Tận dụng được nguồn nước này vào sản xuất sẽ nâng cao được hiệu quả của quá trình sản xuất, ổn định số lượng và chất lượng con giống, đáp ứng nhu cầu thị trường.. Phương pháp này đã làm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN THỊ HẢI BÌNH
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NUÔI VỖ CÁ RÔ
PHI VẰN BỐ MẸ Oreochromis niloticus ( Linnaeus, 1758) NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT GIỐNG TẠI NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN THỊ HẢI BÌNH NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NUÔI VỖ CÁ RÔ
PHI VẰN BỐ MẸ Oreochromis niloticus ( Linnaeus, 1758) NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT GIỐNG TẠI NAM ĐỊNH
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN LÂM ANH
Chủ tịch Hội Đồng:
GS.TS NGUYỄN ĐÌNH MÃO
Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả nghiên cứu của đề tài: “ Nghiên cứu các giải pháp
kỹ thuật nuôi vỗ cá rô phi vằn bố mẹ Oreochromis niloticus ( Linnaeus, 1758) nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất giống tại Nam Định” là công trình nghiên cứu của riêng
cá nhân tôi
Nghiên cứu được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Nguyễn Lâm Anh Kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa ai được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác
Khánh Hòa, ngày… tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ HẢI BÌNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Khoa đào tạo sau đại học, Viện nuôi trồng thủy sản và các quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Đặc biệt tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS Nguyễn Lâm Anh đã dành thời gian định hướng, chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn cụ thể tạo điều kiện cho tôi hoàn thành các nội dung thực hiện của đề tài
Xin gửi lời cám ơn đến gia đình và tất cả các bạn bè, đồng nghiệp, các tổ chức và cá nhân đã động viên, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trân trọng cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày… tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ HẢI BÌNH
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN 1
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá Rô phi 3
1.1.1 Phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm sinh học 4
1.1.3 Điều kiện sinh thái và môi trường sống của cá Rô phi 9
1.2 Tình hình nuôi và tiêu thụ cá Rô phi trên thế giới 12
1.3 Tình hình nuôi cá Rô phi tại Việt Nam 15
1.4 Tình hình sản xuất và cung ứng giống cá rô phi ở Việt Nam 17
1.5 Những khó khăn trong sản xuất cá Rô phi đơn tính trong vụ thu đông ở các tỉnh phía Bắc 19
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Thời gian và địa điểm 21
2.1.1 Địa điểm 21
2.1.2 Thời gian: Từ 8/2016 – 2/2017 21
2.2 Bố trí thí nghiệm 21
2.3 Vật liệu nghiên cứu 21
2.3.1 Cá bố mẹ 21
Trang 62.3.2 Thức ăn 22
2.3.3 Ao nuôi, ao ương, trang thiết bị phục vụ 22
2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
2.4.1 Nuôi ghép cá bố mẹ và thu trứng 22
2.4.2 Ấp trứng 23
2.4.3 Xử lý đơn tính 24
2.5 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu trong sản xuất 24
2.6 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 25
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường 26
3.1.1 Theo dõi môi trường trong quá trình thí nghiệm 26
3.1.2 Theo dõi môi trường trong quá trình ấp trứng 27
3.1.3 Theo dõi môi trường trong quá trình xử lý đơn tính 29
3.2 Kết quả sinh sản 30
3.2.1 Kết quả đẻ trứng 30
3.2.2 Kết quả ấp trứng 32
3.2.3 Kêt quả xử lý đơn tính 33
3.3 Hạch toán hiệu quả kinh tế 36
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 38
4.1 Kết luận 38
4.2 Đề xuất ý kiến 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
DO Hàm lượng Oxy hòa tan
FAO Food and Agriculture Oganization
GIFT Genetic Improvement of Farmed Tipalia
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nhu cầu protein của một số loài cá Rô phi 5
Bảng 1.2 Khẩu phần ăn của cá rô phi ở các cỡ cá khác nhau 5
Bảng 1.3 Các giai đoạn phát triển noãn sào của cá Rô phi 7
Bảng 1.4 Phân biệt cá Rô phi đực và cá cái dựa vào ngoại hình 8
Bảng 1.5 Diện tích, sản lượng, thể tích lồng bè nuôi cá Rô phi theo 7 vùng sinh thái (2014) 16
Bảng 3.1 Theo dõi một số yếu tố môi trường các ao thí nghiệm 26
Bảng 3.2 Nhiệt độ nước trong quá trình ấp trứng 28
Bảng 3.3 Nhiệt độ nước các đợt xử lý giới tính 29
Bảng 3.4 Tỷ lệ cá mẹ thu được trứng 30
Bảng 3.5 Tỷ lệ ra bột 32
Bảng 3.6 Năng suất cá bột của cá mẹ ở các ao thí nghiệm 32
Bảng 3.7 Tỷ lệ sống của cá Rô phi sau 21 ngày xử lý đơn tính 33
Bảng 3.8 Tỷ lệ chuyển giới tính của cá Rô phi sau khi xử lý 35
Bảng 3.9 Ước tính chi phí và lợi nhuận của các phương pháp TN 36
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cá Rô phi vằn (Oreochromic niloticus) 3
Hình 1.2 Sản lượng cá rô phi toàn cầu (FAO,2014) 12
Hình 1.3 Sản lượng cá rô phi một số nước sản xuất chính (2013) 13
Hình 1.4 Năng suất nuôi cá rô phi qua các năm 2005, 2010, 2014 17
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 21
Hình 2.2 Hệ thống ấp trứng cá Rô phi 23
Hình 2.3 Hệ thống giai xử lý đơn tính 24
Hình 3.1 Biến động nhiệt độ nước trong các ao thí nghiệm 27
Hình 3.2 Thời gian thu trứng các ao thí nghiệm 30
Hình 3.3 Số lượng trứng thu được của các ao thí nghiệm 31
Hình 3.4 Số lượng cá bột thu được của 3 ao thí nghiệm 33
Hình 3.5 Số lượng cá 21 ngày tuổi thu được 34
