Với những lý do thực tiễn và lý luận nêu trên, người viết quyết định chọn đề tài “Khảo sát nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong một số tiểu thuyết của Nhà xuất bản Công an nhân dân”
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ MINH THU
KHẢO SÁT NGHĨA HÀM ẨN QUA CÁC LỐI NÓI VÕNG
TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
1.1 Nghĩa của câu và phát ngôn 11
1.1.1 Câu và phát ngôn 11
1.1.2 Nghĩa của phát ngôn 12
1.1.2.1 Khái niệm ý nghĩa 12
1.1.2.2 Ý nghĩa của phát ngôn 13
1.2 Nghĩa hàm ẩn 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Các loại nghĩa hàm ẩn 17
1.2.3 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn 18
1.2.3.1 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn ngữ nghĩa 18
1.2.3.2 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn ngữ dụng 19
1.2.4 Phân biệt nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn 21
1.3 Lối nói vòng 25
1.3.1 Khái niệm 25
1.3.2 Phương thức tạo lối nói vòng 27
1.3.2.1 Phương thức thế danh ngữ đồng sở chỉ 27
1.3.2.2 Phương thức sử dụng dẫn dắt 27
1.3.3 Phân loại lối nói vòng thường gặp 28
1.3.3.1 Tiêu chí phân loại lối nói vòng 28
1.3.3.2 Kết quả phân loại lối nói vòng 28
1.3.3.3 Vai trò của lối nói vòng trong việc biểu đạt nghĩa hàm ẩn 29
Chương 2: LỐI NÓI VÕNG TRONG MỘT SỐ TƯ LIỆU KHẢO SÁT 33
2.1 Phân loại lối nói vòng dựa vào phép thế danh ngữ đồng sở chỉ 33
2.1.1.Thống kê các loại lối nói vòng bằng danh ngữ 33
Trang 32.1.1.1.Lối Nói vòng thay cho danh từ gốc chỉ quan hệ họ hàng 33
2.1.1.2 Lối nói vòng thay cho tên riêng 34
2.1.1.3 Lối nói vòng thay cho “Tôi” – người đang nói 35
2.1.1.4 Lối nói vòng thay cho các danh từ chỉ đối tượng 35
2.1.1.5 Lối nói vòng thay cho các danh từ chỉ địa điểm, nơi chốn 36
2.1.1.6 Lối nói vòng thay cho động từ gốc 37
2.1.1.7 Lối nói vòng thay cho danh từ chỉ sự việc 38
2.1.2 Đặc điểm và cơ chế biểu hiện của lối nói vòng bằng danh ngữ 39
2.2 Kết quả phân loại lối nói vòng dựa vào tính dẫn dắt và hiệu quả đạt được về điều khác 41
2.2.1 Lói nói vòng đạt đích hoàn toàn, đặc điểm và cơ chế biểu hiện 41
2.2.1.1 Lối nói vòng đạt đích hoàn toàn 41
2.2.1.2 Đặc điểm và cơ chế biểu hiện 45
2.2.2 Lối nói vòng đạt đích không hoàn toàn, đặc điểm và cơ chế biểu hiện 47
2.2.2.1 Lối nói vòng đạt đích không hoàn toàn 47
2.2.2.2 Đặc điểm và cơ chế biểu hiện 53
Chương 3: NGHĨA HÀM ẨN QUA LỐI NÓI VÕNG TRONG MỘT SỐ TƯ LIỆU KHẢO SÁT 56
3.1 Nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng bằng danh ngữ 56
3.2 Nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng đạt đích hoàn toàn 59
3.3 Nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng đạt đích không hoàn toàn 66
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 82
Trang 51.2 Lý do lý luận
Nhƣ đã biết, ngữ dụng học là ngành khoa học nghiên cứu ngữ nghĩa
trong bối cảnh giao tiếp Trong địa hạt của Ngữ dụng học, lý thuyết về ý nghĩa
hầm ẩn (theory of implicit meaning) là một trong những lĩnh vực quan trọng
nằm trong phạm vi nghiên cứu, bên cạnh các lĩnh vực nhƣ chiếu vật, hành vi
Trang 6ngôn ngữ, hội thoại,… Và trong hầu hết các giáo trình về Ngữ dụng học, lý thuyết về ý nghĩa hàm ẩn luôn nằm ở vị trí sau cùng chắc bởi để nghiên cứu
về nó cần có tri thức của các lĩnh vực khác Có lẽ bởi vậy, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này chưa nhiều
Mặt khác, như đã nói, trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ „hiện hình‟ qua các thông điệp mà các bên giao tiếp trao đổi với nhau nhằm đạt được mục đích nào đó, có lúc thật hiển hiện, dễ hiểu (được gọi là hiển ngôn) song cũng
có lúc để hiểu được nó cần trải qua suy nghĩ, suy luận,… (được gọi là hàm ngôn, hàm ý, nghĩa hàm ẩn) Tần suất xuất hiện của các nghĩa hàm ẩn trong
hoạt động giao tiếp là rất nhiều Song những nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn lại
chưa tương xứng với tần suất ấy Thêm vào đó, một trong những vấn đề quan trọng mà Ngữ dụng học đề cập đến chính là vấn đề về hành vi ngôn ngữ
Trong khi nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ, Searle đã từng đề cập tới lối nói
vòng: Người nghe nhận ra một hành vi gián tiếp như thế nào khi mà người ta được nghe một điều hoàn toàn khác [54, 11] Là một vấn đề chức năng của
đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, một vấn đề mà lý thuyết về hành
vi ngôn ngữ có thể soi sáng, song lối nói vòng lại chưa thực sự được các nhà
nghiên cứu quan tâm nhiều
Với những lý do thực tiễn và lý luận nêu trên, người viết quyết định
chọn đề tài “Khảo sát nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong một số tiểu
thuyết của Nhà xuất bản Công an nhân dân” với hi vọng nghiên cứu này
qua những thống kê và chỉ ra các kiểu nói vòng như một cách biểu hiện của nghĩa hàm ẩn, sẽ góp phần lý giải về một số nhân tố ảnh hưởng tới việc nói và hiểu trong giao tiếp hội thoại, qua đó giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc hơn
về một phương diện quan trọng trong giao tiếp, đó là cách biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng - một lối nói quen thuộc được khá nhiều người dân Việt Nam ưa dùng
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn
Lý thuyết về nghĩa hàm ẩn là một trong những lĩnh vực nghiên cứu của ngữ dụng học, bởi vậy, lịch sử nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn luôn đi cùng với việc nghiên cứu của khuynh hướng Ngữ dụng học
Grice là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết về ý nghĩa hàm ẩn khi ông phân biệt ý nghĩa không tự nhiên (non-natural meaning) và ý nghĩa tự
nhiên (natural meaning), giữa hàm ẩn ước định (conventinonal implicature)
và hàm ẩn hội thoại (conversational implicature) Ông cho rằng có một hiện
tượng thường xảy ra trong khi giao tiếp là khi ta nói ra điều này nhưng thực chất là muốn nói tới điều khác và theo ông đó là Hàm ngôn hội thoại (hàm ẩn hội thoại - conversational implicature) Hàm ngôn này được sinh ra khi người nói vi phạm một trong bốn quy tắc Cộng tác hội thoại (Lượng, Chất, Quan hệ, Cách thức)
Ở Việt Nam, vấn đề về ý nghĩa hàm ẩn được tiếp cận trong mối tương
quan với các lý thuyết khác như lý thuyết chiếu vật, chỉ xuất, lý thuyết hội thoại, lý thuyết hành vi ngôn ngữ, lý thuyết lập luận,… cũng như những lĩnh vực của Ngữ dụng học
Nới tới Ngữ dụng học, cần nhắc tới các công trình tiêu biểu như: Nguyễn
Đức Dân, Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb Giáo dục, 1998; Đỗ Hữu Châu, Đại
cương ngôn ngữ học, Tập II - Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, 2001; Nguyễn
Thiện Giáp, Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008; Hồ Lê (1996), Quy luật ngôn ngữ - Q.2-Tính quy luật của cơ chế ngôn
giao, Nxb Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh…
Ngoài ra còn có một số chuyên đề, luận án, bài viết bàn về ý nghĩa hàm
ẩn (trực tiếp hoặc gián tiếp) như: Ý nghĩa của hàm ngôn – Hoàng Phê; Nghĩa
tường minh và nghĩa hàm ẩn – Cao Xuân Hạo; Về hàm ngôn quy ước (trên tư
Trang 8liệu tiếng Việt) – Nguyễn Văn Hiệp; Ý tại ngôn ngoại – nhũng thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chí – Nguyễn Đức Dân; Phương thức chiếu vật mơ hồ hàm ẩn trong phát ngôn tiếng Việt - Huỳnh Công Hiển ; Những phương thức cấu tạo hàm ngôn trong hội thoại – Đỗ Thị Kim Liên;… Đặc biệt trong đó,
Hoàng Phê đã đưa ra ý kiến rất đáng lưu ý là: Khi một lời nói có hàm ngôn thì
ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn mới là ý chính
Tuy chưa có công trình nào nâng Lý thuyết về ý nghĩa hàm ngôn lên
thành một phạm trù lý thuyết tương xứng với các vấn đề cần quan tâm song
các tác giả nói trên đề đã góp phần làm cho bức tranh về nghĩa hàm ẩn ngày
càng trở nên rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn
2.2 Lịch sử nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng
Lối nói vòng tồn tại trong lời nói như một điều hiển nhiên, quen thuộc, song cho tới nay, trên phương diện nghiên cứu ngôn ngữ học, đây vẫn là một hiện tượng còn bỏ ngỏ, chưa có bất kỳ công trình chuyên sâu và tường minh nào nghiên cứu Mặc dù, trong một số công trình lớn nhỏ khác nhau của một
số nhà nghiêncứu đã nhắc đến tên nó
Ví dụ như các thuật ngữ về nói giảm, nói tránh, uyển ngữ, nhã ngữ,…
