Giáo viên và thủ thư đóng vai trò chính trong việc xây dựng thói quen đọc sách của sinh viên Jones, 1996 Nghiên cứu “Sự quan tâm đến việc đọc của học sinh ở trường trung học North Ridgev
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
VÕ HOÀNG DUY
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÓI QUEN ĐỌC SÁCH CHUYÊN NGÀNH CỦA SINH VIÊN: TRƯỜNG HỢP TẠI ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 07 năm 2012
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học : GVC TS Nguyễn Thúy Quỳnh Loan
1 Chủ tịch: TS Trần Thị Kim Loan
2 Thư ký: TS Nguyễn Thị Thu Hằng
3 Ủy viên: TS Nguyễn Thúy Quỳnh Loan
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
Tp HCM, ngày tháng năm 2012
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ và tên học viên: …….VÕ HOÀNG DUY Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: ……27/03/1984 Nơi sinh: Quảng Ngãi
Chuyên ngành: … Quản trị kinh doanh MSHV: …09170707
Khoá (Năm trúng tuyển): ….2009
1- TÊN ĐỀ TÀI: …….CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÓI QUEN ĐỌC SÁCH CHUYÊN NGÀNH CỦA SINH VIÊN: TRƯỜNG HỢP TẠI ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên … Phân tích mối liên hệ giữa thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên và giảng viên, đặc điểm sinh viên, môi trường và đặc điểm tài liệu ………
Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất một số ý kiến đóng góp để thúc đẩy thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên ………
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: ………05/12/2011
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: …… 21/05/2012
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: … TS NGUYỄN THÚY QUỲNH LOAN
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
Trang 4Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô khoa Quản lý Công nghiệp trường Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Em xin chân thành cảm ơn cô TS Nguyễn Thúy Quỳnh Loan đã hết lòng hướng dẫn để em có thể hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
Chân thành cảm ơn bạn Võ Thanh Vang khoa Kỹ thuật Giao thông, Nguyễn Thị Nguyệt Ánh khoa Môi trường và Đỗ Thị Ánh Ly khoa Công nghệ Vật liệu đã hỗ trợ nhiệt tình trong việc phân phát bảng khảo sát cho các bạn sinh viên đang sinh hoạt tại Ký túc xá Đại Học Bách Khoa, 497 Hòa Hảo, quận 10, Tp Hồ Chí Minh
Chân thành cảm ơn các bạn sinh viên Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh đã tham gia trả lời bảng khảo sát của nghiên cứu
Em cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị trong văn phòng khoa Quản lý Công nghiệp đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn
Chân thành cảm ơn bạn bè đã cùng nhau chia sẻ kiến thức và những lời khuyên hữu ích trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
Chân thành cảm ơn bố mẹ và gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành luận văn
Trân trọng,
Tp Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2012
VÕ HOÀNG DUY
Trang 5Đọc sách là cánh cửa mở vào kho tàng tri thức của nhân loại nhưng có rất nhiều nghiên cứu đã cảnh báo về sự suy giảm thói quen đọc sách của học sinh – sinh viên Sinh viên thành phố Hồ Chí Minh có nằm ngoài sự suy giảm đó không? Nghiên cứu này sẽ nghiên cứu về thói quen đọc sách của sinh viên Tp Hồ Chí Minh nhằm mô
tả thói quen đọc sách của sinh viên và khám phá các yếu tố tác động đến thói quen đọc sách, từ đó đề ra những giải pháp nhằm khuyến khích và tăng cường thói quen đọc sách của sinh viên Tp Hồ Chí Minh Từ cơ sở mô hình tham khảo của Park & Osborne (2007), một mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm có 8 nhân tố: giảng viên, sinh viên, môi trường ở nhà, môi trường ở lớp, môi trường ở trường, môi trường xã hội, môi trường thế giới ảo, đặc điểm tài liệu tác động lên thói quen đọc sách chuyên ngành Nghiên cứu dùng phương pháp định lượng và sử dụng bảng khảo sát với 60 câu hỏi để thu thập dữ liệu từ sinh viên chính quy đang học tập và nghiên cứu ở tất cả 11 khoa của Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh Thu thập dữ liệu từ 503 sinh viên cho thấy thói quen đọc sách của sinh viên ở mức rất thấp đến mức thấp do đó mô hình hồi quy chỉ có thể giải thích được 7,8% sự biến thiên của thói quen đọc sách Trong mô hình hồi quy kết quả, nhân tố giảng viên, sinh viên, môi trường ở nhà, môi trường ở lớp, môi trường xã hội và môi trường thế giới ảo tác động có ý nghĩa thống kê lên thói quen đọc sách chuyên ngành Do đó để nuôi dưỡng và thúc đẩy thói quen đọc sách cần có sự phối hợp của gia đình, nhà trường, nhà xuất bản, nhà nước và toàn xã hội Nghiên cứu này giới hạn trong thói quen đọc sách chuyên ngành và đối tượng khảo sát chỉ là sinh viên chính quy Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh Những nghiên cứu sau nên tiếp tục nghiên cứu thói quen đọc sách ngoài chuyên ngành và mở rộng đối tượng khảo sát đến sinh viên của những trường đại học khác ở Tp Hồ Chí Minh, đặt biệt là nghiên cứu thói quen đọc sách sinh viên đang học tập ở ngành Sư phạm
Trang 6Reading book is the gate to open the knowledge treasure of mankind but there are many term papers warning the decrease in reading habit of the youths Are students
in Ho Chi Minh City outliers of this trend? This research will study the reading habit of students in Ho Chi Minh City to describe the reading habit of students and explore the factors affecting the reading habit, then promote the solutions to encourage and enhance the reading habit of students in Ho Chi Minh City From the reference model of Park & Osborne (2007), a research model is issued with 8 factors: lecturer, student, home enviroment, classroom environment, university environment, social enviroment, cyber enviroment and materials This research used quantitive method, a 60-questions survey is used to collect data from formal students studying at all 11 departments of Ho Chi Minh city University of Technology The result from the data of 503 students is determined that reading habit of students is from very low to low level so the regression model only explains 7.8% the variability of the reading habit In this regression model, factors of lecturer, student, home environment, classrom enviroment, social environment and cyber enviroment have significant affects on reading habit for studying Feeding and motivating the reading habit need the co-operation of families, universities, publishers, state and the whole social The limitation of this research is that the reading habit is only for studying and the object survey is only the formal students
at Ho Chi Minh city University of Technology The next researches should study reading habit outside studying and spread the object survey to students at other universities in Ho Chi Minh city, especially researching reading habit of students studying in pedagogy departments
Trang 7Tôi, Võ Hoàng Duy, cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên quá trình nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thúy Quỳnh Loan Các số liệu khảo sát, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trước đây
Tp HCM, ngày …… tháng … năm 2012
Tác giả luận văn
VÕ HOÀNG DUY
Trang 8MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu 6
Danh mục hình ảnh 7
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 8
1.1 TỔNG QUAN 8
1.2 ĐẶT VẤN ĐỀ 10
1.3 MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU 13
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 13
1.5 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU 13
1.6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 13
1.7 BỐ CỤC ĐỀ TÀI 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 15
2.1 CÁC KHÁI NIỆM 15
2.2 GIỚI THIỆU MÔ HÌNH THAM KHẢO 15
2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐÃ THỰC HIỆN 16
2.3.1 Thói quen đọc sách 16
2.3.2 Giảng viên 19
2.3.3 Đặc điểm sinh viên 21
2.3.4 Môi trường xung quanh 23
2.3.5 Thuộc tính của tài liệu 25
2.3.6 Tổng kết các nghiên cứu trước 25
2.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT 27
2.4.1 Mô hình nghiên cứu 27
2.4.2 Giả thuyết nghiên cứu 28
2.5 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1.1 Nghiên cứu định tính 30
3.1.2 Nghiên cứu định lượng 30
3.1.3 Quy trình nghiên cứu 31
Trang 93.2 THIẾT KẾ THANG ĐO 31
3.2.1 Biến mô tả mẫu 31
3.2.2 Biến phụ thuộc 32
3.2.3 Biến độc lập 32
3.3 BẢNG KHẢO SÁT 34
3.4 MẪU NGHIÊN CỨU 34
3.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU 35
3.6 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 35
3.7 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 37
4.1.1 Tỉ lệ phân bố sinh viên theo khoa 37
4.1.2 Tỉ lệ phân bố sinh viên theo năm học 38
4.1.3 Tỉ lệ phân bố sinh viên theo kết quả học tập 38
4.1.4 Tỉ lệ phân bố sinh viên theo giới tính 39
4.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN HIỆN ĐẠI 39
4.2.1 Thời gian xem truyền hình và xem phim hằng ngày 39
