chính quyền địa phương”, “Quản lý và tự quản địa phương”… của các nước, cần nhấn mạnh một

số điểm chủ yếu sau:

- Chính quyền địa phương của nước ta hiện nay được quan niệm là bộ phận hợp thành, gắn bó hữu cơ của chính quyền nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý thông qua đó nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình ở địa phương

- Không phải mọi cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở địa phương, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương đều nằm trong cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương Điều này không có nghĩa chỉ trừ các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân,

Trang 17

mà còn bao gồm các cơ quan của các bộ, ngành trung ương đóng ở địa phương như Công an, Quân sự, Hải quan, Thuế,… Vì những cơ quan này không do nhân dân địa phương thành lập ra dù trực tiếp hay gián tiếp, mà do các cơ quan bộ, ngành ở trung ương thành lập, bổ nhiệm thủ trưởng các cơ quan này và trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chúng

Như vậy chính quyền địa phương của nước ta, theo quy định của Hiến pháp năm 1992, mới đây là hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 được tổ chức 3 cấp đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp huyện); xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Ở tất cả các đơn vị hành chính nói trên, không phân biệt sự khác nhau về vị trí, tính chất, vai trò ở thành thị hay nông thôn, đều được xác định cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều tổ chức Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân

1.1.3 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về Đảng lãnh đạo chính quyền

Với quan điểm khoa học về lịch sử, C.Mác đã chứng minh quá trình chuyển biến vai trò lãnh đạo sang giai cấp công nhân, xuất phát từ sự phát triển của lực lượng sản xuất là một tất yếu lịch sử Thông qua việc giành được quyền lực nhà nước bằng cách lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản đã thiết lập nên nhà nước của mình, thiết lập nên quyền lãnh đạo đối với nhà nước Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã chỉ rõ: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [35, tr.610]

Trang 18

Trong cuộc đấu tranh giai cấp có tính lịch sử này, giai cấp vô sản cần có một đảng chân chính lãnh đạo - Đảng cộng sản Bởi vì lịch sử đấu tranh giai cấp

đã khẳng định một điều, để giành được thắng lợi tất yếu phải xây dựng được cho mình một Đảng cách mạng Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản Đó là những người kiên quyết nhất, là bộ phận cổ vũ tất cả các bộ phận khác; họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản Mục đích của những người cộng sản, cũng là mục đích của tất cả các Đảng

vô sản khác; tổ chức của những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền Tính quy luật của lịch

sử là: chủ nghĩa tư bản nhất định được thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản và người có vai trò thực hiện bước thay đổi thế giới là giai cấp công nhân mà Đảng cộng sản là đội tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo

Theo C Mác và Ph.Ăngghen: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản ở nước mình đã” [34, tr.611] Và “Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu”[34, tr.623-624]

V.I Lênin đã chỉ ra, chỉ có một Đảng chân chính mới bảo đảm duy nhất cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản tác động đến mọi quá trình

xã hội, trước hết là thông qua hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội Vai trò lãnh đạo của Đảng là ở chỗ nó lãnh đạo nhà nước, các tổ chức xã hội, thông qua các tổ chức này, lãnh đạo toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Lênin chỉ

ra rằng: “Trong nước cộng hòa chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan Nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng” [29, tr.38] Tuy nhiên, sau khi lãnh

Trang 19

đạo chính quyền, Lênin cũng đã phát hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước có dấu hiệu không cụ thể, chồng chéo Lênin đã yêu cầu: cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của Đảng (và của Ban Chấp hành Trung ương của nó) với nhiệm vụ chính quyền Xô Viết và các cơ quan Xô Viết, còn về Đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt như hiện nay

Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn dành

sự quan tâm đến việc xây dựng tổ chức Đảng Người xác định: “Trước hết phải

có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” [40, tr.267-268] Người đã tập trung xây dựng và rèn luyện những người ưu tú từ các giai cấp, tầng lớp lao động để hình thành một Đảng cách mạng chân chính Người cũng yêu cầu chính phủ (suy rộng ra là cơ quan nhà nước các cấp) phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết: “Việc gì có lợi cho dân thì phải làm, việc gì

có hại cho dân thì phải tránh” [41, tr.22] Bác luôn khẳng định nhà nước là của dân, Đảng đại diện cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động, lãnh đạo nhà nước thực thi nhiệm vụ mà nhân dân giao phó Do vậy, quyền lực là thống nhất, không có sự phân chia quyền lực Người cho rằng: “Trong Đảng và Nhà nước ta

có sự phân công chặt chẽ như các bộ phận trong chiếc kim đồng hồ; cái kim dây

cót khác nhau nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau Thiếu một bộ phận nào cũng

không được”[39, tr.555-556] Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng đã từng lưu ý rằng,

trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, để tránh những sai lầm, khuyết điểm, Đảng phải không ngừng phát huy dân chủ trong sinh hoạt và công tác, đảm bảo sự lãnh đạo tập thể, đi đúng đường lối quần chúng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, chống độc quyền, độc đoán, kéo bè, kéo cánh Để phát huy dân chủ trong điều kiện một Đảng cầm quyền, cần tiếp tục hoàn thiện thể

