1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng hợp tài liệu địa chất và địa lý giếng khoan, đánh giá lại sơ đồ vị trí giếng khoan thẩm lượng khai thác sớm tại khu vực nam rồng đồi mồi, bồn trũng cửu long

162 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 4,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu: Các thân dầu của mỏ Nam Rồng - Đồi mồi Luận văn gồm: Mở đầu, 5 chương và kết luận kiến nghị Nội dung: Trên cơ sở các tài liệu minh giải lại tài liệu thăm dị địa ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT

-

VÕ TUYẾT HÀI

ĐỀ TÀI:

Tổng hợp tài liệu địa chất và địa vật lý giếng khoan, đánh

giá lại sơ đồ vị trí giếng khoan thẩm lượng – khai thác sớm tại

khu vực Nam Rồng Đồi Mồi, thuộc bồn trũng Cửu Long

Chuyên ngành: Địa Chất Dầu Khí Ứng Dụng

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP.HCM, 01/2012

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Khoa Kỹ Thuật Địa Chất – Dầu Khí nói chung và Bộ Môn Địa Chất – Dầu Khí nói riêng đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt những năm cao học

Tôi xin chân thành cám ơn TSKH HOÀNG ĐÌNH TIẾN đã hướng dẫn tôi làm

đề tài này

Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các kỹ sư, chuyên viên phòng

Dự Án Mới, Địa Chất Mỏ, Thăm Dò thuộc Viện NCKH&TK, phòng Địa Chất và Khai Thác Mỏ - BMĐH, Xí Nghiệp liên doanh Việt-Nga Vietsovpetro đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong thời gian hoàn thành luận án

XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!

Tp Hồ Chí Minh, 01/2012

Võ Tuyết Hài

Trang 5

Báo cáo gồm 130 trang phần lời, 31 hình vẽ, 18 bảng biểu, và sử dụng tài liệu từ phịng địa chất Mỏ, địa chất thăm dị, phịng địa chất và khai thác Mỏ- BMĐH, Ban Dự Án Mới- Phịng triển khai Dự Án

Các từ khố: Địa tầng, kiến tạo, trữ lượng dầu tại chỗ, khí hồ tan, giếng

khoan, địa vật lý giếng khoan, minh giải, nghiên cứu mẫu lõi, thơng số, đá, tầng, vỉa, mĩng, thân dầu, đứt gãy, mỏ, cấp, trữ lượng, thăm dị địa chấn

Đối tượng nghiên cứu: Các thân dầu của mỏ Nam Rồng - Đồi mồi

Luận văn gồm: Mở đầu, 5 chương và kết luận kiến nghị

Nội dung: Trên cơ sở các tài liệu minh giải lại tài liệu thăm dị địa chấn 3D,

địa vật lý giếng khoan, thử vỉa, nghiên cứu thuỷ động lực, phân tích mẫu lõi, mẫu vụn, chất lưu từ các giếng khoan tiến hành hiệu chỉnh cấu trúc các thân dầu và mỏ, các thơng số tính, đánh giá trữ lượng và khí hồ tan của các tầng, các vỉa và mĩng bằng phương pháp thể tích theo hiện trạng đến năm 2007-2008, và đánh giá, đề xuất lại vị trí các giếng khoan thẩm lượng, hiệu chỉnh lại mạng lưới giếng khoan khai thác nhằm khai thác sớm theo số liệu đến năm 2011

MỞ ĐẦU

Nêu tính cấp thiết, mục tiêu luận văn, nhiệm vụ của đề tài, cơ sở nghiên cứu, giới hạn vùng nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài

CHƯƠNG I: CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT CỦA BỂ CỬU LONG VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NAM RỒNG ĐỒI MỒI CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG IV: MINH GIẢ TÀI LIỆU CỦA KHU VỰC NAM RỒNG ĐỒI MỒI CHƯƠNG V: PHƯƠNG ÁN KHAI THÁC

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết quả nghiên cứu và đề xuất cĩ thể sử dụng để hồn thiện sơ đồ cơng nghệ khai thác, lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn khai thác dầu, kế hoạch khoan khai thác

Trang 6

The report includes 130 pages of words, 31 figures, 18 tables, and use of

geological reports from the office of Geology Department Nipi, Geological

exploration and Development – Operation office( BMDH), New Projects

Department Nipi

The keywords: Stratigraphy, tectonics, oil reserves in place, dissolved gases,

wells, Karota-Logging, interpretation, core studies, parameters, rock, horizons, basement, oil reservior , faults, field, supply, reserves, exploration seismic

Thesis include: Introduction, 5 chapters and conclude recommendations

Contents: On the basis of the Karota interpretation document 3D seismic

exploration, drilling geophysical, reservoir testing, hydrodynamic studies, core analysis, Sample cutting, drilling fluid from the forward adjustment of structures and oil fields, the parameters calculated, evaluated and soluble gas reserves of the reservoirs, layers and basement by the method according to the state to volume in 2007-2008, and evaluation, proposed position of the appraisal wells, corrected wells network operators to exploit the data early in 2011

Conclusion and recommendations

The findings and recommendations can be used to improve field technology plan, planning short and long term oil production, drilling plans.

Trang 7

Tác giả, Võ Tuyết Hài (MSHV: 10360630), học viên cao học chuyên ngành Địa chất Dầu khí Ứng Dụng khóa 2010 xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng dẫn và phản biện của các cán bộ PGS.TSKH Hoàng Đình Tiến, PGS.TS Cù Minh Hoàng, TS Cù Minh Hoàng như đã được nêu trong phiếu chấm luận văn

Luận văn có sử dụng các số liệu thực tế và dựa trên các số liệu của các công trình

mà tác giả đã tham gia nghiên cứu với vai trò đồng tác giả và đã được công bố tại hội nghị khoa học năm 2008 tại Vũng Tàu, đồng thời tuân thủ đúng yêu cầu quản

Trang 8

I.3 ĐỊA TẦNG VÀ THẠCH HỌC CỦA BỂ TRẦM TÍCH CỬU

CHƯƠNG

II

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NAM RỒNG ĐỒI

II.3 ĐỊA TẦNG KHU VỰC RỒNG - NAM RỒNG ĐỒI MỒI 55

CHƯƠNG

Trang 9

III.5 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG VÀ BIỆN LUẬN CÁC THAM SỐ 83

CHƯƠNG

IV

MINH GIẢ TÀI LIỆU CỦA KHU VỰC NAM RỒNG ĐỒI

CHƯƠNG

Trang 10

TT Trang

I.3A

Ảnh đá diorit Định Quán, mẫu lõi GK BH1201, độ sâu

4.014m (a);Granit biotit Cà Ná mẫu lõi GK BH1113, độ

I.3B

(a) Cát kết tập cơ sở của Oligocen dưới GK R8, độ sâu

3.520,4m; (b)Đá gabro-diabas trong GK R8 tại độ sâu

3215m

6

II.4.1 Bản đồ cấu tạo bề mặt mĩng với phân chia các thành phần

IV.2.1 Sơ đồ liên kết tầng Mioxen dưới theo các tuyến giếng khoan

IV.2.2 Sơ đồ liên kết tầng Oligoxen trên theo các tuyến giếng khoan

IV.3.5 Sơ đồ mang tính nguyên tắc phân cấp trữ lượng của thân dầu

Trang 11

mỏ Bạch Hổ

IV.4.2.2 Kết quả phân tích tài liệu ĐVLGK chiều sâu 1720-1820m

IV.4.2.3 Kết quả phân tích tài liệu ĐVLGK chiều sâu 3740-3840m

IV.4.2.4 Bản Đồ Đẳng Dày (a) và Độ Rỗng Hiệu Dụng Chứa Dầu (b)

