Tìm hiểu mức độ đáp ứng với các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu trên những bệnh nhân được can thiệp đặt stent phủ thuốc động mạch vành.[r]
Trang 1y học thực hành (959) - số 4/2015 63
ngoài giờ của bệnh nhõn nội trỳ là khỏ cao, đặc biệt là
vào ngày Thứ 7 và Chủ nhật (42,03%) Chi phớ tăng
thờm khoảng 20% cho cỏc dịch vụ CSSK ngoài giờ
này là chấp nhận được với 70% cỏc đối tượng cú
KNCT cho cỏc dịch vụ đú Vỡ vậy, Bệnh viện cần tiếp
tục mở rộng cỏc dịch vụ CSSK ngoài giờ nhằm giảm
quỏ tải cho bệnh viện cũng như đỏp ứng nhu cầu cho
người dõn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Eric P, Pauline C.E và Patrick J.E (2007) Out – of –
hours demand for GP care and emergency service:
patients' choices and referrals by general practitioners and ambulance service, BMC Fam Pract, tr 8-46
2 Philips H và cỏc cộng sự (2012) Predicting the place of out – of – hours care—a market simulation based
on discrete choice analysis, J Eval Clin Pract, tr 284-290
3 Lờ Quang Cường (2008) Đỏnh giỏ tỡnh hỡnh quỏ tải của một số bệnh viện tại Hà Nội & TP Hồ Chớ Minh và đề xuất giải phỏp khắc phục, Viện Chiến lược và Chớnh sỏch
Y tế, Bộ Y tế
4 Trần Thanh Long (2011) Khảo sỏt nhu cầu dịch vụ CSSK ngoài giờ và ngoài giờ của người sử dụng dịch vụ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Y tế cụng cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
NGHIÊN CứU MộT Số CHỉ Số ĐÔNG CầM MáU ở TRẻ SƠ SINH NON THáNG
TạI BệNH VIệN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THáI NGUYÊN
Đỗ THáI SƠN - Trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên PHạM TRUNG KIÊN - Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐặNG VĂN THứC - Bệnh viện Nhi Trung ương TóM TắT
Mục tiêu: Xác định các chỉ số đông cầm máu ở trẻ
sơ sinh non tháng điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Đa
khoa Trung ương Thái Nguyên Đối tượng và phương
pháp: Nghiên cứu mô tả trên bệnh nhi sơ sinh non
tháng vào điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa
Trung ương Thái Nguyên từ 10/1/2014 đến
31/12/2014 Kết quả: Có 257 trẻ sinh non vào điều trị,
tỉ lệ trẻ trai chiếm 54,9%; tuổi thai 32-36 tuần chiếm
84,4%; cân nặng dưới 1500 gam chiếm 14,4%; 70,4%
trẻ vào viện 3 ngày đầu sau sinh Tỉ lệ tiểu cầu giảm
dưới 150.000/mm3 là 9,0%; fibrinogen giảm chiếm
62,6% Tỉ lệ trẻ sinh non 28-31 tuần có PT(%) giảm là
70,0%, thời gian PT kéo dài là 72,5% Các chỉ số
PT(s), PT(%), IRN, Fibrinogen, APTT ở trẻ có tuổi thai
28-31 tuần biến đổi nhiều hơn ở trẻ tuổi thai 32-36
tuần; các chỉ số này ở trẻ dưới 3 ngày tuổi biến đổi
nhiều hơn trẻ trên 3 ngày tuổi Kết luận: Tỉ lệ
Fibrinogen và tỉ lệ PT(%) giảm ở trẻ sơ sinh non tháng;
Các chỉ số đông cầm máu ở trẻ đẻ non có liên quan với
tuổi thai và tuổi ngày tuổi của trẻ một cách có ý nghĩa
Từ khóa: Sơ sinh non tháng, rối loạn đông cầm
máu
SUMMARY
Objective: To describe hemostatic coagulation
index of premature newborn who hospitalize Pediatrics
departament of Thai Nguyen National General
Hospital Subjects and Methods: The study wá
conducted on premature newborn were treated at