4.2.2 Thời gian chơi trò chơi điện tử và sử dụng thiết bị giải trí cầm tay 40
4.2.3 Thời gian sử dụng internet hằng ngày 40
4.2.4 Thời gian sử dụng điện thoại di động hằng ngày 41
4.3 MÔ TẢ THỰC TRẠNG ĐỌC SÁCH 42
4.3.1 Thời gian đọc sách chuyên ngành hằng ngày của sinh viên 42
4.3.2 Số lượng sách chuyên ngành sinh viên đã đọc năm ngoái 42
4.3.3 Số lượng sách chuyên ngành sinh viên đang sở hữu 43
4.3.4 Thời gian đọc sách NGOÀI chuyên ngành 44
4.3.5 Số lượng sách NGOÀI chuyên ngành sinh viên đã đọc năm ngoái 45
4.3.6 Số lượng sách NGOÀI chuyên ngành sinh viên đang sở hữu 45
4.3.7 Loại tài liệu thường đọc 46
4.3.8 Địa điểm đọc sách 47
Trang 104.4 MÔ TẢ BIẾN ĐỘC LẬP 48
4.4.1 Giảng viên 49
4.4.2 Sinh viên 49
4.4.3 Môi trường xung quanh 50
4.4.4 Đặc điểm tài liệu 51
4.5 PHÂN TÍCH ĐỘ TIN CẬY 51
4.5.1 Biến phụ thuộc 51
4.5.2 Biến độc lập 52
4.6 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) 56
4.6.1 Biến phụ thuộc 56
4.6.2 Biến độc lập 56
4.7 PHÂN TÍCH HỒI QUY ĐA BIẾN VÀ KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT 58
4.7.1 Phân tích hồi quy đa biến 58
4.7.2 Kiểm định giả thuyết 61
4.8 KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT CỦA BIẾN KIỂM SOÁT 62
4.8.1 Phân tích phương sai một yếu tố (One-Way ANOVA) 62
4.8.2 So sánh thói quen đọc sách của những sinh viên học ở các khoa 63
4.8.3 So sánh thói quen đọc sách của những sinh viên học ở các năm 63
4.8.4 So sánh thói quen đọc sách của những sinh viên theo kết quả học tập 63 4.8.5 So sánh thói quen đọc sách theo giới tính 64
4.8.6 Kết quả kiểm định giả thuyết của biến kiểm soát 64
4.9 THẢO LUẬN KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 65
4.10 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 68
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN LÝ 69
5.1 CÁC KẾT QUẢ CHÍNH 69
5.2 HÀM Ý QUẢN LÝ 72
5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Phụ lục A: Danh sách sinh viên tham gia phỏng vấn sâu 82
Phụ lục B: Bảng câu hỏi 83
Trang 11Phụ lục C: Bảng mã hóa dữ liệu 87
Phụ lục D1: Phân tích độ tin cậy biến giảng viên 90
Phụ lục D2 – 1: Phân tích độ tin cậy biến sinh viên 91
Phụ lục D2 – 2: Phân tích độ tin cậy biến sinh viên sau khi loại biến SV1, SV2, SV9 và SV10 91
Phụ lục D2 – 3: Phân tích độ tin cậy biến giảng viên sau khi loại biến SV11 91
Phụ lục D3 – 1: Phân tích độ tin cậy biến môi trường ở nhà 92
Phụ lục D3 – 2: Phân tích độ tin cậy biến môi trường ở lớp 92
Phụ lục D3 – 3: Phân tích độ tin cậy biến môi trường ở trường 92
Phụ lục D3 – 4: Phân tích độ tin cậy biến môi trường xã hội 93
Phụ lục D3 – 5: Phân tích độ tin cậy biến thế giới ảo 93
Phụ lục D3 – 6: Phân tích độ tin cậy biến thế giới ảo sau khi loại biến MT1 93
Phụ lục D3 – 7: Phân tích độ tin cậy biến thế giới ảo sau khi loại biến MT2 và MT18 94
Phụ lục D4 – 1: Phân tích độ tin cậy biến thời gian sử dụng phương tiện thông tin hiện đại 95
Phụ lục D4 – 2: Phân tích độ tin cậy biến thời gian sử dụng phương tiện thông tin hiện đại sau khi loại biến MT2 95
Phụ lục D5: Phân tích độ tin cậy biến đặc điểm tài liệu 95
Phụ lục E1: Kết quả EFA biến phụ thuộc 96
Phụ lục E2 – 1: Kết quả EFA biến độc lập 97
Phụ lục E2 – 2: Kết quả EFA biến độc lập sau khi loại biến GV4, GV7, SV6, MT6, MT17 và MT20 100
Phụ lục E2 – 3: Kết quả EFA biến độc lập sau khi loại biến GV8 và SV3 103
Phụ lục E2 – 4: Kết quả EFA biến độc lập sau khi loại biến SV5 106
Phụ lục E2 – 5: Kết quả EFA biến độc lập sau khi loại biến GV5, GV6 và MT24 109 Phụ lục E2 – 6: Kết quả EFA biến độc lập sau khi loại biến MT19 và MT25 112
Phụ lục E2 – 7: Kết quả phân tích độ tin cậy biến độc lập sau khi phân tích nhân tố (sau khi loại biến GV4, GV5, GV6, GV7, GV8, SV3, SV5, SV6, MT6, MT17, MT19, MT20, MT24 và MT25) 115
Phụ lục F1: Kết quả phân tích hồi quy đa biến 118
Trang 12Phụ lục F2: Kết quả phân tích hồi quy đa biến sau khi loại biến MT_TRUONG, TG_MEDIA và TL 119 Phụ lục G1 – 1: Kết quả phân tích One-way ANOVA của thói quen đọc sách giữa những sinh viên đang học ở những khoa khác nhau 120 Phụ lục G1 – 2: Kết quả phân tích Kruskal-Wallis H của thói quen đọc sách giữa những sinh viên đang học ở những khoa khác nhau 120 Phụ lục G2 - 1: Kết quả phân tích One-way ANOVA của thói quen đọc sách giữa những sinh viên có năm học khác nhau 121 Phụ lục G2 - 2: Kết quả phân tích Kruskal – Wallis của thói quen đọc sách giữa những sinh viên có năm học khác nhau 121 Phụ lục G3: Kết quả phân tích One-way ANOVA của thói quen đọc sách giữa
những sinh viên có kết quả học tập khác nhau 122 Phụ lục G4 – 1: Kết quả phân tích One-way ANOVA của thói quen đọc sách giữa những sinh viên nam và nữ 123 Phụ lục G4 – 2: Kết quả phân tích Kruskal – Wallis của thói quen đọc sách giữa những sinh viên nam và nữ 123 Phụ lục H: Kết quả phân bố thói quen đọc sách chuyên ngành 124 Phụ lục I: Kết quả phân bố thói quen đọc sách NGOÀI chuyên ngành 125
Trang 13Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1: Bảng tổng kết các nghiên cứu đã thực hiện 25
Bảng 3.1: Bảng chọn cỡ mẫu dựa trên kích cỡ của tổng thể 34
Bảng 4.1: Bảng mô tả mẫu 37
Bảng 4.2: Bảng tỉ lệ sinh viên phân bố theo khoa 37
Bảng 4.3: Bảng tỉ lệ sinh viên phân bố theo năm học 38
Bảng 4.4: Bảng tỉ lệ sinh viên phân bố theo kết quả học tập 38
Bảng 4.5: Bảng tỉ lệ sinh viên phân bố theo giới tính 39
Bảng 4.6: Thời gian xem truyền hình và xem phim 39
Bảng 4.7: Thời gian chơi trò chơi điện tử và sử dụng thiết bị giải trí cầm tay 40
Bảng 4.8: Thời gian sử dụng internet của sinh viên 40
Bảng 4.9: Thời gian sử dụng điện thoại di động 41
Bảng 4.10: Thời gian đọc sách chuyên ngành hằng ngày 42
Bảng 4.11: Số lượng sách chuyên ngành đã đọc năm ngoái 43
Bảng 4.12: Số lượng sách chuyên ngành đang sở hữu 43
Bảng 4.13: Thời gian đọc sách NGOÀI chuyên ngành 44
Bảng 4.14: Số lượng sách NGOÀI chuyên ngành đã đọc năm ngoái 45
Bảng 4.15: Số lượng sách NGOÀI chuyên ngành đang sở hữu 46
Bảng 4.16: Loại tài liệu sinh viên đọc thường xuyên 46
Bảng 4.17: Địa điểm thường đọc sách của sinh viên 47
Bảng 4.18: Bảng giá trị trung bình của biến độc lập 48
Bảng 4.19: Kết quả phân tích độ tin cậy thói quen đọc sách 51
Bảng 4.20: Bảng phân tích độ tin cậy biến sinh viên 52
Bảng 4.21: Bảng phân tích độ tin cậy biến sinh viên sau khi loại biến SV1, SV2, SV9 và SV10 53
Bảng 4.22: Kết quả phân tích độ tin cậy biến TG_MEDIA 54
Bảng 4.23: Kết quả phân tích độ tin cậy biến TG_MEDIA mới sau khi loại biến MT2 54
Bảng 4.24: Kết quả phân tích độ tin cậy biến TL 55
Bảng 4.25: Bảng nhóm biến sau khi phân tích độ tin cậy 55
Bảng 4.26: Bảng kết quả Cronbach của 9 nhân tố mới 57
Bảng 4.27: Bảng tổng hợp nhân tố mới 58
Bảng 4.28: Bảng hệ số hồi quy 59
Bảng 4.29: Bảng hệ số hồi quy sau khi loại biến MT_TRUONG, TG_MEDIA và TL 59
Bảng 4.30: Kết quả kiểm định F 60
Bảng 4.31: Bảng kết quả kiểm định giả thuyết 61
Bảng 4.32: Bảng kết quả kiểm định sự đồng nhất về phương sai 62
Bảng 4.33: Bảng kết quả kiểm định giả thuyết biến kiểm soát 64
Trang 14Danh mục hình ảnh
Hình 2.1: Mô hình của Park & Osborne (2007) 16
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu 27
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 31
Hình 4.1: Mô hình kết quả của nghiên cứu 61
Trang 15CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Trong bài báo “Không thể yêu nước trong sự vô minh” của tác giả Nguyễn Xuân
Xanh đăng trên báo Tuổi trẻ ngày 25/03/2012 có kết luận “Đọc sách không phải chỉ
để thưởng ngoạn, mà là việc làm của lòng yêu nước để phát triển đất nước và hoàn thiện con người Đọc sách là thuộc tính của một dân tộc văn hóa có ý thức” Đây là
một nhận xét rất sâu sắc và cũng nêu bật vai trò của việc đọc sách đối với sự nghiệp xây dựng đất nước Rất tình cờ bài báo này phát hành vào ngày cuối của hội sách lần thứ 7 ở TP Hồ Chí Minh, một hội sách quy mô nhất từ trước đến nay, nơi tôn vinh văn học đọc cũng là nơi gặp gỡ của những người thích đọc sách Số lượng người tham gia hội sách rất lớn chứng tỏ mọi người không quay lưng lại với văn hóa đọc kể từ khi mở cửa kinh tế Thanh niên không quay lưng với văn học đọc nhưng họ hầu như không đọc hoặc tỏ ra khá xa lạ những tác phẩm kinh điển trên thế giới như Tứ thư - Ngũ kinh của Nho giáo, Đạo đức kinh của Lão Tử, Tứ đại kì thư của Trung Quốc Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung – Thủy hử của Thị Nại
Am – Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần – Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Sử ký Tư
Mã Thiên, Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long, Bát nhã tâm kinh, Kinh kim cang bát nhã ba la mật đa, Kinh thánh, Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Quý Đôn, Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo, Binh pháp Tôn tử của Tôn Vũ tử, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cuốn theo chiều gió của Margaret Michell, Đồi gió hú của Emily Bronte, Thằng gù nhà thờ Đức bà Paris và Những người khốn khổ của Victor Hugo, Ba chàng ngự lâm pháo thủ của Alexandre Dumas, Không gia đình của Hector Malot, Chiến tranh và hòa bình và Anna Karenina của Lev Tolstoy, Thép đã tôi thế đây của Nicolai A.Ostrovsky, Ruồi trâu của Ethel Lilian Voynich, Thần thoại