IV.4.2.5 Bản Đồ Đẳng Dày (a) và Độ Rỗng Hiệu Dụng Chứa Dầu (b)

IV.4.2.6 Bản Đồ Đẳng Dày (a) và Độ Rỗng Hiệu Dụng Chứa Dầu (b)

IV.4.2.7 Kết quả phân tích tài liệu ĐVLGK chiều sâu 3925-4050m

IV.5.1 So sánh giá trị Фh của đá chứa trầm tích theo ĐVLGK

IV.5.2 Phân bố giá trị độ rỗng thứ sinh của đá móngtheo ĐVLGK

trang

Trang 12

TT Trang II.2.1.1

THÔNG TIN LẤY MẪU LÕI Ở GIẾNG KHOAN TRÊN MỎ

II.2.1.2

THÀNH PHẦN KHOÁNG VẬT ĐÁ MÓNG KHU VỰC NAM

II.2.2 KẾT QUẢ THỬ VỈA CÁC GIẾNG KHOAN THĂM DÒ MỎ NAM RỒNG – ĐỒI MỒI 53

GIẾNG KHOAN

Phụ trang

KHOAN PHẦN ĐÁ MÓNG

Phụ trang P.III.2.3 SO SÁNH GIÁ TRỊ ĐỘ RỖNG ĐÁ TRẦM TÍCHXÁC ĐỊNH THEO MẪU VÀ ĐỊA VẬT LÝ GIẾNG KHOAN trang Phụ

KHOAN CỦA ĐÁ TRẦM TÍCH

Phụ trang

GIẾNG KHOAN R20, R25 - MÓNG

Phụ trang

IV.7.2a

THÔNG SỐ TÍNH VÀ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG DẦU TẠI CHỔ, KHÍ HOÀ TAN CỦA CÁC TẦNG SẢN PHẨM TRONG ĐÁ TRẦM TÍCH, NAM RỒNG – ĐỒI MỒI

Phụ trang

Trang 13

IV.7.2b

TẦNG SẢN PHẨM TRONG ĐÁ MÓNG, NAM RỒNG –

ĐỒI MỒI

trang

trang

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Mỏ Nam Rồng Đồi Mồi là một cấu tạo phức tạp bao gồm các đối tượng chứa: Móng không đồng nhất, các vỉa cát ở đáy Oligoxen trên thường lẫn cát hạt mịn và bột nên có tínht hấm chứa kém, các tập cát trong Mioxen dưới là các thấu kính gá

kề, phần nhô caolại phân bố trong phạm vi hẹp Vì vậy công tác thẩm lượng từng đối tượng và đặc biệt chế độ khai thác sẽ rất khó khăn

Vì lý do trên cần tiến minh giải lại tài liệu địa chất – địa chấn, tài liệu đo địa vật lý giếng khoan nhằm chính xác hoá lại trữ lượng và đề xuất hướng điều chỉnh phương án khai thác sớm cho thích hợp để nhằm sớm đưa mỏ vào khai thác là hết sức cần thiết và cấp bách Vì vậy đề tài được đặt ra là:

giếng khoan thẩm lượng – khai thác sớm tại khu vực Nam Rồng Đồi Mồi,

tác giả sẽ góp phần làm sáng tỏ các vấn đề đã nêu

2 Mục tiêu luận văn:

Đánh giá lại trữ lượng và có kế hoạch thẩm lượng của cấu tạo bao gồm Móng

và lớp phủ trầm tích của Nam Rồng Đồi Mồi, đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện sơ đồ thiết kế khai thác của mỏ

3 Nhiệm vụ của luận văn:

• Minh giải lại tài liệu địa chất, địa vật lý giếng khoan, nghiên cứu tài liệu thử vỉa, đánh giá các tầng chứa khu vực giếng khoan Nam Rồng – Đồi Mồi.Tiến hành thẩm lượng các đối tượng chứa dầu, nâng cấp trữ lượng các đới

• Sử dụng các thông số địa vật lý, địa chất, tính toán trữ lượng, đề xuất đánh giá sơ đồ thiết kế khai thác cho mỏ Nam Rồng Đồi Mồi

4 Giới hạn vùng nghiên cứu

Trang 15

Mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi thuộc lô 09.3 bồn trũng Cửu Long

5 Cơ sở tài liệu nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện dựa trên tài liệu địa vật lý giếng khoan(master log, composite log…) và các báo cáo của Viện NCKH&TK được sự cho phép của Liên doanh dầu khí Việt Nga Vietsovpetro nơi nghiên cứu sinh đang làm việc, cùng 1 số tài liệu do Công ty liên doanh VRJ cung cấp

6.Các phương pháp nghiên cứu:

- Minh giải tài liệu địa vật lý giếng khoan ĐM-1X, ĐM-2X và DR20,25 nhằm xác định các thông số vật lý của tầng chứa bằng phần mềm IP 3.5

- Phân tích PVT , phân tích mẫu lõi, vụn mhằm xác định các thông số vỉa

- Đánh giá tài liệu DST, địa chấn 3D, vẽ bản đồ cấu tạo tầng chứa, bình đồ trữ lượng bằng phần mềm GeoFrame và Canvas 11

7.Luận điểm bảo vệ:

- Chính xác hoá lại trữ lượng ở các đối tượng chứa dầu và phân cấp trữ lượng

- Kế hoạch thẩm lượng các đối tượng này

- Dự kiến điều chỉnh phương án khai thác và theo dõi trong quá trình làm việc của chúng nhằm kịp thời xử lý khi có sự khác thường xảy ra

8.Ý nghĩa khoa học- thực tiễn:

Ý nghĩa khoa học: Xây dựng được hệ phương pháp đánh giá các vỉa chứa sản

phẩm và cách điều chỉnh chế độ khai thác tối ưu điểm

Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu toàn bộ tài liệu địa chất, địa vật lý và kết

quả tính toán trữ lượng cho chúng ta khái quát toàn bộ mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi, từ

đó đưa ra sơ đồ khai thác đồng thời với nhiệm vụ nâng cấp trữ lượng (thẩm lượng)

có sự điều chỉnh để hoàn thiện phương án khai thác sớm nhằm phát triển lâu dài cho toàn mỏ và tận thu nguồn tài nguyên của mỏ này

Trang 16

CHƯƠNG I CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT CỦA BỂ CỬU LONG VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

I.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Bồn trũng Cửu Long nằm ở phía Đông Bắc thềm lục địa Nam Việt Nam, với

kéo dài dọc bờ biển từ Phan Thiết đến sông Hậu, có diện tích khoảng 56.000

Bồn trũng Cửu Long là một bồn rift hình thành vào Đệ Tam sớm, có dạng bầu dục, kéo dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, phía Đông Nam được ngăn cách với bồn Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam được ngăn cách với bồn trầm tích vịnh Thái Lan bới khối nâng Korat, phía Tây Bắc nằm trên phần rìa của địa khối Kontum

I.2 LỊCH SỬ TÌM KIẾM, THĂM DÒ DẦU KHÍ

Lịch sử tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở bồn trũng Cửu Long chia làm ba giai đoạn:

Giai đoạn trước 1975:

Là thời kỳ điều tra, tìm kiếm ban đầu do các công ty nước ngoài tiến hành Trong các năm 1967-1968 công ty Alping tiến hành đo 19.500km tuyến địa chấn khu vực thềm lục địa Nam Việt Nam

Những năm 1969-1970, công ty địa vật lý Mandrel tiến hành khảo sát địa chấn với mạng lưới tuyến 30x50 km trong phạm vi bồn Cửu Long Trong thời gian này, công ty Mobil đã phủ mạng lưới tuyến khảo sát địa chấn 8x8 km và 4x4 km trong phạm vi các lô 09 và 16 Năm 1973, công ty Mobil đã phát hiện