trong một số công trình của các tác giả như Cù Đình Tú (1983), Đinh Trong Lạc (1994, 1995), Hữu Đạt (2000, 2001),… hay trong luận án tiến sỹ của Trương Viên (ĐHQG HN, 2003) “Nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Anh và việc chuyển dịch sang tiếng Việt” Qua việc xem xét uyển ngữ trên ba phương diện từ vựng, phong cách học và ngữ dụng học, tác giả này đã rút ra kết luận
là: Về mặt từ vựng, Uyển ngữ bằng một từ hay một đơn vị đồng nghĩa, một
ngữ phối hợp nằm trong một nhóm đồng nghĩa hay một trường nghĩa; về mặt
phong cách học, Uyển ngữ là một biện pháp tu từ xuất hiện trong các phong
cách chức năng nhằm mục đích lịch sự, tế nhị, thẩm mỹ; về mặt ngữ dụng học,
Trang 9Uyển ngữ như một hành động lời nói hoặc một yếu tố ngôn ngữ tạo thành
hành động lời nói
Những khái niệm nói trên thực sự mới chỉ được nghiên cứu chủ yếu trên cấp độ câu và dưới câu Còn với cấp độ diễn ngôn, lối nói vòng vẫn là một khái niệm chưa tường minh và có nhiều đồng nhất với hàm ngôn Bởi vậy lối nói vòng thường được nhắc đến trong sự đồng nhất hoặc bao hàm từ việc nghiên cứu hàm ngôn Mặc dù thực chất giữa chúng vừa có sự giống nhau lại
có sự khác biệt
Hiển ngôn là cái dễ nhận ra với cơ chế sử dụng hết sức đơn giản, còn
hàm ngôn là ý nghĩa sâu sắc hơn, thuộc sự kiện bề sâu, với cơ chế hàm ẩn
riêng Lối nói vòng tận dụng được đặc trưng trên của cả hiển ngôn và hàm ngôn
Chính bởi vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về hàm ngôn, hay cơ chế hàm ẩn của nó giúp ích rất nhiều trong việc khám phá, tìm hiểu và nghiên cứu chuyên sâu về lối nói vòng, đặc biệt trên bình diện Ngữ dụng học Về lịch sử việc nghiên cứu hàm ngôn, hàm ý, phần 3.1 trong luận văn này đã đề cập đầy
đủ, chỉ xin được nêu thêm một số kết quả nghiên cứu quan trọng có liên quan chặt chẽ hơn tới lối nói vòng như sau
Đỗ Hữu Châu trong [5] đã đề cập đến cái nền hàm ẩn của câu và ý nghĩa
hàm ẩn liên hệ đến thông điệp miêu tả của P của câu Hồ Lê thì nói về Lối nói khúc xạ trong sự đối lập với lối nói thẳng đồng thời cho rằng đó là tên gọi
dùng trong sinh hoạt bình thường Trong cuốn Phương pháp nghiên cứu cú
pháp, ông có nhắc tới sự nói vòng nhưng lại không giới thuyết về nó[29]
Các nghiên cứu còn cho thấy, lối nói vòng có quan hệ trực tiếp với hành
vi ngôn ngữ gián tiếp Như Searle đã đề cập: Người nghe nhận ra một hành vi
gián tiếp như thế nào khi mà người ta được nghe một điều hoàn toàn khác? Cách hiểu một hành vi gián tiếp khác với cách hiểu một hành vi tại lời trực
Trang 10tiếp thế nào? [47, 65] Cách đặt về đề này không chỉ dành cho hành vi ngôn
ngữ gián tiếp mà cũng chính là cách để tiếp cận với Lối nói vòng Trong cuốn
Ngữ dụng học tập 2 của Đỗ Hữu Châu cũng nhắc tới Lối nói cây tre đè bụi hóp nhưng ông lại không giải thích rõ về lối nói này
Ngoài ra, gần đây, Nguyễn Đăng Khánh với luận án tiến sỹ lối nói vòng
trong giao tiếp tiếng Việt đã phần nào đi sâu nghiên cứu và làm sáng tỏ khá
nhiều góc khuất của vấn đề này Tác giả không chỉ đưa ra một định nghĩa mang tính minh xác và rõ ràng nhất về Lối nói vòng cũng như cơ chế biểu hiện của chúng dưới góc nhìn của Ngữ dụng học và của Lý thuyết giao tiếp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong
số tiểu thuyết của Nhà xuất bản Công an nhân dân không đáp ứng đủ cứ liệu
để khảo sát theo mục đích luận văn, bởi vậy, người viết đã chuyển tư liệu khảo sát thành các truyện ngắn và tiểu thuyết “Bước đường cùng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác lập cơ sở lý luận nhằm khảo sát nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong một số một số truyện ngắn và tiểu thuyết khảo sát
Mô tả, phân loại và rút ra nhận xét về lối nói vòng trong một số truyện ngắn và tiểu thuyết khảo sát
Khảo sát và rút ra nhận xét về nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng trong một số truyện ngắn và tiểu thuyết
5 Mục đích nghiên cứu
Trang 11 Làm rõ hơn về khái niệm, đặc điểm của lối nói vòng cũng như nghĩa hàm
ẩn được thể hiện qua lối nói vòng
Góp thêm những cứ liệu quan trọng trong việc tìm hiểu, làm rõ đặc điểm của lối nói vòng cũng như cách sử dụng lối nói vòng như một phương thức để biểu đạt nghĩa hàm ẩn
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp miêu tả: Phương pháp miêu tả nhằm làm rõ hơn tính chất, đặc điểm của các loại nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng, từ đó thấy được những đặc trưng riêng của hiện tượng ngôn ngữ này
Phương pháp khảo sát, thống kê: Phương pháp khảo sát, thống kê dùng
để thống kê các phát ngôn có nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng, từ đó thấy được
sự phong phú về thể loại , tần suất sử dụng, chứng minh được sự thông dụng của hiện tượng ngôn ngữ này
Phương pháp phân tích diễn ngôn: nhằm phân tích cụ thể các phát ngôn được thống kê về ngữ nghĩa cũng như sự ảnh hưởng của ngữ cảnh để thấy rõ nghĩa hàm ẩn thể hiện qua lối nói vòng như thế nào, cũng như những giá trị
mà nó đem lại
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Nghĩa của câu và phát ngôn
Từ những năm 1970 trở lại đây, ngôn ngữ đã bắt đầu được nghiên cứu trong tư cách là một hoạt động giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp này, sở dĩ người phát ngôn và người thụ ngôn có thể hiểu được nhau bởi giữa họ có một
cái chung, đó là Ngôn ngữ (Language) Ngôn ngữ được nói ra (ở đây hiểu cả
là nói và viết) lại mang những cái riêng thuộc về cá nhân người phát ngôn và
người thụ ngôn, được gọi là Lời nói (parole) – tức kết quả của sự nói năng
Ngay từ F.De Sausure, nhà ngôn ngữ học hàng đầu thế kỷ XX đã có sự phân biệt rõ ràng giữa Ngôn ngữ và Lời nói Nhưng cũng đồng thời nhận ra mối
quan hệ chặt chẽ giữa chúng : “Tất nhiên, hai đối tượng này gắn bó khăng
khít với nhau và giả định lẫn nhau: ngôn ngữ là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và gây được tất cả những hiệu quả của nó ; nhưng lời nói lại cần thiết để ngôn ngữ được xác lập” [63, tr.45]
Như vậy, có thể thấy Ngôn ngữ và Lời nói có mối quan hệ biện chứng
với nhau Đó là hai mặt của một vấn đề : Ngôn ngữ được thực tại hóa trong lời nói; và Lời nói chính là ngôn ngữ đang hành chức, đang hoạt động và đang được sử dụng để giao tiếp với nhau Hiện nay, khái niệm Lời nói được
các nhà ngôn ngữ học hiện đại thay bằng khái niệm Diễn ngôn (Discours)
Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đã tóm lược về thuật ngữ Diễn ngôn này như sau :
Diễn ngôn là một quá trình sản sinh ra và liên kết các phát ngôn thành một chỉnh thể Nó cũng là tên gọi của cái sản phẩm ngôn từ do quá trình đó tạo nên.[40, 35]
Như đã biết, ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu có các cấp độ và quan hệ
Trang 13rõ ràng Trong đó, Câu (sentence) là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có giá trị thông báo và có chức năng giao tiếp Và Phát ngôn (Utterance) là đơn vị nhỏ
nhất của Lời nói, hay là đơn vị cấu thành nên Diễn ngôn Theo đó, mối quan
hệ biện chứng giữa Ngôn ngữ và Lời nói kéo theo Câu và Phát ngôn cũng là hai khái niệm có mối quan hệ biện chứng với nhau
Như Hoàng Phê nhận xét về Phát ngôn (mà như ông gọi là Lời) và Câu
là : Lời được phi ngữ huống hóa (đến mức tối đa) sẽ cho ta Câu, và ngược lại Câu được ngữ huống hóa (đầy đủ) sẽ cho ta Lời [22, 3-23]
Như vậy, có thể hiểu câu theo quan niệm là đơn vị ngôn ngữ có tính trừu tượng, và được tách biệt khỏi ngữ cảnh ; còn Phát ngôn là đơn vị của lời nói
và được đặt vào ngữ cảnh Song trong phạm vi tiểu luận này, ở những trường hợp không cần thiết phân biệt rõ ràng, khái niệm Phát ngôn sẽ được hiểu theo nghĩa rộng gồm cả Phát ngôn và Câu như trên
Trong sơ đồ hoạt động giao tiếp, phát ngôn giữ vai trò của một thông điệp, theo đó nội dung của phát ngôn chính là nội dung của thông điệp Nội
dung của phát ngôn hay chính là ý nghĩa của phát ngôn
1.1.2.1 Khái niệm ý nghĩa
Hiện nay, xu thế của ngôn ngữ học trên thế giới và Việt Nam đều chú ý nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học chức năng và tri nhận Tức là chú ý hơn đến việc ngôn ngữ hành chức như thế nào cũng như vai trò của chủ thể ngôn ngữ Theo hướng tiếp cận này, nghĩa và bản chất nghĩa của từ, câu cũng được hiểu theo cách rộng hơn và khác trước đây Vậy theo quan điểm của chức năng luận và tri nhận luận, bản chất nghĩa là gì? Ý và nghĩa khác nhau như thế nào?