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Cá Rô phi là đối tượng kinh tế được nuôi phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Thịt cá Rô phi thơm, ngon, không có xương dăm, được nhiều nơi trên thế giới tiêu thụ Cá Rô phi thành thục sinh dục sớm, sinh sản tự nhiên, nên khó kiểm soát mật độ nuôi, làm cá chậm lớn và cỡ cá khi thu hoạch không đồng Do vậy các nghiên cứu tạo quần đàn cá Rô phi đơn tính đực phục vụ nuôi thương phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất là hết sức cần thiết Hiện nay, diện tích nuôi cá Rô phi ngày càng được mở rộng, nhu cầu về con giống tăng cao đặc biệt vào đầu vụ nuôi Vì vậy việc nghiên cứu tạo ra con giống đầu vụ là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng được nhu cầu về con giống đầu vụ của thị trường Thực tiễn sản xuất cho thấy cá bố mẹ cá Rô phi sau thời gian khác thác chính vụ thường suy kiệt thể lực, lại phải trải qua điều kiện nắng nóng khắc nghiệt của mùa hè nên hầu hết cá Rô phi bố mẹ sẽ không có khả năng phục hồi nếu không có các biện pháp kỹ thuật nuôi vỗ hợp lý Tại nhiều vùng ở các tỉnh phía Bắc, nguồn nước ngầm khá dồi dào, có chất lượng tốt và có nhiệt độ khá ổn định, thích hợp cho sản xuất giống thủy sản Tại nhiều vùng ở các tỉnh phía Bắc có nguồn nước giếng khoan khá dồi dào, chất lượng lượng nước tốt có thể sử dụng để sản xuất giống cá Rô phi và nhiều loài cá nước ngọt khác Đặc biệt, nguồn nước giếng khoan có nhiệt độ nước khá ổn định, mùa đông, nhiệt độ thường ấm hơn so với nhiệt độ không khí xung quanh và rất thích hợp cho việc sản xuất giống cá Rô phi Tận dụng được nguồn nước này vào sản xuất sẽ nâng cao được hiệu quả của quá trình sản xuất, ổn định số lượng
và chất lượng con giống, đáp ứng nhu cầu thị trường Góp phần đẩy nhanh sản lượng
cá Rô phi thương phẩm, nâng cao hiệu quả của quá trình nuôi Rô phi ở các tỉnh phía Bắc Cá Rô phi được xử lý đơn tính trong giai cước Thí nghiệm 1, giai cước được cắm trong ao bình thường; Thí nghiệm 2 và 3 giai được cắm trong ao có bơm nước giếng (Bơm 8 giờ/ngày từ 8 giờ đến 17 giờ hàng ngày), cấp cả ngày khi nhiệt độ nước dưới
22oC Quản lý chăm sóc theo quy trình xử lý đơn tính cá Rô phi của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 Theo dõi biến động một số yếu tố môi trường trong quá trình xử lý đơn tính Sau khi cá đủ 21 ngày tuổi tiến hành cân tổng số, tính số cá thu được từ đó tính
tỷ lệ sống Nuôi ngẫu nhiên 200 con trong giai 5 m2, sau 50- 60 ngày cá đạt cỡ 3 -5 g/con tiến hành mổ để kiểm tra giới tính việc sử dụng nước giếng khoan bơm vào ao
xử lý đơn tính cá Rô phi (thí nghiệm 2, 3) đã có tác dụng ổn định và nâng nhiệt nước ở
ao xử lý Với khả năng, điều kiện hiện tại của cơ sở thì việc xử lý đến hết tháng 12 (hết
Trang 11đợt xử lý 6) là phù hợp Phương pháp này đã làm tăng đáng kể số lượng cá Rô phi 21 ngày tuổi thu được trong quá trình xử lý đơn tính, góp phần tăng hiệu quả của quy trình sản xuất Rô phi đơn tính vụ thu – đông Một số chỉ tiêu kỹ thuật trong xử lý đơn tính: Tỷ
lệ sống của cá 21 ngày tuổi, tỷ lệ chuyển giới tính của cá Rô phi chưa có sự sai khác hơn hẳn giữa các phương pháp thí nghiệm là do thời điểm kết thúc thí nghiệm 1 ngắn hơn thí nghiệm 2 và 3 Nếu thí nghiệm 1 vẫn có cá bột để tham gia xử lý ở các đợt thứ 5, 6, 7 thì
có thể kết quả giữa các thí nghiệm sẽ có nhiều sai khác vì đây là giai đoạn nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước xuống rất thấp không thuận lợi cho quá trình xử lý đơn tính cá Rô phi Sử dụng nước giếng khoan và phun mưa có thể kéo dài được thời gian thu trứng, tăng tỷ lệ cá mẹ thu được trứng, tăng số lượng trứng thu được so với phương pháp nuôi ghép và thu trứng trong giai đặt trong ao thông thường Sử dụng nước giếng khoan để ấp trứng góp phần tăng: Tỷ lệ ra bột; Năng suất cá bột; Số lượng cá bột thu được của các đợt ấp trứng Sử dụng nước giếng khoan để xử lý đơn tính cá Rô phi đã kéo dài được thời gian có thể xử lý đơn tính, ổn định tỷ lệ sống và tỷ lệ giới tính đực, tăng số lượng cá Rô phi 21 ngày tuổi thu được Sử dụng nước giếng khoan để sản xuất cá Rô phi đơn tính góp phần giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất
Từ khóa: Nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật nuôi vỗ Cá Rô Phi Vằn bố mẹ
Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758), nâng cao hiệu quả sản xuất giống, Nam Định
Trang 12MỞ ĐẦU
Cá Rô phi là đối tượng kinh tế được nuôi phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Thịt cá Rô phi thơm, ngon, không có xương dăm, được nhiều nơi trên thế giới tiêu thụ Ở Việt Nam, phong trào nuôi cá Rô phi vẫn đang triển khai mạnh mẽ tại nhiều địa phương Với tiềm năng về mặt nước phong phú, nước ta có thể trở thành một
quốc gia xuất khẩu cá Rô phi chủ lực trong tương lai (thuysanvietnam.com.vn)
Cá Rô phi thành thục sinh dục sớm, sinh sản tự nhiên, nên khó kiểm soát mật
độ nuôi, làm cá chậm lớn và cỡ cá khi thu hoạch không đồng đều (Phạm Anh Tuấn và ctv., 1998) Do vậy các nghiên cứu tạo quần đàn cá Rô phi đơn tính đực phục vụ nuôi thương phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất là hết sức cần thiết
Trong điều kiện khí hậu của các tỉnh phía Bắc, cá Rô phi có thể sinh sản tập trung vào 2 vụ trong năm: Vụ xuân-hè (tháng 2 đến tháng 6); Vụ thu (tháng 9 – tháng 11) Vụ xuân-hè là vụ sản xuất chính trong năm cho sản lượng cá lớn, trong khi đó vụ thu cho sản lượng rất nhỏ thậm chí bằng không nên hầu như không được các trại sản xuất quan tâm
Hiện nay, diện tích nuôi cá Rô phi ngày càng được mở rộng, nhu cầu về con giống tăng cao đặc biệt vào đầu vụ nuôi Vì vậy việc nghiên cứu tạo ra con giống đầu