Trang 17

dầu khí công nghiệp tại giếng khoan đầu tiên trên cấu tạo Bạch Hổ (BH-1X) Các vỉa dầu thô nằm trong trầm tích tuổi Miocene hạ, thử vỉa cho lưu lượng 2.400 thùng/ngày đêm

Giai đoạn 1975 – 1980:

Năm 1978 công ty Geco (Nauy), tiến hành đo mạng lưới địa chấn 8x8 km và 4x4 km và khảo sát chi tiết mạng lưới 2x2km, 1x1 km trên khu vực lô 9 và 16 Năm 1979, công ty Deminex (Tây Đức), đã tiến hành nghiên cứu cấu trúc địa chất cũng như đánh giá triển vọng dầu khí lô 15 khá tỉ mỉ

Giai đoạn 1981 đến nay:

Năm 1980, liên doanh dầu khí Vietsovpetro được thành lập gắn liền với việc tìm kiếm thăm dò và khai thác mỏ Bạch Hổ, Rồng

Năm 1984, liên đoàn địa vật lý Thái Bình Dương của Liên Xô đã tiến hành khảo sát khu vực một cách chi tiết với các mạng lưới như sau:

Mạng lưới tuyến 2x2km ở các cấu tạo Bạch Hổ, Rồng, Tam Đảo

Mạng lưới tuyến 1x1km ở các cấu tạo Rồng, Tam Đảo , khu vực lô 15 Mạng lưới 0.5x0.5km ở cấu tạo Bạch Hổ

Sự kiện đáng nhớ là liên doanh Vietsovpetro đã phát hiện dầu thô trong đá móng phong hóa, nứt nẻ granitoid trên cấu tạo Bạch Hổ (26/6/1986); và trong đá phun trào trên cấu tạo Rồng Phát hiện này mở ra những đối tượng tiềm năng rất lớn của bồn Cửu Long

Cho đến nay đã có thêm 4 mỏ được đưa vào khai thác : Rồng (12/1994), Rạng Đông (8/1998), Ruby (10/1998), Sư Tử Đen (10/2003) Bên cạnh đó, các công ty dầu khí đang hoạt động ở bồn Cửu Long như Vietsovpetro, Cửu Long JOC,

Trang 18

Petronas, JVPC, Conoco Ltd, Hoàng Long JOC, Hoàn Vũ JOC, đang tiếp tục khoan thêm các giếng khoan mới, và đã có những phát hiện quan trọng như Sư Tử Trắng, Sư Tử Vàng (Lô 15.1-Cửu Long JOC), Cá Ngừ Vàng (10/2002-Lô 09.2-Hoàn Vũ JOC)…đồng thời có thêm nhiều công ty nước ngoài đang đàm phán để ký kết hợp đồng với tổng công ty dầu khí Việt Nam

Hình I.1 Vị trí bể Cửu Long

Trang 19

I.3 ĐỊA TẦNG VÀ THẠCH HỌC CỦA BỂ TRẦM TÍCH CỬU LONG

Ở bể Cửu Long cho đến nay đã khoan hàng trăm giếng khoan sâu vào móng trước Kainozoi tại nhiều vị trí khác nhau trên toàn bể Về mặt thạch học đá móng có thể xếp thành 2 nhóm chính: granit và granodiorit - diorit, ngoài ra còn gặp đá biến chất và các thành tạo núi lửa So sánh kết quả nghiên cứu các phức hệ magma xâm nhập trên đất liền với đá móng kết tinh ngoài khơi bể Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối có thể xếp tương đương với 3 phức hệ: Hòn Khoai, Định Quán và Cà Ná (Hình I.3.1)

A Móng trước Kainozoi

Phức hệ Hòn Khoai có thể được xem là phức hệ đá magma cổ nhất trong

móngcủa bể Cửu Long, phức hệ có tuổi Trias muộn, tương ứng khoảng 195 đến

250 tr.năm Phần lớn các khe nứt đã bị lấp đầy bởi khoáng vật thứ sinh: epidot-zeolit Đá có thể phân bố chủ yếu ở phần cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ Bạch Hổ

calcit-Phức hệ Định Quán gặp khá phổ biến ở nhiều cấu tạo Bạch Hổ (vòm Bắc), Ba

Vì, Tam Đảo và Sói Ở các mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen và Sư Tử Vàng (ở phía Bắc bể), chủ yếu là đá granodiorit, đôi chỗ gặp monzonit-biotit- thạch anh đa sắc Đá thuộc loại kiềm vôi, có thành phần axit vừa phải SiO 2 dao động 63-67% Các thành tạo của phức hệ xâm nhập này có mức độ giập vỡ và biến đổi cao Hầu hết các khe nứt đều được lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh: calcit, zeolit, thạch anh và clorit.Trong đới biến đổi mạnh biotit thường bị clorit hoá Phức hệ ĐịnhQuán có tuổi Jura, tuổi tuyệt đối dao động từ 130 đến 155tr năm.(Hình I.3Aa và I.3Ab)

Phức hệ Cà Ná là phức hệ magma phát triển và gặp phổ biến nhất trên toàn bể

Cửu Long Phức hệ đặc trưng là granit thuỷ mica và biotit, thuộc loại Natri-Kali,

Trang 20

dư nhôm (Al=2.98%), Si (~69%) và ít Caxit có tuổi tuyệt đối khoảng 65-100 tr năm, thuộc Jura muộn và creta Các khối granitoid phức hệ magma xâm nhập này thành tạo đồng tạo núi và phân bố dọc theo hướng trục của bể Đá bị giập vỡ, nhưng mức độ biến đổi thứ sinh yếu hơn so với hai phức hệ vừa nêu Trong mặt cắt đá magma xâm nhập đã biết thường gặp các đai mạch có thành phần thạch học khác

nhau từ axit đến trung tính - bazơ , bazơ và thạch anh.Tại một số nơi, như khu vực mỏ Rồng còn gặp đá biến chất nhiệt động kiểu paragneishoặc orthogneis Các đá này thường có mức độ giập vỡ và biến đổi kém hơn so với đá xâm nhập

B Trầm tích Kainozoi

Paleogen -Eocen- Hệ tầng Cà Cối (E 2 cc)

Hệ tầng này được phát hiện tại giếng khoan CL-1X trên đất liền, nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ ở những phần chìm sâu của bể, nơi mà chúng có thể tồn tại Hệ tầng đặc trưng bởi trầm tích vụn thô: cuội sạn kết, cát kết đa khoáng, xen các lớp mỏng bột kết và sét kết hydromica-clorit-sericit Trầm tích Hình I.3A: Ảnh đá diorit Định Quán, mẫu lõi GK BH1201, độ sâu 4.014m (a); Granit biotit Cà Ná mẫu lõi GK BH1113, độ sâu 3.886,4m (b)

Trang 21

có mầu nâu đỏ, đỏ tím, tím lục sặc sỡ với độ chọn lọc rất kém, đặc trưng kiểu molas lũ tích lục địa thuộc các trũng trước núi Creta-Paleocen-Eocen Các bào tử phấn phát hiện được trong mặt cắt này như:

Klukisporires,Triporopollenites,Trudopollis, Plicapolis, Jussiena, v.v thuộc

nhóm thực vật khô cạn thường phổ biến trong Eocen Mặt cắt của hệ tầng được xếp tương ứng với tập CL7 của tài liệu địa chấn Chiều dày hệ tầng có thể đạt tới

600m

(a) (b)

Oligocen dưới-Hệ tầng Trà Cú (E 3 1 tc)