Tác giả Nguyện Thiện Giáp cho rằng Ý hay còn gọi là Ý nghĩa (meaning)
là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân nó [19, 309-311]; còn
Trang 14Nghĩa (sense) là cái được biểu hiện [19, 309-311] Hoàng Phê thì cho rằng Ý
là nội dung diễn đạt của một đơn vị ngôn ngữ trong một hoàn cảnh phát ngôn
cụ thể, hay nói cách khác là của một đơn vị lời nói (lời, phát ngôn) [42, 27]; còn Nghĩa là nội dung diễn đạt của một đơn vị ngôn ngữ được trừu tượng hóa khỏi hoàn cảnh phát ngôn cụ thể [42, 26] Theo quan điểm của Hồ Lê thì,
Tình thái trong phát ngôn cấu thành Ý [31, 313]; Sự kiện trong phát ngôn cấu
thành Nghĩa [31, 313]
Có thể thấy, khá nhiều tác giả đã xem xét Ý và Nghĩa như hai khái niệm khác nhau Và Ý nghĩa là khái niệm tổng hòa của hai khái niệm về Ý và Nghĩa nêu trên Và bởi thế khái niệm về Ý nghĩa cũng trở nên dễ hiểu hơn Tuy nhiên, thông thường sự phân biệt rõ ràng như vậy là không cần thiết, như
J Lyons từng rút ra nguyên tắc chỉ đạo là: “sự kiểm nghiệm duy nhất của
người nghiên cứu về nghĩa chính là cách dùng các phát ngôn trong những tình huống rất khác nhau trong đời sống hàng ngày” chứ không phải tìm
trong các sự vật vật chất hay các tình trạng của sự vật trong thế giới vật chất,
kể cả các khái niệm trong tâm trí theo đường hướng bản thể luận Nói cách khác, cái vẫn được gọi là Nghĩa chính là Ý nghĩa, là nghĩa thể hiện trong cách dùng, trong hoạt động thường ngày, trong thực hiện chức năng ngôn ngữ đa dạng trong cuộc sống, trong các mối tương tác xã hội và sự sáng tạo ngôn từ của người nói, người viết
1.1.2.2 Ý nghĩa của phát ngôn
Khi gắn với khái niệm về Phát ngôn trong giao tiếp thì nghĩa của Phát ngôn chính là nội dung diễn đạt của Phát ngôn được thể hiện trong giao tiếp
và chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác trong một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.2 Nghĩa hàm ẩn
1.2.1 Khái niệm
Trang 15Nghĩa hàm ẩn hay còn đƣợc gọi là hàm ý, đƣợc các nhà ngôn ngữ học
quan niệm nhƣ sau :
Cao Xuân Hạo cho rằng : “Hàm ý của câu nói là một điều gì mà khi
nghe câu ấy người nghe phải rút ra như một hệ quả tất nhiên” [14, 470]
Đồng thời ông cũng đƣa ra định nghĩa về Nghĩa hàm ẩn “là những gì không
có sẵn trong nghĩa nguyên văn của các từ ngữ và trong những mối quan hệ cú pháp ấy, nhưng vẫn thấu đến người nghe thông qua một sự suy diễn Sự suy diễn cho phép người nghe hiểu được cái nghĩa hàm ẩn ấy thường được thiện hiện một cách hoàn toàn tự nhiên và cùng một lúc với quá trình hiểu nghĩa nguyên văn chứ không phải là sau đó” [14, 468]
Hồ Lê : “Hàm ý là tất cả những ý nghĩa, tình thái hàm ẩn mà người
phát ngôn ký thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài ý nghĩa biểu hiện của phát ngôn trong đó có việc biểu thị những sở chỉ khác với những sở chỉ mà hiển nghĩa của phát ngôn biểu thị.” [31, 335]
Hoàng Phê trong cuốn “Lôgic ngôn ngữ học” cho rằng: điều diễn đạt
gián tiếp trong một phát ngôn gọi là hàm ý, ngụ ý [41, 39]
Một số tác giả khác tuy không trực tiếp đƣa ra quan niệm về Hàm ý, song thông qua những phân tích cụ thể về Hàm ngôn Nhƣ O.Ducrot, H.P Grice, George Yule, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thị Việt Thanh… đã gián tiếp thể hiện quan niệm về hàm ý của mình
qua các nhận định : “thực chất của hàm ngôn là nói mà coi như là không
nói ,nghĩa là nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói,
có nghĩa là vừa có hiệu lực nói năng vừa có sự vô can trong im lặng”
[41,100]; “Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn
cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tường minh (ý nghĩa câu chữ) cùng với tiền giả định của nó.” [7, 323]; “Trả lời gián tiếp là trả lời bằng hàm ngôn, người nghe phải thông qua suy diễn ngữ nghĩa để rút ra thông tin mà người nói muốn
Trang 16truyền đạt.” [53, 43]; “Hàm ngôn là nghĩa có được nhờ sự suy ý trong ngữ cảnh cụ thể nhằm đưa lại một sự nhận thức mới và đó là nội dung đích thực
mà người nói hướng đến người nghe.” [33, 60],…
Trong luận án tiến sỹ của mình, qua việc giải thích và đối lập giữa hiển ngôn với hàm ngôn, phương thức hiển ngôn và phương thức hàm ngôn, tác giả Huỳnh Công Hiển cho rằng, Hàm ý chính là sản phẩm của phương thức hàm ngôn [22, 35]
Như vậy, các tác giả trên đều đã chỉ ra được hàm ý với tư cách là ý nghĩa
ngầm ẩn trong sự phân biệt với ý nghĩa hiển hiện, ý nghĩa tường minh Tuy vậy, giữa các tác giả vẫn có chút khác biệt trong quan niệm về loại nghĩa ngầm ẩn này Không chỉ khác nhau về thuật ngữ dùng, bản thân trong các
quan niệm về nghĩa hàm ẩn, bên cạnh sự đồng nhất nêu trên, các tác giả còn
đưa ra các quan điểm khác nhau của mình về loại nghĩa ngầm ẩn này như sau:
ví dụ Hoàng Phê (1989) thì cho rằng, so với Ngụ ý, Hàm ý được suy ý trực tiếp, ít phụ thuộc vào ngôn cảnh, còn Ngụ ý đòi hỏi phải suy ra gián tiếp từ hoàn cảnh, khả năng nhận thức, khả năng vận dụng kinh nghiệm sống,… Hồ
Lê (1996) thì phân biệt hai lớp nghĩa ngầm ẩn của Hàm ngôn là hàm nghĩa và hàm ý trong sự tương phản với hiển ngôn Ông cho rằng, Hàm ý là nghĩa ngầm ẩn có nội dung khác với hiển ngôn, bao gồm: ngụ ý, ẩn ý, dụng ý; còn hàm nghĩa là nghĩa ngầm ẩn bổ sung ý nghĩa cho hiển ngôn Đặc biệt, trong quan niệm của Cao Xuân Hạo [14, 109] cho rằng Tiền giả định (TGĐ) chính
là một lớp nghĩa hiển ngôn Cũng theo ông, mỗi phát ngôn trong hoạt động giao tiếp đều có hai nghĩa ngầm ẩn: hàm ý và hàm ngôn Hàm ý là điều mà người nghe rút ra từ phát ngôn như một hệ quả tất nhiên nên nó phụ thuộc vào người nghe, còn hàm ngôn là điều người nói muốn gửi tới người nghe nhưng không diễn đạt trực tiếp qua nguyên văn, bao gồm hàm nghĩa và ẩn ý [14, 470]
Trang 17Ngay trong quan niệm về nghĩa hàm ẩn của các tác giả cũng có nhiều sự khác biệt Và chia thành hai trường phái Các tác giả như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, Nguyễn Đức Dân, Hồ Lê, Dương Hữu Biên, Đỗ Thị Kim Liên coi hàm ý là ý nghĩa ngầm ẩn được suy ra từ hiển ngôn và hoàn
cảnh nhất định, và đặc biệt ý nghĩa ngầm ẩn này phải nằm trong ý định thông
báo của người nói muốn chuyển tới người nghe Còn Cao Xuân Hạo, Đỗ Thị
Kim Liên,… thì cho rằng Hàm ý là ý nghĩa ngầm ẩn được suy ra từ hiển ngôn
và hoàn cảnh nhất định, nhưng ý nghĩa ngầm ẩn này do người nghe tự suy ý,
suy luận ra được
Nghĩa hàm ẩn (hàm ý) là ý nghĩa ngầm ẩn được người nói chủ định thông báo, song thông điệp đó có thể được người nghe hiểu đúng hoặc hiểu theo cách khác Theo đó, nếu xét nghĩa hàm ẩn từ cách hiểu của người nghe thì sẽ rất phức tạp Bởi thế, trong phạm vi luận văn này, người viết chỉ xin được giới hạn nghĩa hàm ẩn trên phương diện lĩnh hội từ phía người nói Tức
là nghĩa ngầm ẩn trong phát ngôn chính là ý nghĩa mà người nói muốn truyền đạt và được người nghe hiểu đúng vậy
Như vậy có thể tạm giới hạn định nghĩa về Nghĩa hàm ẩn sử dụng trong
luận văn này như sau: Nghĩa hàm ẩn là ý nghĩa:
- Được thể hiện ngầm ở tầng sâu bên dưới của cấu trúc bề mặt câu chữ của phát ngôn được suy ra từ ý nghĩa hiển ngôn (ý nghĩa tường minh)
- Được suy ý từ một hoàn cảnh nhất định
- Nằm trong ý định thông báo của người nói muốn chuyển đến người nghe
TGĐ là những hiểu biết được xem là bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt lại thành vấn đề, đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình [7, 325] Theo đó, TGĐ đúng là những thông tin ngầm ẩn song chúng
không có giá trị thông báo trong phát ngôn, bởi thế trong luận văn này, xét
Trang 18theo định nghĩa tạm thời nêu trên thì người viết sẽ không xem xét TGĐ nằm
trong Nghĩa hàm ẩn
1.2.2 Các loại nghĩa hàm ẩn
Để phân loại được nghĩa hàm ẩn đòi hỏi những tiêu chí nào?
