NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: Xử lý dâu tằm bằng sóng siêu âm: Tối ưu hóa các điều kiện xử lý để làm tăng hàm lượng các hợp chất phenolic trong dịch quả.. Xử lý dâu tằm bằng chế phẩm enzyme pec
Trang 1NGUYỄN THỊ NGUYÊN THẢO
SỬ DỤNG SÓNG SIÊU ÂM VÀ CHẾ PHẨM ENZYME
PECTINASE ĐỂ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC
DÂU TẰM (Morus alba)
Chuyên ngành: Công nghệ thực phẩm và đồ uống
Mã số: 60 54 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 8 năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA - ĐHQG - HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS TS Lê Văn Việt Mẫn
Cán bộ chấm nhận xét 1 : TS Hoàng Kim Anh
Cán bộ chấm nhận xét 2 : TS Nguyễn Thị Lan Phi
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày 29 tháng 8 năm 2012
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 TS Trần Bích Lam
2 PGS TS Lê Văn Việt Mẫn
3 TS Hoàng Kim Anh
4 TS Nguyễn Thị Lan Phi
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên : Nguyễn Thị Nguyên Thảo MSHV: 10110200
Ngày, tháng, năm sinh : 21/04/1984 Nơi sinh : Phú Yên
Chuyên ngành: Công nghệ thực phẩm và đồ uống Mã số: 60 54 02
TÊN ĐỀ TÀI: Sử dụng sóng siêu âm và chế phẩm enzyme pectinase để cải thiện chất lượng nước dâu tằm
I NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Xử lý dâu tằm bằng sóng siêu âm: Tối ưu hóa các điều kiện xử lý để làm tăng hàm lượng các hợp chất phenolic trong dịch quả
Xử lý dâu tằm bằng chế phẩm enzyme pectinase: Tối ưu hóa các điều kiện xử lý
để làm tăng hàm lượng các hợp chất phenolic trong dịch quả
So sánh hiệu quả của các phương pháp xử lý dâu tằm đến chất lượng dịch quả thu được
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 02/2012
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 30/06/2012
IV HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS TS Lê Văn Việt Mẫn
Trang 4
Họ và tên : Nguyễn Thị Nguyên Thảo
Ngày, tháng, năm sinh : 21/04/1984
Nơi sinh : Tỉnh Phú Yên
Địa chỉ liên lạc : Trường Đại học Phú Yên – 18 Trần Phú, TP.Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên
QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
Từ 2003 – 2008: Sinh viên Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Tp.HCM
Từ 2010 – 2012: Học viên cao học tại Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM
QU TR NH C NG T C
Từ 2008 đến nay: Công tác tại Trường Đại học Phú Yên
Trang 5i
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy Lê Văn Việt Mẫn, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thành viên trong gia đình tôi, những người luôn ủng hộ tôi cả về mặt vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian tôi theo học chương trình Cao học tại Trường ĐH Bách Khoa Tp.HCM
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Khoa Khoa học Tự nhiên, Ban Giám Hiệu Trường Đại học Phú Yên - nơi tôi đang công tác, cùng toàn thể anh/ chị/ em nơi đây
đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể yên tâm học tập và hoàn thành tốt chương trình học Cao học
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến quý thầy cô trong Khoa Kỹ thuật Hóa học - Trường ĐH Bách Khoa Tp.HCM, đã tận tụy dạy dỗ chúng tôi trong hai năm học qua Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể thầy cô trong Bộ môn Công nghệ thực phẩm, đã nhiệt tình hỗ trợ chúng tôi các hóa chất, dụng cụ, thiết bị cần thiết để tôi có thể thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tất cả các anh/ chị và các bạn ở phòng thí nghiệm Công nghệ thực phẩm đã đồng hành cùng với tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 08 năm 2012
NGUYỄN THỊ NGUYÊN THẢO
Trang 6ii
In this study, two methods for mulberry mash treatment in juice processing were investigated
Ultrasonic treatment: The optimal treatment conditions were as follows:
ultrasonic power: 10.36 W/g, sonication time: 6 minutes and treatment temperature:
63oC Under optimal conditions, the concentration of total phenolics in the juice was 63.23% higher than that in the control
Pectolytic treatment: The optimal conditions were as follows:
concentration of Pectinex Ultra SP-L: 0.08 %v/w and pectolytic time: 120 minutes
At the optimal conditions, the concentration of total phenolics in the juice was 52.23% higher than that in the control
The ultrasonic method shortened the treatment time, increased more the level
of phenolics, anthocyanins and antioxidant activity of the mulberry juice than the enzymatic method
Trang 7
iii
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát hai phương pháp xử lý hỗn hợp dâu tằm chà trong qui trình sản suất nước ép dâu tằm
Xử lý dâu tằm bằng sóng siêu âm: Điều kiện xử lý tối ưu như sau: Công
suất siêu âm: 10,36 W/g, nhiệt độ siêu âm: 63oC và thời gian xử lý: 6 phút Khi đó, hàm lượng các hợp chất phenolic trong dịch trích tăng 63,23% so với mẫu đối chứng không qua xử lý siêu âm
Xử lý dâu tằm bằng chế phẩm enzyme pectinase: Điều kiện xử lý tối ưu như
sau: Nồng độ chế phẩm enzyme: 0,08% và thời gian xử lý: 120 phút Khi đó, hàm lượng các hợp chất phenolic trong dịch trích tăng 52,23% so với mẫu đối chứng không qua xử lý enzyme
Phương pháp siêu âm rút ngắn thời gian xử lý nguyên liệu, làm tăng hàm lượng các hợp chất phenolic, anthocyanin và hoạt tính chống oxy hóa của dịch quả cao hơn so với phương pháp enzyme
Trang 8iv
LỜI CẢM ƠN i
ABSTRACT ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
GIỚI THIỆU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về dâu tằm 3
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại 3
1.1.2 Thành phần dinh dưỡng của quả dâu tằm 5
1.2 Chế phẩm pectinase trong sản xuất nước quả 9
1.2.1 Phân loại và cơ chế tác động của enzyme pectinase 9