Hệ tầng Trà Cú đã xác lập ở giếng khoan (GK) Cửu Long-1X và nhiều giếng khoan ở bể Cửu Long Trầm tích gồm chủ yếu là sét kết, bột kết và cát kết, có chứa các vỉa than mỏng và sét vôi, được tích tụ trong điều kiện sông hồ Đôi khi gặp các đá núi lửa, thành phần chủ yếu là porphyr diabas, tuf basalt, và gabro-diabas Chiều dày của hệ tầng tại phần trũng sâu, phần sườn các khối nâng Trung tâm như Bạch Hổ, Rồng và Sư Tử Trắng có thể đạt tới 500 m Liên kết với tài liệu địa chấn thì hệ tầng nằm giữa mặt phản xạ địa chấn CL60 và CL70, thường là mặt phản xạ móng kết tinh CL80, thuộc tập địa chấn CL6 Tuổi

Hình I.3 B (a) Cát kết tập cơ sở của Oligocen dưới GK R8, độ

sâu 3.520,4m; (b)Đá gabro-diabas trong GK R8 tại độ sâu 3215m

Trang 22

của hệ tầng theo phức hệ bào tử phấn (Oculopollis, Magnastriatites) được xác

định là Paleogen, Oligocen sớm Theo đặc trưng tướng đá hệ tầng được chia thành 2 phần: trên và dưới

Phần trên chủ yếu là các thành tạo mịn còn phần dưới là thành tạo thô Giữa

2 phần là ranh giới chỉnh hợp tương ứng với mặt phản xạ địa chấn CL61

Hệ tầng Trà Cú có tiềm năng chứa và sinh dầu khí khá cao Các vỉa cát kết của hệ tầng là các vỉa chứa dầu khí chủ yếu trên mỏ Đông Nam Rồng, Sư Tử Trắng và là đối tượng khai thác thứ hai sau móng nứt nẻ trên mỏ Bạch Hổ.Chiều dày của hệ tầng dao động từ 0 đến 800 m (Hình I.3B,a)

Oligocen trên -Hệ tầng Trà Tân (E 3 3 tt)

Hệ tầng Trà Tân được xác lập ở GK15A-1X Đá của hệ tầng Trà Tân đôi chỗ nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Trà Cú Mặt cắt hệ tầng có thể chia thành ba phần khác biệt nhau về thạch học Phần trên gồm chủ yếu là sét kết màu nâu - nâu đậm, nâu đen, rất ít sét màu đỏ, cát kết và bột kết, tỷ lệ cát/sét khoảng 35- 50% Phần giữa gồm chủ yếu là sét kết nâu đậm, nâu đen, cát kết và bột kết, tỷ lệ cát/ sét khoảng 40- 60% (phổ biến khoảng 50%), đôi nơi có xen các lớp mỏng đá vôi, than Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết hạt mịn đến thô, đôi chỗ sạn, cuội kết, xen sét kết nâu đậm, nâu đen, bột kết, tỷ lệ cát/sét thay đổi trong khoảng rộng từ 20-50% Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ chủ yếu trong môi trường đồng bằng sông, aluvi - đồng bằng ven bờ và hồ Các thành tạo núi lửa tìm thấy

ở nhiều giếng khoan thuộc các vùng Bạch Hổ, Bà Đen, Ba Vì, đặc biệt ở khu vực lô 01 thuộc phía Bắc đới Trung tâm với thành phần chủ yếu là andesit, andesit-basalt, gabro-diabas với bề dày từ vài mét đến 100m (Hình 9.15) Liên kết với tài liệu địa chấn cho thấy nóc hệ tầng Trà Tân tương ứng tập địa chấn CL50 và 3 phần mặt cắt ứng với ba tập địa chấn CL5-3 (phần dưới), CL5-2 (phần

Trang 23

giữa) và CL5-1 (phần trên) Ranh giới giữa các tập địa chấn nêu trên đều là bất chỉnh hợp Theo tài liệu địa chấn, bề dày của tập CL5-3 thay đổi từ 0 - 2.000m, thường trong khoảng 200 - 1.000m; Tập CL5-2 từ 0m đến hơn 1.000m (thường trong khoảng 400 - 1.000m); Tập CL5-1 từ 0-400m (thườngtrong khoảng 200 - 400m) Sét kết của hệ tầng Trà Tân có hàmlượng và chất lượng vật chất hữu cơ caođến rất cao đặc biệt là tầng Trà Tân giữa, chúng là những tầng sinh dầu khí tốt ở bể Cửu Long đồng thời là tầng chắn tốt cho tầng đá móng granit nứt nẻ Tuy tầng cátkết nằm xen kẹp có chất lượng thấm, rỗng và độ liên tục thay đổi từ kém đến tốt, nhưng cũng là đối tượng tìm kiếm đáng lưu ý ở bể Cửu Long Trong mặt

cắt hệ tầng đã gặp những hoá thạch bào tử phấn:F Trilobata, Verutricolporites,

Cicatricosiporites, xác định tuổi Oligocen muộn, nhưng cũng có tác giả cho rằng

các thành tạo hệ tầng Trà Tân (Hình I.3B,b)

Neogen-Miocen dưới-Hệ tầng Bạch Hổ (N 1 1 bh)

Hệ tầng Bạch Hổ được xác lập ở giếng khoan BH-1X Hệ tầng Bạch Hổ có thể chia thành hai phần: Phần trên gồm chủ yếu là sét kết màu xám, xám xanh xen kẽ với cát kết và bột kết, tỷ lệ cát, bột kết tăng dần xuống dưới (đến 50%) Phần trên cùng của mặt cắt là tầng “sét kết Rotalid” bao phủ toàn bể, chiều dày thay đổi trong khoảng từ 50m đến 150m Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết, bột kết (chiếm trên 60%), xen với các lớp sét kết màu xám, vàng, đỏ Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ trong môi trường đồng bằng aluvi - đồng bằng ven bờ

ở phần dưới, chuyển dần lên đồng bằng ven bờ - biển nông ở phần trên Đá núi lửa đã được phát hiện thấy ở nhiều giếng khoan thuộc lô 01 ở phía Bắc bể, chủ yếu là basalt và tuf basalt, bề dày từ vài chục mét đến 250m Hệ tầng Bạch Hổ có chiều dày thay đổi từ 100 - 1.500m (chủ yếu trong khoảng từ 400 - 1.000m) Các trầm tích của hệ tầng phủ không chỉnh hợp góc trên các trầm tích của hệ

Trang 24

tầng Trà Tân Theo tài liệu địa chấn thì hệ tầng này thuộc tập địa chấn CL4-1 và CL4-2, nằm kẹp giữa 2 mặt phản xạ địa chấn CL40 và CL50 Tầng sét kết chứa Rotalia là tầng đá chắn khu vực ở phần phía bắc của bẻ Cửu Long Các vỉa cát xen kẽ nằm trong và ngay dưới tầng sét kết Rotalia và ở phần trên của phía dưới mặt cắt có khả năng thấm chứa khá tốt, chúng là đối tượng tìm kiếm quan trọng thứ ba ở bể Cửu Long Dầu hiện cũng đang được khai thác từ các tầng cát này như ở mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bạch Hổ và sắp tới là Sư Tử Đen (Hình 9.16)

Trong mặt cắt hệ tầng đã gặp những hoá thạch bào tử phấn:F levipoli,

Magnastriatites, Pinuspollenites Alnipollenites và ít vi cổ sinh Synedra

fondaena Đặc biệt trong phần trên của mặt cắt hệ tầng này, tập sét màu xám lục

gặp khá phổ biến hoá thạch đặc trưng nhóm Rotalia: Orbulina

universa,Ammoniasp., nên chúng được gọi là tập sét Rotalid

Miocen giữa-Hệ tầng Côn Sơn (N 1 2 cs)