Grice (1975) phân thành hai loại hàm ngôn: hàm ngôn hội thoại (conversational implicatures) và “hàm ngôn quy ước” (conventional
implicatures) Theo Grice, không giống với hàm ngôn hội thoại, hàm ngôn
quy ước được dựa trên các ước lệ đối với các đơn vị ngôn ngữ hơn là do ngữ cảnh hội thoại quy định [64, 127] Như vậy, Grice dường như phân loại hàm ngôn dựa trên mức độ phụ thuộc ngữ cảnh để suy luận
Theo Đỗ Hữu Châu, hàm ngôn có thể được phân loại thành hàm ngôn
ngữ nghĩa được suy ra từ nội dung ngữ nghĩa tường minh của phát ngôn và hàm ngôn ngữ dụng được tạo nên do sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng Cách
phân loại này dựa vào việc nhận diện nghĩa hàm ẩn qua các dấu hiệu về việc phá vỡ quy tắc ngữ dụng hay không?
Theo Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn Văn Hiệp thì hàm ngôn được phân
loại thành: TGĐ, hàm ngôn quy ước, hàm ngôn hội thoại, và “entailment” mà Nguyễn Thiện Giáp gọi là Kéo theo còn Nguyễn Văn Hiệp gọi là Dẫn ý Kéo
theo hay Dẫn ý này là những điều rút ra theo logic từ những cái được khẳng định trong phát ngôn [18, 124] Như vậy, Kéo theo này hầu như không nằm trong ý định thông báo của người nói nhằm truyền đạt tới người nghe Bởi thế không đúng với định nghĩa về hàm ý sử dụng trong luận văn này Ngoài ra, như trên đã nói, TGĐ cũng không được xem xét như một loại nghĩa hàm ẩn trong luận văn này Vì thế tạm coi sự phân loại hàm ý của Nguyễn Thiện Giáp
và Nguyễn Văn Hiệp bao gồm hai loại là Hàm ngôn quy ước và hàm ngôn
hội thoại Và sự phân chia này dựa vào tiêu chí về việc phá vỡ quy tắc ngữ
dụng hay không
Trang 19Theo giới hạn định nghĩa về nghĩa hầm ẩn do người viết tổng hợp và tạm dùng trên, luận văn sẽ phân loại nghĩa hàm ẩn như sau:
Nghĩa hàm ẩn ngữ nghĩa Nghĩa hàm ẩn ngữ dụng
Tương ứng với Hàm ngôn ngôn ngữ,
hàm ngôn quy ước, hàm ngôn ngữ
Suy ra từ nội dung ngữ nghĩa tường
minh của phát ngôn (vi phạm quy tắc
chiếu vật chỉ xuất)
Tạo nên do vi phạm các quy tắc ngữ
dụng: nguyên tắc cộng tác hội thoại
và nguyên tắc lịch sự hội thoại
1.3 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn
Phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn là con đường được chọn lựa, là phạm trù được sử dụng để tạo ý nghĩa hàm ẩn dựa trên một cơ sở chứa đựng tiềm năng sản sinh ý nghĩa hàm ẩn [22, 52]
Theo kết quả phân loại ở trên, chúng ta có hai loại nghĩa hàm ẩn đó là Nghĩa hàm ẩn ngữ nghĩa và nghĩa hàm ẩn ngữ dụng Đỗ Hữu Châu từng
khẳng định: tất cả các quy tắc, các cơ chế ngữ dụng học không chỉ tạo ra
nghĩa tường minh mà còn tạo ra nghĩa hàm ẩn cho các phát ngôn [7, 60]
Hay nói cách khác, việc vi phạm vào các quy tắc ngữ dụng như quy tắc chiếu vật, quy tắc hội thoại,… chính là phương thức để biểu đạt nghĩa hàm ẩn
Từ quan điểm trên và theo kết quả phân loại, chúng ta có thể xem xét một số phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn cho hai loại nghĩa hàm ẩn trên như sau:
1.2.3.1 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn ngữ nghĩa
Nghĩa hàm ẩn ngữ nghĩa như đã nói là hàm ý ít phụ thuộc vào ngữ cảnh bởi thế theo Grice, với loại hàm ý này, người nói vẫn tôn trọng các quy tắc
Trang 20hội thoại mà chủ yếu dựa vào ý nghĩa mang tính quy ước của các tín hiệu
ngôn ngữ Do đó, việc vi phạm quy tắc chiếu vật có thể coi là một trong các
phương thức chính để biểu đạt loại nghĩa hàm ẩn này
Chiếu vật là dùng biểu thức ngôn ngữ để giúp người nghe nhận ra được một cách đúng đắn sự vật, hiện tượng nào đang được nói tới trong diễn ngôn Bất kỳ ai cũng hiểu rằng, cần tuân theo các quy định như trên về chiếu vật, nhưng trong một số trường hợp, do sự cố ý của người nói, quy tắc chiếu vật
đã bị vi phạm, sự chiếu vật trở nên mơ hồ, song người nói đảm bảo người nghe có thể hiểu được lý do và suy ra được ý nghĩa của sự mơ hồ đó, thì trường hợp đó làm sản sinh một nghĩa hàm ẩn
VD1: A: Dạo này anh hay nghi ngờ em nhỉ?
B: Thì em đã bao giờ nói dối đâu
Trong ví dụ trên, bằng việc sử dụng từ nói dối trong ý nghĩa trái ngược
đã tạo nên hàm ý cho phát ngôn Lẽ ra, theo đúng quy tắc thì ở đây phải dùng
là nói thật, nhưng sự thật là nhân vật A luôn nói dối, không nói thật bao giờ,
vì thế việc người nói B cố tình dùng từ trái nghĩa của nói thật là nói dối nhằm
giải thích nguyên nhân đồng thời hàm ý mỉa mai rằng: A là một người luôn dối trá Đồng thời B chắc chắn rằng A cũng hiểu được điều này Trường hợp này quy tắc chiếu vật bị vi phạm đã tạo nên nghĩa hàm ẩn Theo Huỳnh Công Hiển (LATS) thì đây là thủ pháp chiếu vật trái nghĩa hàm ẩn
1.2.3.2 Các phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn ngữ dụng
Theo quan điểm ngữ dụng học, một cuộc hội thoại thành công thì các
bên tham gia cần tuân theo 2 nguyên tắc của hội thoại đó là nguyên tắc cộng
tác hội thoại và nguyên tắc lịch sự hội thoại
Như đã nêu trên, nghĩa hàm ẩn ngữ dụng là loại hàm ý phụ thuộc mạnh vào ngữ cảnh giao tiếp Bởi thế Grice, George Yule và nhiều nhà ngữ dụng học Việt Nam khác đều khẳng định rằng: sự cố tình vi phạm các nguyên tắc
Trang 21hội thoại trong quá trình tạo lập phát ngôn là phương thức hữu hiệu để biểu thị nó [55, 42-44]
+ Phương thức vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại
Nguyên tắc cộng tác hội thoại do Grice đề xuất, quy định: Trong giao tiếp, cả hai bên tham gia giao tiếp đảm bảo tôn trọng bốn phương châm hội thoại là
Phương châm về lượng, Phương châm về chất, Phương châm quan hệ, Phương châm cách thức Song vì một lý do nào đó, các phương châm này bị
vi phạm Mà sự vi phạm ấy là cố tình và có chủ đích nhằm gửi một thông báo ngầm tới người đối thoại Đồng thời người đối thoại cũng hiểu được thông tin ngầm ấy qua việc hiểu được sự cố tình vi phạm phương châm hội thoại của người nói thì một nghĩa hàm ẩn đã được sản sinh
VD: Con: Con muốn xem ti vi bây giờ
- Mẹ: Con chưa cất đồ chơi [24, 295]
Trong đối thoại trên, phát ngôn của Mẹ đã vi phạm phương châm về quan hệ Bởi câu trả lời của người mẹ không hề liên quan gì tới câu hỏi của đứa con Việc cố tình vi phạm phương châm về quan hệ này của người Mẹ nhằm truyền đạt tới con một thông tin ngầm rằng: Khi nào con cất dọn xong
đồ chơi thì mới được xem ti vi Đó chính là thông tin hàm ẩn trong phát ngôn được tạo nên qua việc vi phạm phương châm về lượng trong phát ngôn của người mẹ
+ Phương thức vi phạm nguyên tắc lịch sự hội thoại
Thông thường trong giao tiếp, người này vừa phải biết đề cao thể diện của người khác vừa phải biết giữ gìn thể diện cho mình, tránh tối đa làm phương hại tới người đối thoại hoặc làm giảm nhẹ tối đa sự phương hại đó nếu không thể tránh được Việc cố ý làm phương hại tới thể diện của người đối thoại là một phương thức để tạo ra nghĩa hàm ẩn Và đó là nghĩa hàm ẩn
Trang 22được sản sinh qua việc sử dụng một cách ngầm ẩn phương thức lịch sự trong giao tiếp hội thoại
VD: Lan: Bức tranh này đẹp quá!