Hy Lạp, Truyện cổ tích Andersen, Truyện cổ Grim, Nghìn lẻ một đêm – Truyện cổ Arab v.v…Mặc dù từ sau năm 1945 đến nay, 100% người dân Việt Nam đã thoát nạn mù chữ nhưng đọc sách để tiếp cận tri thức vẫn còn thấp Nếu so sánh với các nước như Mỹ, Nga, Anh, Đức, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Anh v.v… có thể thấy mọi người đọc sách đọc báo ở mọi nơi mọi lúc khi rãnh rỗi, trong quán cafe, trong công viên, trên xe buýt hay trên tàu điện ngầm thì ở Việt Nam nhìn những người trẻ hay sinh viên, hình ảnh thường thấy là đa phần các bạn dán mắt vào màn hình máy tính và điện thoại nhiều nhất, không có hoặc có rất ít sinh viên cầm trên tay quyển sách để đọc Học giả Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm “Tự học – Một nhu cầu thời đại” đã chỉ ra trong 7 cách tự học thì tự học bằng cách đọc sách là một cách
tự học tốt, dễ thực hiện và đạt hiệu quả cao nếu biết cách đọc sách
Trang 16Việt Nam mở cửa với thế giới từ những năm 80 của thế kỉ trước, đến những năm đầu thế kỉ XXI nước ta gia nhập vào tổ chức WTO cho thấy sự hội nhập sâu của Việt Nam với thế giới Hội nhập được thể hiện ở nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục v.v…Việc hội nhập mở ra nhiều cơ hội để tiếp nhận tri thức của nhân loại Mà tri thức ấy được hiện diện ở nhiều hình thái khái khác nhau nhưng tri thức của nhân loại đa phần được lưu trong sách Vậy để nâng cao tri thức của bản thân phải đọc sách vì 90% tri thức nhân loại được lưu trữ trong sách Sách và chữ viết được phát minh cách đây hàng ngàn năm để lưu lại tri thức của người xưa cho thế hệ sau Việc đọc sách là vừa thú vui vừa là cách để nâng tầm hiểu biết của bản thân vừa để hiểu được trí tuệ người xưa Do đó đọc sách là công việc thường xuyên của người tri thức Những danh nhân lớn của thế giới điều là những người đọc sách rất nhiều ví dụ như Lênin, Người đọc rất nhiều sách và có khả năng đọc rất nhanh Bác Hồ là độc giả thường xuyên của thư viện ở Anh, ở Pháp, ở Nga v.v…Napoleon đọc sách rất nhiều từ khi còn là một thanh niên cho đến trước khi trở thành vua nước Pháp và còn rất nhiều tấm gương đọc sách của nhiều danh nhân khác nữa
Bác sĩ người Pháp Georgres Duhamel đã phát biểu “Một người có học thức cần đọc sách như một người mạnh khỏe bình thường cần thở, cần uống” Câu trên cho thấy tầm quan trọng đặt biệt của việc đọc sách Nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn trong bài viết “Vì sao người Việt không mê đọc sách?” đăng trên trang web
thức, người trí thức không được đánh giá đúng mức Khi bản thân người làm nghề trí thức cũng đang còn lười đọc sách, thì đông đảo người dân có xa lạ với sách cũng là dễ hiểu” Điều mà nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trăn trở liệu có đúng
hay không? Người tri thức Việt Nam lười đọc sách có phải là sự thật? Nếu điều đó
là sự thật thì đáng làm cho chúng ta phải suy nghĩ Đọc sách, một thói quen cả đời bắt đầu từ tuổi nhỏ, là một cánh mở ra căn phòng tri thức Thói quen đọc sách là một công cụ để phát triển tính cách và tinh thần của từng cá nhân (Sarland 1991) Đọc sách được chấp nhận như một con đường để tiếp cận thông tin mới và có mối liên hệ với khả năng tổng hợp của từng cá nhân (Özbay, 2006) Triết gia Francis
Bacon đã từng phát biểu “Tri thức là sức mạnh”, sách chính là một nguồn cung cấp
tri thức quan trọng vì thế không đọc sách con người sẽ tự làm mai một tri thức của mình Không có tri thức thì không thể có đủ trình độ để xây dựng và bảo vệ đất nước Như Otto von Bismarck, thủ tướng Phổ từ năm 1862-1890, tại buổi chiêu đãi phái đoàn Nhật Bản thăm Đức ngày 15 tháng 3 năm 1873 tại Berlin đã phát biểu:
“Một dân tộc chỉ chăm sóc tình yêu quê hương thôi chưa đủ Nếu không xây dựng được sức mạnh thì đất nước sẽ không giành được sự tôn trọng trên chính trường
Trang 17quốc tế, độc lập chỉ là niềm hy vọng hảo thôi” Một trong những sức mạnh vô bờ bến là tri thức Lênin cũng đã dạy rằng: “Không có sách, không có tri thức Không
có tri thức, không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản cần có tri thức, muốn có tri thức cần có sách
Xã hội ngày càng thay đổi, khoa học công nghệ phát triển không ngừng, hàng ngày hàng giờ có hàng vạn tri thức mới ra đời Người trẻ không đọc làm sao có thể tiếp thu được tri thức mới? Nhiều bài báo đã đánh động việc người trẻ không đọc sách Nhiều người cho rằng lý do không đọc sách là do giáo dục không khuyến khích cũng như không hướng dẫn học sinh? Điều đó có đúng không hay còn những lý do hay yếu tố khác ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của những người trẻ? Nghiên cứu này sẽ chỉ ra phần nào các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của những bạn trẻ đặt biệt là sinh viên đại học
Theo thống kê của tổng cục thống kê năm 2010 cả nước có 1.435.887 sinh viên đại học Đây là lực lượng tri thức tương lai của dân tộc Lực lượng đó sẽ cống hiến tri thức vào công cuộc phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ của đất nước
Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã tạo ra nhiều sự quan tâm mới và thói quen mới như xem phim nghe nhạc, nhắn tin, chat và truy cập mạng xã hội Facebook™ bằng điện thoại thông minh (smartphone như iPhone™, Blackberry™, Samsung™ ) những mối quan tâm mới đã chi phối những thói quen truyền thống của con người Một trong những thói quen truyền thống là đọc sách Trước đây tivi được xem như một nhân tố chính ảnh hưởng đến thói quen đọc sách thì ngày nay sự lan tỏa của internet – email và mạng xã hội càng làm giảm thời gian dành cho việc đọc sách
Đọc sách ngày nay không có nghĩa là cầm một quyển sách in để đọc mà có thể được đọc bằng nhiều phương tiện khác iPad™, smartphone, Kindle™, audiobook Tầm quan trọng của việc đọc không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn có ảnh hưởng có ý nghĩa tích cực đến trí tuệ và tinh thần của những cá nhân Đọc sách giúp phát triển toàn diện nhận thức của từng cá nhân, giúp từng công dân trở thành những trụ cột
để phát triển kinh tế Phát triển thói quen đọc là một điều cần thiết cho mỗi quốc gia Một xã hội đọc là một xã hội thành công Điều kiện để phát triển xã hội mà có một thói quen đọc suốt đời là vấn đề chủ chốt để hình thành một quốc gia đổi mới, sáng tạo và trường tồn Thói quen đọc này có thể tạo ra một quốc gia đọc Quốc gia đọc có thể tạo ra những nguồn lực có kỹ năng mà có thể đáp ứng sự thay đổi và học hỏi những kỹ năng mới Lực lượng lao động mà năng động, có năng xuất và tài năng trong nhiều lĩnh vực sẽ xác định thành tựu của quốc gia (Yusof, 2010) Nghiên
Trang 18cứu này cũng chứng minh những yếu tố gia đình tác động mạnh và tích cực lên sự quan tâm và thói quen đọc của học sinh
Có một nghiên cứu khác cho thấy có bằng chứng thống kê rằng bố mẹ có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc tạo ra những người đọc hăng hái (Nathanson, Pruslow & Levitt, 2008) Những người trả lời phỏng vấn cho thấy có sự khác nhau mạnh giữa kinh nghiệm đọc ở nhà và ở trường Nếu gia đình và nhà trường được thiết kế để giữ sự phát triển việc đọc cá nhân thì việc đọc những người lớn và sinh viên đại học – cao đẳng sẽ không bị giảm Nghiên cứu được thực hiện với mẫu là sinh viên sư phạm, người sẽ trở thành giáo viên trong tương lai
Theo kết quả nghiên cứu của McKool (2007), có những yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến quyết định đọc sách Theo phân tích hồi quy, có 3 biến nghiên cứu được chứng minh có ý nghĩa về mặt thống kê: sự tự nhận thức của người đọc, xem truyền hình và các hoạt động được tổ chức Nghiên cứu này cho thấy ở nhà nếu bố mẹ là người thích đọc và khuyến khích trẻ đọc thì những đứa trẻ đó sẽ là những người đọc một cách tự nguyện Môi trường và giáo dục ảnh hưởng đến việc khuyến khích sự quan tâm đến việc đọc, trong đó sự quan tâm đến việc đọc được khuyến khích bởi
bố mẹ và chịu sự ảnh hưởng của giáo viên Phẩm chất cá nhân của giáo viên đặc biệt là thói quen đọc sách có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc phát triển sự quan tâm đến việc đọc và thói quen đọc sách của trẻ em (Bamberger – 1975)
Thu thập thông tin là lý do chủ yếu nhất cho việc đọc cả những người đọc thư viện
và những người không sử dụng thư viện Tuy nhiên nguồn thông tin chính vẫn là giáo viên (Iton, 1987) Giáo viên và thủ thư đóng vai trò chính trong việc xây dựng thói quen đọc sách của sinh viên (Jones, 1996)
Nghiên cứu “Sự quan tâm đến việc đọc của học sinh ở trường trung học North Ridgevile” cho thấy có những mối quan hệ có ý nghĩa giữa tần suất đọc với những biến như điểm trung bình, giới tính hoặc những biến khác Không có sự liên hệ có ý nghĩa giữa tần suất đọc và những biến khác như thời gian xem truyền hình, làm việc, tham gia hoạt động thể thao hoặc tần suất đọc của bố mẹ (Whittemore, 1992) Khảo sát thói quen đọc của sinh viên y khoa trường đại học y khoa King Saud cho thấy mỗi sinh viên đọc trung bình giành 4,5 giờ cho việc đọc sách trong 1 tuần (thang đo thời gian đọc từ 0 đến 35 giờ/ tuần) Sách đọc chủ yếu là sách bỏ túi và giáo trình y khoa (Soliman, 2009) Nghiên cứu thói quen đọc sách của sinh viên thư