Trang 20

chế: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” Đảng lãnh đạo là một cách thức (quan trọng nhất) mang lại lợi ích cho giai cấp công nhân, cho dân tộc và quốc tế Lợi ích đó là chính trị, kế tiếp là các lợi ích khác, nhằm đạt được dân chủ, bình đẳng, công bằng, văn minh,… Ngoài ra, không có một tổ chức nào có thể thay thế Đảng Cộng sản trong việc mang lại lợi ích cho số đông người lao động

Thực hiện quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã từng bước hoàn thiện về quan niệm Đảng lãnh đạo Nhà nước và cơ quan Nhà nước các cấp

Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã đổi mới nội dung và ph

nhiệm vụ: Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể; xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội và cụ thể hoá chiến lược đó thành những kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; quản lý hành chính - xã hội và hành chính - kinh tế; điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn xã hội theo kế hoạch, giữ vững pháp luật, kỹ cương nhà nước và trật tự xã hội, giữ vững quốc phòng và an ninh

Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nêu rõ quan điểm cần thiết sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước

Tổ chức và hoạt động bộ máy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân

chủ, thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó

Đại hội VII cũng đã chủ trương cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của

Trang 21

Chính phủ, coi trọng hoạt động của tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm và quyền hạn các cá nhân của người đứng đầu chính phủ, đứng đầu bộ, ngành trong quản lý và điều hành Theo đó, Nghị quyết hội nghị Trung ương 2 (12-1991), khoá VII, nhấn mạnh: “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là điều kiện quan trọng nhất để tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, làm cho sự lãnh đạo của Đảng có chất lượng và có hiệu quả hơn, đồng thời làm cho sự quản lý và điều hành của Nhà nước có hiệu quả, pháp luật được tôn trọng, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy”[16, tr.56] Đảng lãnh đạo Nhà nước chứ không làm thay Nhà nước Cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ

và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Nhà nước thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng

Thực hiện quan điểm chỉ đạo đó, ngày 15 tháng 4 năm 1992, Quốc hội khoá VIII đã thông qua Hiến pháp sửa đổi, quy định những vấn đề cơ bản nhất

về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân

Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII (1/1995), khoá VII, chủ trương tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa” [17, tr.78] Nghị quyết Trung ương 3 (6/1997), khoá VIII, đã khẳng định những thành tựu quan trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan Nhà nước

Nghị quyết Hội nghị Trung ương VII (năm 1999), khoá VIII, chủ trương tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong tổng thể bộ máy của hệ thống chính trị, coi cải cách hành chính là nhiệm vụ thường xuyên, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác cải cách hành chính

Trang 22

Đại hội IX của Đảng đã tiếp tục khẳng định nội dung tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho

sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của đảng

và Hiến pháp, pháp luật của nhà nước” [18, tr.98] Để cụ thể hoá Nghị quyết đại hội, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX đã ban hành Nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở”

Việc khẳng định Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng (Văn kiện Đại hội

IX của Đảng và Điều 2, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013) đã thể hiện bước phát triển mới về quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời cũng là sự đổi mới có tính nguyên tắc trong quan hệ giữa Đảng với Nhà nước nói chung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng Nó đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn chỉnh

cả về phía Đảng và cả phía Nhà nước

Đại hội X đã nêu rõ “Đảng phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nhất là phương thức lãnh đạo Nhà nước, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân Phải xây dựng hệ thống các quy chế về sự lãnh đạo của Đảng ở các ngành, các cấp Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị” [19, tr.67]

Hội nghị Trung ương 5, khoá X khẳng định: “Trong điều kiện ở nước ta một Đảng duy nhất cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức lãnh đạo của Đảng tác động trực tiếp đến hoạt động của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị Phương thức lãnh đạo tốt, sẽ tạo động lực cho các tổ chức trong

hệ thống chính trị phát huy vai trò, vị trí của mình Ngược lại, nếu phương thức lãnh đạo của Đảng không tốt, sẽ kìm hãm sự phát huy năng lực của các tổ chức

Trang 23

trong hệ thống chính trị Do vậy, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, đó cũng chính là điều kiện để tổ chức cơ sở Đảng thực hiện tốt chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng ở cơ sở”

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Tập trung rà soát, bổ sung, điều chỉnh, ban hành mới, xây dựng đồng bộ hệ thống các quy chế, quy định, quy trình công tác để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị Khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước” [20, tr.264]

Như vậy, qua các kỳ Đại hội và các hội nghị Trung ương Đảng, Đảng ta từng bước hoàn thiện về quan niệm Đảng lãnh đạo Nhà nước và cơ quan nhà nước các cấp Có thể nhận thấy rằng, mạch tư duy về nội dung Đảng lãnh đạo Nhà nước được xác định khá rõ: Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, các nghị quyết, nguyên tắc giải quyết các vấn

đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng Đảng tập trung lãnh đạo xây dựng Nhà nước thực sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, có phân công, phân cấp quản lý, tôn trọng, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và người đứng đầu các tổ chức trong công tác cán bộ Đảng kết hợp chặt chẽ việc lãnh đạo và kiểm tra bộ máy nhà nước thông qua tổ chức Đảng và các đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là hệ thống các phương pháp, các hình thức, các biện pháp mà Đảng tác động vào Nhà nước để hiện thực hóa ý chí và mục tiêu của Đảng Về nguyên tắc, mục tiêu cao nhất của Đảng lãnh đạo Nhà nước là tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân bằng Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong quá trình xây dựng xã hội mới, nhằm làm cho mục

Trang 24

tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nói chung, của từng thời kỳ nói riêng được thực hiện có hiệu quả cao Theo đó, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước bị quy định bởi đặc tính khách quan và chức năng cơ bản của hệ thống tổ chức Nhà nước và tính chất lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Trong những năm đổi mới, trên cơ sở đổi mới tư duy và cùng với đổi mới về kinh tế, về hệ thống chính trị, văn hóa - xã hội, phương thức lãnh đạo của Đảng cũng được đổi mới, có những bước tiến, khác xa so với thời kỳ chiến tranh và thời kỳ tập trung bao cấp Bước tiến về đổi mới phương thức lãnh đạo thể hiện ở chỗ:

- Đảng và các cấp ủy Đảng ngày càng coi trọng và quan tâm đến đổi mới phương thức lãnh đạo - một yêu cầu cơ bản và cấp bách của đổi mới, chỉnh đốn Đảng cho phù hợp với tình hình đã thay đổi

- Đảng ngày càng xác định rõ hơn nội dung của phương thức lãnh đạo và các "kênh", các con đường đổi mới phương thức lãnh đạo Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991), đã chỉ rõ: "Đảng lãnh đạo

xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu

tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị" "Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được đổi mới theo hướng không ngừng mở rộng dân chủ và công khai; các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng phát huy vai trò tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân và vai trò người phản biện đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 25

- Đảng và các tổ chức Đảng ngày càng coi trọng và tôn trọng vai trò các

cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp Vai trò của các tổ chức Nhà nước ngày càng được phát huy, được đổi mới về tổ chức

và phương thức hoạt động, tính chủ động, hiệu lực và hiệu quả ngày càng được nâng cao Ngày càng phân định rõ hơn chức năng của các tổ chức Đảng và các

cơ quan Nhà nước, nhất là ở Trung ương, giảm bớt sự chồng chéo, lấn sân của nhau

- Đảng đã bố trí cán bộ, đảng viên của mình giữ những cương vị chủ chốt trong bộ máy chính quyền các cấp, nhờ đó, giữ vững được sự lãnh đạo toàn diện

và tuyệt đối của Đảng đối với hệ thống chính trị

- Ngày càng xác định rõ hơn nội dung, phạm vi lãnh đạo, mối quan hệ lãnh đạo của cấp ủy với cơ quan nhà nước, nhất là ở Trung ương Đã xây dựng được quy chế làm việc của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, cũng như xây dựng chương trình công tác của cấp ủy toàn khóa, hàng năm

Thông qua đó, xử lý đúng đắn hơn, rành mạch hơn (nhưng không phải cứng nhắc, máy móc) mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền, giữa cơ quan đảng và cơ quan chính quyền, giúp cho cấp ủy tập trung trí tuệ và sức lực lãnh đạo những vấn đề lớn và quan trọng

- Quá trình xây dựng và ban hành Nghị quyết của Đảng đã được cải tiến (chú ý hơn đến công tác tham mưu, tư vấn, sử dụng chuyên gia, làm thí điểm), việc phổ biến nghị quyết cũng giảm bớt tính hình thức, tăng tính thiết thực, ngắn gọn, gắn với chương trình hành động

Tuy có những bước tiến quan trọng trên, song, những đổi mới về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình, yêu cầu cần đổi mới Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Trên vấn đề này, vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc làm hạn chế cả vai trò lãnh đạo của Đảng lẫn hiệu lực quản lý của Nhà nước và

Trang 26

vai trò làm chủ của nhân dân Vẫn còn tình trạng Đảng bao biện, làm thay, lấn sân công việc của chính quyền, cơ quan Đảng chạy theo những việc sự vụ,

"buông cái to nắm cái nhỏ", can thiệp quá sâu vào công việc của chính quyền Vẫn còn tình trạng cơ quan chính quyền thụ động, ỷ lại vào cấp ủy, né tránh không dám chịu trách nhiệm, hoặc đẩy các công việc đáng lẽ thuộc thẩm quyền mình giải quyết sang cho cấp ủy để giữ "chốt an toàn"; vẫn còn tình trạng cấp trên ôm đồm nhiều việc của cấp dưới mà không dám mạnh dạn phân cấp, nên cấp trên không còn thời gian và sức lực để đầu tư suy nghĩ những vấn đề lớn, quan trọng hơn hoặc có tầm chiến lược Đồng thời, cũng vẫn còn tình trạng cấp