1.2.2 Đặc điểm của chế phẩm enzyme pectinase trong sản xuất nước quả 11
1.2.3 Ứng dụng của pectinase trong chế biến nước quả 13
1.3 Sóng siêu âm trong quá trình trích ly chất chiết từ thực vật 13
1.3.1 Định nghĩa, phân loại 13
1.3.2 Cơ chế tác động của sóng siêu âm trong môi trường lỏng 14
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly bằng siêu âm 17
Trang 9v
2.1 Nguyên liệu 21
2.1.1 Dâu tằm 21
2.1.2 Enzyme pectinase 21
2.1.3 Thiết bị siêu âm 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3 Thuyết minh nội dung nghiên cứu 24
2.3.1 Ảnh hưởng của quá trình xử lý siêu âm đến chất lượng dịch quả dâu tằm 24
2.3.2 Ảnh hưởng của quá trình xử lý enzyme pectinase đến chất lượng dịch quả dâu tằm 25
2.3.3 So sánh hiệu quả trích ly của phương pháp xử lý siêu âm và enzyme pectinase trên nguyên liệu dâu tằm 26
2.4 Các phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
2.4.1 Vitamin C 28
2.4.2 Các hợp chất phenolic 28
2.4.3 Anthocyanin 28
2.4.4 Hoạt tính chống oxi hóa tổng 29
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
2.4.6 Công thức tính toán 30
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 32
3.1 Ảnh hưởng của quá trình xử lý siêu âm đến chất lượng dịch quả dâu tằm 32 3.2 Ảnh hưởng của quá trình xử lý enzyme pectinase đến chất lượng dịch quả dâu tằm 36
Trang 10vi
3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme 40
3.2.3 Tối ưu hóa nồng độ chế phẩm pectinase và thời gian xử lý cho hỗn hợp dâu tằm xay bằng phương pháp qui hoạch thực nghiệm 44
3.3 So sánh hiệu quả trích ly của phương pháp xử lý siêu âm và enzyme pectinase trên nguyên liệu dâu tằm 48
3.3.1 So sánh thông số động học của quá trình trích ly các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa trong dịch trích dâu tằm 48
3.3.2 So sánh chất lượng sản phẩm 52
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
4.1 Kết luận 55
4.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 69
Trang 11vii
Bảng 1-1 Một số loài dâu tằm thường gặp 4 Bảng 1-2 Thành phần hóa học của trái dâu tằm 5 Bảng 1-3 Hàm lượng các hợp chất phenolic và flavonoid trong một số loại quả 7 Bảng 1-4 Một số nghiên cứu ứng dụng sóng siêu âm để hỗ trợ trích ly các chất có hoạt tính sinh học trong thực phẩm 18 Bảng 3-1 Bảng ma trận qui hoạch thực nghiệm và kết quả thu hồi phenolic từ dịch trích 32
Bảng 3-2 Ảnh hưởng của các biến độc lập đến hàm lượng các hợp chất phenolic 33
Bảng 3-3 Bảng ma trận qui hoạch thực nghiệm và kết quả thu hồi phenolic từ dịch trích 44 Bảng 3-4 Ảnh hưởng của các biến độc lập đến hàm lượng các hợp chất phenolic 45 Bảng 3-5 So sánh thông số động học của quá trình trích ly các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa trong dịch trích dâu tằm bằng phương pháp xử lý pectinase (EAE) và sóng siêu âm (UAE) 50 Bảng B.1 Qui hoạch thực nghiệm xử lý siêu âm hỗn hợp dâu tằm xay 76Bảng B.2 Qui hoạch thực nghiệm xử lý chế phẩm enzyme pectinase cho hỗn hợp dâu tằm xay 77 Bảng C1 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm enzyme pectinase đến hàm lượng vitamin C 78 Bảng C.2 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm enzyme pectinase đến hàm lượng các hợp chất phenolic 78 Bảng C.3 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm enzyme pectinase đến hàm lượng anthocyanin 79
Trang 12viii
hóa 79 Bảng C.5 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến hàm lượng vitamin C 80 Bảng C.6 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến hàm lượng các hợp chất phenolic 80 Bảng C.7 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến hàm lượng anthocyanin 80 Bảng C.8 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến hoạt tính chống oxy hóa 81Bảng D.1 Sự thay đổi nồng độ các hợp chất phenolic trong dịch trích dâu tằm theo thời gian khi xử lý bằng sóng siêu âm 82 Bảng D.2 Sự thay đổi nồng độ anthocyanin trong dịch trích dâu tằm theo thời gian khi xử lý bằng sóng siêu âm 82 Bảng D.3 Hệ số nghịch đảo tốc độ trích ly (t/Ct) của các chất chống oxy hóa tại những thời gian trích ly khác nhau trong quá trình xử lý bằng siêu âm 83 Bảng D.4 Sự thay đổi nồng độ các hợp chất phenolic trong dịch trích dâu tằm theo thời gian khi xử lý bằng enzyme 83 Bảng D.5 Sự thay đổi nồng độ các hợp chất phenolic trong dịch trích dâu tằm theo thời gian khi xử lý bằng enzyme 84 Bảng D.6 Hệ số nghịch đảo tốc độ trích ly (t/Ct) của các chất chống oxy hóa tại những thời gian trích ly khác nhau trong quá trình xử lý bằng enzyme 84 Bảng D.7 So sánh chất lượng nước dâu tằm thu được từ phương pháp trích ly bằng chế phẩm pectinase và siêu âm 85
Trang 13ix
Hình 1-1 Loài dâu tằm Morus alba 3
Hình 1-2 Loài dâu tằm Morus nigra 3
Hình 1-3 Loài dâu tằm Morus rubra 3
Hình 1-4 Vị trí phân cắt của các enzyme pectinase 10
Hình 1-5 Phổ sóng siêu âm (ultrasound) có tần số lớn hơn 20 kHz 14
Hình 1-6 Sự hình thành và nổ vỡ bong bóng trong môi trường lỏng 16
Hình 2-1 Các dạng cấu trúc phân tử phổ biến của anthocyanin ở những giá trị 29
Hình 3-1 Đồ thị đáp ứng bề mặt hàm lượng các hợp chất phenolic theo phương trình hồi qui 34
Hình 3-2 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm pectinase đến hàm lượng 36
Hình 3-3 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm pectinase đến hàm lượng các hợp chất phenolic 37
Hình 3-4 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm enzyme pectinase đến hàm lượng anthocyanin 38
Hình 3-5 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm enzyme pectinase đến hoạt tính chống oxy hóa của nước dâu tằm 39
Hình 3-6 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến hàm lượng vitamin C 40