vụ là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng được nhu cầu về con giống đầu vụ của thị trường Thực tiễn sản xuất cho thấy cá bố mẹ cá Rô phi sau thời gian khác thác chính vụ thường suy kiệt thể lực, lại phải trải qua điều kiện nắng nóng khắc nghiệt của mùa hè nên hầu hết cá Rô phi bố mẹ sẽ không có khả năng phục hồi nếu không có các biện pháp kỹ thuật nuôi vỗ hợp lý Mặt khác, trong điều kiện sản xuất vụ thu đông, các yếu
tố môi trường không ổn định (biến động nhiệt độ nước lớn, thời tiết thay đổi do chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa) làm giảm hiệu quả sản xuất (tỷ lệ ra bột thấp, tỷ lệ sống giảm, năng suất cá bột không cao ) Việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá Rô phi đơn tính đực vụ thu đông nhằm đáp ứng nhu cầu về con giống đầu vụ
là hết sực cần thiết
Tại nhiều vùng ở các tỉnh phía Bắc, nguồn nước ngầm khá dồi dào, có chất lượng tốt
và có nhiệt độ khá ổn định, thích hợp cho sản xuất giống thủy sản Việc tận dụng nguồn nước ngầm này sẽ giảm được chi phí sản xuất, nâng cao được hiệu quả của quá trình sản
xuất giống cá Rô phi đơn tính Vì vậy chúng tôi triển khai thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu
các giải pháp kĩ thuật nuôi vỗ cá rô phi vằn bố mẹ Oreochromis niloticus ( Linnaeus, 1758) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống tại Nam Định”
Trang 13Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu chung: Thử nghiệm nước giếng khoan trong quá trình nuôi vỗ cá bố
mẹ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá Rô phi đơn tính trong vụ Thu - Đông
Mục tiêu cụ thể:
+ Nâng cao tỷ lệ cá đẻ, tỷ lệ ra bột, tỷ lệ sống của cá 21 ngày tuổi
+ Nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất cá Rô phi đơn tính đực trong
vụ thu đông
Nội dung của đề tài
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của nước giếng khoan đến quá trình đẻ trứng, ấp trứng và
xử lý cá Rô phi đơn tính giống vụ thu - đông
+ Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng nước giếng khoan trong sản xuất giống cá Rô phi đơn tính đực vụ thu-đông
Trang 14CHƯƠNG1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của cá Rô phi
1.1.1 Phân loại
Cá Rô phi thuộc họ Cichlidae, phân bố rộng rãi tại Châu Phi, Trung Đông, Nam
và Trung Mỹ, nam Ấn Độ và Sri Lanka Chiếm khoảng 1300 loài, trong đó khoảng
150 loài được gọi là Rô phi (www.fishbase.org) Hệ thống phân loại như sau:
Bộ Perciformes
Họ Cichlidae
Giống Oreochromis
Loài O niloticus
Hình 1.1 Cá Rô phi vằn (Oreochromic niloticus)
(Nguồn: Đinh Văn Huấn, 2010)
Phần lớn giống Rô phi có giá trị thương mại là: Oreochromis, Tilapia và
Sarotherodon Giống Oreochromis là lớn nhất, khoảng 79 loài, tiếp đến là giống
Tilapia khoảng 41 loài và cuối cùng là giống Sarotherodon khoảng 10 loài (Patricio E
Paz, 1998) Trong 3 giống trên có khoảng 8 đến 9 loài có giá trị trong nuôi trồng thủy
sản (Phạm Anh Tuấn, 1998) Trong các loài có giá trị, cá Rô phi vằn O niloticus, cá
Rô phi xanh O aureus và cá Rô phi hồng Oreochromis sp được coi là quan trọng nhất
hiện nay, đang được nuôi phổ biến ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trên
thế giới (Macintosh & Little, 1995)
Trang 151.1.2 Đặc điểm sinh học
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái
Cá Rô phi vằn O niloticus toàn thân phủ vẩy sáng bóng, phần lưng có màu xám
nhạt, phần bụng có màu trắng sữa hoặc màu xanh nhạt Trên thân mình có 7 – 9 vạch đậm chạy từ lưng xuống bụng Vây đuôi có màu sọc đen đậm song song từ phía trên xuống dưới và phân bố khắp vây đuôi Vây lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen Thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên Đầu ngắn, miệng rộng hướng ngang, rạch kéo dài đến đường thẳng đứng sau lỗ mũi một ít Hai hàm dài bằng nhau, môi trên dầy Lỗ mũi gần mắt hơn mõm Mắt tròn ở nửa trước và phía trên của đầu Khoảng cách hai mắt rộng, gáy lõm ở ngang lỗ mũi Khởi điểm vây lưng ngang với khởi điểm vây ngực, trước khởi điểm vây bụng Vây ngực nhọn, dài, mềm Vây bụng
to cứng, chưa tới lỗ hậu môn Cá Rô phi vằn được nhập vào Việt Nam năm 1974 từ Đài Loan (Nguyễn Công Dân, 1998)
1.1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Bộ máy tiêu hoá của cá Rô phi thích nghi với việc ăn tạp Miệng chúng khá rộng hướng lên trên, có thể ăn được những mồi lớn, răng hàm ngắn và nhiều, xếp lộn xộn giúp cá bắt và giữ mồi tốt, lược mang ngắn và khá dày giúp cá lọc tảo dễ dàng Cá
Rô phi có hai tấm răng hầu ở trên và một tấm ở dưới giúp cho cá nghiền thức ăn Thực quản ngắn, dạ dày nhỏ và thành dạ dày mỏng Ruột cá Rô phi dài và xếp thành nhiều vòng, đó là đặc điểm của loài cá ăn thực vật (Mai Đình Yên và ctv, 1978)
Tính ăn của cá Rô phi thay đổi theo từng loài, từng giai đoạn phát triển và cả môi trường nuôi Khẩu phần ăn của cá Rô phi gồm hỗn hợp các tảo, vi khuẩn, mùn bã hữu cơ và có thể cả thực vật bậc cao (Chervinski, 1982)
Cá Rô phi là loài cá ăn tạp nghiêng về thực vật, thức ăn chủ yếu là tảo và một phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ Ở giai đoạn cá con từ cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu là động vật phù du (ÐVPD) và một ít thực vật phù du (TVPD) Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng thành thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và TVPD
Cá Rô phi có khả năng tiêu hoá các loài tảo xanh, tảo lục mà một số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá Ngoài ra cá Rô phi còn ăn được thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, các loại phụ phẩm nông nghiệp khác Ðặc biệt cá Rô phi có thể sử dụng rất có hiệu quả thức ăn tinh như: cám gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá và