Hoa: Cậu cứ khen quá!
Lan: Chả mấy ai vẽ được như thế này đâu
Trong đối thoại này, Lan có ý khen bức tranh Hoa vẽ là rất đẹp qua việc
ngầm đề cao tối đa khả năng vẽ của người hoạ sĩ: Chả mấy ai vẽ được như thế
này đâu Đây chính là việc sử dụng phương châm lịch sự trong hội thoại một
cách ngầm ẩn và đã làm sản sinh một nghĩa hàm ẩn trong phát ngôn của Lan
Đỗ Hữu Châu từng khẳng định: tất cả các quy tắc, các cơ chế ngữ dụng
học không chỉ tạo ra nghĩa tường minh mà còn tạo ra nghĩa hàm ẩn cho các phát ngôn [7, 60] Một lần nữa, khẳng định này cho thấy, có rất nhiều các
phương thức biểu đạt nghĩa hàm ẩn từ trong lý thuyết về ngữ dụng học Song trong phạm vi tiểu luận này cũng như những hạn chế của người viết, luận văn chỉ xin được nghiên cứu và đề cập tới một số phương thức cơ bản nhất để biểu đạt hai loại nghĩa hàm ẩn là: nghĩa hàm ẩn ngữ nghĩa và nghĩa hàm ẩn ngữ dụng Đó là: Phương thức vi phạm quy tắc chiếu vật; Phương thức vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại và Phương thức vi phạm nguyên tắc lịch
sự hội thoại
1.2.4 Phân biệt nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
Trong bất kỳ một phát ngôn nào cũng đều chứa nghĩa tường minh, và đôi khi là cả nghĩa hàm ẩn
Tác giả Mai Ngọc Chừ định nghĩa: Ý nghĩa tường minh của phát ngôn là
ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ trong phát ngôn và cấu trúc của phát ngôn đem lại… Ý nghĩa hàm ẩn đối lập với ý nghĩa tường minh [9, 260]
Vũ Đức Nghiệu định nghĩa về ý nghĩa tường minh như sau: Trong câu nói, nghĩa hàm ẩn được xác định trong đối lập với nghĩa tường minh Nghĩa
Trang 23của một câu nói ra mà người nghe có thể hiểu được một cách trực tiếp dựa trên những từ ngữ và quan hệ cú pháp được dùng trong câu, gọi là nghĩa tường minh.[37, 387]
Đỗ Hữu Châu gọi ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là ý nghĩa tường minh, còn gọi là ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn.[30, 359]
Như vậy, hầu hết các tác giả đều cho rằng, nghĩa tường minh là nghĩa có thể hiểu được một cách trực tiếp từ chính các câu chữ của phát ngôn, và nó nằm trong thế đối lập với nghĩa hàm ẩn
Theo nghiên cứu và tổng hợp của Huỳnh Công Hiển trong luận án tiến
sỹ của mình, nghĩa tường minh hay còn gọi là nghĩa hiển hiện, hiển ngôn, nghĩa hiển ngôn, … được tạo ra từ phương thức hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn được tạo ra từ phương thức hàm ngôn Theo đó, phương thức hiển ngôn là việc sử dụng những từ biểu thị sự kiện và những phương tiện biểu thị sự kiện theo những nghĩa và những mối quan hệ ngữ nghĩa bình thường đã có sẵn trong hệ thống ngôn ngữ để tạo ra nghĩa tường minh [22, 34]
Còn phương thức hàm ngôn tạo ra nghĩa hàm ẩn bằng cách chủ động nhận những tác động của ngữ huống đối với các sự kiện rồi sau đó, hướng những tác động đó vào việc xây dựng một nội dung, cách thức biểu thị sự kiện ẩn chứa [22, 36]
Kết quả của hai phương thức này cho ta nghĩa hàm ẩn và nghĩa tường minh Như vậy, về cơ bản hai loại nghĩa này có thể được phân biệt như sau:
Phương thức
biểu thị
Tạo ra từ phương thức hiển ngôn
Tạo ra từ phương thức hàm ngôn
Vị trí thể hiện Thể hiện rõ trên bề mặt
câu chữ theo quan hệ
Thể hiện ngầm ẩn bên dưới sâu của cấu trúc bề mặt các đơn vị
Trang 24ngữ nghĩa bình thường ngôn ngữ, và chỉ thể hiện trên bề
mặt câu chữ trong những quan hệ ngữ nghĩa bất thường (tức tuôn theo đúng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ theo các quy tắc,
lý thuyết ngôn ngữ…) Đặc điểm Rõ ràng, hiển hiện Ngầm ẩn
Cách lĩnh hội Trực tiếp, dễ hiểu Qua suy ý, gián tiếp, khó hiểu
Cơ sở lĩnh
hội
Các từ ngữ, các phương tiện trên bề mặt câu chữ
- Trên nền tảng nghĩa tường minh
- Qua suy luận từ các dấu hiệu: ngữ cảnh, dấu hiệu về vi phạm các nguyên tắc ngôn ngữ,…
Mục đích Truyền đạt thẳng thông
tin tới người nghe
Ngầm thông báo một thông tin khác ngoài thông tin trực tiếp nhằm tạo sự đa dạng trong cách truyền đạt hoặc để thể hiện thêm thái độ, tình cảm với sự tình, tránh chịu trách nhiệm thẳng với phát ngôn của mình
Ví dụ 1: Con: Mẹ ơi, cho con ra sân chơi bóng nhé
Trang 25Phương thức
biểu thị
Tạo ra từ phương thức hiển ngôn
Tạo ra từ phương thức hàm ngôn
Vị trí thể hiện Thể hiện rõ trên bề mặt
câu Không + được = sự
không cho phép
Thể hiện ngầm ẩn bên dưới
câu chữ: Trời nắng gắt
không được ra ngoài (không
thể hiện trên câu chữ)
Đặc điểm thể
hiện
Rõ ràng, hiển hiện Ngầm ẩn
Cách lĩnh hội Trực tiếp, dễ hiểu Qua suy ý, gián tiếp Phải suy
luận rằng: mẹ không chỉ nói
tới trời nắng gắt mà ý là trời nắng ra ngoài dễ ốm bởi thế
mẹ không cho ra
Cơ sở lĩnh hội Các từ ngữ, các phương
tiện trên bề mặt câu chữ
Không + được = không cho phép
- Trên nền tảng nghĩa tường minh là: trời đang nắng gắt
- Qua suy luận: không được ra
ngoài
Mục đích Truyền đạt thẳng thông
tin tới người nghe
Ngầm thông báo một thông tin khác ngoài thông tin trực tiếp nhằm đưa ra mệnh lệnh
là Cấm không cho ra sân một cách khéo léo khiến lệnh Cấm ấy rõ ràng là cấm mà lại hết sức nhẹ nhàng như một lời khuyên
Mặc dù có sự khác biệt như vậy, nhưng hai loại nghĩa này cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau: như đã nói, trong bất kỳ một phát ngôn nào
Trang 26cũng tồn tại nghĩa tường minh, bởi nó được thể hiện rõ ràng ngay trên bề mặt câu chữ Nói cách khác khi có một phát ngôn có nghĩa thì đó chính là nghĩa tường minh Song hội thoại trở nên đa dạng phong phú hơn, ngôn ngữ trở nên sắc màu hơn chính là bởi đi cùng với nghĩa tường minh thường luôn có nghĩa hàm ẩn Những phát ngôn chỉ mang nghĩa tường mình là rất ít VD1 là một phát ngôn chỉ có nghĩa tường minh Ở VD2, hiểu được nghĩa tường minh: trời
đang nắng gắt, mới suy ra được nghĩa hàm ẩn là không nên ra ngoài kẻo ốm
Quay trở lại, nghĩa hàm ẩn cũng khiến cho nghĩa tường minh trở nên “có ý nghĩa” hơn Nhờ việc hiểu được mẹ đang cấm ra ngoài mà hiểu thêm rằng mẹ
không chỉ đang miêu tả trời nắng gắt mà còn dụng ý rằng nắng gắt không tốt
cho sức khỏe
Tóm lại, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn là hai loại ý nghĩa có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau, bởi thể để hiểu nghĩa hàm ẩn, ta không thể không xem xét trước hết ở ý nghĩa tường minh trong mỗi phát ngôn
1.3 Lối nói vòng
1.3.1 Khái niệm
Lối nói vòng là một trong những thói quen thường thấy trong cách giao tiếp của người Việt Nam ta từ xưa tới nay Lối nói vòng thường được biết đến với rất nhiều tên gọi khác nhau như nói bóng nói gió, nói chạm nọc, nói xa nói gần, nói quanh nói co, nói gió nhưng chạnh lòng mây,…