Hình 3-7 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến hàm lượng các hợp chất phenolic 41 Hình 3-8 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến hàm lượng anthocyanin 42
Hình 3-9 Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến hoạt tính chống oxy hóa của 43
Hình 3-10 Đồ thị đáp ứng bề mặt hàm lượng các hợp chất phenolic theo phương trình hồi qui 46
Hình 3-11 Sự thay đổi nồng độ các hoạt chất trong dịch trích dâu tằm theo thời gian khi xử lý bằng sóng siêu âm 48
Trang 14x
lý bằng enzyme pectinase 49 Hình 3-13 Giá trị nghịch đảo tốc độ trích ly (t/Ct) đối với phenolic tổng và anthocyanin theo thời gian trong (a) phương pháp trích ly bằng siêu âm (UAE) và (b) phương pháp trích
ly bằng enzyme (EAE) 50 Hình 3-14 Độ tăng hàm lượng phenolic tổng, anthocyanin và hoạt tính chống oxy hóa của dịch dâu tằm so với mẫu đối chứng khi xử lý bằng sóng siêu âm (UAE) và chế phẩm pectinase (EAE) 52
Trang 15xi
AAC: Ascorbic Acid Content – Hàm lượng acid Ascorbic
ABTS: 2,2‘-Azino-bis-(3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid)
ANOVA: Analysis of variance – Phân tích phương sai
CS: Control sample – Mẫu đối chứng không qua xử lý enzyme và sóng siêu âm CSE: Conventional solvent extraction – Trích ly theo phương pháp truyền thống EAE: Enzyme-assisted extraction – Trích ly bằng enzyme
FCR: Folin-Ciocalteu Reagent – Thuốc thử Folin-Ciocalteu
FRAP: The Ferric Reducing Ability of Plasma hoặc Ferric on Reducing Antioxidant Power hoặc Ferric Reducing Power – Khả nằng khử sắt của huyết tương hoặc khả năng chống oxy hóa được thể hiện qua sự khử ion FeIII
GAE: Milligram gallic acid equivalents per gram – Hàm lượng phenol tổng theo đương lượng acid gallic
HPLC: High pressure liquid chromatography – Sắc ký lỏng hiệu cao năng
MAE: Microwave-assistedextraction – Trích ly bằng vi sóng
SFE: Supercritical fluid extraction – Trích ly bằng chất lỏng siêu tới hạn
TEAC – Trolox equivalent antioxidation activity – Hoạt tính chống oxy hóa theo đương lượng Trolox
TPTZ: 2,4,6-tripyridyl-s-triazine
UAE: Ultrasound-assisted extraction – Trích ly bằng sóng siêu âm
Trang 161
GIỚI THIỆU
Thời gian gần đây, quả dâu tằm được các nhà khoa học, nhà sản xuất thực phẩm
và dược phẩm trên thế giới đặc biệt chú trọng bởi nó là nguồn nguyên liệu tự nhiên giàu các hợp chất phenolic với khả năng chống oxy hóa cao Trong số các hợp chất phenolic trong dâu tằm thì anthocyanin là nhóm hoạt chất chống oxy hóa quan trọng (Tsuda và cộng sự, 1999)
Trong qui trình sản xuất nước ép từ dâu tằm, vấn đề đặt ra là làm sao thu được dịch trích với hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, cụ thể là các hợp chất phenolic Giai đoạn trích ly được cho là giai đoạn quan trọng nhất vì nó ảnh hưởng quyết định đến hàm lượng các hợp chất chống oxy hóa trong dịch quả cũng như hoạt tính chống oxy hóa của sản phẩm
Trong sản xuất công nghiệp hiện nay, các chế phẩm enzyme thường được sử dụng để hỗ trợ cho quá trình trích ly dịch quả Các enzyme thủy phân như pectinase, hemicellulase và cellulase sẽ thủy phân các polymer trong mô thịt quả, từ đó hỗ trợ quá trình giải phóng chất chiết từ bên trong tế bào ra bên ngoài Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có các công bố khoa học về sử dụng các chế phẩm enzyme trong qui trình thu nhận dịch quả dâu tằm, đặc biệt là sự ảnh hưởng của việc dùng enzyme đến hàm lượng các hợp chất chống oxy hóa trong dịch quả
Bên cạnh phương pháp enzyme, nhiều phương pháp trích ly hiện đại đã được nghiên cứu và ứng dụng để cải thiện hiệu quả trích ly Những phương pháp này bao gồm: Trích ly bằng sóng siêu âm (UAE), trích ly bằng vi sóng (MAE) và trích ly bằng chất lỏng siêu tới hạn (SFE)…(Chemat và cộng sự, 2011) Trong các phương pháp này, trích ly có sự hỗ trợ của sóng siêu âm là phương pháp có nhiều tiềm năng ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm Phương pháp này có những ưu điểm như thiết bị đơn giản, rẻ tiền, dễ điều khiển vận hành và dễ tự động hoá; đặc biệt có thể trích ly các hợp chất không bền nhiệt như các chất chống oxy hóa phenolic (Wang và Weller, 2006; Chen và cộng sự, 2012) Đến nay vẫn chưa có các công bố khoa học về việc sử dụng sóng siêu âm để thu nhận dịch quả dâu tằm giàu chất chống oxy hóa
Trang 172
Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất đề tài nghiên cứu: ―Sử dụng sóng siêu âm và chế phẩm enzyme pectinase để cải thiện chất lượng nước dâu tằm‖ Chúng tôi khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ trong quá trình xử lý enzyme pectinase và siêu âm đến khả năng trích ly các hợp chất phenolic, anthocyanin và hoạt tính chống oxy hóa của dịch trích dâu tằm; đồng thời, so sánh hiệu quả của hai phương pháp này
Trang 183
H nh 1-2 Loài dâu tằm Morus nigra
H nh 1-3 Loài dâu tằm Morus rubra
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về dâu tằm
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại
Dâu tằm thuộc cây bụi tự nhiên, có
nguồn gốc từ các vùng khí hậu ôn đới và
cận nhiệt như châu Á, châu Âu và bắc Mỹ
(Rehder 1956; Ercisli & Orhan, 2007)
Chúng có thể phát triển được với các điều
kiện khí hậu, địa lý, đất đai khác nhau và
trải dài từ vùng nhiệt đới đến cận bắc cực
Loài: alba, nigra, rubra…
H nh 1-1 Loài dâu tằm Morus alba
Trang 194
Phần lớn các loài dâu tằm có nguồn gốc ở châu Á, trong đó Trung Quốc có 24
loài, Nhật Bản có 19 loài Việt Nam có các loài như M alba, M nigra và M laevigata
(Ravindran và cộng sự,1997)
Dâu tằm được trồng chủ yếu để lấy lá làm nguồn thức ăn cho loài tằm nhả tơ
(Bombyx mori) Một vài loài dâu tằm được trồng để lấy quả như Morus alba, Morus indica, Morus laevigata(Aswathi và cộng sự, 2004) Nhìn chung, dâu tằm có 3 loài
chính là: Morus alba, Morus rubra và Morus nigra (bảng 1-1)