kí y khoa ở trường y khoa cho kết quả thời gian đọc trung bình của sinh viên trong 1 tuần là 10,8 giờ (thang đo thời gian đọc từ 1 đến 30 tiếng/giờ) Nguồn sách đọc chủ yếu đến từ online và giáo trình (Leff & Harper, 2006) Nghiên cứu sự quan tâm đến việc đọc của sinh viên Saudi EFL của Al-Nafisah & Al-Shorman (2010) cho thấy sinh viên chọn sách vì niềm vui, yêu cầu của giáo viên, nhân vật chính, độ dài của
Trang 19tài liệu đọc, chất lượng văn học và chi phí Sinh viên đọc vì mong muốn nâng cao khả năng ngôn ngữ, học thêm một cái gì đó, nâng cao thành tích học tập, cập nhật thông tin về xã hội, kinh tế, văn hóa, khoa học và sự phát triên chính trị, nâng cao địa vị cá nhân, cập nhật thông tin về những gì đang diễn ra trên thế giới và giải trí Thêm vào đó sinh viên chọn sách phụ thuộc vào chính họ, bạn bè và giáo viên Giáo viên trở thành hình mẫu đọc khi họ chia sẻ kinh nghiệm đọc sách của chính họ
và nhấn mạnh làm thế nào để nâng cao việc đọc và nâng cao cuộc sống của họ (Lundberg & Linnakyla, 1993) Thói quen đọc của giáo viên chứng tỏ ảnh hưởng có
ý nghĩa trong việc thúc đẩy và mức độ cam kết với những sinh viên của họ Sinh viên dùng việc đọc để tiếp nhận kiến thức có liên quan nhằm mục đích thành công trong việc học Đọc cũng là một niềm vui Thói quen đọc sách có thể được truyền dẫn suốt thời gian học ở trường của sinh viên Vì lý do này, những giáo viên có trách nhiệm lớn trong việc dẫn dắt thói quen đọc sách của sinh viên Sinh viên dùng phần lớn thời gian của mình để xem truyền hình, đó là yếu tố gây cản trở sự phát triển những thói quen tốt (Wanjari & Mahakulkar, 2011)
Trong một báo cáo nghiên cứu năm 2004 có tên “To Read or not to read: a question
of national consequence” của tổ chức “National Endowment for The Arts” (NEA) của Mỹ có đi đến một số kết luận: “Người Mĩ dành ít thời gian hơn để đọc sách”,
“Thói quen đọc sách hàng ngày có mối liên hệ chặt chẽ với kĩ năng đọc và trình độ học thức”, “Việc đọc có ảnh hưởng quyết định đến cuộc sống”, “Việc đọc sách có mối tương quan chặt chẽ với thành tích học tập”, “Sinh viên hiện nay không còn đảm bảo có thói quen đọc sách tích cực”, “Sinh viên có hơn 100 quyển sách ở nhà
có điểm số cao hơn sinh viên chỉ có dưới 10 quyển sách ở nhà” Từ những kết luận của nghiên cứu trên, có thể thấy rằng việc đọc sách của sinh viên Mỹ đang giảm xuống vì sự phát triển mạnh mẽ của truyền hình và internet dù họ biết rằng việc đọc sách có mối tương quan chặt chẽ đến việc nâng cao tri thức, liên quan đến cách hành xử đối với cuộc sống, việc đọc sách làm nâng cao thành tích học tập, mở rộng con đường sự nghiệp và thăng tiến v.v…Việc đọc sách mang lại rất nhiều lợi ích như đã đề cập ở trên và có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách
Đặt vấn đề, sinh viên ở Tp Hồ Chí Minh dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc? Hằng năm sinh viên đọc hết bao nhiêu quyển sách? Sinh viên có thường xuyên đọc sách để tự nâng cao tri thức của mình không? Yếu tố nào tác động mạnh nhất đến thói quen đọc sách của sinh viên? Sinh viên không đọc sách vì lý do gì? Trường học
có khuyến khích học sinh – sinh viên đọc sách nhiều không? Những vấn đề sẽ được nghiên cứu này giải đáp
Trang 201.3 MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU
Mô tả thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên
Nhận diện các yếu tố tác động đến thói quen đọc sách chuyên ngành
Xác định mức độ tác động của các yếu tố đến thói quen đọc sách chuyên ngành
Đề xuất hàm ý quản lý để có những tác động cần thiết nhằm khuyến khích, thúc đẩy và nâng cao thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên
Hằng ngày sinh viên dành bao nhiêu thời gian để đọc sách chuyên ngành?
Hằng năm sinh viên đọc hết bao nhiều sách chuyên ngành bao gồm giáo trình, tài liệu tham khảo và bài báo nghiên cứu chuyên ngành?
Yếu tố nào ảnh hưởng lên thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên?
Có sự khác biệt về thói quen đọc sách của sinh nam và nữ, giữa sinh viên ở những khoa khác nhau, giữa sinh viên có điểm trung bình khác nhau hoặc giữa những sinh viên học ở những năm khác nhau hay không?
Nghiên cứu này mô tả thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên Việc mô tả này sẽ cho biết thực trạng của việc tự nâng cao trí thức cũng như thực trạng tự học của lực lượng tri thức tương lai của đất nước Kết quả nghiên cứu sẽ xác định yếu tố tác động chính đến thói quen đọc sách của sinh viên để có những hoạt động nâng cao thói quen đọc sách của sinh viên Mô hình kết quả của nghiên cứu góp phần cho những nhà giáo dục có thể biết được yếu tố nào có ý nghĩa quyết định đến thói quen đọc sách của sinh viên để đưa tác động cần thiết nhằm khuyến khích phát triển thói quen tốt này Ngoài ra nghiên cứu này cũng góp phần giúp những nhà xuất bản sách
có thể biết được phần nào yếu tố tác động đến việc đọc sách mà có những điều chỉnh thích hợp trong việc quảng bá văn hóa đọc cũng như điều chỉnh chính sách xuất bản cho phù hợp với nhu cầu đọc sách
Kết quả của nghiên cứu có thể được tham khảo bởi những nhà làm chính sách giáo dục và những nhà giáo dục đề xuất những chính sách khuyến khích văn hóa đọc trong trường học góp phần nâng cao tri thức cho học sinh - sinh viên
Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi sách có nội dung chuyên ngành kỹ thuật do vậy nghiên cứu này được thực hiện trong phạm vi Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh (ĐHBK) Sinh viên hệ chính quy đang học ở tất cả 11 khoa của ĐHBK là đối tượng khảo sát của nghiên cứu này
Trang 211.7 BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Chương 1 giới thiệu vấn đề nghiên cứu, xác định mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu Chương 2 xây dựng cơ sở nghiên cứu, giới thiệu những nghiên cứu đã thực hiện, xây dựng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, xây dựng phương pháp nghiên cứu để đạt được mục tiêu nghiên cứu, thiết kế thang đo để đo lường các khái niệm nghiên cứu Chương 4 triển khai kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả thống
kê của nghiên cứu sau khi thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu, trình bày kết quả kiểm định của mô hình lý thuyết và kiểm định giả thuyết của mô hình Chương 5 phát biểu kết luận và hàm ý quản lý, tóm tắt những kết quả chính, đóng góp và hàm
ý của nghiên cứu cũng như hạn chế của nghiên cứu, và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 22CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Sách chuyên ngành là tất cả những loại sách của chương trình đại cương (toán, lý, hóa, triết học, CNXH, kinh tế chính trị, tư tưởng HCM v.v…), chương trình cơ sở chuyên ngành và chương trình chuyên ngành dùng để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu ở ĐHBK, bao gồm tất cả những loại sách giáo trình, tạp chí chuyên ngành hoặc tài liệu tham khảo
Đọc là một quá trình phức tạp mà người đọc tái cấu trúc đến mức độ nào đó những thông điệp được mã hóa với người viết bằng ngôn ngữ hình tượng Đọc là quá trình nhận thức và hiểu ý nghĩa của những biểu tượng được viết ra (New Standard Encylopedia) Đọc là khả năng nhận thức và kiểm định những câu từ và hiểu những thông tin bên chứa đựng trong những ngôn từ đó Đọc là một quá trình nhận thức của việc hiểu những thông điệp ngôn ngữ được viết ra và để xem xét và hiểu thấu những kỹ tự, từ ngữ hoặc câu cú (Lone, 2011)
Thói quen là sản phẩm của hành động hoặc học tập được lặp đi lặp lại theo thời gian Thói quen là một hành động được học hỏi hoặc một dạng của hành vi mà lặp
đi lặp lại thường xuyên để trở thành một phản ứng tự động với đối với những yếu tố kích thích (New standard Encylopedia)
Theo Sangkaeo (1999), thói quen đọc sách là hành động đọc sách được lặp đi lặp lại thể hiện sự ưa thích và sở thích đọc của cá nhân Thói quen đọc sách cũng được định nghĩa là khuynh hướng hành đọc đã xác lập và được đo bằng số lượng tài liệu được đọc và thời gian dành cho việc đọc (Mngoma, 1997)
Trong nghiên cứu này, thói quen đọc sách được định nghĩa là sự lặp đi lặp lại hành
vi đọc sách chuyên ngành kỹ thuật của sinh viên, được đo bằng thời gian dành cho việc đọc hằng ngày, số lượng sách đã đọc năm ngoái, và số lượng sách đang sở hữu của sinh viên
Trong bài báo “A model for the study of reading in agriscience”, Park và Osborne
(2007) đã đề xuất một mô hình mẫu để nghiên cứu việc đọc ở ngành nông học được
trình bày ở Hình 2.1
Giáo viên và ngữ cảnh ảnh hưởng đến việc đọc của sinh viên Nhận thức của giáo viên về việc đọc, thói quen đọc của cá nhân, kỳ vọng về việc đọc, kiến thức của chiến lược đọc và sự chuẩn bị của giáo viên về nội cung của chiến lược đọc ảnh