Trước khi tìm hiểu cụ thể về một lối nói hết sức quen thuộc nhưng vô cùng thú vị này, chúng ta cần có một khái niệm cơ bản nhất về lối nói vòng
Cách nói vòng: là lối diễn đạt không đi thẳng vào ý chính định nói mà dùng cách nói qua những điều khác [54, 28]
Cao Xuân Hạo và Hoàng Dũng đã dùng thuật ngữ Lối nói vòng trong
cuốn Từ điển thuật ngữ đối chiếu ngôn ngữ học Anh-Việt, Việt-Anh (2005),
Trang 27song do nội dung của cuốn sách nên thuật ngữ này chưa được thuyết giải cụ thể
Nguyễn Hữu Chương có hẳn một bài viết về Nói vòng trên tạp chí
Khoavanhoc – ngonngu.edu.vn có xác định: Nói vòng là một lối nói phổ biến
trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc Bản chất của nó cũng là một phép thế đồng sở chỉ Song khác các phép thế thông thường ở chỗ: người ta có thể suy
ra sở chỉ của cụm từ nói vòng dựa vào ý nghĩa của bản thân cụm từ đó mà không cần dựa nhiều vào ngữ cảnh như phép thế các danh ngữ đồng sở chỉ thông thường [74] Nói vòng theo tác giả này nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở
đơn vị câu mà chưa xem xét tới đơn vị phát ngôn, tức là câu được đưa vào giao tiếp
Mới đây nhất, trong luận án tiến sỹ của Nguyễn Đăng Khánh, thông qua việc xem xét khái niệm Lối nói vòng, đã đưa ra một khía niệm cơ bản về Lối
nói vòng như sau: Lối nói vòng (circumlocution) là cách thức mà chủ thể nói
ra điều này những nhằm làm cho người tiếp nhận hiểu ra điều khác thông qua sự chủ động dẫn dắt của chủ thể [25, 43]
Nguyễn Đăng Khánh đồng thời phân biệt giữa lối nói vòng với nói vòng Theo ông, lối nói vòng và nói vòng là hai thuật ngữ có nội hàm và ngoại diên hoàn toàn khác nhau…lối nói vòng là diễn ngôn còn nói vòng là ngữ, thuộc cấp độ từ vựng [25, 61]
Như đã nói ở trên, trong luận văn này, người viết sẽ xem xét phát ngôn theo nghĩa rộng gồm cả phát ngôn và câu Bởi vậy, lối nói vòng mà người viết nghiên cứu sẽ bao gồm cả khái niệm nói vòng của Nguyễn Hữu Chương lẫn khái niệm lối nói vòng của Nguyễn Đăng Khánh, tức là lối nói vòng hay nói vòng đều sẽ được hiểu như nhau trong bản luận văn này Để thống nhất từ đây về sau, người viết sẽ dùng thống nhất là lối nói vòng với tạm định nghĩa như sau:
Trang 28Lối nói vòng là: lối diễn đạt không đi thẳng vào ý chính định nói mà
dùng phép thế danh ngữ đồng sở chỉ hoặc cách nói có dẫn dắt để người nghe thông qua thông tin trực tiếp hiểu được ý định chính của người nói
1.3.2 Phương thức tạo lối nói vòng
Từ định nghĩa trên ta thấy, có hai phương thức để tạo ra lối nói vòng đó
là dùng phép thế đồng sở chỉ và cách nói dẫn dắt
1.3.2.1 Phương thức thế danh ngữ đồng sở chỉ
Phép thế đồng sở chỉ là phép liên kết dùng các từ ngữ khác nhau nhưng
có ý nghĩa cùng chỉ một đối tượng để liên kết văn bản [75, 2]
Theo đó, phép thế danh ngữ đồng sử chỉ là phương thức sử dụng các danh ngữ khác nhau có cùng quy chiếu tới một sự vật, hiện tượng để người nghe phải suy luận thêm một chút về lý do sử dụng danh ngữ đồng sở chỉ đó,
từ đó hiểu được ngầm ý mà người nói muốn đưa ra Đây cũng chính là một phương thức để tạo ra lối nói vòng
Điều khác: là cái ý định muốn truyền báo đến người nhận, tức là đích hướng dụng của mỗi cuộc thoại
Dẫn dắt: là sự chỉ rõ sự thể hiện quyền chủ động, quyền điều khiển, định hướng hay chuyển hướng giao tiếp trong tiến trình hội thoại theo một đích hướng dụng nào đấy
Trong đó có dẫn dắt là vừa đủ để xác định hiện tượng lối nói vòng [25, 43]
Trang 29Hay nói cách khác, việc dẫn dắt suy nghĩ và tư duy của người nghe từ điều này hiểu ra được điều khác chính là phương thức tạo ra lối nói vòng
1.3.3 Phân loại lối nói vòng thường gặp
1.3.3.1.Tiêu chí phân loại lối nói vòng:
Xét ở cấp độ câu, lối nói vòng bản chất là phép thế đồng sở chỉ Bởi vậy
có thể căn cứ vào các loại phép thế danh ngữ đồng sở chỉ để phân chia thành các loại lối nói vòng
Bên cạnh đó, khi thực hiện Lối nói vòng đầu tiên phải chọn yếu tố đích nào có hiệu quả giao tiếp cao nhất Ví dụ lối nói vòng để thông báo (đích thuyết phục) sẽ khác với lối nói vòng để đối phương phải hành động theo ý mình (đích hành động) hay lối nói vòng để biểu hiện sắc thái tình cảm nào đó (đích truyền cảm)
Để đạt đích có hiệu quả nhất, thì dẫn dắt đóng một vai trò vô cùng quan trọng Nói cách khác, người nghe có hiểu được đúng cái điều này mà người nói muốn đề cập hay không thì đều nhờ vào việc dẫn dắt như thế nào Và một dẫn dắt hoàn thành tốt thì người nghe sẽ hiểu ra điều này và ngược lại
Như vậy, người viết đi đến kết luận giống với kết luận của tác giả Nguyễn Đăng Khánh rằng, tính dẫn dắt và hiệu quả đạt được về điều khác cũng là tiêu chí để phân loại lối nói vòng
1.3.3.2 Kết quả phân loại lối nói vòng
+ Xét theo tiêu chí về phép thế danh ngữ đồng sở chỉ, người viết một lần nữa
có cùng quan điểm phân loại lối nói vòng giống tác giả Nguyễn Hữu Chương, cụt thể như sau
- Lối nói vòng thay cho danh từ gốc chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc
- Lối nói vòng thay cho tên riêng
- Lối nói vòng thay cho “Tôi” – người đangnói
- Lối nói vòng thay cho các danh từ chỉ đối tượng
Trang 30- Lối nói vòng thay cho các danh từ chỉ địa điểm, nơi chốn
- Lối nói vòng thay cho động từ gốc
- Lối nói vòng thay cho danh từ chỉ sự việc
Các loại lối nói vòng này như đã nêu trên được tại ra do việc sử dụng phép thế danh ngữ đồng sở chỉ, tức là thực hiện trên các danh ngữ Bởi vậy, để tiện miêu tả người viết trong bản luận văn này sẽ gọi chung các loại lối nói vòng
theo tiêu chí phép thế đồng sở chỉ là lối nói vòng bằng danh ngữ
+ Một lần nữa, dựa vào tiêu chí về tính dẫn dắt và hiệu quả đạt được về điều khác, người viết đi đến sự phân loại lối nói vòng giống tác giả Nguyễn Đăng
Khánh thành các loại sau: Lối nói vòng đạt đích hoàn toàn, Lối nói vòng đạt
đích không hoàn toàn
1.3.3.3 Vai trò của lối nói vòng trong việc biểu đạt nghĩa hàm
- Đối với lối nói vòng bằng danh ngữ, lối nói vòng nhằm nhấn mạnh một sự vật sự việc nào đó, qua đó ngầm thể hiện thái độ và ý chí mà người nói muốn gửi tới người nghe
VD: Chàng lo vì vô tình định thoả bụng muốn, bây giờ phải cố tình đẩy cái không muốn ra
- Thế có chắc Nguyệt chửa với tôi không?
- Này, năm nay tôi mới mười tám tuổi đầu, sao anh đã đổ bậy, đổ bạ cho tôi
cái tiếng khỉ gió ấy! Anh hỏi tôi chửa với ai à? Rồi nó giống ai, nó máu mủ ai,
Trang 31thì anh biết Tôi con nhà trâm anh, anh cũng con nhà thế phiệt, vì một lời
giao ước, nên tôi mới quá chiều anh Tuy tôi chưa là vợ anh, nhưng cũng như
là vợ, nên tôi dốc một lòng chung thủy, thì chữ trinh tôi giữ nguyên cho anh Nếu bây giờ tôi loan chung phượng chạ thì đây này, tôi sẽ chết như thế này này!
- Đừng thề độc, lỡ chết thì oan!