Trang 16các phụ phẩm nông nghiệp khác Trong nuôi thâm canh nên cho cá ăn thức ăn có hàm
lượng đạm cao (18-35% Protein) (http//:www.agriviet.com)
Nhu cầu dinh dưỡng của cá Rô phi thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Trong các yếu tố dinh dưỡng thì Protein đóng vai trò quan trọng nhất cả về số lượng
và chất lượng Các loài cá khác nhau có nhu cầu Protein khác nhau Ngay trong cùng một loài nhu cầu Protein cũng khác nhau giữa các độ tuổi và điều kiện môi trường nuôi khác nhau Đối với cá nhỏ nhu cầu Protein trong khẩu phần thức ăn nhiều hơn cá lớn, cá nuôi trong hệ thống nghèo thức ăn tự nhiên, đòi hỏi mức độ Protein trong khẩu phần ăn cao hơn so với cá nuôi trong môi trường giầu thức ăn tự nhiên hay trong ao bón phân (Lê Văn Thắng, 1999)
Bảng 1.1 Nhu cầu protein của một số loài cá Rô phi
Loài Giai đoạn Khẩu phần Protein (%) Hệ thống nuôi
(Nguồn: Dương Văn Biểng, 2006)
Khẩu phần ăn của cá Rô phi phụ thuộc vào loài, kích cỡ, mức năng lượng trong khẩu phần cho ăn, chất lượng nước, tần suất và lượng thức ăn tự nhiên trong thuỷ vực Điều đáng chú ý là khẩu phần tối ưu về mặt sinh học không hẳn tối ưu về mặt kinh tế
Điều này đặc biệt chú ý với cá O niloticus vì loài cá này có thể sử dụng thức ăn dưới
mức tối ưu mà vẫn tăng trưởng tốt (Lê Văn Thắng, 1999) Thực tế trong quá trình nuôi
để đạt được hiệu quả, năng suất và sản lượng cao khi cá được cho ăn với khẩu phần hợp lý, phù hợp với từng điều kiện nuôi Thông thường khẩu phần ăn của cá giảm dần khi cá càng lớn Tuy nhiên khẩu phần thức ăn của cá cần được điều chỉnh thường xuyên theo điều kiện thời tiết, chất lượng nước và tình trạng sức khoẻ của cá
Bảng 1.2 Khẩu phần ăn của cá rô phi ở các cỡ cá khác nhau
Trang 17Cỡ cá (gam/con) Khẩu phần ăn (% khối lượng cơ thể)
(Nguồn: Balarin, J D., RD Haller (1982)
Trong tự nhiên cá Rô phi chủ yếu kiếm mồi vào ban ngày, cá có thể bắt mồi hầu hết các giờ trong ngày Ruột cá Rô phi thích nghi với việc thu nhận thức ăn từng ít một Do vậy trong quá trình nuôi cần chia lượng thức ăn thành nhiều lần trong ngày và cho ăn vào ban ngày Cá nhỏ nên cho ăn nhiều lần hơn cá lớn, tần suất cho ăn giảm dần cùng với sự tăng trọng của cá Về nguyên tắc cho ăn nhiều lần trong ngày sẽ thuận lợi cho việc theo dõi thức ăn thừa, quản lý chất lượng nước và cá sinh trưởng tốt hơn nhưng chi phí lao động cao hơn (Macintosh & Little, 1995)
1.1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng
Sự sinh trưởng của cá Rô phi mang đặc trưng của loài, các loài Rô phi khác nhau
có tốc độ sinh trưởng khác nhau Loài O niloticus có tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh vượt trội so với loài O mossambicus Cá Rô phi loài O niloticus có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất sau đó đến O galilaeus và O aureus (Lowe – McConnell, 1982)
Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thức ăn, mật độ thả và kỹ thuật chăm sóc Khi nuôi thâm canh cá lớn nhanh hơn khi nuôi bán
thâm canh hay là nuôi ghép (http//:www.agriviet.com)
Giai đoạn cá hương, trong ao nuôi cá từ hương lên giống, cá Rô phi vằn
có tốc độ sinh trưởng khá nhanh từ 15- 20g/tháng Từ tháng nuôi thứ hai đến tháng nuôi thứ sáu tăng trưởng bình quân ngày có thể đạt 2,8 - 3,2 g/con/ngày Cá Rô phi vằn có thể đạt trọng lượng bình quân trên 500g/con sau 5 – 6 tháng nuôi
(http//:www.agriviet.com)
1.1.2.4 Đặc điểm sinh sản
Thành thục sinh dục:
Sự thành thục của cá Rô phi tuỳ thuộc theo từng loài, phụ thuộc vào kích cỡ,
tuổi cá và môi trường sống Cá Rô phi O mossambicus thành thục sớm hơn O
Trang 18niloticus Trong ao nghèo dinh dưỡng cá thường thành thục ở cỡ nhỏ hơn nuôi trong
ao có điều kiện dinh dưỡng tốt (Lowe - Connell, 1982)
Trong tự nhiên cá Rô phi thành thục lần đầu sau 4 – 6 tháng tuổi, khi cá đạt khối lượng 100-150g/con (Hepher và Pruginin, 1982; Nho P V, 1996; Nguyễn Công Dân, 1998 a,b) Tuy vậy kích thước thành thục sinh dục của cá Rô phi phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, điều kiện nhiệt độ và độ tuổi Cá Rô phi nuôi trong mô hình thâm canh năng suất cao cá cái tham gia sinh sản lần đầu sinh sản khi khối lượng đạt trên 200g trong khi đó ở điều kiện nuôi kém, cá cái bắt đầu đẻ khi khối lượng cơ thể mới khoảng 100g Khi điều kiện môi trường thuận lợi, giàu dinh dưỡng, cá Rô phi lớn nhanh và phát dục ở kích cỡ lớn, ngược lại trong điều kiện môi trường không đầy đủ chất dinh dưỡng, cá thành thục ở kích thước nhỏ
Chu kỳ sinh sản:
Cá Rô phi thành thục rất sớm thường sau 3 đến 5 tháng nuôi Chu kỳ sinh sản từ
30 - 35 ngày /lứa Cá sinh sản nhiều lần trong năm, ở những vùng khí hậu ấm áp quanh
năm như các tỉnh phía Nam cá Rô phi O niloticus có thể đẻ 11 - 12 lần/năm Còn ở
các tỉnh miền Bắc cá chỉ đẻ 5 - 6 lần trong năm Quan sát buồng trứng cá Rô phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng có tất cả các loại trứng, từ loại non nhất đến loại chín sẵn sàng rụng để đẻ Số lượng trứng mỗi lần đẻ từ vài trăm trứng đến khoảng vài nghìn trứng Chu kỳ sinh sản của cá Rô phi thường kéo dài từ 3 – 4 tuần (tính từ lần đẻ này đến lần đẻ tiếp theo) Tuy nhiên khi nhiệt độ nước xuống dưới 200C kéo dài trong nhiều ngày cá ngừng sinh sản (Nguyễn Công Dân & Trần Văn Vĩ , 1996), Sự hình thành và phát triển tuyến sinh dục của cá Rô phi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tuổi, cỡ cá, chế độ dinh dưỡng, nhiệt độ nước, độ mặn…
Bảng 1.3 Các giai đoạn phát triển noãn sào của cá Rô phi Giai đoạn Kích thước noãn sào (µm)