Quả dâu tằm không thật sự thuộc loại quả mọng (berry), nó giống quả mâm xôi
nhưng hơi phình ra (Johns & Stevenson, 1985), có kích thước khoảng 2 – 3cm (Huxley, 1992) Dâu tằm đen là loại quả có vị ngọt, chua, chát và mùi thơm đặc trưng(Gerasopoulos & Stavroulakis, 1999)
Bảng 1-1 Một số loài dâu tằm thường gặp (Wasson, 2001; Ercisli và Orhan, 2007)
M.alba Dâu tằm trắng (white
mulberry)
Trung Quốc Màu trắng, hồng nhạt
hoặc hơi đỏ tía
M.alba var.tatarica
(L) Ser
Dâu tằm (mulberry), dâu cho tằm ăn (silkworm mulberry)
Trung Quốc Màu trắng, hồng nhạt
hoặc hơi đỏ tía
M.nigra Dâu tằm đen (black
mulberry), dâu tằm Persian (Persian mulberry)
Iran Từ đỏ tía đến đen
M rubra Dâu tằm đỏ (red mulberry) Mỹ Đỏ sậm, tía sậm đến
đen
Trang 205
1.1.2 Thành phần dinh dưỡng của quả dâu tằm
Thành phần dinh dưỡng của quả dâu tằm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, điều kiện gieo trồng và chăm sóc, thời điểm thu hoạch, phương pháp tồn trữ,…
Bảng 1-2 Thành phần hóa học của trái dâu tằm (Singhal và cộng sự , 2009b)
Trang 216
1.1.2.1 Vitamin C
L-Ascorbic acid (AA) là dạng hoạt tính sinh học chính của vitmin C AA bị oxy hóa nghịch đảo thành dạng L-dehydroascorbic acid (DHA), vẫn thể hiện hoạt tính sinh học Sự oxy hóa tiếp theo sẽ tạo thành dạng acid diketogulonic không còn hoạt tính sinh học (Davey và cộng sự, 2000; Deutsch, 2000) Vì DHA dễ dàng chuyển thành dạng AA trong cơ thể con người nên việc xác định cả AA và DHA trong rau quả được xem như xác định hoạt tính của vitamin C (Lee & Kader, 2000) AA phân bố ở khắp các tế bào quả, nơi đóng vai trò chủ yếu cho sự phát triển và trao đổi chất của quả (Arrigoni & Tullio, 2002)
Ercisli và Orhan (2007) cho rằng hàm lượng vitamin C (acid ascorbic) cao nhất
được tìm thấy trong dâu tằm M alba, tiếp đó là M nigra và M rubra
1.1.2.2 Các hợp chất phenolic
Dâu tằm được biết đến là nguồn nguyên liệu tự nhiên giàu các hợp chất phenolic
Hàm lượng của chúng trong dâu M nigra và M Rubra lần lượt là 1422 mg GAE/100
g quả tươi và 1035 mg GAE/100 g quả tươi (Ercisli và Orhan, 2007) Hàm lượng các hợp chất phenolic trong các quả có thể thay đổi theo thời điểm thu hoạch,kiểu gen và điều kiện môi trường trong quá trình phát triển…(Zadernowski và cộng sự, 2005) Đối với những loài dâu tằm có màu đỏ, hàm lượng các hợp chất phenolic gia tăng trong suốt thời kỳ chín do có sự tích tụ tối đa của các thành phần anthocyanin và flavonol (Bridle & Timberlake, 1978; Gerasopoulos & Stavroulakis, 1997) Chu và cộng sự (2006) đã xác định được các thành phần apigenin, luteolin, quercetin, morin, acid caffeic, acid gallic, rutin, umbelliferone, acid chlorogenic và kaempferol trong quả
Morus alba
Flavonoid là một nhóm lớn thuộc các hợp chất phenolic, với các thành phần chính như flavonol, flavanol và anthocyanin (Wang và cộng sự, 1997) Hàm lượng
flavonoid trong M nigra và M alba lần lượt là 37,8 mg/10g và 19,9 mg/g chất khô
(Pawlowska và cộng sự, 2008) Hàm lượng flavonoid trong dâu tằm cao hơn so với quả mận (oriental plum), quả sơn trà (Nhật Bản) và một vài loại rau quả khác (Lin và cộng sự, 2007) Myricetin, một flavonol đầy tiềm năng trong việc chống oxy hóa, ung
Trang 227
thư và dị ứng, cũng được tìm thấy trong dâu tằm với hàm lượng khá cao: 45 mg/100 g quả tươi (Lugasi & Hovari, 2002) Flavanol tổng được xác định với hàm lượng từ 16,4
đến 65,4 mg/g đương lượng catechin trong quả M alba (Bae & Suh, 2007)
Bảng 1-3 Hàm lượng các hợp chất phenolic và flavonoid trong một số loại quả
(Lin &Tang, 2008)
(mg GAE/g bột quả khô)
Hàm lượng flavonoid tổng (mg QE/g bột quả khô)
2001). Thành phần anthocyanin trong M.nigra gồm có: Cyanidin 3-O-glucoside (17,9 mg/10g quả tươi), cyanidin 3-O-rutinoside (7,5 mg/10g quả tươi), pelargonidin 3-O- glucoside (1,2 mg/10g quả tươi), pelargonidin 3-O- rutinoside (0,4 mg/10g quả tươi)
(Pawlowska và cộng sự, 2008) Hàm lượng anthocyanin tổng trong nước ép dâu tằm
dao động từ 147,68 đến 2725,46 mg/L (Liu và cộng sự, 2004)
1.1.2.3 Hoạt tính chống oxy hóa
Tiềm năng chống oxy hóa trong dịch trích từ quả và lá dâu tằm đã được nhiều tác giả nghiên cứu Ví dụ như ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu đã đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của 28 loại trái cây khác nhau bằng phương pháp FRAP, kết quả cho thấy quả táo gai (hawthorn) có hoạt tính chống oxy hóa cao nhất, tiếp đó là ổi, kiwi và dâu tằm tía Hoạt tính chống oxy hóa của dâu tằm tía là 4,11 mmol Trolox/100g quả tươi (Guo và cộng sự, 2003)
Trang 238
Hoạt tính chống oxy hóa của dâu tằm chủ yếu là do các hợp chất phenolic, đặc biệt là anthocyanin (Naderi và cộng sự, 2004; Liu và cộng sự, 2004) Trong đó, các glycoside và acylglycoside của anthocyanin là nhóm những hoạt chất chống oxy hóa quan trọng (Tsuda và cộng sự, 1999)
Arfan và cộng sự (2012) đã xác định hoạt tính chống oxy hóa của dịch quả dâu
tằm là: 0,75 mmol Trolox/g (Morus alba methanolic) và 1,25 mmol Trolox/g (Morus
nigra methanolic) bằng phương pháp ABTS
1.1.2.4 Các cấu tử dễ bay hơi
Li (2007) đã tách các cấu tử dễ bay hơi trong dịch trích quả dâu tằm bằng dung môi dichloromethane và tiến hành phân tích bằng sắc ký khí và sắc ký khối phổ Kết quả cho thấy những cấu tử bay hơi chính là eicosanol (28,51%), tetracosane (16,55%), heptacosane (16,39%), octadecyl butyrate (4,2%), acid n-hexadecanoic (1,15%) và diisooctyl phthalate (0,84%)
1.1.2.5 Carbohydrate
Ozgen và cộng sự (2009) cho rằng hai đường chính trong M nigra và M rubra
là fructose (5,27 g/100 mL) và glucose (5,81 g/100 mL)
1.1.2.6 Acid hữu cơ