Pediatrics of Thai Nguyen National General Hospital
from 01/01/2014-31/12/2014 Results: Of the 257
children, with 54.9% of boys, the number of children
aged 32-36 week accounted for 84.4%; 70.4% of
infants hospitalized before 3 days of age The rate of
children with birth weight less than 1500g is 14.4%
The 9.0% of infants has platelet less than
150.000/mm3 The rate of infants with fibrinogen
decreased is 62.6% The rate of premature newborn
gestational age 28-31 weeks with PT (%) decreased is
70.0%; prolonged prothrombin time is 72.5% The
average value factors hemostatic coagulation disorders in preterm infants compared to the old days
of gestation and is different Conclusions: Serum fibrinogen and PT(%) levels of preterm newwborn infants is lower than normal The hemostatic coagulation index is is different with gestational age and age days statistically significant
Keywords: Preterm infants, hemostatic coagulation
ĐặT VấN Đề Sơ sinh non tháng là những trẻ sinh ra trước 37 tuần tuổi thai, trẻ sinh non có rất nhiều nguy cơ sức khỏe, bệnh tật cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ trong tương lai Các bệnh liên quan đến đông cầm máu ở trẻ sinh non tháng chiếm tỉ lệ khá lớn trong cơ cấu bệnh tật trẻ sinh non [3] Trẻ sinh non hay gặp các rối loạn đông cầm máu do cấu tạo thành mạch còn mỏng, hệ thống đông cầm máu chưa hoàn chỉnh [8],[9] Các bệnh liên quan đến đông cầm máu là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ sinh non tháng Tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung
ương, trẻ sơ sinh non tử vong do xuất huyết não là 37,9% [5]
Tại khoa Nhi bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, trẻ sơ sinh chiếm 23,6% số bệnh nhân vào viện hàng năm, trong đó sơ sinh non tháng là 53,9% Trong quá trình điều trị chúng tôi thấy 5,9% trẻ sơ sinh non tháng có xuất huyết não và xuất huyết nội tạng [1]
Đông cầm máu ở trẻ sơ sinh non tháng có đặc điểm gì, các chỉ số đánh giá đông máu cầm máu trẻ sơ sinh có gì khác biệt? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số
đông cầm máu ở trẻ sơ sinh non tháng điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên“, nhằm mục tiêu: Xác định một số chỉ số đông cầm máu ở trẻ sơ sinh non tháng điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Trang 2y học thực hành (959) - số 4/2015 64
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ sơ sinh non tháng
vào điều trị tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung
ương Thái Nguyên từ 01/01/2014 đến 31/12/2014
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Trẻ non tháng
đẻ ra đời trước thời hạn 37 tuần tuổi thai, vào viện điều
trị trong thời gian 0-28 ngày tuổi
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
- Chỉ tiêu nghiên cứu:
+ Chỉ tiêu chung: Tuổi thai, giới, ngày tuổi
+ Chỉ tiêu về lâm sàng: Cân nặng của trẻ, thiếu
máu
+ Chỉ tiêu cận lâm sàng: Các xét nghiệm đông
cầm máu: số lượng tiểu cầu, APTT, tỉ lệ prothrombin
(%), thời gian PT, IRN, fibrinogen
- Phương pháp xử lý số liệu: Theo phương pháp