Hệ tầng Côn Sơn được xác lập ở giếng khoan 15B-1X Hệ tầng Côn Sơn gồm chủ yếu cát kết hạt thô-trung, bột kết (chiếm đến 75-80%), xen kẽ với các lớp sét kết màu xám, nhiều màu dày 5-15m, đôi nơi có lớp than mỏng Bề dày hệ tầng thay đổi từ 250 - 900m Trầm tích của hệ tầng được thành tạo trong môi trường sông (aluvi) ở phía Tây, đầm lầy - đồng bằng ven bờ ở phía Đông, Đông Bắc Các thành tạo của hệ tầng Côn Sơn phủ không chỉnh hợp góc yếu trên các trầm tích của hệ tầng Bạch Hổ (?) Trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang hoặc uốn nhẹ theo cấu trúc bề mặt nóc hệ tầng Bạch Hổ, nghiêng thoải về Đông và Trung tâm bể, không bị biến vị Liên kết với tài liệu địa chấn mặt cắt hệ tầng thuộc tập địa chấn CL3 nằm kẹp giữa hai mặt phản xạ địa chấn CL30 và CL40 Tuy đá hạt thô của hệ tầng có khả năng thấm, chứa tốt, nhưng chúng lại nằm trên tầng chắn khu vực (sét kết Rotalia) nên hệ tầng này và các hệ tầng trẻ hơn

Trang 25

của bể xem như triển vọng chứa dầu khí kém Trong mặt cắt hệ tầng gặp phổ

biến các bào tử phấn: F Meridionalis, Plorschuetzia ,levipoli, Acrostichum,

Compositea và các trùng lỗ, rong tảo như hệ tầng Bạch Hổ

Miocen trên-Hệ tầng Đồng Nai (N 1 3 đn)

Hệ tầng Đồng Nai được mở ở giếng khoan 15G-1X Tuổi của hệ tầng được

xác định theo tập hợp phong phú bào tử và Nannoplakton: Stenoclaena Palustris

Carya, Florschuetzia Meridionalis, nghèo hoá đá foraminifera Hệ tầng Đồng Nai

chủ yếu là cát hạt trung xen kẽ với bột và các lớp mỏng sét màu xám hay nhiều màu, đôi khi gặp các vỉa carbonat hoặc than mỏng, môi trường trầm tích đầm lầy

- đồng bằng ven bờ ở phần Tây bể, đồng bằng ven bờ - biển nông ở phần Đông và Bắc bể Bề dày của hệ tầng thay đổi trong khoảng từ 500 - 750m Các trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang, nghiêng thoải về Đông và không bị biến vị Liên kết với tài liệu địa chấn thì hệ tầng Đồng Nai nằm kẹp giữa 2 tầng phản xạ địa chấn CL20 và CL30, tương ứng với tập địa chấn CL2

Pliocen - Đệ Tứ-Hệ tầng Biển Đông (N 2 -Q bđ)

Hệ tầng Biển Đông chủ yếu là cát hạt trung-mịn với ít lớp mỏng bùn, sét màu xám nhạt chứa phong phú hóa đá biển và glauconit thuộc môi trường trầm tích biển nông, ven bờ, một số nơi có gặp đá carbonat Chúng phân bố và trải đều khắp toàn bể, với bề dày khá ổn định trong khoảng 400 – 700m Trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang, nghiêng thoải về Đông và không bị biến vị Liên kết với tài liệu địa chấn thì hệ tầng Biển Đông là tương ứng với tập địa chấn CL1 Trong mặt cắt của hệ tầng gặp khá phổ biến các hoá đá foraminifera:

Pseudorotalia,Globorotalia, Dạng rêu (Bryozoar), Molusca, san hô, rong tảo và

bào tử phấn: Dacrydium, Polocarpus imbricatus

Trang 27

I.4 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC BỂ TRẦM TÍCH CỬU LONG

Trũng Đông Bắc: đây là trũng sâu nhất, chiều dày trầm tích có thể đạt tới

8km Trũng có phương kéo dài dọc theo trục chính của bể, nằm kẹp giữa hai đới nâng và chịu khống chế bởi hệ thống các đứt gãy chính hướng ĐB-TN

Trũng Tây Bạch Hổ Trong một số tài liệu trũng này được ghép chung với

trũng Đông Bắc Tuy nhiên, về đặc thù kiến tạo giữa 2 trũng có sự khác biệt đáng kể đặc biệt là phương của các đứt gãy chính Trũng Tây Bạch Hổ bị khống chế bởi các đứt gãy kiến tạo có phương ĐB-TN ở nửa Đơng Bắc và á vĩ tuyến ở nửa phía Tây Nam, tạo sự gấp khúc của bể Chiều dày trầm tích của trũng này có thể đạt tới 6.5 km

Trũng Đông Bạch Hổ nằm kẹp giữa đới nâng Trung Tâm về phía Tây, sườn

nghiêng Đông Nam về phía Đ-ĐN và đới nâng Đông Bắc về phía Bắc Trũng có chiều dày trầm tích đạt tới 7 km và là một trong ba trung tâm tách giãn của bể

Sườn nghiêng Tây Bắc : là dải sườn bờ Tây Bắc của bể kéo dài theo hướng

ĐB-TN, chiều dày trầm tích tăng dần về phía Tây Nam từ 1 đến 2.5 km Sườn nghiêng bị cắt xẻ bởi các đứt gãy kiến tạo có hướng ĐB-TN hoặcTB-ĐN, tạo

thành các mũi nhô Trầm tích Đệ Tam của bể thường có xu hướng vát nhọn và gá

đáy lên móng cổ granitoid trước Kainozoi

Sườn nghiêng Đông Nam : là dải sườn bờ Đông Nam của bể, tiếp giáp với

đới nâng Côn Sơn Trầm tích của đới này có xu hướng vát nhọn và gá đáy với chiều dày dao động từ 1 đến 2.5 km Sườn nghiêng này cũng bị phức tạp bởi các đứt gãy kiến tạo có phương ĐB TN và á vĩ tuyến tạo nên các cấu tạo địa phương như cấu tạoAmethyst, Cá Ông Đôi, Opal, Sói, bên cạnh các bán địa hào

Trang 28

Đới nâng Trung Tâm là đới nâng nằm kẹp giữa hai trũng Đông và Tây Bạch

Hổ và được giới hạn bởi các đứt gãy có biên độ lớn với hướng đổ chủ yếu về phía Đông Nam Đới nâng bao gồm các cấu tạo dương và có liên quan đến những khối nâng cổ của móng trước Kainozoi như: Bạch Hổ, Rồng Các cấu tạo bị chi phối không chỉ bởi các đứt gãy thuận hình thành trong quá trình tách giãn, mà

Hình I.4.1 Bản đồ cấu trúc mặt móng bể Cửu Long

Trang 29

còn bởi các đứt gãy trượt bằng và chờm nghịch do ảnh hưởng của sự siết ép vào Oligocen muộn

Đới nâng phía Tây Bắc nằm về phía Tây Bắc trũng Đông Bắc và được khống

chế bởi các đứt gãy chính phương ĐB-TN Về phía TB đới nâng bị ngăn cách với sườn nghiêng Tây Bắc bởi một bán địa hào nhỏ có chiều dày trầm tích khoảng 6 km Đới nâng bao gồm cấu tạo Vừng Đông, Hải Sư Đen và dải nâng kéo dài về phía Đông Bắc

Đới nâng phía Đông chạy dài theo hướng ĐB-TN, phía TB ngăn cách với

trũng ĐB bởi hệ thống những đứt gãy có phương á vĩ tuyến và ĐB-TN, phía ĐN ngăn cách với đới phân dị Đông Bắc bởi võng nhỏ, xem như phần kéo dài của trũng Đông Bạch Hổ về phía ĐB Trên đới nâng đã phát hiện được các cấu tạo dương như: Rạng Đông, Phương Đông và Jade bị khép kín bởi các địa hào ở phía Đông và trũng Bắc Bạch Hổ