Trang 23hưởng đến năng lực đọc của học viên Giáo viên, người thể hiện giá trị đọc trong lớp thông qua việc đọc cá nhân, mô hình hóa việc đọc ảnh hưởng để khả năng đọc
và thúc đẩy việc đọc của sinh viên theo hướng tích cực Ngữ cảnh trong ngành nông học bao gồm sinh viên, môi trường và tài liệu đọc
Hình 2.1: Mô hình của Park & Osborne (2007)
Biến giáo viên bao gồm thái độ đối với việc đọc, kiến thức của giáo viên, mức
độ đọc của giáo viên, yêu cầu đọc sách của giáo viên cho sinh viên
Biến đặc điểm sinh viên có thể là khả năng đọc, sự quan tâm và động cơ đọc, kiến thức cá nhân, giới tính
Biến môi trường bao gồm môi trường ở nhà, ở lớp và ở trường
Biến thuộc tính của tài liệu đọc bao gồm sự dễ đọc của tài liệu, từ vựng sử dụng, cấu trúc tài liệu, nội dung, tác giả của tài liệu
Bài báo của hai tác giả được thực hiện dựa trên sự tổng hợp những bài báo nghiên cứu trước đây và đề ra xuất mô hình Do đó mô hình này chưa được chứng minh bằng kết quả định lượng Vì vậy luận văn này sẽ dùng mô hình này làm mô hình ý tưởng cho nghiên cứu, kết hợp những dữ liệu định lượng để phân tích và kiểm định những biến độc lập và phụ thuộc của mô hình nghiên cứu
2.3.1 Thói quen đọc sách
Tần suất đọc là tiêu chuẩn được sử dụng nhiều nhất để đo thói quen đọc sách (Yilmaz, 2009) Tác giả Wanjari & Mahakulkar (2011) đo thói quen đọc sách của sinh viên bằng việc có đọc hằng ngày hay không, có đọc báo hằng ngày hay không,
có đọc tạp chí hằng ngày hay không và thời gian dành để đọc hằng ngày Theo McKool (2007), những người ham đọc sách đọc một cách tự nguyện trung bình 46 phút mỗi ngày trong khi những người đọc miễn cưỡng đọc 3 phút mỗi ngày
Trang 24Nghiên cứu thói quen đọc sách của 142 sinh viên khoa Kinh doanh Đại học Hampton, tác giả Braguglia (2005) phát hiện hơn 63% sinh viên dành thời gian ít hơn 2 giờ mỗi tuần cho việc đọc sách giải trí Sinh viên đọc giáo trình chủ yếu và đọc những bài báo liên quan đến kinh doanh qua internet mỗi tuần 1 lần, để thư giãn sinh viên đọc tạp chí chuyên ngành kinh doanh, báo và tuần báo Sinh viên không dành thời gian nhiều cho việc đọc sách cả ở trường và ở nhà Thói quen đọc sách của sinh viên được hình thành trước khi vào đại học
Sinh viên đọc 1 đến 2 quyển sách trong một tháng nhưng đa số sinh viên không có thói quen đọc sách và có sự quan tâm đến việc đọc sách ở mức trung bình Có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và thói quen đọc sách (Pehlivan A., Serin,O & Serin,N B 2010) Nathanson, Pruslow & Levitt (2008) thực hiện khảo sát 774 sinh viên cho kết quả những người say mê đọc sách thường đọc ít nhất 2 quyển sách trong suốt mùa hè
Năm 2006, tác giả Leff & Harper thực hiện khảo sát thói quen đọc sách của sinh viên ngành thư ký y khoa ở trường Đại học John Hopkins Kết quả cho thấy sinh viên thư ký y khoa đọc sách trung bình 10,8 tiếng trong một tuần và phần lớn thời gian dùng để đọc sách trực tuyến Năm 2009 khảo sát thói quen đọc sách của sinh viên y khoa trường Đại học y khoa King Saud, tác giả Soliman tìm ra hằng tuần sinh viên dành ra 4,5 tiếng để đọc sách
Thói quen đọc sách phụ thuộc vào thái độ cá nhân, mức độ nhận thức, trạng thái xã hội và độ tuổi theo kết luận của Nawarathne (2012) Noor (2011) đã thực hiện khảo sát thói quen đọc sách của học viên cao học và chọn thời gian đọc sách mỗi ngày là biến định lượng cho thói quen đọc sách Học viên cao học đọc nhiều để nghiên cứu
và giải trí Hành vi đọc của sinh viên bị ảnh hưởng bởi nhận thức của sinh viên (Chou, 2009) Về tổng thể thời gian đọc trung bình hằng ngày một người lớn là 4,14h theo khảo sát của Smith & Stahl (1999)
Tổ chức National Endownment of Art (NEA) của Hoa Kỳ cho rằng định nghĩa về thói quen đọc sách rất nhiều và một trong những định nghĩa thói quen đọc sách được chia theo số sách đã đọc trong 1 năm Người đọc có thể chia thành 4 nhóm theo thói quen đọc sách như sau: độc giả ít đọc sách (1-5 quyển sách/năm), độc giả đọc sách vừa phải (6-11 quyển sách/năm), độc giả thường xuyên đọc sách (12-49 quyển sách/năm), độc giả say mê đọc sách (trên 50 quyển sách/năm) Khảo sát hành
vi đọc và đọc sách của người dân Nam Phi năm 2006 cho kết quả người dân Nam Phi đọc giải trí trung bình 4,1 h/tuần và đọc vì việc học 2,2h/tuần Khảo sát người dân Canada năm 2005 về hành vi đọc sách và mua sách vì niềm vui cho thấy người dân Canada trung bình mỗi năm người Canada đọc 17 quyển sách và giành 4,6 tiếng đồng hồ mỗi tuần để đọc để giải trí (The Department of Canadian Heritage, 2005)
Trang 25Khi nghiên cứu thói quen đọc sách ở sinh viên vùng Amravati năm 2010, tác giả Dhule kết luận các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách bao gồm sự phát triển của các phương tiện truyền thông điện tử, sự không đầy đủ sách ở thư viện, sự nhận thức về giá trị và tầm quan trọng của thư viện, sự không đầy đủ về nguồn lực con người và vật chất
Khảo sát thói quen đọc sách của nhân viên và giảng viên những khoa khoa học tự nhiên trường Đại học Delhi, tác giả Sharma & Singh (2005) phát hiện những yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách bao gồm: tình trạng của người đọc, nhu cầu đọc, nhu cầu thông tin phục vụ cho việc học của người đọc, giá của tài liệu, lợi ích của tài liệu đọc, cách thức tác động của người dùng và thông tin Mục đích đọc chủ yếu của người đọc ở trường đại học Delhi bao gồm đọc để giải trí, đọc vì kiến thức, đọc
vì thông tin và đọc vì tất cả những điều trên
Nghiên cứu thói quen đọc sách của sinh viên của những trường đại học nói tiếng
Mã Lai và tiếng Hoa của Abidin, Pour-Mohammadi & Lean (2011) chỉ ra rằng sinh viên giành 2 giờ mỗi ngày cho việc đọc và họ đọc chủ yếu là giáo trình Theo Oguz, Yıldız, & Hayırsever (2009), thói quen đọc sách của giáo viên tương lai được đo bằng số sách đọc năm ngoái và thời gian dành để đọc hằng ngày, có sự liên hệ có ý nghĩa tuyến tính thuận giữa việc đọc sách và số sách có ở nhà, giáo viên tương lai không đọc nhiều vì không có thời gian, giá sách cao, người xung quanh mình ít đọc Khảo sát 4500 sinh viên đại học cao đẳng về thời gian đọc sách, thời gian xem truyền hình và thời gian truy cập internet của Mokhtari, Reichard & Gardne (2009) cho kết quả thời gian đọc sách giải trí là 1,14 giờ/ngày, thời gian đọc sách để học 2,17 giờ/ngày, thời gian xem truyền hình 1,93 giờ/ngày, thời gian sử dụng internet 2,47 giờ/ngày Một nghiên cứu khác của tác giả Sheorey & Mokhtari (1994) khi khảo sát thời gian đọc sách của sinh viên năm nhất cho thấy sinh viên giành 4,75 giờ/tuần để đọc sách không vì lý do học tập và dành 9,7 giờ/tuần để đọc vì việc học Những yếu tố làm giới hạn thói quen đọc sách ở thư viện bao gồm xã hội không phải là xã hội đọc, sự quản lý 3M (Man, Money, Management), sự ảnh hưởng của truyền thông đa phương tiện Những biện pháp hiệu quả để khuyến khích thói quen đọc sách: lên danh sách loại sách, tạo chương trình đọc, những chương trình triển lãm, tạo ra những tài liệu điện tử (Sangkaeo, 1999)
Nghiên cứu thói quen đọc sách của sinh viên thành thị và nông thôn, Lone (2011) kết luận sinh viên đọc sách 1,9 tiếng một ngày Thói quen đọc sách được được hình thành bởi bản thân sinh viên, sự giúp đỡ của bố mẹ và thấy cô giáo Bố mẹ, thầy cô
và thủ thư cần bắt tay để phát triển thói quen đọc sách khi còn nhỏ Thời gian đọc sách ưu thích là buổi sáng
Trang 26Theo các tác giả Popoola, Ttim & Oloyede (2010) thói quen đọc sách được đo bằng thời gian trong tuần dành cho việc đọc sách giải trí, loại sách đọc, số sách đã mua trong thời gian gần đây Kết quả của nghiên cứu cho thấy phần lớn giáo viên dành 1h/tuần để đọc tài liệu ngoài chuyên môn và một phần tư giáo viên không có kế hoạch đọc thêm sau giờ lên lớp Thái độ đọc sách có mối liên hệ tích cực lên hiệu quả giảng dạy Những giáo viên đọc nhiều để nâng cao kiến thức sẽ truyền đạt kiến thức đó cho sinh viên
Khi nghiên cứu cách thức để khuyến khích thói quen đọc sách tác giả Bamberger (1975) kết luận phát triển thói quen đọc sách suốt đời là một quá trình liên tục, bắt đầu ở nhà, được tăng cường một cách có hệ thống ở trường học, và đươc giữ gìn trong cuộc đời thông qua môi trường văn hóa và ảnh hưởng của giáo dục cộng đồng
và thư viện công cộng Yếu tố quyết định đến quá trình phát triển thói quen đọc sách bắt đầu từ lứa tuổi mẫu giáo Sự gắn bó chặt chẽ với ý kiến và người tham khảo như bố mẹ, bạn bè, thầy cô, thủ thư có tác động đến thái độ đọc Để phát triển thái độ tích cực độ đối với thói quen đọc sách cần tạo những cơ hội cho việc đọc ở mọi nơi như sách bỏ túi, xây dựng thư viện riêng, thư viện công cộng, thư viện trường – lớp
Thời gian đọc sách trung bình của sinh viên trường đại học Calabar, Nigeria giành cho việc học ở trường là gần 4 giờ/ tuần Tuy nhiên sinh viên thích dùng internet hơn vì nó sẵn có thông tin, được cập nhập thường xuyên, lượng thông tin lớn, tiết kiệm thời gian tìm kiếm và dễ truy cập Sự sẵn có câu trả lời của internet khuyến khích sinh viên từ bỏ đọc sách Internet cung cấp thông tin nhanh hơn khi tra cứu mục lục sách nhưng Internet sẽ làm giảm thời gian đọc của sinh viên (Edem & Ofre, 2010)