ủy buông lỏng lãnh đạo chính quyền, không phát huy được vai trò lãnh đạo, thậm chí bị cơ quan chính quyền lấn sân,…

Thực tế đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX): "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm tránh cả hai khuynh hướng: hoặc buông lỏng sự lãnh đạo, hoặc bao biện, làm thay, nhất là phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước" [18, tr.18]

1.2 Vị trí, vai trò của Đảng bộ, chính quyền cấp cơ sở

1.2.1 Vị trí, vai trò của Đảng bộ cấp cơ sở

Đảng bộ cấp cơ sở là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, nơi tiến hành trực tiếp công tác tuyên truyền, giáo dục và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đảng bộ cấp cơ sở là nơi giáo dục, rèn luyện, đề nghị kết nạp đảng viên mới và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng

Về hoạt động lãnh đạo, Đảng bộ cấp cơ sở vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa là nơi góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách thông qua tổng kết hoạt động thực tiễn năng động, sáng tạo của đảng viên và quần chúng Thực tiễn phong phú, sinh động ở cơ sở là một

Trang 27

trong những điều kiện quan trọng góp phần tạo nên trí tuệ cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam

Đảng bộ cấp cơ sở là một thành viên của hệ thống chính trị ở cơ sở, nhưng là thành viên giữ vị trí, vai trò hạt nhân lãnh đạo hệ thống đó, bảo đảm cho hoạt động ở cơ sở theo đúng định hướng của Đảng

Vị trí hạt nhân chính trị của Đảng bộ cấp cơ sở thể hiện vai trò đoàn kết

và lãnh đạo toàn diện các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Đảng bộ cấp cơ sở còn là nơi giáo dục, tổ chức, động viên cán bộ, đảng viên và quần chúng thực hiện có hiệu quả cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Đảng bộ cấp cơ sở là trung tâm, tập hợp mọi lực lượng ở cơ sở thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở

Các Đảng bộ cấp cơ sở lãnh đạo qua các kỳ Đại hội đại biểu “Đại hội thảo luận văn kiện của cấp uỷ cấp trên; đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm

kỳ vừa qua; quyết định nhiệm kỳ tới; bầu cấp ủy; bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên” [14, tr.16] Giữa 02 kỳ đại hội, cấp ủy chịu trách nhiệm với đại hội đại biểu

“lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị quyết, chỉ thị của cấp trên” [13, tr.19]

Như vậy, cấp ủy Đảng địa phương mà cụ thể ở đây là Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy, được Đảng bộ ủy nhiệm, giao quyền là “vị chỉ huy tối cao” trong địa phương của mình Từ thẩm quyền chung được quy định trong Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam và các văn bản hướng dẫn của cấp ủy cấp trên, Đảng

ủy phân công, giao quyền và ủy quyền cho tập thể Ban Thường vụ Đảng ủy, tập thể Thường trực Đảng ủy và các cá nhân đồng chí Bí thư Đảng ủy Vị trí, vai trò

Trang 28

và chức năng, nhiệm vụ của tập thể và các cá nhân trong Đảng ủy được Đảng bộ các cấp cơ sở xác định như sau :

- Đảng ủy có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác tư tưởng, công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng và công tác tổ chức, cán bộ của địa phương

- Có trách nhiệm quán triệt Nghị quyết của Đảng và các chỉ thị của Trung ương, của thành phố, của quận và Nghị quyết đại hội Đảng bộ phường, Đảng ủy tiến hành thảo luận và quyết định những đề án, chuyên đề về phát triển kinh tế -

xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác tư tưởng, công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng và công tác tổ chức, cán bộ Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách phường hàng năm do Ủy ban nhân dân phường trình bày Thông qua báo cáo, ra Nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy vai trò của chính quyền, mặt trận, các đoàn thể quần chúng trong phường Chuẩn bị đại hội Đảng bộ cấp cơ sở nhiệm kỳ tiếp theo Đề xuất với quận ủy các vấn đề xét thấy cần thiết thuộc thẩm quyền của Quận ủy và cấp ủy cấp trên

Đối với Ban Thường vụ Đảng ủy:

Ban Thường vụ Đảng ủy cấp cơ sở là cơ quan thay mặt Đảng ủy lãnh đạo

và điều hành mọi công việc của Đảng bộ giữa hai lần hội nghị Đảng ủy Thẩm quyền chủ yếu của Ban Thường vụ Đảng ủy là: Tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng ủy cấp cơ sở và các Nghị quyết, Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ chính trị, của Thành ủy, Quận ủy Quyết định một số chủ trương, biện pháp thực hiện Nghị quyết mà không triệu tập Ban Chấp hành, sau