Đới phân dị Đông Bắc (phần đầu Đông Bắc của bể) nằm kẹp giữa đới nâng

Đông Phú Quý và sườn nghiêng Tây Bắc Đây là khu vực có chiều dày trầm tích trung bình và bị phân dị mạnh bởi các hệ thống đứt gãy có đường phương ĐB-

TN, á kinh tuyến và á vĩ tuyến tạo thành nhiều địa hào, địa luỹ nhỏ (theo bề mặt móng) Một số các cấu tạo dương địa phương đã xác định như: Hồng Ngọc, Pearl, Turquoise, Diamond, Agate, phần lớn bị kẹp bởi các bán địa hào và các nhánh phía Đông Bắc của trũng Bắc Bạch Hổ

Đới phân dị Tây Nam nằm về đầu Tây Nam của trũng chính Khác với đới

phân dị ĐB, đới này bị phân dị mạnh bởi hệ thống những đứt gãy với đường phương chủ yếu là á vĩ tuyến tạo thành những địa hào, bán địa hào

I.5 HỆ THỐNG ĐỨT GÃY CỦA BỒN CỬU LONG:

Được chia thành 4 nhóm chính, cơ bản theo các phương: Đông Bắc -Tây Nam,

Trang 30

Đông -Tây, Bắc - Nam và các đứt gãy nhỏ theo các phương khác nhau Phần lớn các đứt gãy quan trọng trong bồn Cửu Long là các đứt gãy thuận, kế thừa từ móng và phát triển đồng trầm tích Hầu hết các đứt gãy biến mất ở Oligocene thượng Hai hệ thống đứt gãy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam và Đông- Tây là hai hệ thống chủ đạo, khống chế lịch sử phát triển địa chất và các yếu tố cấu trúc chính của bồn Cửu Long Hệ thống đứt gãy Đông Bắc -Tây Nam gắn liền với giai đoạn tạo rift và là yếu tố chính khống chế đới cao trung tâm Rồng-Bạch Hổ Hệ thống đứt gãy Đông-Tây có tuổi trẻ hơn phân cắt hệ thống đứt gãy trước, nhiều nơi thấy rõ sự dịch chuyển ngang Đông-Tây Một điểm lưu ý là bức tranh cấu trúc ở nơi gặp giữa các đứt gãy Đông-Tây với đới cao trung tâm, đặc biệt là

ở phía Tây cấu tạo Bạch Hổ, ở đây xảy ra quá trình nén ép cục bộ và xuất hiện một số đứt gãy chờm nghịch

I.6 CÁC YẾU TỐ CỦA TẦNG CẤU TRÚC

Trên cơ sở tài liệu địa chất và địa chấn, bản đồ, Karota được phân bố trên hầu hết các lơ của bể Cửu Long cĩ thể thấy rõ hai tầng cấu trúc: tầng cấu trúc dưới

là đá cổ cĩ tuổi trước Kainozoi và tầng cấu trúc trên là các lớp trầm tích phủ bất chỉnh hợp lên các khối nhơ cổ

1.6.1 Tầng cấu trúc dưới: bao gồm các khối nâng đá mĩng cổ cĩ tuổi Mesozoi Thành phần thạch học là các đá magma granit, granit 2 mica,sienit, granodiorit, diorit, sét phiến, gneiss, granitgneiss và amphibolite…

Tầng cấu trúc này là các khối tảng bị phân cách bởi hệ thống các đứt gãy Đơng Bắc – Tây Nam, Đơng Tây, Tây Bắc – Đơng Nam Chúng tái hoạt động nhiều lần và xảy ra chủ yếu ở phần mĩng của bể trầm tích Tuy nhiên các hoạt động này chủ yếu xảy ra ở các khối nhơ mĩng, các đới nâng bị bào mịn phá hủy, phân hĩa bề mặt khi chúng nhơ lên khỏi mặt đất

Đặc điểm của đá ở các khối nhơ của tầng cấu trúc này là chứa dầu, khí

và thậm chí cả condensat v.v…

Trang 31

1.6.2 Tầng cấu trúc trên: bao gồm các lớp phủ trầm tích Kainozoi Trên cơ

sở bất chỉnh hợp góc, dựa vào sự phân bố của các lớp trầm tích, thời gian hoạt động của các hệ thống đứt gãy và thành phần thạch học có thể chia thành ba phụ

1.6.2.1 Phụ tầng cấu trúc dưới: trên cơ sở tài liệu địa chất - địa chấn, giếng khoan thì phụ tầng cấu trúc dưới (tập địa chấn F+E hay SH11+12) bao gồm các lớp trầm tích Eocene muộn và Oligocene sớm phân bố chủ yếu ở các địa hào hẹp tuyến tính và sâu có hướng Đông Bắc – Tây Nam

Các lớp trầm tích thường dày ở các cửa sông suối và sườn dốc, nhưng bề dày không duy trì trên diện rộng Các lớp trầm tích phân bố xiên ché, phủ chồng,

gá kề vào các khối nhô móng hay các sườn dốc

Đặc điểm trầm tích hạt mịn, hạt khô xen kẽ liên tục có độ bào tròn kém và mang tính lục địa đầm hồ, phân bố hổn độn cho thấy vào thời gian này sông suối

Hình I.6.1 Mặt cắt tầng cấu trúc BB’ dọc bể Cửu Long

Trang 32

ngắn, dốc, nguồn vật liệu rất gần các hồ nước ngọt cũng như vùng đầm lầy ven biển gần vùng năng lượng cao

Điểm đặc biệt là các pha hoạt động kiến tạo mạnh và nhiều pha tái hoạt động nhiều lần phân cắt các khối đá móng và các lớp trầm tích thành nhiều khối riêng biệt Cuối Oligocene sớm về cơ bản hoạt động kiến tạo căng giãn, nén ép đều ngưng hoạt động nên hệ thống đứt gãy chính chỉ đạt tới mái của tập trầm tích Oligocene dưới (mái tập E - SH11)

1.6.2.2 Phụ tầng cấu trúc giữa: gồm các hệ tầng Trà Tân và Bạch Hổ (Oligocene trên – Miocene dưới), có diện tích phân bố mở rộng hơn và phủ cả ra ngoài phạm vi các địa hào trung tâm với bề dày khá lớn 900-3600m Giai đoạn này

bề dày trầm tích được tích lũy có liên quan đến hoạt động tách giãn biển Đông (15.5-36 triệu năm), vì thế có người gọi đây là giai đoạn đồng tạo rift chính Một loạt hệ thống đứt gãy tái hoạt động trong thời kỳ này và một số đứt gãy mới xuất hiện do cơ chế tách giãn nén ép, dịch chuyển ngang của các khối trong thời kỳ này, phát triển toàn bể, song mạnh mẽ ở Đông Bắc, bất chỉnh hợp góc phát triển ở rìa Đông Bắc bể Thành phần thạch học của chúng mang tính lục địa - biển địa phương xen kẽ Ngoài ra một vài đứt gãy ven rìa bể và ở đới nâng trung tâm còn phát triển tới tận đáy Miocen dưới, các đứt gãy này là do kế thừa các đứt gãy cổ và tái hoạt động do áp lực địa tĩnh (áp lực trọng trường) khi các lớp trầm tích ở phần trũng bị nén ép do tải trọng lớn của các lớp bên trên Còn ở các đới nâng và ven rìa

bể tải trọng của lớp phủ mỏng Chính do sự chênh lệch tải trọng khác nhau ở các vị trí, nên có sự xuất hiện các đứt gãy mới