và phải nâng cao kiến thức của mình thông qua việc đọc (Wanjari & Mahakulkar 2011)
Nghiên cứu McKool (2007) cho thấy giáo viên thúc đẩy việc đọc sách tự nguyện thông qua việc tìm kiếm và cung cấp kiến thức để tiếp cận tài liệu Theo Nathanson,
Trang 27Pruslow & Levitt (2008), giáo viên có ảnh hưởng lớn đối với những người say mê đọc sách, giáo viên là người tạo ra sự thay đổi giữa người ham đọc sách và người không ham đọc sách bằng cách đề xuất sách để đọc và chia sẻ niềm đam mê đọc sách
Sinh viên chọn sách theo yêu cầu của giảng viên (Al-Nafisah & Al-Shorman, 2011) Sinh viên đọc ít vì giáo viên và trợ giảng không thực hiện những bước cần thiết để nâng cao thói quen đọc của sinh viên mà cũng không áp dụng kỹ thuật đa phương tiện vào bài giảng để truyền thụ kiến thức (Bratović, Tadić, Miočić, Gardijan & Srećko, 2010)
Tác giả Yilmaz (2009) nhấn mạnh gia đình và giáo viên cần khuyến khích sinh viên đọc Giáo viên và bố mẹ là những người đóng vai trò chính khuyến khích học sinh đọc sách Học sinh sẽ không đọc sách nếu không có sự yêu cầu của giáo viên Giáo viên không cung cấp thời gian đọc thầm trong suốt buổi học (Kendrick, 1999) Theo Applegate & Applegate (2004), thái độ, niềm tin của giáo viên về việc đọc cũng như thói quen đọc sách của họ có sự ảnh hưởng có ý nghĩa lên sự thúc đẩy và mức độ cam kết đọc của sinh viên Giáo viên, người đọc hăng hái, sẽ thích khuyến khích và nuôi dưỡng những tinh thần giống như vậy trong lớp
Khi so sánh thói quen đọc sách của học sinh bán trú và nội trú trường trung học cơ
sở ở vùng Osogbo, bang Osun, Nigeria năm 2007, tác giả Adetunji & Oladeji nhận thấy giáo viên là người có ảnh hưởng lên thói quen đọc của học sinh, giáo viên chính là người hướng dẫn học sinh đọc và làm thế nào để sử dụng thư viện
Oguz, Yıldız & Hayırsever, F (2009) khi nghiên cứu thói quen đọc sách của những giáo viên tương lai có nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo viên lên thói quen đọc sách của học sinh – sinh viên đặt biệt là học sinh tiểu học Thói quen đọc sách được truyền từ giáo viên sang học sinh trong suốt thời gian học lớp 1 vì lý do đó giáo viên có vai trò cực kì to lớn trong việc hình thành thói quen đọc sách của học sinh
Vì vậy giáo viên tương lai cần phải có thói quen đọc sách tích cực để sau này có thể trở thành một hình mẫu tốt cho sinh viên noi theo
Việc giảng dạy có tác dụng tích cực nhất cho việc khuyến khích việc đọc ở sinh viên, thảo luận về sách với bạn bè, gia đình và những người yêu sách khác cũng có tác dụng khuyến khích việc đọc (Knoester, 2010) Tác giả Jan, L B trong nghiên cứu của mình năm 1990 kết luận nếu sinh viên sư phạm trở thành mô hình hiệu quả
về đọc và được hướng dẫn tốt sau đó họ sẽ ra trường với những kỹ năng này và truyền cảm hứng cho sinh viên của mình trở thành những độc giả tích cực và sinh viên đại học cần có một hình mẫu về đọc sách của giảng viên
Trang 282.3.3 Đặc điểm sinh viên
Sách thu hút bé gái nhiều hơn bé trai vì thế để dẫn dắt sinh viên đọc sách, sách cần được trao như một món quà bởi thầy cô và bố mẹ Sinh viên cần được cho phép chọn những loại sách yêu thích (Hakan, 2011) Đa số sinh viên đọc để phục vụ cho
sự phát triển của cá nhân mình sau đó là đọc để cập nhật thông tin rồi mới phục vụ cho việc thi đậu những môn học ở trường (Wanjari & Mahakulkar, 2011)
Sự tự nhận thức của người đọc chứng minh mối liên hệ có ý nghĩa về mặt thống kê đến việc quyết định đọc sách của độc giả (McKool, 2007) Sinh viên có thái độ tích cực với việc đọc vì có những hoạt động thúc đẩy việc đọc, những hoạt động ngoại khóa trong trường học cần được thực hiện để thu hút sự chú ý của sinh viên đối với việc đọc những chủ để khác nhau, truy cập internet cũng là một cách để nâng cao việc đọc, cần có những khóa huấn luyện việc đọc cho sinh viên trong trường học (Ögeyik & Akyay, 2009)
Trong thời gian rảnh sinh viên nghe đài radio, chơi trò chơi điện tử, xem phim, xem
TV, nói chuyện điện thoại, nghe nhạc, truy cập internet và đọc sách Những mối quan hệ cá nhân ảnh hưởng nhiều đến việc học và đọc sách của sinh viên (Braguglia, 2005) Khảo sát cho thấy xem TV, tán gẫu với bạn bè, mệt mỏi là những nguyên nhân khiến sinh viên không đọc sách (Pehlivan, Serin & Serin, 2010) Thói quen đọc sách của học sinh trung học cơ sở bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng các thiết
bị giải trí điện tử và xem truyền hình (Adetunji, 2007)
Sinh viên ít đọc sách vì ít đến thư viện, không có khả năng có sách nhanh chóng, không có tài liệu, sự ràng buộc về thời gian, sự thiếu thốn thư viện địa phương, sinh viên cho rằng có nhiều việc để làm hơn là đọc sách, sinh viên tin rằng việc nâng cao
kỹ năng đọc không quan trọng bằng việc nâng cao những kỹ năng khác Sinh viên chọn sách vì sự quan tâm đối với việc đọc Sinh viên đọc để nâng cao khả năng ngôn ngữ, học một cái gì đó, nâng cao điểm số, cập nhật thông tin kinh tế, văn hóa, khoa học và chính trị (Al-Nafisah & Al-Shorman, 2011)
Mục đích đọc sách chủ yếu phục vụ cho việc học (Lone, 2011) Sinh viên không đọc nhiều vì không có đủ thời gian (Soliman, 2009) Sinh viên đọc hằng ngày, chủ yếu là các tài liệu liên quan đến nghề nghiệp, trong đó có cả tiểu thuyết, báo, tạp chí v.v…Thời gian rảnh sinh viên đọc sách in và đọc thông tin trên internet Lý do chính để đọc là giúp vượt qua kì thi Nhiều sinh viên cho rằng đọc không phải là một phần quan trọng của việc học vì họ nghĩ công việc thực tế cho kết quả tốt hơn đọc Đa phương tiện đặc biệt là internet đang trở thành một phần quan trọng của cuộc sống sinh viên (Bratović, Tadić, Miočić, Gardijan & Srećko, 2010)
Kết quả khi phân tích sự khác nhau về nhận thức đối với việc đọc sách giữa giáo sư
và sinh viên, Braguglia (2006) sinh viên nhấn mạnh vào những ghi chú và bài giảng
Trang 29trên lớp quan trọng hơn cho bài kiểm tra Loại trừ sách giáo khoa, phần đông học sinh không thích đọc sách khác Tài liệu đọc được chỉ định ở trường không phải là tài liệu đọc được ưa thích (Kendrick, 1999)
Kiểm định yếu tố giới tính và thói quen đọc sách của học sinh, tác giả Kennedy (2008) kết luận nữ đọc sách nhiều hơn nam Phụ nữ đọc sách nhiều hơn nam là kết luận của tổ chức NEA (2004)
Mục đích đọc của sinh viên là để vượt qua kỳ thi nhưng họ thích đọc những ghi chú
và bài giảng trên lớp hơn là đọc sách (Nawarathne, 2012) Đọc có ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập của học sinh (Adetunji & Oladeji, 2007)
Khảo sát văn hóa đọc ở 200 sinh viên của một trường đại học ở châu Phi, tác giả Oyewumi & Ebijuwa (2009) cho thấy sinh viên đọc chủ yếu là ghi chép trên lớp chứ không đọc sách, và sinh viên ít mua giáo trình vì giá sách cao, sinh viên đọc để thi đậu là chính, sinh viên không đọc nhiều vì không có thời gian, thời gian đó được sinh viên dùng để sử dụng máy tính và internet
Sinh viên đọc sách giáo trình để vượt qua những kỳ thi và đọc những sách khác để giải trí và giết thời gian Sinh viên đều là những chuyên gia về công nghệ do đó họ truy cập internet thường xuyên, đa số đều có tài khoản Facebook, hoặc MSN và YouTube Đa số sinh viên truy cập internet 4h/ngày Họ truy cập intenet để chơi trò chơi, đọc báo, tìm kiếm thông tin ưa thích Sinh viên nào có thói quen đọc từ nhỏ sẽ
có thói quen đọc sách lành mạnh Họ đọc vì học thích đọc chứ không phải để giết thời gian (Abidin, Pour-Mohammadi & Lean, 2011) Sinh viên sư phạm đọc sách để thu thập thông tin về lĩnh vực mình quan tâm, thu thập thông tin về những nền văn hóa khác nhau và để phát triển kỹ năng sống trong xã hội (Oguz, Yıldız & Hayırsever, 2009)
Khảo sát thói quen đọc của sinh viên Châu Á ở Canada năm 2006 tác giả Braeder kết luận sinh viên đọc để thu thập thông tin và để thi đậu Sinh viên cho rằng đọc sách để giải trí tốn thời gian, không quan trọng và không cần thiết Lý do sinh viên không đọc sách để giải trí vì thiếu thời gian, sự thiếu hụt các tài liệu phù hợp với từng lứa tuổi, sự không thích nghi với văn chương tiếng Anh Đối với những sinh viên ESL (English as Second Language), đọc sách để giải trí trở thành công việc hơn là để vui thú
Sinh viên đọc nhiều vì lý do học tập hơn là để giải trí, tài liệu sinh viên đọc nhiều nhất là bài giảng và ghi chép của mình (Edem & Ofre, 2010) Sinh viên trường đại học kỹ thuật ở thế giới thứ 3 nhận thức rằng của việc đọc sách chỉ là việc lặt vặt, không vui và đó chỉ là hoạt động thu thập thông tin nên làm giảm thới quen đọc sách (Smithies, 1983)
Trang 302.3.4 Môi trường xung quanh
Gia đình là có vai trò cốt lõi trong việc khuyến khích con trẻ đọc sách Giáo viên và
bố mẹ phải trở thành hình mẫu tốt trong việc đọc sách để trẻ em noi theo Học sinh thích được bạn bè tôn trọng vì đọc sách, trường học nên có những hoạt động nói về tác giả và tác phẩm hoặc tổ chức những hội chợ về sách (Hakan 2011)