Theo Koyuncu (2004), thành phần và hàm lượng các acid hữu cơ trong dâu tằm đen gồm có: acid malic (35,4-198,5 mg/g quả tươi), acid citric (5,5-23,4 mg/g quả tươi), acid tartaric (4,16 mg/g quả tươi), acid oxalic (0,62 mg/g quả tươi) và acid
fumaric (0,019 mg/g quả tươi) Trong M rubra, acid malic và acid citric chiếm lần lượt 27% và 72% tổng số acid; ở M nigra, acid citric chiếm 92% trong khi đó acid
malic chỉ chiếm 8% tổng số acid (Ozgen và cộng sự, 2009)
Trang 249
1.2 Chế phẩm pectinase trong sản xuất nước quả
1.2.1 Phân loại và cơ chế tác động của enzyme pectinase
Theo Kashyap và cộng sự (2001), hệ pectinase được phân loại thành 3 nhóm chính:
Nhóm 1: Nhóm enzyme thủy phân liên kết ester – Esterase
Nhóm 2: Nhóm depolymer hóa mạch pectin – Depolymerase
Nhóm 3: Nhóm enzyme thủy phân protopectin – Protopectinase
1.2.1.1 Pectinesterases (PE)
PE là nhóm enzyme thủy phân liên kết ester giữa gốc methoxyl và gốc carboxylic ở vị trí C6 của acid galacturonic trên mạch chính của phân tử pectin Sản phẩm của phản ứng thủy phân là acid pectinic (có mức độ ester hóa thấp hơn) hoặc acid pectic và methanol
Enzyme thủy phân liên kết glycosidic bao gồm:
Polymethylgalacturonases (PMG): Tác dụng lên các phân tử acid
polygalactorunic đã được methyl hóa (tức là pectin), xúc tác thủy phân các liên kết 1,4-glycoside ở các vị trí giữa mạch (endo – PMG) hay từ đầu không khử của phân tử pectin (Exo – PMG)
α-Polygalacturonases (PG): Tác dụng lên các phân tử acid
polygalactorunic, xúc tác thủy phân các liên kết α-1,4-glycoside ở các vị trí giữa mạch (endo – PG) hay từ đầu không khử của phân tử pectin (Exo – PG)
Trang 2510
Enzyme phân cắt (Cleaving): Cắt các liên kết α-1,4-glycoside của cơ chất bằng phương pháp trans-elimination tạo thành các phân tử galacturonide với một
liên kết không no giữa C4 và C5
Polymethylgalacturonate lyases (PMGL): Xúc tác cắt các phân tử pectin
ở các vị trí giữa mạch (Endo-PMGL) hay từ đầu không khử của phân tử pectin PMGL)
(Exo-Polygalacturonate lyases (PGL): Xúc tác cắt các phân tử acid
polygalactorunic ở các vị trí giữa mạch (Endo-PGL) hay từ đầu không khử của phân
tử acid polygalacturonic (Exo-PGL)
Trang 2611
Ngoài ra, dựa vào điều kiện xúc tác mà pectinase cũng có thể được chia làm hai loại chính đó là: pectinase acid và pectinase base Pectinase acid được sử dụng trong ngành công nghiệp nước trái cây và rượu vang; chế phẩm thường có nguồn gốc từ
nấm mốc, đặc biệt là từ Aspergillus niger Pectinase base chủ yếu sử dụng trong khử
keo và trong công nghiệp chế tạo sợi từ đay gai; những chế phẩm enzyme này chủ yếu
có nguồn gốc từ vi khuẩn
1.2.2 Đặc điểm của chế phẩm enzyme pectinase trong sản xuất nước quả
Các pectin hòa tan được tìm thấy trong nước ép là kết quả của quá trình phá vỡ vật lý các tế bào quả do hệ enzyme pectolytic Pectin là thành phần chủ yếu để kết dính các thịt quả lại với nhau Các pectin hòa tan này làm tăng độ nhớt dịch quả là nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn trong quá trình trích ly Thông thường, thịt quả được xử lý với enzyme pectinase bằng cách gia nhiệt từ 45 đến 50oC, thời gian xử lý
từ 1 đến 2 giờ Điều kiện xử lý enzyme phụ thuộc vào bản chất, hàm lượng chế phẩm enzyme sử dụng; nhiệt độ phản ứng; bản chất và thành phần hóa học của quả (McLellan, 2000)
Các hợp chất pectic cần được phá vỡ là những chuỗi polymer có thành phần chính là -D-1, 4-galacturonan với phân nhánh 1,2 liên kết -L-rhamnosyl với chuỗi rhamnogalacturonan xen kẽ (Selvendran,1985) Chuỗi xen kẽ này bao gồm các đường trung hòa tạo nên cấu trúc của pectin (Vires và cộng sự, 1986) Các đường chiếm ưu thế trong pectin là D-galactose và L-arabinose, đường xylose chiếm tỉ lệ khá ít (McNeil và cộng sự, 1984)
Trước đây, cấu trúc của pectin được cho là một chuỗi ester đơn của acid polygalacturonic, do đó hệ enzyme pectinase thường sử dụng gồm: pectin lyase, pectin methyl esterase và polygalacturonase; chúng được xem là những enzyme thủy phân pectin hoàn toàn Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đã kết luận rằng cấu trúc hóa học của pectin gồm: phần chính (smooth regions) và phần phụ (hairy regions) Phần chính là các homogalacturonan – chuỗi acid polygalacturonic được ester hóa một phần; phần phụ là một phức hợp gồm rhamnogalacturonan I, rhamnogalacturonan
II và acid galacturonic gắn với các polysaccharide Nghĩa là có một số lượng lớn các
Trang 2712
nhánh đường bão hòa gắn vào phần này Do đó, để thủy phân hoàn toàn pectin đòi hỏi
hệ enzyme bao gồm: Pectin lyase, pectin esterase (PE), polygalacturonase (PG), arabinanase, rhamnogalacturonase, rhamnananase, galactanase và các glycanse khác Trong đó PG nhằm loại bỏ các mối liên kết glycosidic Sự có mặt của PE trong chế phẩm cũng làm cải thiện hoạt tính xúc tác của PG Chính vì vậy, các chế phẩm enzyme pectinase sử dụng trong sản xuất nước quả thường là hỗn hợp gồm các enzyme trên (Pilnik và cộng sự, 1973; Höhn và cộng sự, 2000)
Như đã trình bày ở phần trên, sự thủy phân pectin do enzyme pectinase sẽ tạo thành các acid polygalacturonic mạch ngắn hay các monogalacturonic, digalacturonic Những sản phẩm này không có khả năng keo hóa, do đó làm tăng hàm lượng chất chiết hòa tan từ nguyên liệu vào dịch quả, giảm độ nhớt và tăng độ bền hóa lý của sản phẩm nước quả Ngoài ra, khi sử dụng chế phẩm pectinase, khả năng trích ly các hợp chất hòa tan, màu, mùi, cũng như các vitamin cũng tăng lên do
sự phá vỡ cấu trúc tế bào thịt quả cũng như vỏ quả (Kashyap và cộng sự, 2001).Phương pháp xử lý enzyme thịt quả không những làm tăng hiệu suất thu hồi, giảm thời gian chế biến mà còn cải thiện các thành phần có giá trị và quan trọng trong dịch quả Có nghiên cứu cho rằng, chi phí về enzyme chiếm một phần ba lợi nhuận thu được từ sự gia tăng hiệu suất trích ly (Possmann, 2000)