Trang 19Nghiên cứu sự phát triển buồng trứng của cá Rô phi cho thấy, sự phát triển của trứng cũng được chia thành 6 giai đoạn như những loài khác Tiêu chuẩn phân chia giai đoạn được dựa vào kích thước của noãn bào có trong nang buồng trứng, Tacon và ctv, (1996) đã mô tả tóm tắt 6 giai đoạn phát triển của tế bào trứng cá Rô phi (Bảng 2.2)
Tập tính sinh sản:
Đối với cá Rô phi, sự phát triển và hình thành các đặc điểm, dấu hiệu sinh dục phụ được thể hiện rất rõ ở cả con đực và con cái trước khi tham gia sinh sản (Ambali, 1990) Cá đực đến tuổi phát dục, mép vây đuôi, vây lưng, vây bụng có màu rực rỡ (từ hồng tím đến xanh đen) (Trần Đình Luân, 2006) Cá cái có màu hơi vàng ở cổ, không
có gì thay đổi về màu sắc bên ngoài Quan sát lỗ huyệt sinh dục có thể phân biệt được
cá đực và cá cái như sau:
+ Cá đực: có hai lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là rãnh huyệt (huyệt niệu sinh dục)
+ Cá cái: Có ba lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là lỗ niệu sinh dục và ở giữa là lỗ sinh dục
Để phân biệt cá đực và cá cái, người ta dựa vào hình thái ngoài và dựa vào kết quả giải phẫu tuyến sinh dục
Bảng 1.4 Phân biệt cá Rô phi đực và cá cái dựa vào ngoại hình
Ðặc điểm phân biệt Cá đực Cá cái
Ðầu To và nhô cao Nhỏ, hàm dưới trễ do
ngậm trứng và con
Màu sắc Vây lưng và vây đuôi sặc sỡ có
màu hồng hặc hơi đỏ Màu nhạt hơn
(Nguồn: Lê Văn Thắng, 1999 )
Trang 20Khi cá đã thành thục sinh dục sẵn sàng tham gia sinh sản, chúng đào tổ sẵn
trên nền đáy ao (đường kính khoảng 20 – 30cm) Cá cái đẻ trứng vào tổ, cá đực tiết sẹ thụ tinh cho trứng Sau khi trứng đã được thụ tinh, cá cái hút trứng và ấp trong miệng Thời gian ấp trứng được tính từ khi cá được thụ tinh đến khi cá bột tiêu hết noãn hoàng
và có thể bơi lội tự do Thời gian này kéo dài khoảng 10 ngày tùy theo nhiệt độ môi trường Cá bố mẹ còn tiếp tục bảo vệ và chăm sóc cá con đến khi cá bột nở ra và bơi thành đàn khỏe mạnh (Masintosh và Little, 1995)
- Ở nhiệt độ 200C thời gian ấp khoảng 6 ngày
- Ở nhiệt độ 280C thời gian ấp khoảng 4 ngày
- Ở nhiệt độ 300C thời gian ấp khoảng 2 - 3 ngày
Khi cá bơi lội tự do, chúng thường tập hợp thành đàn bơi nơi nước ấm và nông xung quanh ao Giai đoạn đầu cá Rô phi ăn động vật phù du, sau chuyển sang ăn động vật và các loại ấu trùng động vật trong nước và ở đáy ao Trong điều kiện ấp nhân tạo
cá con mới nở gặp phải điều kiện không đảm bảo như trong miệng của mẹ chúng nên ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của chúng Thời gian này kéo dài từ 10 – 12 ngày Cá cái bắt đầu bắt mồi tích cực sau khi kết thúc đợt ấp trứng để chuẩn bị cho đợt đẻ kế tiếp (Macintosh, 1985) Lượng thức ăn mà cá cái tiêu thụ có thể lên tới 40% khối lượng cơ thể trong vòng 48 giờ ngay sau chấm dứt việc ấp trứng và ngậm con trong miệng Trong thời gian sinh sản cá cái thường bị giảm khối lượng cơ thể do nhịn ăn trong thời gian ấp trứng và ngậm con, khối lượng có thể giảm 15% đến 20% so với khối lượng ban đầu trước khi tham gia sinh sản (Little, 1990) Theo Al Hafedh và ctv., (1999); Tsadik và Bart (2007), khả năng sinh sản của cá Rô phi bố mẹ phụ thuộc rất lớn vào chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và quản lý cũng như một số yếu tố môi trường
1.1.3 Điều kiện sinh thái và môi trường sống của cá Rô phi
1.1.3.1 Oxy hòa tan
Hàm lượng oxy hòa tan là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của chất lượng nước ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Nhu cầu về hàm lượng oxy hòa tan và lượng tiêu hao oxy hòa tan của cá tăng theo nhiệt độ và mức độ
sử dụng thức ăn của cá Khi mức độ thâm canh cao thì hàm lượng oxi hòa tan trở thành yếu tố hạn chế Nhiều loài cá tăng trưởng chậm đi khi hàm lượng oxy hòa tan nhỏ hơn
5 mg/l (Boyd, 1996)
Trang 21Cá Rô phi có khả năng sống trong môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp nhờ khả năng sử dụng oxy trên mặt nước Trong môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp dưới 1 mg/l, cá Rô phi vẫn có thể sống nhưng không thể kéo dài khi hàm
lượng oxy hòa tan dưới 0,7 mg/l (Balarin và Haller, 1982) Cá Rô phi O niloticus và
O mossambicus chỉ sống trong thời gian ngắn khi hàm lượng oxy ở mức 0,1 mg/l và
0,2 mg/l đối với O.aureus (Chervinski, 1982; Magid và Babiker, 1975) Hàm lượng oxy thường thấp vào sáng sớm và ảnh hưởng đến sự phát triển của tuyến sinh dục và giảm tần số đẻ của cá, hoạt động sinh sản sảy ra mạnh hơn khi hàm lượng oxy cao vào buổi chiều (Little, 1990)
1.1.3.2 Nhiệt độ
Nguồn cung cấp nhiệt độ cho thủy vực chủ yếu là từ năng lượng bức xạ mặt trời Chính vì vậy, sự biến động nhiệt độ của môi trường nước có quy luật ngày đêm rất rõ rệt Thường nhiệt độ của nước về ban ngày cao hơn ban đêm, trong năm thì mùa
hè có nhiệt độ cao nhất và thấp nhất vào mùa đông
Cá là động vật máu lạnh chính vì thế nhiệt độ cơ thể cá biến đổi theo nhiệt độ của môi trường nước Khi nhiệt độ nước thay đổi thân nhiệt cá cũng thay đổi theo Tốc
độ của các phản ứng sinh hóa có liên quan mật thiết với nhiệt độ Khi nhiệt độ tăng lên
100C thì tỷ lệ các phản ứng sinh hóa tăng lên hai lần Rất nhiều loài cá phù hợp với nuôi trồng thủy sản có thể sống và sinh sản trong dải nhiệt rộng nhưng dải nhiệt giúp
cá sinh trưởng và phát triển tốt nhất tương đối hẹp (Boyd, 1996)
Nhiệt độ là một trong những yếu tố môi trường quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cá Cá Rô phi là loài cá có nguồn gốc nhiệt đới, nên thích nghi ở điều kiện nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt độ thấp Biên độ nhiệt độ của cá dao động từ 11 – 420C (Bardach & ctv, 1972) Philippart & Ruwet (1982) đã ghi nhận biên độ nhiệt của cá Rô phi từ 8 - 420C Nhiệt độ thích hợp cho cá Rô phi sinh trưởng