1.6.2.3 Phụ tầng cấu trúc trên: bao gồm các hệ tầng Côn Sơn, Đồng Nai, Biển Đông ( Miocene giữa - Đệ Tứ) phủ bất chỉnh hợp lên phụ tầng cấu trúc giữa

và dưới Diện tích mở rộng khá nhiều liên quan đến sự phát triển thềm lục địa và giai đoạn sụt lún và tạo thềm rộng lớn của biển Đông (Pliocene - Đệ Tứ) Trầm tích chủ yếu là biển nông xen kẽ ven bờ có bề dày chung là 1800-2200m với các lớp trầm tích nằm ngang phủ lên các lớp trầm tích cổ, chế độ kiến tạo tạm thời ngưng nghỉ

Trang 33

Qua những kết quả này cho thấy từ khi hình thành các địa hào hẹp (Eocene muộn + Oligocene sớm) hoạt động kiến tạo xảy ra mạnh vào thời gian này, đặc biệt pha nâng cao các khối nhơ vào cuối Oligocene sớm tạo bẫy chứa Sau đĩ về cơ bản

là ngưng nghỉ, chế độ yên tĩnh và mở rộng bể tạo tiền đề hình thành các lớp chắn

và bảo vệ giữ gìn dầu khí thuận lợi sau này khi chúng di cư vào các bẫy chứa

I.7 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN BỂ TRẦM TÍCH CỬU LONG

Bể trầm tích Cửu Long là một bồn rift rìa lục địa Những đặc điểm cấu trúc và địa tầng trầm tích đã xác nhận các giai đoạn tiến hoá của bồn, nó liên quan với các chế độ địa động lực khác nhau Lịch sử phát triển địa chất của bồn trầm tích Cửu Long trong mối liên quan với lịch sử kiến tạo khu vực có thể chia ra 3 thời kỳ chính:

Hình I.6.2 Mặt cắt tầng cấu trúc AA’ ngang bể Cửu Long

Trang 34

Thờøi kỳ trước tạo rift: Là giai đoạn cố kết móng trước Đệ Tam của bồn, liên

quan với sự hội tụ của các lục địa vào cuối Mezozoi mà pha tàn dư của chúng kéo dài tới Eocene Sự hội tụ của hai lục địa Ấn-Úùc và Âu-Á đã nâng toàn bộ thềm Sunda lên cao và làm tiêu biến hoàn toàn đại dương Tethys ở Đông Nam

Á Ở đây hầu hết phát triển mạnh các dải magma xâm nhập và phun trào có tuổi từ Jura đến Eocene Các trũng tàn dư của thời kỳ Mezozoi hoặc là các thung lũng hẹp, hoặc là các hồ nước mặn bị khô cạn Hoạt động mạnh mẽ của magma xâm nhập và phun trào khu vực xung quanh bồn Cửu Long đi kèm với các chuyển động khối tảng, kiến tạo do sự va chạm của các mảng lục địa, đã hình thành hàng loạt đứt gãy làm phân cắt, phân dị phức tạp bề mặt cổ địa hình cuối Mezozoi đầu Kainozoi Vỏ lục địa vừa được cố kết bắt đầu bị phá vỡ thành các khối nâng và vùng sụt do tách giãn Bồn trũng Cửu Long được hình thành trên các vùng sụt khu vực thuộc thời kỳ tiền tách giãn Paleocene-Eocene sớm

Thời kỳ đồng tạo rift: Là giai đoạn tách giãn hình thành bồn tích tụ theo cấu

trúc riêng, xảy ra từ Eocene giữa đến Oligocene Vào thời kỳ này, đáy bồn bị phân cắt bởi các đứt gãy lớn thành các khối kéo dài có bề rộng khác nhau, sau đó bị bẻ gãy bởi các đứt gãy ngang ở những khoảng cách khác nhau, tạo nên các khối nhô và khối sụt, hình thành nhiều bán địa hào Đó là đơn vị cấu trúc cơ bản của bồn rift rìa lục địa Cửu Long Quá trình tăng cường các hoạt động tách giãn làm cho bồn sụt lún sâu hơn Trong giai đoạn đầu, nguồn cung cấp vật liệu trầm tích ít, điều kiện khí hậu thuận lợi đã tạo nên hồ sâu với sự tích tụ các tầng trầm tích sét hồ dày trên diện rộng thuộc tập D Các trầm tích giàu cát hơn thuộc tập C sau đó đánh dấu giai đoạn lấp đầy bồn rift Vùng trung tâm bồn trũng có bề dày trầm tích lớn, gây ra sự sụt lún trọng lực tạo ra các đứt gãy đồng trầm tích và kéo xoay các trầm tích Oligocene Cuối Oligocene, phần Bắc của bồn do sự nén ép

Trang 35

địa phương hoặc địa tầng đã xuất hiện sự nghịch đảo một số nơi, tạo nên một số cấu tạo lồi hình hoa với sự bào mòn, vát mỏng mạnh mẽ của lớp trầm tích thuộc tập C Trầm tích Eocene - Oligocene trong các trũng chính có thể dày đến 5000

m, thành tạo trong các môi trường trầm tích hồ, sông, châu thổ Sự kết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và bất chỉnh hợp ở nóc trầm tích Oligocene đánh dấu sự kết thúc thời kỳ này

Thời kỳ sau tạo rift: Bắt đầu từ Miocene sớm đến nay Thời kỳ này, quá trình

tách giãn kết thúc, chỉ có các hoạt động yếu ớt của các đứt gãy Giai đoạn biển tiến khu vực bắt đầu xuất hiện và biển tiến vào bồn Cửu Long từ phần Đông Bắc, đẩy lùi trầm tích lục địa về phía Nam Vào cuối Miocene sớm, các trũng trung tâm tiếp tục sụt lún, cộng thêm sự oằn võng do sụt lún trọng lực và đặc biệt sự nguội lạnh, co ngót của dị thường nhiệt ở phần Tây Nam của Biển Đông, các trầm tích Oligocene, làm phần lớn diện tích bồn bị chìm sâu dưới mực nước biển, và tầng sét Rotalite - tầng chắn khu vực của bồn - được hình thành vào thời gian này Các trầm tích Miocene dưới phủ chờm hầu hết lên địa hình Oligocene Thời kỳ Miocene giữa là thời kỳ nâng lên của bồn trũng Cửu Long, môi trường biển ảnh hưởng ít hơn, phần Đông Bắc bồn chủ yếu chịu ảnh hưởng của các điều kiện ven bờ Thời kỳ Miocene muộn, biển tràn ngập toàn bộ bồn trũng Cửu Long Cũng vào cuối thời kỳ này, do sông Mê Kông đổ vào bồn trũng Cửu Long đã làm thay đổi môi trường trầm tích, nguồn cung cấp vật liệu, kiểu tích tụ và cả hình thái cấu trúc của bồn Bồn mở rộng hơn về phía Tây Nam, vào phía đồng bằng châu thổ sông Mê Kông ngày nay; và bồn trũng Cửu Long thông với bồn Nam Côn Sơn Trầm tích châu thổ được hình thành do sông là chủ yếu Thời kỳ Pliocene-Đệ tứ, là giai đoạn tích cực kiến tạo mới tạo nên bình đồ cấu trúc hiện tại của thềm lục địa Việt Nam Bồn trũng Cửu Long không còn hình dáng cấu

Trang 36

trúc riêng mà nó hoà chung vào cấu trúc toàn thềm Nguyên nhân là đáy biển Đông tiếp tục sụt lún do bị cuốn hút xuống dưới cung đảo Luson, và do sự lạnh nguội, co ngót của dị thường nhiệt ở biển Đông, mặt khác đất liền Đông Dương được nâng cao cùng với sự hoạt động của núi lửa basalt kiềm, do vỏ đại dương Ấn Độ đang đẩy lục địa Đông Dương và Tây Nam Đông Nam Á lên cao