Rõ ràng, do đặc tính thành tế bào quả chứa chủ yếu là pectin nên các chế phẩm enzyme pectinase được sử dụng phổ biến hơn hẳn so với các loại enzyme khác trong sản xuất nước quả Park & Kim (1998) đã sử dụng 11 chế phẩm enzyme thương mại
để thủy phân thành tế bào quả lê trong sản xuất nước quả lê; kết quả nhận thấy 4 chế phẩm cho hiệu suất trích ly cao nhất là Pectinex Ultra SP-L, Cytolase M102, Viscozyme L và Rapidase liq(+) với hiệu suất trích ly dao động trong khoảng 88 – 91%, đồng thời độ đục của dung dịch nước quả sau trích ly giảm đáng kể khi được xử
lý bằng chế phẩm Pectinex Ultra SP-L, Viscozyme L
Trang 2813
1.2.3 Ứng dụng của pectinase trong chế biến nước quả
Gần đây, chế phẩm pectinase Pectinex Ultra SP-L đã được nghiên cứu sử dụng trong sản xuất nhiều loại nước trái cây khác nhau Ví dụ như Chopda & Barrett (2001) đã tiến hành xử lý purée ổi bằng chế phẩm enzyme Pectinex Ultra SP-L; nhiệt
độ, nồng độ chế phẩm và thời gian xử lý enzyme lần lượt là 50o
C, 700ppm, 1,5 giờ; kết quả cho thấy hiệu suất thu hồi chất chiết đạt giá trị cực đại là 89,6%, tăng 18% so với đối chứng Trong khi đó, Dang và cộng sự (2010) đã tối ưu hóa quá trìnhsử dụng chế phẩm enzyme Pectinex Ultra SP-L để xử lý hỗn hợp sơ ri chà bằng phương pháp qui hoạch thực nghiệm, nồng độ enzyme cần thiết cho quá trình xử lý enzyme là 0,168% (v/w) và thời gian xử lý là 69,1 phút; ứng với điều kiện này, hiệu suất thu hồi chất chiết đạt được là 84,3% (tăng 23,9% so với mẫu đối chứng) Télesphore & He (2009) cũng tối ưu hóa quá trình xử lý hỗn hợp chanh dây với chế phẩm enzyme Pectinex Ultra SP-L bằng phương pháp qui hoạch thực nghiệm; hiệu suất thu hồi chất chiết đạt 95,02% và tăng 23% so với mẫu đối chứng
Theo chúng tôi được biết, cho đến hiện nay vẫn chưa có công bố trên các tạp chí khoa học về việc ứng dụng các enzyme nói chung và chế phẩm enzyme Pectinex Ultra SP-L nói riêng trong qui trình thu nhận nước dâu tằm Chính vì vậy, chúng tôi
đã chọn chế phẩm enzyme này trong nghiên cứu làm hoàn thiện chất lượng nước dâu tằm
1.3 Sóng siêu âm trong quá tr nh trích ly chất chiết từ thực vật
1.3.1 Định nghĩa, phân loại
Sóng siêu âm là vùng sóng có tần số lớn hơn 20kHz, cao hơn ngưỡng nghe của con người (Feng và cộng sự, 2011)(hình 1-5)
Trang 29Siêu âm tần số thấp (16 – 100 kHz): Sóng siêu âm trong khoảng tần số này
tạo ra bong bóng lớn, làm tăng nhiệt độ và áp suất trong vùng sủi bong bóng Mức năng lượng trong phạm vi 10-1000W/cm2, thường được ứng dụng để làm biến đổi các đặc tính vật lý, hóa học của thựcphẩm
Siêu âm tần số cao (100 kHz – 1 MHz): Khi tần số cao, vùng sủi bong bóng
trở nên ít dữ dội hơn, năng lượng thấp (thường < 1 W/cm2), được ứng dụng trong điều khiển qui trình và xác định các tính chất hóa lý của nguyên liệu thực phẩm
Siêu âm chẩn đoán (1 – 10MHz): Không còn hiện tượng sủi bong bóng và
cơ chế chính của sóng siêu âm trong khoảng tần số này là ―acoustic streaming‖, được dùng để đo hệ số tốc độ và hấp thụ của sóng trong môi trường, thường được dùng trong y học, phân tích hóa học
1.3.2 Cơ chế tác động của sóng siêu âm trong môi trường lỏng
Khi sóng siêu âm truyền trong môi trường lỏng sẽ tạo ra hai hiện tượng quan trọng: sủi bong bóng và vi dòng
1.3.2.1 Cơ chế sủi bong bóng (acoustic cavitation)
Sự h nh thành bong bóng
Khi sóng siêu âm được truyền trong môi trường chất lỏng, các chu trình kéo
và nén liên tiếp được tạo thành Các chu kỳ nén tác động một áp suất dương lên chất
Trang 3015
lỏng đẩy các phân tử chất lỏng lại gần nhau, các chu kỳ giãn tác động một áp suất âm kéo các phân tử chất lỏng ra xa nhau Khi năng lượng đủ cao, chu kỳ giãn có thể vượt qua lực hấp dẫn của các phân tử chất lỏng và hình thành các lỗ hổng khí từ các phân
tử khí tồn tại trong lòng chất lỏng hay còn được gọi là các bong bóng khí, bao gồm bóng khí ổn định và bóng khí tạm thời (Mason,1998; Kuldiloke, 2002)
Bóng khí ổn định có nguồn gốc từ những bong bóng khí nhỏ, kích thước của chúng dao động nhẹ trong các chu trình kéo và nén Sau hàng ngàn chu trình, chúng tiếp tục hấp thụ năng lượng và tăng thêm về kích thước Trong suốt quá trình dao động, bóng khí ổn định có thể chuyển thành bóng khí tạm thời Bọt khí ổn định có thể lôi kéo những bọt khí khác vào trong trường sóng, kết hợp lại với nhau và tạo thành dòng nhiệt nhỏ (Leighton, 1998; Mason & Lorimer, 2002)
Sự phát triển của bong bóng
Các bóng khí tạm thời có kích cỡ thay đổi rất nhanh chóng, chỉ qua vài chu trình chúng bị vỡ ra Trong suốt chu trình kéo/nén, bóng khí kéo giãn và kết hợp lại cho đến khi đạt được cân bằng hơi nước ở bên trong và bên ngoài bóng khí Diện tích
bề mặt bóng khí trong chu trình kéo lớn hơn trong chu trình nén, vì vậy sự khuếch tán khí trong chu trình kéo lớn hơn và do diện tích bề mặt của bong bóng bây giờ lớn hơn nên khả năng khuếch tán của khí ra bề mặt ngoài trong chu trình nén giảm, lượng khí
đi ra sẽ nhỏ hơn lượng khí đã khuếch tán vào, do đó kích cỡ bọt khí sẽ tăng lên trong mỗi chu trình Các bóng khí lớn dần đến một kích cỡ nhất định mà tại đó năng lượng của sóng siêu âm không đủ để duy trì pha khí khiến các bóng khí nổ tung dữ dội Sự nén đoạn nhiệt nhanh của khí và hơi trong bong bóng tạo ra một nhiệt độ cực kỳ cao trong các bong bóng đang nổ tung tạo ra sóng năng lượng cắt rất cao và tạo ra các dòng xáo trộn trong khu vực sủi bong bóng, kết quả là hình thành những điểm có nhiệt
Trang 3116
H nh 1-6 Sự h nh thành và nổ vỡ bong bóng trong môi trường lỏng
Hiện tượng sủi bóng khí sẽ góp phần làm giảm kích thước nguyên liệu, giúp cho quá trình trích ly chất chiết diễn ra nhanh hơn và hiệu suất trích ly cao hơn
Cơ chế sủi bong bóng và cơ chế vi dòng cho thấy rằng: Sóng siêu âm làm tăng