và phát triển là 28 – 300C (Lê Quang Long, 1964; Balarin & Haller, 1982) Cá Rô phi ngừng hoạt động và hoàn toàn ngừng ăn khi nhiệt độ nước xuống dưới 160C (Kelly,
1956, Trích Nguyễn Thị Hoa, 2008) Quá trình sinh sản của cá Rô phi sảy ra khi nhiệt
độ nước trên 220C, nhiệt độ thích hợp cho cá Rô phi sinh sản là 26 – 290C Khi nhiệt
độ nước xuống dưới 200C thì tuyến sinh dục ngừng phát triển (Chervinski, 1982; Behrends & ctv, 1990)
Trang 22Balarin và Haller(1982) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đến
đời sống của cá Rô phi Theo các ông, cá Rô phi xanh (O aureus) sống trong môi
trường nước có nhiệt độ thấp với độ muối 5‰ tốt hơn trong nước ngọt và đạt tỷ lệ
sống cao nhất ở ngưỡng nhiệt độ thấp trong môi trường nước lợ (có độ muối 11,6‰)
Trong cùng một loài thì ngưỡng chịu nhiệt của các dòng cũng có sự sai khác về khả năng chịu lạnh, khả năng thích ứng với các biên độ nhiệt của cá Rô phi còn phụ thuộc vào kích cỡ cá, sự thuần hóa và độ mặn của môi trường nước Cá hương chịu lạnh kém hơn khi ở môi trường nước ngọt nhưng ở môi trường nước lợ cá chịu lạnh tốt hơn do ở môi trường này hạn chế được sự gây bệnh của nấm (Lê Quang Long, 1961) Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy cá Rô phi giống có kích thước lớn hơn có khả năng chịu lạnh tốt hơn và cho tỷ lệ sống cao hơn cá Rô phi có kích thước nhỏ với tỷ lệ sống lần lượt là 54% và 33.4% (Dan và Little, 2000) Mặt khác, một số tác giả khác lại chỉ ra rằng không có sự tương quan giữa kích thước cá giống và khả năng chịu lạnh của cá Rô phi hoặc sự tương quan này là rất nhỏ (Cnaani và ctv., 2000; 2003; Charo-Karisa và ctv., 2004) Các tác giả này cũng chỉ ra rằng khả năng chịu lạnh của cá Rô phi chịu ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố di truyền về ngoại hình và điều kiện môi trường
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trứng và cá con sau khi
nở Biên độ nhiệt thích hợp cho sự phát triển của phôi cá Rô phi là 25 - 300C và cho cá con là 28 - 300C Sau khi nở 8 ngày ở nhiệt độ nước 240C cá bột Rô phi bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, thời gian rút ngắn còn 5 ngày khi nhiệt độ nước tăng lên 280C và 3 ngày khi nhiệt độ nước là 300C (Rana, 1990)
1.1.3.3 pH
Đối với cá Rô phi và một số loài cá nước ngọt pH thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của chúng là từ 6,5 – 8,5 Cá Rô phi có thể sống được ở biên độ pH dao động từ 4 – 11 (Chervinski, 1982), pH thấp hoặc cao quá ngưỡng cho phép đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cá Rô phi Quá trình sinh trưởng và khả năng sinh sản của cá Rô phi giảm rõ rệt khi giá tri pH thấp dưới 6,5 (Boyd, 1985, trích theo Bongco,1991)
1.1.3.4 Độ muối
Hầu hết các loài cá Rô phi có khả năng chịu độ muối rộng, khả năng chịu độ muối phần lớn phụ thuộc vào dòng, loài, kích cỡ, yếu tố thời gian, hoàn cảnh tác động
Trang 23và các yếu tố môi trường (Chervinski,1982) Nhiều loài cá Rô phi có thể sinh trưởng thuận lợi trong môi trường nước ngọt cũng như nước lợ
1.2 Tình hình nuôi và tiêu thụ cá Rô phi trên thế giới
Cá Rô phi là đối tượng được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau những loài cá chép (Fitzsimmons và Gonznlez, 2005) Sản lượng cá Rô phi nuôi không ngừng tăng lên và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người nghèo, nghề nuôi cá Rô phi cũng được cho là một sinh kế tốt nhất cho nông dân thoát khỏi đói nghèo Trong tương lai, cá Rô phi sẽ là sản phẩm thay thế cho các loài cá thịt trắng đang ngày càng cạn kiệt (WFC, 2003)
Sản lượng cá rô phi toàn cầu năm 2014 đạt 4,67 triệu tấn, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2010 – 2014 đạt trung bình 12,3% Do nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ngày càng tăng, thị trường thế giới ổn định, khoa học công nghệ trong nuôi, sản xuất giống cá rô phi ngày càng phát triển và nhiều nước mở rộng diện tích và nâng cao năng suất nên sản lượng cá rô phi toàn cầu trăng trưởng nhanh, dự báo đạt 5,0 triệu tấn vào năm 2015 và còn tiếp tục tăng cao trong năm tiếp theo
Hình 1.2 Sản lượng cá rô phi toàn cầu (FAO,2014)
Trang 24Hình 1.3 Sản lượng cá rô phi một số nước sản xuất chính (2013)
(FAO, 2014; số liệu 2013)
- Châu Á
Tổng sản lượng cá rô phi nuôi toàn cầu năm 2013 đạt 4.677.613 tấn Trong đó châu Á là khu vực chính sản xuất cá rô phi, chiếm > 60% tổng sản lượng cá rô phi toàn cầu Những nước sản xuất cá rô phi chính ở khu vực châu Á bao gồm Trung Quốc (1.600.000 tấn); Indonesia (717.813 tấn); Philippines (275.000 tấn); Thái Lan (220.000 tấn) và Việt Nam (95.000 tấn) (FAO, 2014; số liệu 2013)
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi và tiêu thụ cá rô phi với sản lượng đạt trên 1,6 triệu tấn và là nước xuất khẩu cá rô phi lớn nhất thế giới Trung Quốc áp dụng khá đa dạng các hình thức nuôi cá rô phi như nuôi trong ao, nuôi ghép với các đối tượng cá truyền thống, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến cho đến thâm canh và siêu thâm canh Năm 2013, nước này xuất khẩu 370.000 tấn cá rô phi trị giá 1,3 tỷ USD
Sản lượng cá rô phi của Indonesia trong những năm gần đây đã vươn lên là nước sản xuất cá rô phi lớn thứ 2 châu Á và là nước có sản lượng cá rô phi cao thứ 3 toàn cầu (717.813 tấn); các nước có sản lượng khá cao bao gồm Philippines, Thái Lan, Đài Loan và Việt Nam Cá rô phi của Đài Loan xuất sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm
Trang 25nguyên con đông lạnh và phi lê, còn Phippines chủ yếu xuất sang thị trường Nhật với sản phẩm sashimi và phi lê Các sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan là cá nguyên con đông lạnh và phi lê đông lạnh
Việt Nam sản xuất 95.000 tấn cá rô phi (2013) và tăng nhanh lên 171.360 tấn (2014) Trong những năm tới, Việt Nam đạt mục tiêu phát triển cá rô phi thành đối tượng nuôi chủ lực, tạo sản lượng lớn cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Việt Nam đặt mục tiêu sản lượng cá rô phi đạt 200.000 tấn vào năm 2020 và 300.000 tấn vào năm 2030
- Châu Mỹ
Quốc gia sản xuất cá rô phi nhiều nhất châu Mỹ là Braxin (300.000 tấn), Mexico (100.000 tấn) và một số nước khác như Ecuado, Colombia với sản lượng thấp hơn Brasil và Mexico nhờ có tiềm năng diện tích, có thị trường nội địa mạnh, đặc biệt
là nhu cầu tiêu thụ cao sở SaoPaulo, Rio de Janeiro (Braxin) Đặc biệt, Braxin là quốc gia có tiềm năng phát triển nuôi cá rô phi do hội tụ các điều kiện thuận lợi về nguồn nước, khí hậu nên giá thành sản xuất thường thấp dẫn đến tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm cá rô phi của nước này trên thị trường thế giới
Ecuado, một quốc gia sản xuất tôm nổi tiếng nhưng trong những năm gần đây đang đối mặt với dịch bệnh (chủ yếu là bệnh đốm trắng –WSSV) đã chuyển sang phát triển nuôi cá rô phi ở những ao nuôi tôm nhằm cải thiện môi trường, khi môi trường tốt hơn họ lại tiến hành nuôi tôm Chu kỳ nuôi xen kẽ tôm – cá đã chứng tỏ được hiệu quả Một quốc gia khác là Pểu tuy mới phát triển nuôi cá rô phi nhưng có nhiều triển vọng trong tương lai
Điểm mạnh của các nước Trung Mỹ là rất gần thị trường Mỹ nên tiềm năng để
mở rộng sản xuất, nhắm vào phân khúc phi lê tươi xuất khẩu sang thị trường Mỹ với giá trị cao hơn nhiều so với sản phẩm phi lê đông lạnh và đông lạnh nguyên con Đây
là lợi thế lớn của các nước Trung Mỹ khi tham gia vào thị trường xuất khẩu cá rô phi
so với các nước khác
- Châu Phi
Ai cập vào năm 2012 với sản lượng 768.000 tấn/năm , là nước sản xuất cá rô phi có sản lượng cao thứ 2 trên thế giới sau Trung Quốc và chiếm 90% sản lượng cá rô phi của Châu phi Gần đây, một số nước Châu phi bắt đầu tập trung phát triển cá rô phi trong đó Ghana là nước có chính sách tốt, khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư những trang trại nuôi cá rô phi lớn trên hồ chứa Trong những năm tới với chính
Trang 26sách và quản lý tốt, nghề nuôi cá rô phi của Ghana tiếp tục phát triển nhanh Tuy vậy, sản lượng cá rô phi của Ghana hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước
- Châu Âu
Sản lượng cá rô phi nuôi ở Châu Âu rất it do nhiệt độ thấp không thuận lợi để nuôi
cá rô phi Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản lượng đạt khoảng 300 tấn/năm Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Đức, Pháp và Anh Hiện nay nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi được bày bán ở nhà hàng và hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho một số bộ phận dân cư có nguồn gốc từ Châu Á
- Trung Đông
Ả Rập Xê út, Cô Oét và Lebanon nuôi cá rô phi trong môi trường nước mặn
nên loài nuôi phổ biến là O.spiluris Do thiếu nguồn nước nên các hoạt động nuôi
thường bị giới hạn trong khi nhu cầu và giá bán cá rô phi rất cao Syria trong những năm 2011, trước khi xảy ra nội chiến, cá rô phi đã được nuôi khá phổ biến trong các ao lớn, sử dụng nguồn nước ngầm Tuy nhiên, từ khi nội chiến đến nay nghề nuôi thủy sản của Syria trong đó có nghề nuôi cá rô phi đã suy giảm nghiêm trong
Các thị trường nhập khẩu đáng chú ý khác Mêhicô là nhà nhập khẩu lớn thứ hai các sản phẩm cá Rô phi của Trung Quốc, với khoảng trên 36.000 tấn năm 2009 Nga là nước nhập khẩu cá Rô phi lớn thứ 3, nhưng có tốc độ tăng rất mạnh Để bù đắp một phần thiếu hụt do giảm nhập khẩu cá tra, năm 2009 Nga đã nhập 21.900 tấn của Trung Quốc, tăng 28% so với năm 2008 EU là một thị trường tiêu thụ cá Rô phi mới nổi, sự phát triển của thị trường còn rất chậm Các nước nhập khẩu chính là Pháp, Anh, Đức, Bỉ và Ba Lan, trong đó Pháp có bước chuyển biến khá rõ Năm 2009, Pháp nhập khẩu 2.900 tấn cá rô phi của Trung Quốc, trong khi vài năm trước chưa hề
có Nhìn chung, EU đang mở rộng dần thị trường tiêu thụ cá Rô phi và theo dự đoán đến cuối năm 2010 tổng nhập khẩu cá Rô phi EU có thể đạt 20.000 tấn (Globefish,2010)
1.3 Tình hình nuôi cá Rô phi tại Việt Nam
Nuôi cá Rô phi ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 1950 sau khi cá Rô phi
đen (O mossambicus) được nhập vào nước ta Vào thời kỳ đó cá Rô phi chủ yếu được
nuôi theo hình thức quảng canh nên năng suất thấp Mặt khác do đặc điểm của cá Rô phi đen là chậm lớn đẻ dày kích thước nhỏ nên dẫn đến việc cá Rô phi trong một thời gian dài không được người nuôi chú ý Năm 1973 cá Rô phi vằn O.niloticus đã được nhập vào miền Nam nước ta từ Đài Loan, cá trở thành đối tượng nuôi cá triển vọng,
Trang 27song do công tác lưu giữ giống thuần không tốt, hiện tượng lai tạp giữa cá Rô phi đen
và rô phi vằn Đài Loan là phổ biến, làm suy giảm chất lượng cá Rô phi giống (Trần Mai Thiên và Trần Văn Vỹ, 1994) Thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học, và các chương trình hợp tác quốc tế, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã nhập một số giống cá Rô phi có chất lượng như: Cá Rô phi vằn dòng Thái Lan, dòng Egypt – Swansea, cá Rô phi dòng GIFT (Genetic Improvement of Farmed Tilapia) chọn giống thế hệ thứ năm của ICLARM Cá Rô phi vằn dòng GIFT nhập nội đã được sử dụng làm vật liệu ban đầu cho chương trình chọn giống cá Rô phi tiến hành tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, sau hai thế hệ chọn giống theo phương pháp gia đình, cá Rô phi chọn giống có tốc độ tăng trưởng tăng thêm 29,1% (Nguyễn Công Dân và ctv, 2001)