thống kê y học, sử dụng phần mềm EPIDATA,
SPSS16.0
KếT QUả NGHIÊN CứU
Bảng 1 Đặc điểm tuổi thai khi đẻ và giới của đối
tượng nghiên cứu
Giới
Tuổi thai n Nam % n Nữ % n Tổng %
28-31 tuần 20 7,8 20 7,8 40 15,6
32-36 tuần 121 47,1 96 37,3 217 84,4
Tổng 141 54,9 116 45,1 257 100,0
Nhận xét: Trong số 257 trẻ, có 54,9% là trẻ trai, số
trẻ có tuổi thai 32-36 tuần chiếm 84,4%
Bảng 2 Tuổi vào viện và cân nặng khi đẻ
Ngày tuổi
Cân nặng n <3 ngày % n #3 ngày % n Tổng %
< 1500 29 11,3 8 3,1 37 14,4
1500-2500 126 49 37 14,4 163 63,4
>2500 26 10,1 31 12,1 57 22,2
Tổng 181 70,4 76 29,6 257 100
Nhận xét: 70,4% trẻ vào viện trước 3 ngày tuổi, số
trẻ có cân nặng dưới 1500g chiếm 14,4%
Bảng 3: Số lượng tiểu cầu
Số lượng tiểu cầu (103/mm3) Số trẻ Tỉ lệ %
<50 1 0,4
100-150 19 7,4
>150 234 91
Nhận xét: Chỉ 9,0% trẻ sinh non có số lượng tiểu
cầu thấp hơn 150.000/mm3
Bảng 4: Kết quả xét nghiệm Fibrinogen theo tuổi
thai của trẻ
Fibrinogen
Tuổi thai Tổng số trẻ n Fibrinogen giảm Tỉ lệ %
28-31 (tuần) 40 30 75,0*
32-36 (tuần) 217 131 60,3*
Tính chung 257 161 62,6
p<0,05*
Nhận xét: Tỉ lệ Fibrinogen giảm ở trẻ sinh non là
62,6%, tỉ lệ giảm Fibrinogen ở trẻ có tuổi thai 28-31
tuần cao hơn so với trẻ tuổi thai 32-36 tuần (p<0,05)
Bảng 5 Kết quả xét nghiệm PT theo tuổi thai của
trẻ
PT Tuổi thai Tổng số trẻ PT (giây) kéo dài n % PT(%) giảm n % 28-31 (tuần) 40 29 72,5* 28 70,0** 32-36 (tuần) 217 98 45,1* 120 55,3** Tính chung 257 127 49,4 148 57,6
p*,**<0,05 Nhận xét: thời gian PT kéo dài và tỉ lệ PT (%) giảm
ở trẻ non tháng tuổi thai 28-31 tuần cao hơn so với trẻ tuổi thai 32-36 tuần (p<0,05)
Bảng 6 Giá trị trung bình một số chỉ số đông cầm máu theo tuổi thai của trẻ
Chỉ số Tuổi thai
Đông cầm máu PTs PT% IRN Fibri APTT bệnh/chứng APTT 28-31
tuần 19,7 ± 7,1 57,9 ± 3,42 1,73 ± 0,1 1,69 ± 0,15 66,6 ± 3,9 1,9 ± 0,1 32-36
tuần 16,5 ± 6,2 69,8 ± 1,5 1,4 ± 0,3 2,24 ± 0,1 53,4 ± 1,2 1,6 ± 0,1
p <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05
Nhận xét: Các rối loạn chỉ số đông cầm máu ở trẻ non tháng tuổi thai 28-31 tuần biểu hiện rõ hơn so với trẻ tuổi thai 32-36 tuần
Bảng 7: Giá trị trung bình một số chỉ số đông cầm máu theo ngày tuổi của trẻ
Chỉ số Ngày tuổi
Đông cầm máu PTs PT% IRN Fibri APTT bệnh/chứng APTT
<3 ngày 18,1 ± 0,5 61,7 ± 1,3 1,50 ± 0,1 1,9 ± 0,1 58,5 ± 1,4 1,8 ± 0,1
≥3 ngày 15,9 ± 0,6 82,8 ± 3,0 1,3 ± 0,1 2,9 ± 0,8 48,3 ± 2,1 1,4 ± 0,1
p <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05
Nhận xét: các chỉ số đông cầm máu ở trẻ non tháng vào viện 3 ngày đầu sau đẻ có rối loạn rõ hơn trẻ trên 3 ngày tuổi (p<0,05)
BàN LUậN Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trẻ trai là 54,9% cao hơn tỉ lệ trẻ gái, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Hương cho thấy tỉ lệ trẻ trai
là 59,9% [1] Điều này cũng phù hợp theo tình hình dân