Sinh viên ít đọc sách thường ở gia đình ít có sự quan tâm đối việc đọc sách thấp (Al-Nafisah & Al-Shorman, 2011) Thời gian xem truyền hình là một yếu tố chủ yếu gây cản trở cho việc phát triển thói quen đọc sách đứng sau việc xem truyền hình là việc nhà và bài tập ở trường là những yếu tố ảnh hưởng tiếp theo (Wanjari & Mahakulkar, 2011)
Thói quen đọc sách tự nguyện có thể được thúc đẩy bởi thủ thư nếu họ giới thiệu cho học sinh những tài liệu mình thích Học sinh đánh giá cao lời giới thiệu sách của thủ thư Gia đình có tầm quan trọng trong việc khuyến khích việc đọc sách tự nguyện Thời gian xem truyền hình và những hoạt động có tổ chức khác chứng tỏ mối liên hệ có ý nghĩa đến việc quyết định đọc của học sinh Xem truyền hình là lý
do vì sao học sinh không đọc sách bên ngoài nhà trường Những học sinh đọc một cách miễn cưỡng vì phải làm bài tập hoặc chơi thể thao (Mckool, 2007) Ở nhà, bố
mẹ nên dành thời gian đọc cùng với con mình và thư viện cần cung cấp đẩy đủ sách cho học sinh để khuyến khích học sinh đọc nhiều hơn (Adetunji & Oladeji, 2007) Thư viện trường và thư viện quốc gia cần cung cấp đầy đủ sách cho sinh viên (Pehlivan, Serin O & Serin N B , 2010) Internet và truyền hình ảnh hưởng tiêu cực đến thói quen đọc sách của sinh viên (Bratović, Tadić, Miočić, Gardijan & Jelušić, 2010) Theo tác giả Yilmaz (2009), xem TV là một nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến thói quen đọc sách, đọc và sử dụng thư viện ảnh hưởng tích cực đến thành tích học tập
Thảo luận rộng rãi là một chiến lược thúc đẩy việc đọc ở tất cả các cấp học Bố mẹ
có ảnh hưởng mạnh mẽ lên việc tạo ra những người đam mê đọc sách (Nathanson, Pruslow & Levitt, 2008) Khảo sát mối quan hệ giữa những yếu tố gia đình và thói quen đọc sách của học sinh lớp 2, tác giả Yusof (2010) chứng minh rằng những yếu
tố gia đình tác động mạnh và tích cực lên thói quen đọc sách của học sinh Chính bố
mẹ là người có ảnh hưởng lớn đến thói quen đọc sách Nghề nghiệp của bố có mối liên hệ có ý nghĩa với thói quen đọc sách của học sinh Môi trường đọc cần dễ chịu
và yên lặng, nơi đọc sách ưu thích là ở nhà sau đó là thư viện, sinh viên không có thói quen đọc sách ở thư viện (Lone, 2011)
Bằng thống kê 17.000 người dân Hoa Kỳ, nghiên cứu của tổ chức NEA kết luận người Mỹ ít đọc sách hơn trong vòng 20 năm qua, sự giảm sút văn hóa đọc nhiều nhất ở tuổi trẻ, sự bùng nổ internet, trò chơi điện tử và thiết bị số cầm tay có liên hệ
Trang 31chặt chẽ đến sự suy giảm văn hóa đọc Suy suy giảm văn hóa đọc kéo theo sự xói mòn về văn hóa
Nơi cung cấp tài liệu chính cho sinh viên là thư viện trường (Wanjari & Mahakulkar, 2011) Môi trường thư viện ảnh hưởng đến sự thích thú đọc sách nếu thư viện tạo cảm giác thỏa mãn cho sinh viên khi sinh viên cần giúp đỡ Sự phân loại sách ở thư viện có tác động dương đối với sự thích thú việc đọc Đa số sinh viên cho rằng sự phân loại của thư viện giúp họ rất nhiều Sự giúp đỡ của nhân viên thư viện là yếu tố ảnh hưởng mạnh lên sự thích thú đọc của sinh viên (Nawarathne, 2012)
Khi thực hiện khảo sát giữa những giáo viên ở trường cao đẳng nữ, giáo viên cho rằng công nghệ hiện đại đang làm giảm thói quen đọc sách nhưng nó cũng cho phép tìm kiếm thông tin ở thư viện nhanh hơn (Singh, 2007)
Người xung quanh mình ít đọc sách là một trong những lý do giáo viên tương lai không đọc (Oguz, Yıldız & Hayırsever, 2009).Nền kinh tế yếu kém là nguyên nhân chính của việc giáo viên không có khả năng mua sách đọc cho riêng mình (Popoola, Ttim & Oloyede, 2010)
Người Singpore ở thế hệ X (sinh từ năm 1965-1980) đọc sách ở nhà là chủ yếu, người tham gia nghiên cứu này ít đọc sách vì thiết nguồn thông tin, giá sách cao, không có ý tưởng về việc đọc, thích truy cập internet hơn đọc sách Giới tính có ảnh hưởng đến động cơ và thái độ đối với việc đọc, động cơ đọc sách được điều khiển bởi nhu cầu nhận thức (Chaudhry & Low, 2009)
Kiểm định sự ảnh hưởng của công nghệ lên thói quen đọc sách của sinh viên, tác giả Li-Bi Shen (2006) chứng minh internet ảnh hưởng lên hành vi đọc của sinh viên, sinh viên dùng internet để đọc email và tìm kiếm thông tin nhiều hơn đọc sách
Khảo sát sự ảnh hưởng của việc sử dụng Internet và truyền hình đối với thói quen đọc của sinh viên đại học của Mokhtari, Reichard & Gardne (2009), sinh viên truy cập internet và xem truyền hình hằng ngày, sinh viên thích sử dụng internet hơn đọc sách và xem truyền hình tuy nhiên thời gian sử dụng internet không thể thay thế hay làm biến mất thời gian đọc sách để học của sinh viên Xem truyền hình là một hoạt động thông dụng nhưng nó không ảnh hưởng nhiều đến thời gian đọc sách và truy cập internet Đọc sách để học là một hoạt động ít thú vị nhất so với đọc sách giải trí, xem truyền hình và truy cập internet
Truyền hình và phim ảnh DVD là yếu tố cạnh tranh đến việc đọc của người dân Nam Phi Những yếu tố nhà và lớp học có liên quan đến việc thúc đẩy thói quen đọc Gia đình và nhà trường cần tạo môi trường nuôi dưỡng động cơ từ bên trong và
Trang 32cung cấp hướng dẫn về kỹ năng đọc và chiến lược cần thiết để phát triển thành người đọc độc lập (Kennedy, 2008)
2.3.5 Thuộc tính của tài liệu
Trong nghiên cứu của Shaikh (2004) về việc đọc sách trực tuyến, yếu tố chính để chọn đọc sách trực tuyến là độ lớn của nội dung đọc, tầm quan trọng và mục đích của tài liệu đọc Nhằm giảm bớt khó khăn cho sinh viên, thư viện cần được đầu tư
để mua những loại sách cần cho sinh viên mượn đọc vì những loại sách bằng tiếng nước ngoài thường rất mắc không phù hợp với khả năng tài chính của sinh viên (Ögeyik & Akyay 2009)
Theo Dökmen (1994) lý do sinh viên không đọc sách vì giá sách cao và không có thời gian rãnh để đọc Sinh viên thích đọc sách ở nhiều lĩnh vực khác nhau, sinh viên không thích đọc sách kinh tế Sinh viên chọn sách theo nhân vật chính, độ dài
và chất lượng văn học, chi phí của tài liệu (Al-Nafisah & Al-Shorman, 2011) Nguồn tài liệu đọc chủ yếu của sinh viên y khoa bao gồm sách bỏ túi và sách giáo trình y khoa (Soliman, 2009) Loại trừ sách giáo khoa, phần đông học sinh không thích đọc sách khác Tài liệu đọc được chỉ định ở trường không phải là tài liệu đọc được ưa thích (Kendrick, 1999) Những sách giáo trình được phân công tham khảo cho sinh viên có chủ đề khó đọc, dùng ngôn ngữ không thông dụng và không có sự phân loại theo trình độ là yếu tố làm giảm thói quen đọc sách ở sinh viên trường đại học kỹ thuật thuộc thế giới thứ 3 (Smithies, 1983)
Giá sách cao là một trong những nguyên nhân những giáo viên tương lai không đọc sách nhiều (Oguz, Yıldız & Hayırsever, 2009) Giá sách cao, thiếu thư viện và khó tìm được sách là yếu tố làm giảm việc đọc ở người dân Nam Phi (South African book development council, 2006)
Sinh viên
Môi trường
Tài liệu
Trang 336 Bamberger x
31 Pehlivan , Serin,O &
Trang 342.4.1 Mô hình nghiên cứu
Tổng hợp từ các nghiên cứu đã có và từ kinh nghiệm, mô hình đề xuất cho nghiên cứu này đƣợc trình bày ở hình 2.2
Nội dung sách khó đọc
Sự không có sẵn của tài liệu
Giá của sách
Ở nhà
Thói quen đọc sách của bố
Thói quen đọc sách của mẹ
Sự khuyến khích đọc sách của bố mẹ
Không gian sống có hỗ trợ việc đọc hay không (Yên lặng và dễ chịu)
Ở lớp
Thói quen đọc sách của bạn bè
Sự thảo luận về sách với bạn bè
Sự khuyến khích của bạn bè
Ở trường
Môi trường thư viện trường thân thiện
Thủ thư thư viện trường giúp đỡ sinh viên
Mục đích sử dụng thư viện
Trường có những chương trình khuyến khích đọc sách
Xã hội
Thư viện công cộng gần nơi ở
Xã hội đọc hay xã hội nghe nhìn
Nhà sách gần nơi ở
Mục đích vào nhà sách và thư viện công cộng
Thế giới ảo
Thời gian sử dụng internet
Thời gian sử dụng điện thoại di động
Mục đích sử dụng điện thoại di động: nhắn tin, tán gẫu, truy cập mạng xã hội, chơi game
Mục đích sử dụng internet: kiểm tra mail, tìm kiếm thông tin, chơi game, truy cập mạng xã hội
Nhận thức của về đọc sách: đọc sách là cần thiết, đọc sách tốn thời gian
Thời gian xem truyền hình, phim ảnh giải trí
Thời gian chơi trò chơi điện tử và sử dụng những thiết bị giải trí cầm tay
Sự khuyến khích và thúc đẩy việc đọc sách ở sinh viên
Tấm gương về đọc của giảng viên
Kiến thức của giảng viên
Đề xuất sách để đọc thêm ngoài chuyên ngành
Sự chia sẻ kiến thức và niềm đam mê đọc sách
Chỉ định sách đọc cho sinh viên
Thái độ đối với việc đọc sách của cá nhân
Niềm tin của giáo viên về việc đọc sách
Sự hướng dẫn đọc sách
Giảng viên
Đặc điểm sinh viên
Môi trường xung quanh
Đặc điểm tài liệu
Biến kiểm soát
Thời gian đọc sách hằng ngày
Số lượng sách đã đọc trong năm qua
Số lượng sách đang sở hữu
Trang 352.4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Theo Applegate & Applegate (2004), thái độ, niềm tin của giáo viên về việc đọc cũng như thói quen đọc sách của họ có sự ảnh hưởng có ý nghĩa lên sự thúc đẩy
và mức độ cam kết đọc của sinh viên Giáo viên, người đọc hăng hái, sẽ thích khuyến khích và nuôi dưỡng những tinh thần giống như vậy trong lớp Vì vậy