- À, anh nhiếc tôi mãi Thôi đồ bạc tình
(“Oẳn tà roằn”, tr.26)
Trong phát ngôn trên, ta thấy có một số lối nói vòng bằng ngữ như sau: tiếng
khỉ gió ấy Dựa vào hoàn cảnh ngôn ngữ của phát ngôn ta hiểu được, tiếng khỉ gió ấy là để chỉ tội lăng nhăng Người nói không nói thẳng là tội lăng nhăng
mà cố tình dùng cách lối nói vòng vo là tiếng khỉ gió ấy nhằm thể hiện rằng mình là con nhà gia giáo nên rất ngại nói đến cụm từ lăng nhăng kia, đồng
thời cũng như thể hiện sự trách móc người đối thoại vì đổ cho mình cái tội đó Với lối nói vòng bằng ngữ ấy đã góp phần thể hiện hàm ý của phát ngôn đó là thuyết phục đối phương phải tin mình là người trong sạch
- Ngoài ra, như đã nói ở trên, nghĩa hàm ẩn có thể được tạo ra bằng nhiều cách khác nhau như phương thức vi phạm quy tắc hội thoại, vi phạm nguyên tắc lịch sự hội thoại
Tức là:
Vi phạm quy tắc chiếu vật Nghĩa tường minh - Nghĩa hàm ẩn
Vi phạm quy tắc hội thoại và nguyên tắc lịch sự hội thoại
Trong khi đó, lối nói vòng được hiểu là dẫn dắt để người nghe từ điều này có thể hiểu được điều khác ngầm ẩn trong đó:
Dẫn dắt Điều này - Điều khác
Trang 32Như vậy, cả lối nói vòng và cách nói hàm ẩn đều có một mục đích chung là làm cho người nghe hiểu được một ý nghĩa khác nữa ngoài ý nghĩa hiển hiện trên bề mặt phát ngôn, tức là đều đi từ cái này đến cái khác, hay từ nghĩa tường minh sang nghĩa hàm ẩn Theo đó, điều này là những nội dung hiển hiện trên phát ngôn, chính là nghĩa tường minh Còn điều khác là nội dung mà người nói muốn ngầm gửi gắm tới người nghe, đó cũng chính là nghĩa hàm ẩn
Và lối nói vòng chính là một trong những cách thức để biểu đạt nghĩa hàm ẩn Với cách lối nói vòng vèo, có thể phương châm về lượng, về chất,… đã bị vi
phạm Nói cách khác, lối nói vòng chính là cách thức để biểu đạt nghĩa hàm
ẩn qua việc phá vỡ quy tắc cộng tác hội thoại và lịch sự hội thoại Và nghĩa hàm ẩn chính là cái điều khác mà người nói muốn truyền đạt tới người nghe nhằm gây ra một giá trị ngôn trung nào đó
VD: – Bà ấy ở đây ngày nào tôi ê chệ ngày đó Đấy cậu xem, hôm qua đấy, một suýt nữa mà bà ấy vào cửa trước, thì hoạ có mặt mình là mặt mo Cậu chỉ nói dối tôi Cậu đuổi bà ấy, sao bà ấy còn đấy?
- Tôi không đuổi thì tôi chết! Mợ cứ chửi thằng nào nói dối Chẳng tin mợ hỏi thằng bếp mà xem…
- Đồ mặt dày! Thế mà không biết nhục! Sao nó không chết đi cho người ta nhẹ nợ!
(Truyện “Báo hiểu: trả nghĩa mẹ”, tr 127)
- Xét về mặt nghĩa hàm ẩn: Phát ngôn trên đã thể hiện nghĩa hàm ẩn qua việc
vi phạm phương châm chất (không đuổi thì chết: đây là việc mà không chắc
sẽ xảy ra, không dễ dàng chết như vậy) và phương châm lượng (chỉ cần khẳng định đã đuổi là được, song phát ngôn đưa quá nhiều thông tin: khẳng định không đuổi sẽ chết, hãy đi hỏi nhân chứng, hãy chửi người nói dối nhằm tăng sức thuyết phục cho khẳng định của mình) trong quy tác công tác hội thoại và
quy tắc chỉ xuất chiếu vật: thằng nào nói dối = chỉ người khác ngoài mình,
Trang 33nhằm thể hiện một ý hàm ẩn là: thuyết phục đối phương rằng mình thực sự đã đuổi mẹ đi rồi
- Xét về lối nói vòng: Phát ngôn trên thoả mãn 3 điều cần của lối nói vòng đó là:
Điều này: Khẳng định không đuổi thì chết, bảo đối phương chửi thằng nói dối
và đi hỏi nhân chứng khác
Điều khác: Thuyết phục đối phương tin mình
Dẫn dắt: Khẳng định không đuổi thì chết -> Cho phép đối phương chửi người nói dối để khẳng định mình không nói dối -> cho phép đối phương hỏi người làm chứng để khẳng định sự vô tội của mình -> thuyết phục đối phương tin là
đã đuổi bà mẹ đi
Qua ví dụ trên cho thấy điều khác mà người nói muốn biểu đạt qua lối nói vòng cũng chính là cái ý hàm ẩn mà người nói muốn truyền đạt tới người nghe Qua việc lối nói vòng vèo, các quy tắc cộng tác hội thoại, quy tắc chiếu vật chỉ xuất bị vi phạm nhằm một mục đích là truyền tải một thông điệp khác với thông điệp trên bề mặt phát ngôn tới người nghe
Trang 34CHƯƠNG 2: LỐI NÓI VÕNG TRONG MỘT SỐ TƯ LIỆU
KHẢO SÁT
Dựa vào các tiêu chí phân loại lối nói vòng đã nêu trên, qua khảo sát các phát ngôn trong tuyển tập truyện ngắn và tiểu thuyết “Bước đường cùng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan, người viết xin được thống kê các loại lối nói vòng như sau:
2.1 Phân loại lối nói vòng dựa vào phép thế danh ngữ đồng sở chỉ:
2.1.1 Thống kê các loại lối nói vòng bằng danh ngữ
Kết quả thống kê cho thấy có 29 phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ, thuộc các tiểu loại sau:
2.1.1.1 Lối nói vòng thay cho danh từ gốc chỉ quan hệ họ hàng
Trong tư liệu khảo sát, có 4 phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ, chiếm 13,79% trong tổng số phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ thống
- Quan bắt thầy nó vào chỗ chết mà cũng nghe à?
- Chính tôi tình nguyện với quan để xin đi
Chị cu oà lên khóc:
- Thầy nó nỡ bỏ mẹ con tôi chết đói hay sao? Khổ quá! Tôi biết trông cậy vào
ai được? Thầy nó đừng đi!
(Truyện: “Ngậm cười” – Tr.278)
Trang 35Trong ví dụ trên, cụm lối nói vòng được sử dụng là thầy nó để thay cho danh
từ chỉ quan hệ thân thuộc là chồng Cách nói như vậy, người nghe vẫn hiểu là chỉ mình, nhưng đồng thời thể hiện tình cảm của người nói, cũng như ý định của người nói tới người nghe là van xin, khẩn khoản khuyên bảo với đầy lo
lắng Nếu chỉ nói từ chồng thì chưa thể diễn đạt được thông điệp này
VD 2: “Nhưng mưa, giá, rét có hề chi đến bữa tiệc giỗ ông cụ đẻ ra ông chủ
hiệu xe cao su kiêm chủ hãng ô tô “con cọp” (Truyện “Báo hiếu: trả nghĩa cha, tr.118)
Tương tự như ví dụ trên, phát ngôn sử dụng lối nói vòng bằng cụm từ ông cụ
đẻ ra ông chủ thay cho từ bố ông chủ vừa để thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ,
vừa để thể hiện ý mỉa mai tới đứa con bất hiếu là ông chủ hãng ô tô con cọp
2.1.1.2 Lối nói vòng thay cho tên riêng
Trong tư liệu khảo sát, có 1 phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ, chiếm 3,44% trong tổng số phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ thống kê được
VD 3: Bỗng Trần vỗ đùi cười và tuyên bố:
- Tao nghĩ ra rồi Đồng bạc của tao để làm hành lý, chúng ta kéo đến nhà thằng Nguyễn Mấy năm nay, nó in nhiều sách, thế nào cũng rộng tiền hơn chúng ta
Lê đứng phắt dậy:
- Ừ, phải đấy, có cái kho tiền ấy mà tao quên béng mất Nó vừa bán sức cho
nhà nước, vừa bán văn cho mấy Nhà xuất bản thì làm gì nó không giàu
(Truyện “Cái tết của những nhà đại văn hào”, tr 570)
Trong phát ngôn trên có sử dụng lối nói vòng qua cụm từ cái kho tiền chính là
để chỉ nhà văn Nguyễn Ta có thể hiểu được điều này bởi trước đó người nói
đã khẳng định nhà văn Nguyễn in nhiều sách và rộng tiền Thông qua việc sử
dụng cụm từ cái kho tiền, người nghe vẫn hiểu ngay ra là ám chỉ nhà văn
Trang 36Nguyễn mà còn đem đến sắc thái rất nghệ sỹ của những nhà văn trẻ, đồng thời thể hiện một sự hi vọng to lớn của những bạn văn vào sự sung túc hơn của người đồng nghiệp trong bối cảnh cả thảy đang nghèo túng
2.1.1.3 Lối nói vòng thay cho “Tôi” – người đang nói
Trong tư liệu khảo sát, có 3 phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ, chiếm 10,34% trong tổng số phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ thống kê được
VD 4: Vợ chồng ông Tham nhất định nằn nèo cho ông cụ ở lại Nhưng ông cụ nói dỗi:
- Thôi, kẻ cắp chả dám ở chung với người! Để tôi ra chợ Đồng Xuân tôi ở
(Truyện “Mất cái ví”, tr 157)
Trong phát ngôn trên, thay vì nói tôi chả dám ở chung với người, người nói
cố tình thay bằng kẻ cắp chả dám ở chung với người Tự nhận mình là kẻ cắp,
người nói không phải muốn khẳng định chính mình đã ăn cắp số nữ trang đó,
mà muốn thể hiện thái độ tức giận cũng như sự tự ái khi bị mấy người cháu nghi là ăn trộm, đồng thời tỏ ý trách mách đám cháu hư hỗn Đây là sắc thái tình cảm và ý nghĩa mà lối nói vòng bằng cụm từ kẻ cắp đem lại, mà nếu dùng từ tôi thì không thể diễn tả hết được
VD 5: Ván-cách vẫn còn hung hăng, trỏ vào mặt Tam mà mắng:
- Mày láo! "Tăng xương"! Mày không biết ông là ai à?