Cá rô phi đang là đối tượng nuôi có thị trường tiêu thụ tốt trong nước và xuất khẩu Gần đây, một số doanh nghiệp tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Thanh Hóa
đã xuất khẩu sản phẩm cá rô phi vào thị trường Mỹ và EU mang lại giá trị xuất khẩu cao Hiện nay nhiều nhà nhập khẩu hài lòng với cá rô phi Việt Nam và đánh giá trội hơn cá rô phi Trung Quốc về chất lượng Cá rô phi Việt Nam đang có tiềm năng và được lòng khách hàng Quốc tế nhờ chất lượng Theo dự báo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam trong năm
2016 sẽ tăng mạnh đạt kim ngạch 45 triệu USD, tăng 32% so với năm 2015 Đồng thời, VASEP dự báo hoạt động chế biến và xuất khẩu cá rô phi sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong những năm tới Đại diện VASEP cho biết, xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam trong những năm qua có xu hướng tăng trưởng tích cực, đặc biệt có giai đoạn tăng trưởng 76%-265% Thị trường nhập khẩu cá rô phi Việt Nam cũng tăng mạnh, từ
8 thị trường năm 2005 đã lên tới 68 thị trường trong năm 2015 Trong đó, Mỹ , Colombia và EU là 3 thị trường nhập khẩu cá rô phi lớn nhất của Việt Nam
Bảng 1.5 Diện tích, sản lượng, thể tích lồng bè nuôi cá Rô phi theo 7 vùng sinh thái (2014) STT Địa phương Diện tích nuôi
(ha)
Thể tích (m 3 )
Sản lượng (tấn)
1 Miền núi phía Bắc 7.348 3.560 21.373
Trang 28So với diện tích nuôi trồng thủy sản trong cả nước, diện tích nuôi cá rô phi chiếm
tỷ lệ thấp Cơ cấu diện tích nuôi cá rô phi năm 2005 là 3,12%, năm 2010 là 0,75%, năm 2014 là 1,99% Diện tích nuôi trồng thủy sản trong cả nước tăng lên hàng năm, trong khi diện tích nuôi cá rô phi có biến động, năm 2010 và 2014 đều có diện tích nuôi thấp hơn năm 2005
Hình 1.4 Năng suất nuôi cá rô phi qua các năm 2005, 2010, 2014
(Nguồn Tổng cục thủy sản 2016)
Năng suất nuôi cá rô phi trong ao trung bình được tính toán từ các số liệu thu thập được về diện tích và sản lượng nuôi rô phi trong cả nước Có sự tăng trưởng về năng suất: năm 2005 đạt 1,84 tấn/ha, năm 2010 là 4,96 tấn/ha và năm 2014 đạt 7,87 tấn/ha Việt Nam sản xuất 95.000 tấn cá rô phi (2013) và tăng nhanh lên trên 182.000 tấn (2014) Trong những năm tới, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển cá rô phi thành đối tượng nuôi chủ lực, tạo sản lượng lớn cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Việt Nam đặt mục tiêu sản lượng cá rô phi đạt 235.000 tấn vào năm 2020 và 300.000 tấn vào năm 2030
Đây là một nhiệm vụ khá nặng nề nhưng đồng thời cũng là nguồn động lực rất lớn nhằm thúc đẩy nghề nuôi cá Rô phi trong nước phát triển
1.4 Tình hình sản xuất và cung ứng giống cá rô phi ở Việt Nam
Tình hình sản xuất giống cá rô phi
Trên cả nước hiện có 235 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cá rô phi, trong đó
có 44 cơ sở nuôi giữ đàn cá bố mẹ với khoảng 940.000 cá thể, sản xuất được khoảng
Trang 29trên 1 tỷ cá rô phi bột, trên 300 triệu cá rô phi giống Số lượng giống này chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu nuôi trồng hiện nay Sản lượng giống cá rô phi đỏ đã đáp ứng đủ nhu cầu nuôi Trong khi đó, việc thiếu hụt giống cá rô phi vằn chất lượng cao, xảy ra vào đầu vụ ở phía Bắc xảy ra lặp lại hàng năm Thiếu cá rô phi giống cũng xảy ra ở các tỉnh phía Nam khi các doanh nghiệp mở rộng sản xuất cá rô phi xuất khẩu Việc nhập khẩu cá rô phi giống phục vụ nuôi thương phẩm khi mở rộng sản xuất cá rô phi nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu trong khi công tác kiểm dịch chưa tốt đã và đang
là mọt trong nhưng nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện tượng dịch bệnh trên cá rô phi ngày càng phổ biến trong thời gian qua
Tại miền Bắc, nhu cầu cá rô phi giống ở các tỉnh phía Bắc là rất lớn, tập trung vào tháng 3 – 5 hàng năm, trong khi đó mùa vụ sản xuất giống cá rô phi ở miền Bắc thường tập trung từ tháng 5 đến tháng 6, vì vậy có sự lệch pha giữa cung và cầu Theo thống kê của Tổng cục Thuỷ sản, năm 2014, các tỉnh phía Bắc sản xuất được 173 triệu con giống, cá giống lưu qua đông được cung cấp từ các cơ sở tại Hải Dương và Quảng Ninh Tuy nhiên lượng cá giống này cũng chỉ chủ động một phần giống cung cấp cho nhu cầu thả nuôi vào đầu vụ Nhập khẩu giống từ các nước trong khu vực (Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan…) và chuyển giống từ miền Nam có thể đáp ứng được sự thiếu hụt này Việc nhập khẩu giống vẫn diễn ra theo mùa vụ nuôi, giống cá rô phi nhập nội hiện nay phần lớn qua đường tiểu ngạch, không rõ nguồn gốc xuất xứ, chưa được đánh giá chất lượng
Công nghệ sản xuất giống đơn tính đực chủ yếu áp dụng phương pháp: 1) Dùng hormon trộn vào thức ăn; 2) Phương pháp lai khác loài giữa rô phi vằn và rô phi xanh; 3) Nuôi cá rô phi bố mẹ và cho đẻ trong ao đất, vớt cá bột hàng ngày và thực hiện chuyển đơn tính đực bằng phương pháp ngâm hoóc môn Phương pháp này hiện nay đang áp dụng có hiệu quả, rút ngắn thời gian sản xuất
Quy mô các trại sản xuất cá rô phi giống ở Việt Nam nhỏ, còn thiếu những trại sản xuất giống cá rô phi hàng hóa quy mô lớn, được quản lý tốt từ nguồn cá bố mẹ đến chất lượng con giống Ở miền Bắc, cơ sở sản xuất cá rô phi giống lớn nhất là liên doanh giữa Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sản xuất giống thủy sản Quảng Ninh với Trung Quốc, hàng năm sản xuất xấp xỉ 100 triệu cá bột; các cở sở sản xuất giống còn lại hàng năm chỉ sản xuất và cung ứng vài triệu đến vài chục triệu cá rô phi đơn tính đực