nghiên cứu đưa ra giả thuyết H1: Yếu tố giảng viên tác động tích cực đến thói
quen đọc sách của sinh viên
Kết luận của McKool (2007), sự tự nhận thức của người đọc chứng minh mối liên hệ có ý nghĩa về mặt thống kê đến việc quyết định đọc sách của độc, giúp
hình thành giả thuyết H2: Đặc điểm sinh viên tác động tích cực đến thói quen
đọc sách của sinh viên
Sinh viên ít đọc sách thường ở gia đình ít có sự quan tâm đối việc đọc sách thấp (Al-Nafisah & Al-Shorman, 2011) và gia đình là có vai trò cốt lõi trong việc khuyến khích con trẻ đọc sách (Hakan, 2011) là kết luận để xây dựng giả thuyết
H3a: Môi trường ở nhà tác động tích cực đến thói quen đọc sách của sinh viên
Học sinh thích được bạn bè tôn trọng vì đọc sách, trường học nên có những hoạt động nói về tác giả và tác phẩm hoặc tổ chức những hội chợ về sách (Hakan,
2011) là yếu tố xác lập giả thuyết H3b: Môi trường ở lớp tác động tích cực đến
thói quen đọc sách của sinh viên
Thói quen đọc sách tự nguyện có thể được thúc đẩy bởi thủ thư nếu họ giới thiệu cho học sinh những tài liệu mình thích và học sinh đánh giá cao lời giới thiệu sách của thủ thư (McKool, 2007), thảo luận rộng rãi là một chiến lược thúc đẩy việc đọc ở tất cả các cấp học (Nathanson, Pruslow & Levitt, 2008) là những kết
luận để xây dựng giả thuyết H3c: Môi trường ở trường tác động tích cực đến
thói quen đọc sách của sinh viên
Sinh viên sư phạm không đọc nhiều vì người xung quanh mình ít đọc (Mokhtari, Reichard & Gardne, 2009) và thói quen đọc sách suốt đời là một quá trình liên tục, bắt đầu ở nhà, được tăng cường một cách có hệ thống ở trường học, và đươc giữ gìn trong cuộc đời thông qua môi trường văn hóa và ảnh hưởng của giáo dục cộng đồng và thư viện công cộng (Bamberger, 1975) được dùng để hình thành
giả thuyết H3d: Môi trường xã hội tác động tích cực đến thói quen đọc sách
của sinh viên
Tác giả Oyewumi & Ebijuwa (2009) kết luận sinh viên không đọc nhiều vì không có thời gian, thời gian đó được sinh viên dùng để sử dụng máy tính và internet, và theo tác giả Bratović, Tadić, Miočić, Gardijan & Srećko (2010), đa phương tiện đặc biệt là internet đang trở thành một phần quan trọng của cuộc
Trang 36sống sinh viên là nhân tố góp phần hình thành giả thuyết H3e: Môi trường thế
giới ảo tác động tiêu cực đến thói quen đọc sách của sinh viên
Dökmen (1994) lý do sinh viên không đọc sách vì giá sách cao Sách giáo trình được phân công tham khảo cho sinh viên có chủ đề khó đọc, dùng ngôn ngữ không thông dụng và không có sự phân chia trình độ là yếu tố làm giảm thói quen đọc sách ở sinh viên trường đại học kỹ thuật (Smithies, 1983), khó tìm được sách là yếu tố làm giảm việc đọc ở người dân Nam Phi (South African
book development council, 2006) là những nền móng của giả thuyết H4: Đặc
điểm tài liệu tác động tiêu cực đến thói quen đọc sách của sinh viên
Đặc trưng nhân khẩu học của sinh viên ĐHBK là cơ sở để xây dựng giả thuyết
H5a: Có sự khác biệt về thói quen đọc sách giữa những khoa khác
nhau
H5b: Có sự khác biệt về thói quen đọc sách giữa những sinh viên học ở
những năm khác nhau
H5c: Có sự khác biệt về thói quen đọc sách giữa những sinh viên có
điểm trung bình khác nhau
Kiểm định yếu tố giới tính và thói quen đọc sách của học sinh, tác giả Kennedy (2008) kết luận nữ đọc sách nhiều hơn nam Phụ nữ đọc sách nhiều hơn nam là
kết luận của tổ chức NEA (2004) Từ đó hình thành giả thuyết H5d: Có sự khác
biệt về thói quen đọc sách giữa nam và nữ
Tổng hợp những mô hình nghiên cứu đã thực hiện và tham khảo mô hình nghiên cứu của Park & Osborne (2007) làm mô hình ý tưởng, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu thói quen đọc sách gồm 4 nhóm nhân tố giảng viên, đặc điểm sinh viên, môi trường xung quanh và đặc tính của tài liệu Bốn nhóm nhân tố này sẽ khảo sát
và kiểm định về độ tin cậy Điểm mới của mô hình nghiên cứu này là xây dựng mô hình hoàn chỉnh với cả 4 nhóm nhân tố và kiểm định tất cả các nhân tố đó trong mô hình Trên cơ sở mô hình nghiên cứu, chương này cũng phát biểu những giả thuyết nghiên cứu Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định những giả thuyết đã xây dựng
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu định tính dùng để khám phá và tìm ra mô hình thích hợp cho nghiên cứu này đồng thời tìm kiếm những biến độc lập còn thiếu trong mô hình mà có thể ảnh hưởng lớn đến mô hình nghiên cứu Nghiên cứu định tính được thực hiện qua 2 giai đoạn: nghiên cứu những lý thuyết đang có và phỏng vấn sâu Sau khi nghiên cứu định tính xong sẽ thực thiện nghiên cứu định lượng để kiểm định các biến trong
mô hình đã đề xuất
3.1.1 Nghiên cứu định tính
3.1.1.1 Nghiên cứu bàn giấy
Nghiên cứu bàn giấy (Desk research) được thực hiện bằng cách tham khảo các nghiên cứu trước nhằm phục vụ cho việc xác lập một mô hình hoàn chỉnh cho nghiên cứu Mô hình của Park & Osborne (2007) được chọn là mô hình lý tưởng để tham khảo hình thành mô hình nghiên cứu Các nghiên cứu tham khảo là các nghiên cứu về thói quen đọc sách của học sinh - sinh viên trên thế giới Những nghiên cứu
đã thực hiện được tham khảo để hình thành những biến khảo sát của những nhóm nhân tố Nghiên cứu thống kê của Mỹ và Canada được tham khảo trong quá trình thiết kế thang đo Kết quả nghiên cứu bàn giấy là mô hình nghiên cứu được tác giả
đề xuất và được trình bày chi tiết trong phần cơ sở lý thuyết
3.1.1.2 Phỏng vấn sâu
Nghiên cứu khám phá cũng được thực hiện bằng cách phỏng vấn sâu 5 sinh viên
của trường Đại học Bách Khoa (Danh sách được trình bày ở Phụ lục A) Các câu
hỏi phỏng vấn là không có cấu trúc Sinh viên được hỏi diễn tả các cảm nghĩ, nhận xét, thái độ, nhận thức của mình đối với thói quen đọc sách Các bạn sinh viên sẽ được hỏi về các yếu tố cá nhân, môi trường và thói quen đọc sách, thái độ, cảm tình…và những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến thói quen đọc sách của mình Các yếu tố trên sẽ được tổng hợp và so sánh với mô hình đề nghị Nếu có những nhân tố mới có ảnh hưởng nhiều đến thói quen đọc sách, nhân tố đó sẽ được đưa vào mô hình nghiên cứu
3.1.2 Nghiên cứu định lượng
Kết quả nghiên cứu bàn giấy là một mô hình nghiên cứu phù hợp với đề tài Từ mô hình này sẽ hình thành những biến độc lập và phụ thuộc cần đo lường phục vụ cho việc đánh giá và kiểm định mô hình Bảng câu hỏi, đã được xây dựng từ nghiên cứu
Trang 38bàn giấy và phỏng vấn sâu, sẽ được phân phát cho từng sinh viên ĐHBK để trả lời Sau đó dữ liệu thu được của bảng câu hỏi sẽ được mã hóa và nhập vào thành file dữ liệu SPSS để làm dữ liệu phân tích Dữ liệu định lượng này sẽ được tiếp tục xử lý phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, phân tích hồi quy và phân tích phương sai một yếu tố One-way ANOVA bằng phần mềm SPSS
3.1.3 Quy trình nghiên cứu
Xây dựng cơ sở và sự cần thiết của đề tài
Xác định mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng mô hình của nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cho phù hợp với đề tài
Thu thập dữ liệu
Phân tích và diến dịch dữ liệu
Báo cáo kết quả
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
3.2.1 Biến mô tả mẫu
Biến mô tả dùng để mô tả đặc điểm của đối tượng được khảo sát, biến này cũng được dùng làm biến kiểm soát khi so sánh các nhóm khác nhau
Khoa – ngành đang học: thang đo chỉ danh
Điểm trung bình: thang đo tỉ lệ
Giới tính: dùng thang đo chỉ danh (Nam-Nữ)
Loại tài liệu đọc thường xuyên: thang đo chỉ danh
Trang 39 Nơi đọc ưa thích: thang đo chỉ danh (Ở nhà, ở trong lớp, ở thư viện trường, ở thư viện công cộng, ở sân trường)
3.2.2 Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc của nghiên cứu là thói quen đọc sách của sinh viên được đo bằng 3 biến: thời gian đọc sách, số lượng sách đọc năm vừa qua và số lượng sách sinh viên đang sở hữu
Thời gian đọc sách hằng ngày: dùng thang đo tỉ lệ
và 5 = hoàn toàn đồng ý Thang đo này xác định thái độ của sinh viên đối với những biến khảo sát
Giảng viên:
Sự khuyến khích và thúc đẩy việc đọc sách ở sinh viên
Sự hướng dẫn sinh viên đọc sách
Tấm gương về đọc của giảng viên
Kiến thức của giảng viên
Trang 40 Thái độ đối với việc đọc sách
Niềm tin của giáo viên về việc đọc sách
Sự chia sẻ kiến thức và niềm đam mê đọc sách
Chỉ định sách đọc trong chuyên ngành cho sinh viên
Đặc điểm sinh viên:
Nhận thức và thái độ đối với việc đọc sách
Mục đích của việc đọc sách
Sự quan tâm đến việc đọc
Thời gian xem truyền hình, phim ảnh giải trí
Thời gian chơi trò chơi điện tử và sử dụng những thiết bị giải trí cầm tay
Môi trường xung quanh: chia thành 5 nhóm
o Thói quen đọc sách của bố
o Sự khuyến khích đọc sách của bố mẹ
o Không gian sống
o Thói quen đọc sách của bạn bè
o Sự thảo luận về sách với bạn bè
o Thư viện công cộng gần nơi ở
o Xã hội đọc hay xã hội nghe nhìn
o Nhà sách gần nơi ở
o Mục đích sử dụng nhà sách và thư viện công cộng
Thế giới ảo:
o Thời gian sử dụng internet
o Thời gian sử dụng điện thoại di động (ĐTDD)
o Mục đích sử dụng điện thoại di động
o Mục đích sử dụng internet