số chung của Việt Nam theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 tỉ lệ sinh của Việt Nam đã lên tới mức 110,6 trẻ nam trên 100 trẻ nữ [6] ở những trẻ trong độ tuổi từ 28-31 tuần tỉ lệ trẻ nam và trẻ nữ là cân bằng nhau nhưng chiếm phần rất nhỏ trong những trẻ sinh non được nghiên cứu 15,6%, tỉ lệ này thấp là do thời kì này thai phát triển chưa to, nguy cơ sinh non ở thời kì này còn thấp Tỉ lệ trẻ có tiểu cầu bình thường là 234 trẻ chiếm 91,0%, theo sổ tay sơ sinh chẩn đoán giảm tiểu cầu ở trẻ sơ sinh khi số lượng tiểu cầu là dưới 150.00 tiểu cầu, giảm tiểu cầu có tần suất 1-4% ở mọi trẻ sơ sinh và thường xuất hiện trong 72 h đầu sau đẻ,
tỉ lệ giảm tiểu cầu thường xảy ra nhiều nhất ở trẻ đẻ non Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Ann L Anderson, ở trẻ sơ sinh tiểu cầu hiếm khi giảm xuống dưới 100.000/mm3 trong 10 ngày đầu sau đẻ
Trẻ sinh non thì tỉ lệ giảm fibrinogen ở trẻ sơ sinh non tháng là cao qua bảng ta thấy tỉ lệ này là 62,6%
đặc biệt là trẻ non tháng 28-31 tuần tuổi thai có tỉ lệ fibrinogen giảm lên đến 75,0% nghiên cứu của
Trang 3y học thực hành (959) - số 4/2015 65
Sentilhes L cho thấy có sự hủy fibrinogen ở những trẻ
sơ sinh sau khi sinh ra góp phần làm giảm tỉ lệ
fibrinogen trong máu và làm tăng nguy cơ xuất huyết ở
trẻ sinh non, nhưng số trẻ có thời gian PT kéo dài so
với trẻ thời gian PT trong giới hạn bình thường là tương
đương nhau, thời gian PT kéo dài và tỉ lệ PT (%) giảm
ở trẻ non tháng tuổi thai 28-31 tuần lần lượt là 72,5%
và 70% cao hơn so với trẻ tuổi thai 32-36 tuần
(p<0,05) PT giảm trong trường hợp giảm hoạt tính con
đường đông máu ngoại sinh(II, V,VII, X) do các yếu tố
đông máu ngoại sinh bị ảnh hưởng thể hiện tình trạng
giảm đông [2]
Số lượng tiểu cầu trung bình của trẻ sơ sinh 32-36
tuần cao hơn so với trẻ có tuổi thai 28-31 tuần vấn đề
này phù hợp với nghiên cứu của Amato [9] Giá trị
trung bình một số chỉ số đông máu so với tuổi thai của
trẻ khi sinh ta thấy fibrinogen của trẻ 28-31 tuần tuổi
thai là 1,69 0,15 so với Nguyễn Công Khanh là 2,1
0,2 nhưng ở lứa tuổi 32-36 tuần thì gần tương đương
nhau [3] Về thời gian PT và PT% theo tuần tuổi thai ta
thấy thời gian trung bình của trẻ 32-36 tuần là 16,9
6,2 và 69,8 1,5 cao hơn so với nghiên cứu của Cung
Thị Thu Thủy [5] Những trẻ sinh non có tuần tuổi thai
cao hơn thì các chỉ số rối loạn đông máu cũng tốt hơn
so với tuổi thai tuần tuổi thai thấp
Trẻ sau 3 ngày tuổi giá trị trung bình cao hơn so với
những trẻ nhỏ hơn 3 ngày tuổi sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê Tỉ lệ PT% của trẻ dưới 3 ngày tuổi là
61,7 1,3 trong khi đó tỉ lệ PT% của trẻ trên 3 ngày
tuổi là 82,83,0 cao hơn mức giảm trung bình của tỉ lệ
PT% nói chung, và PT% của trẻ >3 ngày tuổi lớn hơn
PT% của trẻ dưới ngày tuổi có ý nghĩa thống kê với
p<0,05 Tương ứng với nó các chỉ số thời gian PT, IRN,
fibrinogen, APTT bệnh/chứng cũng ổn định hơn hẳn so
với mức trung bình của nhóm trẻ vào viện trước 3 ngày
tuổi điều này chứng tỏ, các chỉ số đông máu ở trẻ sinh
non sẽ được hoàn thiện dần sau khi sinh ra và hoàn
toàn bình thường khi trẻ đến 6 tháng tuổi [8]
KếT LUậN
Trẻ sơ sinh non tháng thường giảm fibrinogen và
PT (%) đặc biệt là trẻ sơ sinh non có tuổi thai từ 28-31 tuần Trẻ có tuổi thai 28-31 tuần và trẻ vào viện trước 3 ngày tuổi có chỉ số đông cầm máu thấp hơn so với trẻ