đó báo cáo lại trước hội nghị Ban Chấp hành kỳ họp gần nhất Triệu tập các cuộc họp thường kỳ của Đảng ủy, báo cáo tình hình và đề xuất chủ trương chỉ đạo tiếp theo Lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp giữa các tổ chức như Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng, lực lượng vũ trang, công an về các

Trang 29

mặt công tác trên địa bàn; kiểm tra việc thi hành Nghị quyết Đại hội và cấp ủy theo phân công, Nghị quyết và Chỉ thị của cấp ủy cấp trên Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc tổ chức thực hiện những công việc quan trọng Quyết định, bố trí cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của cấp cơ sở Báo cáo tình hình về các mặt công tác của Đảng bộ cấp cơ sở về Ban Thường vụ Quận ủy

Đối với Thường trực Đảng ủy:

Thường trực Đảng ủy gồm Bí thư và các Phó Bí thư Đảng ủy Thường trực Đảng ủy không phải là một cấp, một cơ quan của tổ chức Đảng Thẩm quyền của Thường trực Đảng ủy chủ yếu do Ban Thường vụ ủy quyền Thay mặt Ban Thường vụ Đảng ủy, Thường trực Đảng ủy chỉ đạo, kiểm tra thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của cấp ủy, của Ban Thường vụ và của cấp ủy cấp trên, giải quyết công việc hàng ngày của Đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Thường vụ

Đối với Bí thư Đảng ủy:

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, Bí thư Đảng uỷ có vai trò rất quan trọng trong Đảng bộ Là người chịu trách nhiệm cao nhất trong Đảng bộ, Ban Thường vụ và Thường trực Đảng ủy; cùng Đảng bộ, Ban Thường vụ và Thường trực Đảng bộ chịu trách nhiệm trước Quận ủy, Ban Thường vụ Quận ủy, trước Đảng bộ và nhân dân tại cơ sở về sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực ở địa phương

Chuẩn bị việc chỉ đạo chủ trì và kết luận các cuộc họp Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ, các hội nghị giao ban thường trực; chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ tiếp theo; kiểm tra việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành; chủ động đề xuất, trao đổi trong thường trực cấp ủy những vấn đề lớn, quan trọng để đưa ra Ban Thường vụ, Ban Chấp hành; Chỉ đạo việc

sơ, tổng kết các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng

Cùng với đồng chí Phó Bí thư Thường trực và Phó Bí thư - Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp cơ sở giải quyết công việc hàng ngày của Đảng bộ, lãnh đạo

Trang 30

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp cơ sở tổ chức triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp ủy có liên quan đến công tác quản lý nhà nước ở địa phương Chỉ đạo các đồng chí Phó bí thư Đảng ủy thực hiện các nhiệm vụ theo

sự phân công của cấp ủy và phụ trách một số công việc theo quy chế

Đối với Phó Bí thư - Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp cơ sở:

- Chịu trách nhiệm chính, trực tiếp về những nội dung công việc được phân công cụ thể:

- Chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước cấp cơ sở Chỉ đạo xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, đúng pháp luật

- Tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân về các lĩnh vực kinh tế - xã hội - quốc phòng – an ninh, công tác tổ chức và cán bộ thuộc thẩm quyền Chỉ đạo công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch hằng năm, 5 năm, các chương trình,

đề án kinh tế - xã hội - quốc phòng - an ninh… trình Ban Thường vụ, Ban Chấp hành xem xét, quyết định

- Thay mặt Thường trực chủ trì thực hiện quy chế phối hợp giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp cơ sở với Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể; phụ trách công tác dân vận chính quyền, công tác tiếp dân Chủ động đề xuất những vấn đề thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân với Thường trực Đảng ủy, bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, điều hành giữa cấp ủy Đảng và chính quyền

1.2.2 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp cơ sở

Chính quyền địa phương ở Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền Nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra (Hội đồng nhân dân) và các cơ quan, tổ chức Nhà nước khác được thành lập trên cơ sở các

cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước này theo quy định của pháp luật (Ủy ban

Trang 31

nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân,…), nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước

Ở cấp cấp cơ sở thì chính quyền địa phương bao gồm: Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân

- Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp cơ sở trong hệ thống chính trị

ở địa phương Trong điều kiện cụ thể của thể chế Nhà nước Việt Nam, pháp luật quy định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra theo các nguyên tắc: trực tiếp, phổ thông, bình đẳng

và bỏ phiếu kín; chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

Hội đồng nhân dân cấp cơ sở quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, cũng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước

Hội đồng nhân dân cấp cơ sở thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân ở địa phương

Tính quyền lực của Hội đồng nhân dân thể hiện ở chỗ:

- Hội đồng nhân dân là cơ quan nhà nước ở địa phương được nhân dân giao quyền thay mặt thực hiện quyền lực nhà nước

- Quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương, biến ý chí của nhân dân địa phương trở thành quy định bắt buộc đối với dân cư ở địa phương