sự trích ly là do những lực cắt lớn làm tăng sự truyền khối giữa dung môi và chất cần trích ly (Jian-Bing và cộng sự, 2006) Hiện tượng nổ bong bóng khí tạo ra sự chảy rối lớn, sự va chạm bên trong phân tử với vận tốc lớn và sự bất ổn định trong những hạt vi xốp làm tăng sự khuếch tán xoáy lốc và khuếch tán nội Hơn nữa, hiện tượng sủi bong bóng gần bề mặt lỏng – rắn tạo ra những dòng chảy nhanh từ chất lỏng qua những lỗ hổng trên bề mặt Sự sủi bong bóng trên bề mặt sản phẩm gây nên sự va chạm bởi những vi tia và kết quả là bào mòn bề mặt và phá vỡ cấu trúc khối nguyên liệu cần trích ly Hiệu quả này tạo ra hướng tiếp xúc cho những bề mặt mới và làm tăng sự truyền khối (Vilkhu và cộng sự, 2008; Toma và cộng sự, 2001) Do đó, quá trình sử dụng sóng siêu âm sẽ làm tăng đáng kể hiệu suất trích ly, tốc độ trích ly, rút ngắn thời
Trang 3217
gian trích ly các hợp chất; cùng với đó là sự giảm nhiệt độ và thể tích dung môi sử dụng, mà điều này rất có lợi cho việc trích ly các cấu tử mẫn cảm với nhiệt độ và các chất có hoạt tính sinh học (Vinatoru, 2001; Luque-García & Luque de Castro, 2003) Chính những đặc điểm này mà quá trình trích ly có hỗ trợ sóng siêu âm có ưu thế hơn hẳn so với phương pháp trích ly truyền thống cả về hiệu quả trích ly và mức độ tự động hóa (Hromádková & Ebringerová, 2003)
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá tr nh trích ly bằng siêu âm
1.3.3.1 Công suất siêu âm
Khi tăng công suất siêu âm sẽ làm tăng mức năng lượng được truyền vào môi trường (Mason và Lorimer, 2002) Thực nghiệm cho thấy khi tăng công suất siêu âm trong một khoảng giá trị xác định thì hiệu suất trích ly sẽ tăng Liu và cộng sự (2010)
đã kết luận rằng: Khi tăng công suất siêu âm từ 20 đến 100W ở 60oC trong 40 phút thì
hiệu suất trích ly carbohydrate tổng từ cây Stevia rebaudiana Bertoni sẽ tăng từ 11,6
đến 17,9g/100g lá Còn theo Nguyen & Le (2012), khi tăng công suất siêu âm từ 0 đến 225W để xử lý 100g thịt quả dứa thì hiệu suất trích ly dịch quả tăng 5,9%; tuy nhiên nếu tăng công suất cao hơn 225W thì hiệu suất trích ly tăng không có ý nghĩa về mặt thống kê
1.3.3.2 Nhiệt độ siêu âm
Nhiệt độ ảnh hưởng đến tính chất hóa lý của môi trường truyền sóng, do đó ảnh hưởng đến quá trình truyền năng lượng của sóng siêu âm vào môi trường (Mason và Lorimer, 2002) Những nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng của nhiệt độ siêu âm đến hiệu quả quá trình trích ly cũng đã được một số tác giả công bố Liu và cộng sự (2010)
đã công bố rằng hiệu quả trích ly carbohydrate tổng từ lá cây Stevia rebaudiana
Bertoni tăng liên tục khi nhiệt độ siêu âm tăng từ 40 đến 70oC và giảm khi vượt qua nhiệt độ 70oC Kết quả nghiên cứu của Nguyen & Le (2012) cũng cho thấy rằng: Khi tăng nhiệt độ siêu âm từ 30 đến 40oC thì hiệu suất trích ly dịch quả dứa tăng nhẹ từ 84 đến 84,5; trong khoảng nhiệt độ 40 – 60oC thì hiệu suất trích ly tăng không có ý nghĩa; trái lại siêu âm với nhiệt độ cao (70 – 80oC) làm giảm nhẹ hiệu suất trích ly
Trang 3318
Thời gian siêu âm
Thời gian siêu âm càng dài, các biến đổi của nguyên liệu do sóng siêu âm gây
ra càng sâu sắc (Mason và Lorimer, 2002) Theo Vinatoru và cộng sự (2001) thì thời gian xử lý siêu âm để trích ly chất chiết là khác nhau tùy theo từng loại nguyên liệu và tùy theo cấu tử cần trích ly Kết quả nghiên cứu của Dey và Rathod (2012) cho thấy:
Hiệu suất trích ly β-carotene từ bột Spirulina thay đổi tại những thời điểm trích ly
khác nhau; hiệu suất trích ly tăng theo cấp số mũ trong 4 phút đầu, sau đó tăng từ từ cho đến phút thứ 8 rồi ổn định Kết quả cũng tương tự trong nghiên cứu của Nguyen
& Le (2012) khi sử dụng sóng siêu âm để tăng hiệu quả trích ly dịch quả dứa và Balachandran và cộng sự (2006) khi sử dụng sóng siêu âm để tăng cường hiệu quả trích ly các hoạt chất bằng chất lỏng siêu tới hạn từ củ gừng
1.3.3.3 Ứng dụng của sóng siêu âm trong quá trình trích ly
Một số nghiên cứu ứng dụng sóng siêu âm để hỗ trợ trích ly các chất có hoạt tính sinh học trong thực phẩm được mô tả trong bảng 1-4
Bảng 1-4 Một số nghiên cứu ứng dụng sóng siêu âm để hỗ trợ trích ly các chất có hoạt tính sinh học trong thực phẩm
Hợp chất
trích ly
Quá trình siêu âm
Saponin từ
nhân sâm
Bể siêu âm, 38,5 kHz
Lycopen từ
cà chua
Bể siêu âm,
40 kHz, công suất 300W, thời gian 29 phút, 86oC
Ethyl acetate 90% lycopen tổng
HCl, EtOH Hiệu suất trích ly
bằng siêu âm trong 3,3 phút tương
Chen và cộng sự (2007)
Trang 3419
truyền thống trong
53 phút Capsaicinoid
từ hạt tiêu
Bể siêu âm, 360W, 50oC,
10 phút
Methanol Capsaicin 448
µmol/kg, dihydrocapsaicin 265 µmol/kg
15oC và 40oC
Methanol Hiệu suất trích ly cao
hơn so với phương pháp ngâm
Ma và cộng sự (2009)
Các hợp chất
phenolic từ
vỏ dừa
Bể siêu âm, 25kHz,150W, thời gian 15phút, 30oC,
Nước, ethanol 22,44 mg/g phenolic
tổng được trích ra
Rodrigues và cộng sự (2008)
Butanone và ethyl acetate
Giảm thời gian trích
ly
Albu và cộng sự (2004)
Hiện nay, phương pháp trích ly bằng siêu âm trên nguyên liệu dâu tằm đã được một số tác giả nghiên cứu Zou và cộng sự (2011) đã dùng sóng siêu âm để trích ly
anthocyanin từ dâu M.alba với điều kiện tối ưu là: Dung môi là methanol 63,8% có
chứa 1% (v/v) trifluoroacetic acid (TFA); nhiệt độ xử lý siêu âm là 43,2°C; tỉ lệ dung môi – cơ chất là 23,8 (v/w) và thời gian trích ly 40 phút; kết quả thu được với hiệu suất thu hồi anthocyanin tối đa là 64,70 ± 0,45 mg/g Còn Ying và cộng sự (2011) đã trích ly polysaccharide từ lá dâu tằm bằng UAE, với điều kiện trích ly tối ưu đó là:
Trang 3520
công suất 60W, nhiệt độ xử lý siêu âm 60oC, thời gian 20 phút, tỉ lệ nước: nguyên liệu (15:1) Như vậy, từ trước đến nay vẫn chưa có công bố khoa học nào quan tâm đến trích ly các hoạt chất chống oxy hóa từ thịt quả dâu tằm có hỗ trợ sóng siêu âm và sử dụng dung môi là nước