(“Thật là phúc”, tr 43)
Trong phát ngôn trên, người nói dùng từ ông để thay cho đại từ “tôi” Tuy
quan hệ của 2 người đối thoại không phải ông – cháu, hay ông - tôi bạn bè, nhưng người nói cố tình sử dùng cách nói thay thể này nhằm truyền đạt tới người nghe một thông điệp mang tính doạ dẫm, tự coi mình là bề trên, buộc người nghe khiếp sợ để tuân theo mệnh lệnh của mình
2.1.1.4 Lối nói vòng thay cho các danh từ chỉ đối tượng
Trang 37Trong tư liệu khảo sát, có 8 phát ngôn có lối nói vòng thay cho danh từ chỉ đối tượng, chiếm 27,58% trong tổng số phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ thống kê được
VD 6: “Con này, hễ đã lên tiếng thì y như có kẻ gian vào nhà Nó chồm hẳn
lên mặt mà cắn, thằng trộm nào vô phúc vào nhà này thì hẳn là mất chỗ đội
nón” (Truyện “Răng con chó của nhà tư sản”, tr 20)
Trong phát ngôn trên, người nói đã dùng cụm từ lối nói vòng là chỗ đội nón
để thay chi từ đầu Với cách nói này, người nói không chỉ chỉ ra được bộ phận
cơ thể mà con chó có thể cắn, còn nêu ra công dụng của bộ phận đó, qua đó khoe khoang sự lợi hại của con chó đồng thời ngầm thể hiện ý đe doạ người
khác Những điều này nếu dùng từ đầu thì không thể diễn tả hết được
VD 7: – Ông cấm mày nói
Cấm thế nào được? Tôi chỉ bán cho ông cái phiến thịt của tôi chứ có bán đâu
cái tự do?
(Truyện “Đàn bà là giống yếu”, tr 196)
Người nói đã sử dụng cụm từ phiến thịt để chỉ tấm thân mình Cách lối nói
vòng này nhằm thể hiện sự coi thường với chồng, rằng chỉ có quyền với phiến thịt một vật vô tri, dung tục chứ chẳng phải là người vợ Đồng thời cũng tỏ ý mỉa mai cái quyền làm chồng, quyền sở hữu thứ vô tri của người chồng chứ không phải vị thế của người chồng trong mắt người vợ Với cách lối nói vòng như vậy, sắc thái biểu cảm của phát ngôn được thể hiện rõ ràng hơn, ngụ ý của người nói cũng được thể hiện mạnh mẽ hơn
2.1.1.5 Lối nói vòng thay cho các danh từ chỉ địa điểm, nơi chốn
Trong tư liệu khảo sát, có 2 phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ, chiếm 6,89% trong tổng số phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ thống kê được
Trang 38VD 8: – Lọ thuốc thôi thai Nguyệt uống nó vào cho cái thai ra, thế là mất tích
- Eo ơi! Anh nói mà tôi ghê cả mình! Nếu anh cố tình giết cả hai mẹ con tôi, thì đây này, tôi liều chết ngay trước mặt anh, cho anh trông thấy Anh buông
tôi ra Trời ơi! Ngờ đâu hồ Hoàn Kiếm này chỉ là mồ hồng nhan! Nàng giật
tay ra, chạy lại mé đầu cầu Phong vội chạy theo, níu vạt áo lại:
Ấy chết! Chớ chớ! Tôi thử Nguyệt đấy mà!
(“Oẳn tà rằn”, tr.26)
Người nói đã sử dụng cụm từ mồ hồng nhân để thay cho từ chỉ nơi chốn là
nơi sẽ tự tử Cụm từ mồ hồng nhan đem đến những sắc thái biểu cảm và ngụ ý
của người nói một cách rõ ràng Bởi khi nói tới mồ hồng nhan người ta thường nghĩ ngay tới nơi an nghỉ của những người phụ nữ xinh đẹp, tài hoa nhưng bạc mệnh Thay vì nói hồ Hoàn Kiếm là nơi mình sẽ tự vẫn, người nói khẳng định đây là mồ của mình, một hồng nhan mà bạc mệnh Cách nói như thế góp phần thể hiện ý trách móc người tình bội bạc đã gây nên sự oan trái cho kiếp hồng nhan là cô Nguyệt, đồng thời cũng ngụ ý doạ đối phương nếu không thay đổi cách nghĩ thì đây sẽ là nơi an nghỉ của mình
2.1.1.6 Lối nói vòng thay cho động từ gốc
Trong tư liệu khảo sát, có 5 phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ, chiếm 17,24% trong tổng số phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ thống kê được
VD 9: Bác Phô gái dịu dàng đặt cành cau lên bàn, ngồi xổm ở xó cửa, gãi tai, nói với ông Lý:
- Lạy thầy, nhà con thì chưa cất cơn, mấy lại sợ thầy mắng chửi, nên không dám đến kêu Lạy thầy, quyền phép trong tay thầy, thầy tha cho nhà con, đừng bắt nhà con đi xem đá bóng vội
- Ồ việc quan không phải như chuyện đàn bà của các chị!
(Truyện “Tinh thần thể dục”, trang 456)
Trang 39Phát ngôn trên đã sử dụng cụm từ việc quan để thay cho động từ gốc là việc đi
xem bóng đá Với việc sử dụng lối nói vòng bằng ngữ này, người nói đã thể
hiện việc đi xem bóng đá lần này là một việc hết sức hệ trọng, không thể không làm, qua đó khẳng định ý chí ép buộc bác Phô để con trai đi Nếu chỉ
nói là việc đi xem bóng đá không phải việc đàn bà thì chưa thể hiện được hết
mức độ quan trọng và cần thiết của công việc mà cụm từ việc quan thể hiện được như trên
VD 10: –Nếu tôi ăn ở như kẻ khác, xin thề rằng ngọn đèn điện này tắt, tôi cũng chết
- Thề! Thề cá trê chui ống! Cậu buông tôi ra, tôi xin gửi thân tôi cho ông Hà
Bá dưới sông này!
- Mợ định tử tử? Nếu mợ chết, tôi xin chết theo ngay
(“Oẳn tà rằn”, tr.29)
Ở phát ngôn này, cụm từ gửi thân cho ông Hà Bá được dùng thay cho động từ
tự tử, qua đó thể hiện được sắc thái tình cảm và ngụ ý của người nói Khi nói gửi thân cho ông Hà Bà, nghĩa là người nói khẳng định mình sẽ tử tử ở dưới
sông này, nhằm đe doạ đối phương, bên cạnh đó cách nói này không chỉ là lời khẳng định đi tự tử mà còn là lời oán trách đối phương, bởi chẳng thể trao thân gửi phận cho đối phương thì đành gửi thân cho ông Hà Bá Vừa đe doạ, vừa trách mắng khéo đối phương nhằm mong muốn đối phương đổi ý, phải tin rằng Nguyệt đang thực sự có thai với mình, đó chính là thông điệp chính
mà người nói muốn gửi gắm qua cách lối nói vòng này
2.1.1.7 Lối nói vòng thay cho danh từ chỉ sự việc
Trong tư liệu khảo sát, có 3 phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ, chiếm 10,34% trong tổng số phát ngôn có lối nói vòng bằng danh ngữ thống kê được
VD 11: Chàng lo vì vô tình định thoả bụng muốn, bây giờ phải cố tình đẩy cái không muốn ra
Trang 40- Thế có chắc Nguyệt chửa với tôi không?
- Này, năm nay tôi mới mười tám tuổi đầu, sao anh đã đổ bậy, đổ bạ cho tôi
cái tiếng khỉ gió ấy! Anh hỏi tôi chửa với ai à? Rồi nó giống ai, nó máu mủ ai,
thì anh biết Tôi con nhà trâm anh, anh cũng con nhà thế phiệt, vì một lời giao ước, nên tôi mới quá chiều anh Tuy tôi chưa là vợ anh, nhưng cũng như
là vợ, nên tôi dốc một lòng chung thủy, thì chữ trinh tôi giữ nguyên cho anh Nếu bây giờ tôi loan chung phượng chạ thì đây này, tôi sẽ chết như thế này này!
- Đừng thề độc, lỡ chết thì oan!
- À, anh nhiếc tôi mãi Thôi đồ bạc tình
(“Oẳn tà roằn”, tr.26)
Phát ngôn trên đã sử dụng cụm từ tiếng khỉ gió để thay cho sự việc là tội lăng
nhăng Với cách nói này, người nói vừa thể hiện bản thân là người có giáo
dục khi không muốn dùng thẳng cụm từ lăng nhăng, vừa thể hiện ý chí chê trách việc lăng nhăng ấy nên mới gọi là tiếng khỉ gió Từ đó, góp phần khẳng
định mình là con nhà gia giáo nên không thể làm việc gì trái đạo đức Ngoài
ra, cách nói tiếng khỉ gió còn mang lại sắc thái biểu cảm đặc biệt, thể hiện sự
nhũng nhẽo, giận hờn, trách khéo của một người con gái gia giáo, qua đó gửi tới thông điệp cho người nghe rằng: tôi là người gia giáo, anh không nên nghi oan cho tôi thế, phải tin rằng tôi đang có con với anh
2.1.2 Đặc điểm và cơ chế biểu hiện của lối nói vòng bằng danh ngữ
Bởi lối nói vòng này được sinh ra nhờ vào phép thế danh ngữ đồng sở chỉ, nên đặc điểm của nó là luôn có cùng sở chỉ với danh từ gốc Và cơ chế biểu hiện của nó là:
- Vị từ trong cụm lối nói vòng có quan hệ phái sinh ngữ nghĩa với danh từ gốc, cho nên người ta có thể suy ra được danh từ gốc là từ nào và nhờ vậy mà xác định đúng sở chỉ của cụm lối nói vòng