Trang 32

Tính đại diện của Hội đồng nhân dân thể hiện ở chỗ:

- Ở địa phương, chỉ có Hội đồng nhân dân là cơ quan duy nhất do cử tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Hội đồng nhân dân là đại diện, tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân địa phương, đại diện trí tuệ tập thể nhân dân

- Trong hệ thống chính trị ở địa phương sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong hoạt động của Hội đồng nhân dân là một phương thức thể hiện cụ thể cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đây là yếu tố cơ bản

để các quyết sách của Hội đồng nhân dân đúng “ý Đảng, lòng dân” Mặt khác đây còn là vấn đề mang tính nguyên tắc đã được quy định trong Điều 4 Hiến pháp năm 2013 Nội dung công tác lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân có tính toàn diện, từ việc lãnh đạo công tác tổ chức, cán

bộ, đến việc định hướng cho các hoạt động của Hội đồng nhân dân Trong quá trình lãnh đạo thì phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng có tác động rất lớn đến chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân

Trong thể chế dân chủ như hiện nay thì mọi quyết định của Hội đồng nhân dân đều phải dựa trên cơ sở chủ trương, đường lối, nghị quyết của cấp ủy Đảng Hội đồng nhân dân có trách nhiệm thể chế hóa Nghị quyết của cấp ủy Đảng nhằm đưa chủ trương, đường lối, Nghị quyết đó vào cuộc sống nhưng đồng thời phải phản ánh được ý chí, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân mà Hội đồng nhân dân là người đại diện, có như vậy thì các quyết định của Hội đồng nhân dân mới khả thi, mang lại hiệu quả và thực sự đi vào cuộc sống nhân dân

- Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp cơ sở trong hệ thống chính trị ở địa phương:

- Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên

Trang 33

- Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn

- Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước ở cơ sở

Đây là chính quyền của các đơn vị hành chính cấp cơ sở Ủy ban nhân dân cấp cơ sở là cấp chính quyền địa phương gần dân nhất Ủy ban nhân dân cấp cơ

sở có từ 4 đến 5 thành viên, gồm 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 ủy viên quân sự

và 1 ủy viên công an Người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp cơ sở là Chủ tịch

Ủy ban nhân dân do do Hội đồng nhân dân của cấp cơ sở bầu ra bằng hình thức

bỏ phiếu kín Thông thường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp cơ sở sẽ đồng thời là một Phó Bí thư Đảng ủy của cấp cơ sở Ủy ban nhân dân cấp cơ sở hoạt động theo hình thức chuyên trách và không chuyên trách

Nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban nhân dân được thực thi trên các lĩnh vực: kinh tế; văn hóa, xã hội; quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính,… và việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của cấp ủy

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp

Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng, bền vững của các địa phương trong cả nước nói chung đặt ra rất nhiều nhiệm vụ đối với chính quyền cơ sở, chính vì vậy để chính quyền cơ sở hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy là việc làm hết sức cần thiết nhằm phát triển trên mọi lĩnh vực của địa phương

Qua thực tiễn cho thấy nơi nào cấp ủy Đảng trong sạch, vững mạnh, quan tâm lãnh đạo chỉ đạo chính quyền địa phương thì nơi đó đạt hiệu quả cao trong

Trang 34

hoạt động, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, quyền dân chủ của người dân được phát huy Mối quan hệ giữa cấp ủy Đảng với đối với chính quyền được thể hiện trên ba nội dung chủ yếu là: chỉ đạo việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và thông qua định hướng phát triển của địa phương; thông qua công tác tổ chức cán bộ; thông qua việc kiểm tra, giám sát của cấp ủy Đảng

Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với chính quyền là bảo đảm cao nhất cho quyền dân chủ của nhân dân, cho sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của cơ quan nhà nước ở địa phương Vì vậy, bảo đảm tốt sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với chính quyền là một điều kiện quyết định để tăng cường xây dựng chính quyền địa phương, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước Một trong những công

cụ chủ yếu để cấp ủy Đảng lãnh đạo chính quyền địa phương là thông qua nghị quyết, chủ trương, định hướng của cấp ủy Đảng Những văn bản của chính quyền một mặt phải đúng pháp luật nhưng mặt khác phải thể hiện được chủ trương, định hướng, nghị quyết của Đảng

Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp ủy Đảng với chính quyền, bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đồng thời phát huy được vai trò, chức năng của chính quyền cần phải thực hiện những nội dung sau:

Một là, xây dựng cơ chế ban hành văn bản của cấp ủy Đảng và chính

quyền Nội dung quy chế cần xác định rõ những vấn đề nào thì cần cấp ủy ra Nghị quyết, những vấn đề nào thuộc Hội đồng nhân dân, những vấn đề nào thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân; quy định thời hạn Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân ra văn bản sau khi cấp ủy có Nghị quyết