có tuổi thai 32-36 Các chỉ số đông cầm máu có sự khác biệt theo tuổi thai và ngày tuổi của trẻ non tháng TàI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Thị Xuân Hương (2012), “Tình hình bệnh tật và tử vong sơ sinh tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong 3 năm (2008-2010“, Tạp chí Khoa học công nghệ Đại học Thái Nguyên, tập 89 số 01/1, pp 209-213
2 Đỗ Công Huỳnh (1996), “Cơ chế đông máu“, Bài giảng sinh lý học sau đại học, NXB Quân đội Nhân dân,
pp 52-56
3 Nguyễn Công Khanh (2004), “Huyết học lâm sàng Nhi khoa“, NXB Y học, 286-334
4 Tăng Chí Thượng (2006), “Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tử vong trẻ sơ sinh tại một số tỉnh khu vực phía Nam“, Tạp chí Nhi khoa số đặc biệt, tập 14,
8-13
5 Cung Thị Thu Thủy (2008), “Nghiên cứu tình trạng giảm tỷ lệ prothrombin và đánh giá hiệu quả dự phòng bằng Vitamin K1 ở trẻ sơ sinh sớm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương“, Luận án Tiến sĩ Y học
6 Tổng cục Thống kê (2011), “Tỷ số giới tính khi sinh
ở Việt Nam: Các bằng chứng mới về thực trạng, xu hướng
và những khác biệt“, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009
7 Phạm Thị Xuân Tú (2010), “Một số yếu tố nguy cơ của tử vong ở trẻ đẻ non bị xuất huyết não màng não tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung ương“, Tạp chí Nhi khoa số 3, tập 3&4, pp 54-63
8 Abdollahi A., Sheikhbahaei S., Hafezi-Nejad N., Mahdaviani B (2014), “Hemostatic profile in healthy premature neonates; does birth weight affect the coagulation profile?“, J Clin Neonatol, 3 (2), pp 89-92
9 Amato M., Fauchere J C., Hermann U., Jr (1988),
“Coagulation abnormalities in low birth weight infants with peri-intraventricular hemorrhage“, Neuropediatrics, 19 (3), pp 154-7
10 Kuperman A A., Brenner B., Kenet G (2013),
“Intraventricular hemorrhage in preterm infants and coagulation ambivalent perspectives?“, Thromb Res,
131 Suppl 1, pp S35-8
NGHIÊN CứU Độ NGƯNG TậP TIểU CầU ở BệNH NHÂN
ĐƯợC ĐặT STENT PHủ THUốC ĐộNG MạCH VàNH TạI BệNH VIệN HữU NGHị
Lê Văn Thạch, Lê Tùng Lam, Lại Văn Hoàn
Bệnh viện Hữu Nghị TểM TẮT
Mục tiờu: 1 So sỏnh độ ngưng tập tiểu cầu trong 6
thỏng đầu ở bệnh nhõn (BN) đau thắt ngực ổn định
được can thiệp đặt stent phủ thuốc dựng thuốc ức chế
NTTC Clopidogrel đơn độc hoặc phối hợp aspirin 2
Tỡm hiểu mức độ đỏp ứng với cỏc thuốc chống ngưng
tập tiểu cầu trờn những bệnh nhõn được can thiệp đặt
stent phủ thuốc động mạch vành Phương phỏp: Nhúm
nghiờn cứu gồm 62 BN đau thắt ngực ổn định
(ĐTNễĐ) được can thiệp đặt stent phủ thuốc ĐMV từ
thỏng 6 năm 2011 đến thỏng 3 năm 2012 tại Bệnh viện Hữu Nghị, 43 bệnh nhõn dựng Clopidogrel kết hợp với Aspirin, 19 bệnh nhõn dựng clopidogrel Kết quả: 1 tiểu cầu kết tập trong cỏc bệnh nhõn vào điều trị phối hợp thống kờ significances giảm so với Clopidogrel một mỡnh nhúm (p <0,05) 2 Tỷ lệ đỏp ứng tốt cho điều trị khỏng tiểu cầu kộp cao hơn clopidogrel bệnh nhõn điều trị một mỡnh (72.10% so với 31,58%) (p <0,001)
Trang 4y häc thùc hµnh (959) - sè 4/2015 66
Từ khóa: Độ ngưng tập tiểu cầu ở bệnh nhân
được đặt stents phủ thuốc động mạch vành