Tóm lại, phần tổng quan tài liệu cho thấy đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng sóng siêu để hỗ trợ trích ly các chất có hoạt tính sinh học từ rau, quả, thảo mộc Tuy nhiên, vấn đề sử dụng sóng siêu âm để hỗ trợ quá trình trích ly nước quả chỉ mới được quan tâm trong vài năm gần đây Những loại trái cây đã được khảo sát bao gồm: Nho (Le
và Le, 2010), sơ ri (Dang và cộng sự, 2012), dứa (Nguyen & Le, 2012), ổi (Le và cộng sự, 2011)
Tiềm năng được cho là quan trọng nhất của quả dâu tằm đó là khả năng chống oxy hóa của các hoạt chất trong quả (Pan & Lou, 2008) Tuy nhiên, sử dụng sóng siêu
âm và chế phẩm enzyme để hỗ trợ cho quá trình trích ly nước quả dâu tằm giàu các chất chống oxy hóa vẫn chưa được nghiên cứu Với những lợi ích đạt được từ phương pháp xử lý siêu âm và enzyme trong quá trình trích ly các chất có nguồn gốc thực vật, trong đề tài này chúng tôi sử dụng sóng siêu âm và chế phẩm enzyme pectinase để thu nhận dịch quả dâu tằm giàu các chất chống oxy hóa, đồng thời so sánh hiệu quả của hai phương pháp này
Trang 36
Chúng tôi sử dụng giống dâu tằm Morus alba được thu mua tại nhà vườn số 5
Khe Sanh, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Chúng tôi lựa chọn những quả dâu tằm có màu đỏ tía, không bị sâu bệnh và dập úng để sử dụng cho thí nghiệm
2.1.2 Enzyme pectinase
Chúng tôi sử dụng chế phẩm Pectinex Ultra SP – L có nguồn gốc từ nấm sợi
Aspergillus aculeatus của công ty Novozymes (Thụy Sỹ)
Chế phẩm Pectinex Ultra SP – L là một hỗn hợp enzyme với thành phần chính là polygalacturonase (PG), pectin methyl esterase (PME), ngoài ra còn có một lượng nhỏ cellulase, hemicellulase và arabinase Hoạt tính của chế phẩm này là 4193 đơn vị polygalacturonase /mL, nhiệt độ hoạt động từ 15 – 55oC, pH tối ưu là 4,0 – 5,0
2.1.3 Thiết bị siêu âm
Chúng tôi sử dụng thanh siêu âm (VC 750, Sonics & Materials Inc., Newtown, Mỹ) với tần số 20KHz, cường độ siêu âm tối đa là 750W
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3722
Sơ đồ 2-1 Nội dung nghiên cứu
Hàm mục tiêu:
Hàm lượng vitamin C Hàm lượng các hợp chất phenolic Hàm lượng anthocyanin tổng Hoạt tính chống oxy hóa tổng
Khảo sát ảnh hưởng của quá trình xử
lý enzyme pectinase đến chất lượng
nước dâu tằm
- Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm enzyme
- Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme
- Tối ưu hóa bằng qui hoạch thực nghiệm
So sánh hiệu quả trích ly của phương pháp xử lý siêu âm và enzyme
pectinase
Nội dung nghiên cứu
Khảo sát ảnh hưởng của quá trình xử
lý siêu âm đến chất lượng
nước dâu tằm
- Ảnh hưởng của công suất siêu âm
- Ảnh hưởng của nhiệt độ siêu âm
- Ảnh hưởng của thời gian siêu âm
- Tối ưu hóa bằng qui hoạch thực
nghiệm
Hàm mục tiêu:
Hàm lượng các hợp chất phenolic Hàm lượng anthocyanin tổng Hoạt tính chống oxy hóa tổng
So sánh chất lượng sản
phẩm
Hàm mục tiêu:
Hàm lượng các hợp chất phenolic Hàm lượng anthocyanin tổng
So sánh thông số động học của quá trình trích ly các hợp chất
có hoạt tính chống oxy hóa
Tốc độ trích ly ban đầu (h) Hằng số tốc độ trích ly (k)
Trang 3823
Sơ đồ 2-2 Qui tr nh sản xuất nước dâu tằm ở qui mô phòng thí nghiệm
Dâu tằm mua về được phân loại, rửa sạch, tách bỏ cuống và chà nhỏ bằng máy chà (Panasonic MJ – 170, Malaysia, đường kính lỗ lọc khoảng 0,2 mm) rồi trộn đều Dâu tằm sau khi chà được bảo quản lạnh đông ở nhiệt độ -18oC và được sử dụng cho tất cả các nghiệm thức của một đợt thí nghiệm Khi tiến hành thí nghiệm, nguyên liệu được rã đông ở nhiệt độ phòng, cân mẫu vào các cốc với khối lượng đều nhau là 40g
Dâu tằm
Phân loại, tách cuống
Rửa Nước
Gia nhiệt sơ bộ Nước nóng
Xử lý enzyme hoặc siêu âm
Nước dâu tằm
Bã
Cặn
Trang 3924
và xử lý enzyme hoặc siêu âm Sau đó, mẫu được vô hoạt enzyme (90oC, 5 phút) rồi lọc qua hệ thống lọc chân không, dịch lọc sẽ được ly tâm 10000g/phút trong 20 phút bằng máy ly tâm (Sartorius 3K30, Sigma, Mỹ) để tách cặn mịn Dịch sau ly tâm được dùng để xác định các hàm mục tiêu ngay trong ngày
2.3 Thuyết minh nội dung nghiên cứu
2.3.1 Ảnh hưởng của quá trình xử lý siêu âm đến chất lượng dịch quả dâu tằm
Phần nội dung nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ xử lý siêu âm đến chất lượng dịch dâu tằm như công suất siêu âm, nhiệt độ siêu âm và thời gian siêu
âm sẽ được trình bày chi tiết trong luận văn cao học của học viên Phan Lê Hạnh Nguyên
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ trình bày thí nghiệm tối ưu hóa hai thông số công nghệ là công suất và nhiệt độ siêu âm bằng phương pháp qui hoạch thực nghiệm Chúng tôi khảo sát sự tương tác giữa hai yếu tố công suất và nhiệt độ siêu âm và sự ảnh hưởng đồng thời của hai yếu tố này đến hàm lượng các hợp chất phenolic trong dịch dâu tằm Chúng tôi sử dụng mô hình trực giao cấp 2 có tâm xoay với 5 thí nghiệm ở tâm và phần mềm Modde 5.0 để thiết kế và xử lý số liệu thực nghiệm
Trang 4025
2.3.2 Ảnh hưởng của quá tr nh xử lý enzyme pectinase đến chất lượng dịch quả dâu tằm
2.3.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm pectinase
Thông số khảo sát: Nồng độ chế phẩm enzyme pectinase được thay đổi lần lượt
Hàm mục tiêu: Hàm lượng vitamin C, hàm lượng các hợp chất phenolic, hàm
lượng anthocyanin tổng, hoạt tính chống oxy hóa tổng của dịch dâu tằm
2.3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian xử lý
Thông số khảo sát: Thời gian xử lý enzyme được thay đổi lần lượt là 0, 30, 60,
Hàm mục tiêu: Hàm lượng vitamin C, hàm lượng các hợp chất phenolic, hàm
lượng anthocyanin tổng, hoạt tính chống oxy hóa tổng của dịch dâu tằm