Hai là, nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy Đảng, chất lượng các kỳ

họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Sinh hoạt của cấp ủy Đảng cần chú trọng đến quan điểm chính trị trong các lĩnh vực mà tổ chức Đảng có trách nhiệm lãnh đạo; các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cần thể hiện được tính chiến đấu trong việc triển khai nghị quyết của cấp ủy Đảng, phải

Trang 35

đóng vai trò là “cầu nối” để đưa Nghị quyết, chủ trương của cấp ủy vào cuộc sống

Ba là, cấp ủy Đảng và đảng viên phải tôn trọng pháp luật và cơ quan nhà

nước Đảng bắt buộc tất cả các tố chức, các cán bộ, đảng viên của Đảng phải tôn trọng quyền lực của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, nghiêm chỉnh chấp hành văn bản pháp quy của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, coi đó là kỷ luật của Đảng

Bốn là, để thực hiện tốt và tăng cường mối quan hệ giữa cấp ủy Đảng với

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, có chế độ sinh hoạt định kỳ với nội dung được xác định, mà không lẫn lộn hoặc kết hợp làm một với sinh hoạt của lãnh đạo chính quyền Bên cạnh việc kiện toàn tổ chức, bộ máy của chính quyền địa phương, cũng cần chú trọng, kiện toàn, củng cố cấp ủy Đảng và bộ máy tham mưu của Đảng Bộ máy tham mưu cho cấp ủy đảng dù ở cấp nào cũng cần phải tinh gọn, làm đúng chức năng tham mưu của Đảng, đủ năng lực để giúp cấp ủy thẩm tra, kiểm tra việc quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng trong hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và giúp cấp ủy quản lý cán bộ chủ chốt Đồng thời cũng cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa bộ máy tham mưu của Đảng với bộ máy giúp việc của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, có thực hiện được như vậy thì cấp ủy Đảng mới thực hiện được sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiện toàn tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương Nâng cao năng lực tổ chức của Đảng trước hết chính là nâng cao năng lực của cấp ủy và bộ máy tham mưu trong việc xây dựng, kiện toàn, sử dụng chính quyền địa phương như là một công cụ sắc bén nhất để tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của cấp ủy Vai trò và hiệu lực quản lý của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được nâng cao là nội dung quan trọng nhất nói lên trình

độ và năng lực tổ chức của cấp ủy Đảng địa phương Hiệu lực của chính quyền địa phương do cán bộ quyết định Cấp ủy Đảng lãnh đạo về công tác cán bộ thì trước hết phải có sự thống nhất nhận thức về tiêu chuẩn, cơ cấu cấp ủy Xuất

Trang 36

phát từ chức năng lãnh đạo chính trị của Đảng, cán bộ cấp ủy phải là những nhà chính trị, được rèn luyện thử thách vững vàng về chính trị, đứng vững trên lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và biết vận dụng vào thực tiễn địa phương để xem xét, phân tích, xử lý các vấn đề đặt ra Đây là vấn đề không mới trong khoa học tổ chức Để tăng cường mối quan hệ giữa cấp ủy với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, đồng thời đảm bảo Hội đồng nhân dân là

cơ quan quyền lực thực sự, đại diện cho nhân dân ở địa phương thì Bí thư nên kiêm chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã đưa ra việc thực hiện thí điểm đề án nhất thể hóa một số tổ chức và chức danh lãnh đạo Đảng, chính quyền ở các cấp chính quyền địa phương, trong đó có cấp cơ sở, tiếp tục thực hiện mô hình Bí thư đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân

Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi chung đối với mọi cấp chính quyền Sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nguyên tắc chủ đạo, căn bản nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng nhằm đảm bảo cho chính quyền thực sự là của dân, tăng tính chủ động, hiệu quả của chính quyền, phát huy dân chủ, khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước Tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân làm việc trong bộ máy của Đảng và Nhà nước đều phải triệt để tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước

Vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được đặt ra từ lâu, nhất là từ thời kỳ đổi mới (Đại hội lần thứ VI của Đảng - 1986) Khác với phương thức lãnh đạo của Đảng trong chiến tranh giải phóng dân tộc, hiện nay Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ hơn về phương thức lãnh đạo của Đảng với 5 nội dung quan trọng: Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn Đảng lãnh đạo bằng công tác

Trang 37

tuyên truyền, thuyết phục, kiểm tra Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền Đảng không bao biện, làm thay các tổ chức khác trong hệ thống chính trị Điểm đáng lưu ý là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng chủ yếu: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp; quản lý xã hội bằng pháp luật; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Liên hệ tại quận Tân Phú, tuy là quận mới thành lập từ năm 2003 đến nay vẫn là một trong những quận có những vấn đề nổi cộm trong thời gian vừa qua liên quan đến một phần trách nhiệm trong lãnh đạo của cấp ủy Đảng còn thiếu quan tâm sâu sát nên để xảy ra những vi phạm trong lĩnh vực quản lý nhà nước,

an ninh trật tự ở một số địa phương trên địa bàn quận chưa được đảm bảo, tình trạng tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, lợi ích nhóm chưa được kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi,…Chính vì vậy tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền cơ sở ở quận Tân Phú trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cần thiết

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Về khái niệm lãnh đạo chúng ta có thể hiểu, đó là việc đề ra đường lối, chỉ đạo mọi hoạt động có mục đích và có tổ chức của chủ thể đến các đối tượng, nhằm đạt tới những lợi ích của chủ thể, thực hiện mục tiêu do chủ thể đặt ra

Chính quyền địa phương có vai trò đặc biệt trong việc điều hành, quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn, để xây dựng bộ máy chính quyền địa phương trong sạch vững mạnh, phát huy có hiệu lực hiệu quả hoạt động, trước hết cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Trong các cấp của nhà nước thì cấp cấp cơ sở có vị trí đặc biệt quan trọng,

là cấp trực tiếp với đảng viên và nhân dân Có thể khẳng định rằng, sự phát triển của đất nước không thể tách rời sự phát triển của các địa phương Nhân tố làm nên phát triển đó, trước hết phải nói đến các Đảng bộ cấp cơ sở Từ lý thuyết đến thực tiễn cho thấy, mọi sự thành bại của địa phương đều gắn liền với trách nhiệm của Đảng bộ, cấp ủy Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ cấp cơ sở đối với chính quyền cùng cấp để không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng là vấn đề có tầm quan trọng hiện nay

Chính vì vậy trong những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của phương thức lãnh đạo và yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước bằng nhiều hình thức, biện pháp, cách thức lãnh đạo và đã mang lại những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tốt hơn vai trò của chính quyền các cấp

Trang 39

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN Ở QUẬN TÂN PHÚ,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Về đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội quận Tân Phú

Tân Phú là quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh Quận mới được thành lập vào năm 2003 Ngày 05 tháng 11 năm 2003, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định số 130/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính quận Tân Bình để thành lập quận Tân Phú và các phường trực thuộc, điều chỉnh địa giới hành chính một số phường thuộc quận Tân Bình Nội dung như sau: Thành lập quận Tân Phú trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các phường 16, 17, 18, 19, 20; 110,23

ha diện tích tự nhiên và 23.590 nhân khẩu của phường 14; 356,73 ha diện tích tự nhiên và 26.414 nhân khẩu của phường 15 thuộc quận Tân Bình Quận Tân Phú

có 1.606,98 ha diện tích tự nhiên và 310.876 nhân khẩu

Về ranh giới hành chính, phía đông quận Tân Phú giáp quận Tân Bình, ranh giới là đường Trường Chinh và Âu Cơ Phía tây giáp quận Bình Tân, ngăn cách bởi đường Bình Long và kênh 19 tháng 5 Phía nam giáp các quận 6, quận

11 Phía bắc giáp Quận 12 Quận Tân Phú hiện có 11 phường; bao gồm các phường Hiệp Tân, Hòa Thạnh, Phú Thạnh, Phú Thọ Hòa, Phú Trung, Sơn

Kỳ, Tân Quý, Tân Sơn Nhì, Tân Thành, Tân Thới Hòa, Tây Thạnh Trong đó, phường Hòa Thạnh là trung tâm của quận

Trang 40

Kể từ ngày thành lập, kinh tế quận liên tục phát triển, cơ cấu ngành kinh

tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng thương mại - dịch vụ Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng không ngừng tăng trưởng qua các năm

và ở mức hợp lý; doanh thu thương mại - dịch vụ tăng đều hàng năm; các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể có xu hướng phát triển mạnh

Với chủ trương tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, quận đã đề ra nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp ổn định sản xuất; quan tâm phát triển kinh tế tập thể,… Từ đó, thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư trên các lĩnh vực tài chính - ngân hàng, giáo dục - đào tạo, thương mại - dịch vụ, văn hóa - thể thao; hình thành và phát triển một số tuyến đường chuyên doanh, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại,… góp phần chuyển hóa hiệu quả khu vực thương mại, dịch vụ trên địa bàn quận

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện trong 5 năm, từ 2011 đến 2016 là 6.252,86 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 4,33%/năm, trong đó thuế công thương nghiệp chiếm tỷ trọng 49,89% với tốc độ tăng bình quân 7,82%/năm, đưa quận trở thành đơn vị có số thu ngân sách trên 1.000 tỷ đồng của thành phố Quản lý chặt chẽ việc chi ngân sách, tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 5 năm là 3.167,52 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 15,57%/năm, chủ yếu chi đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội và cải cách tiền lương

Trên cơ sở đồ án quy hoạch chung tỷ lệ 1/5000, đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 của 11 phường, quận đã sớm hoàn thành việc lập

đồ án quy hoạch phân khu làm cơ sở để quản lý và phát triển đô thị theo định hướng của quy hoạch; tiếp tục thực hiện rà soát, bổ sung lộ giới hẻm từ 12m trở xuống, góp phần giải quyết những bức xúc của nhân dân trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch; khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện các dự án

Ngày đăng: 29/01/2021, 21:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w