I.8 TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG CỬU LONG

Đá mẹ: Theo đặc điểm trầm tích và quy môphân bố của các tập sét ở bể Cửu Long có thể phân chia ra 3 tầng đá mẹ:

• Tầng sét Miocen dưới (N 1 1) có bề dày từ 250 m ở ven rìa và tới 1.250 m ở trung tâm bể

• Tầng sét của Oligocen trên (E 3 2) có bề dày từ 100m ở ven rìa và tới 1.200

m ở trung tâm bể

• Tầng sét Oligocen dưới + Eocen? (E 3 1 + E 2 ) có bề dày từ 0 m đến 600m ở phần trũng sâu của bể

và III nên sinh dầu là chủ yếu Trong Oligocene dưới và Eocene, vật liệu hữu cơ cũng phong phú (TOC = 0.97 – 2.5%), Kerogen loại II là chính, rất ít loại III, chủ yếu chúng được tích lũy ở vùng nước lợ, ven hồ Phần lớn diện tích của trầm tích

Đông và Tây cấu tạo Bạch Hổ nằm trong đới sinh khí Condensat Ngoài ra, các tập sét Miocene dưới (thành hệ Bạch Hổ) với TOC khoảng 1% là tầng sinh dầu khí tiềm năng, tuy nhiên chúng chỉ mới bước vào pha trưởng thành ở những vùng trũng sâu của bồn trũng Các nghiên cứu mô phỏng quá trình sinh dầu khí cho

Trang 37

thấy pha di cư của dầu khí từ đá mẹ sớm nhất có thể bắt đầu cách đây khoảng 22 triệu năm (vào Miocene sớm, mạnh mẽ là Mioxen giữa tới nay)

Đá chứa: trong khu vực nghiên cứu, đá chứa móng nứt nẻ trước Đệ Tam là

đối tượng rất quan trọng và là đá chứa chủ yếu ở bồn trũng Cửu Long Trong đới nứt nẻ, đá gốc bị dập vỡ có nhiều khe nứt Độ rỗng có thể đạt tới 13% và độ thấm lên tới hàng nghìn mD Đá cát kết Oligocene cũng là đối tượng chứa quan trọng với độ rỗng thay đổi từ 2 – 22.4%, độ thấm có thể đạt tới hơn 200mD Do sự biến tướng nhanh và độ rỗng, độ thấm không ổn định nên khai thác dầu từ các thân cát Oligocene thường gặp nhiều khó khăn Đá cát kết Miocene hạ cũng gặp tại hầu hết các mỏ đang khai thác có độ rỗng từ 19 – 25.5%, độ thấm 0.1 – 150mD Ngoài ra còn có thể có đá chứa volcanic, tuy nhiên bề dày, độ rỗng, độ thấm rất không ổn định có rủi ro rất cao

Đá chắn: tầng sét Rotalia trong Miocene sớm với hàm lượng sét chiếm 90 –

95%, đôi chỗ 100%, phổ biến rộng khắp trong toàn bồn trũng, có chiều dày ồn định từ 180 -200m, là tầng chắn khu vực rất tốt Ngoài ra, còn có các tầng chắn mang tính địa phương, là các tập sét Oligocene dưới, Oligocene trên (tập D) và Miocene dưới

Các dạng bẫy: trong phạm vi bồn trũng Cửu Long tồn tại các dạng bẫy cấu

tạo phát triển kế thừa móng, bẫy màn chắn kiến tạo khá phổ biến trong trầm tích Oligocene và Miocene dưới Ngoài ra còn có bẫy hỗn hợp (địa tầng và màn chắn kiến tạo), bẫy phi kiến tạo (vát nhọn địa tầng, doi cát lòng sông cổ) phát triển

được phủ bởi các trầm tích hạt mịn đóng vai trò hết sức quan trọng

Tiềm năng tài nguyên dầu khí của bể Cửu Long được đánh giá trong nhiều

Trang 38

công trình và bằng nhiều phương pháp khác nhau Theo phương pháp thể tích nguồn gốc (phương pháp địa hoá) tài nguyên dầu khí của bể dao động trong khoảng từ 2,357 đến 3,535 tỷ tấn qui dầu

Dựa theo kết quả đánh giá tiềm năng dầu khí bằng phương pháp thể tích - xác suất cho từng đối tượng triển vọng (Play concept) bể Cửu Long có tổng trữ lượng và tiềm năng dầu khí thu hồi dao động trong khoảng 800 - 850 tr tấn dầu quy đổi, tương đương trữ lượng và tiềm năng HC tại chỗ khoảng 3,2 đến 3,4 tỷ tấn quy dầu Trong đó khoảng 70% tập trung vào đối tượng móng, còn lại 18% trong Oligocen và 12% trong Miocen

Theo những số liệu thống kê về tài nguyên dầu khí trong bể đã phát hiện và khai thác khoảng 70 % tổng tài nguyên dầu khí của bể Như vậy, lượng tài nguyên dầu khí còn lại trong bể chưa được phát hiện còn khá lớn và đây sẽ là tiền đề cho việc triển khai tiếp công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí trong bể Cửu Long

Trữ lượng dầu khí đã phát hiện ở trong móng, cát kết tuổi Miocene và

của bồn trũng), như vậy trữ lượng còn lại chưa phát hiện sẽ vào khoảng 320 triệu

Tử Đen, Rạng Đông, Rubi và chuẩn bị phát triển mỏ Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng

Trang 39

CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NAM RỒNG ĐỒI MỒI II.1 LỊCH SỬ THĂM DÒ VÀ PHÁT HIỆN MỎ:

Công tác khảo địa vật lý đã được tiến hành trên khu vực mỏ Rồng từ năm 1974.Những thông tin đầu tiên về sự có mặt của các cấu trúc trong khu vực nghiên cứu nhận được từ kết quả khảo sát tổ hợp địa vật lý bao gồm trọng lực, từ trường và địa chấn 2D do công ty Mobil thực hiện theo mạng lưới 4 x 4 km Năm

1978 cũng chính ở khu vực này công ty GECO đã thực hiện khảo sát địa chấn theo mạng lưới 2 x 2 km

Khi xử lý tài liệu địa chấn không thực hiện việc dịch chuyển thời gian, vì vậy chất lượng tài liệu được đánh giá không thống nhất, việc liên kết các tầng phản xạ SH-10, SH-11, SH-BSM không tin tưởng Vì vậy trong giai đoạn 1980-1984 trên cơ sở minh giải bằng tay các tài liệu thu được, Vietsovpetro đã xây dựng bản đồ cấu trúc theo các tầng phản xạ địa chấn chính theo các phương án khác nhau, và chúng được hiệu chỉnh hàng năm theo kết quả khoan và khảo sát địa chấn ở các diện tích xung quanh Những bản đồ này đã làm cơ sở cho việc lựa chọn vị trí đặt các giếng khoan tìm kiếm thăm dò

Trên cơ sở kết quả khoan đã phát hiện các mỏ dầu ở những vùng Đông và Nam Rồng làm nâng cao triển vọng dầu khí của khu vực nghiên cứu, XNLD Vietsovpetro đã ký hợp đồng với hãng Western Geophysical tiến hành khảo sát địa chấn 3D ở cấu tạo Đông Nam Rồng, 2D ở cấu tạo Nam Rồng và xử lý tài liệu thu được Tháng 5-6 năm 1996 hãng đã tiến hành thu nổ địa chấn 3D với khối

và tháng 2.1997 có kết quả xác định tốc độ vỉa làm cơ sở cho công tác minh giải tài liệu địa chấn

Trang 40

Chất lượng tài liệu địa chấn 2D ở cấu tạo Nam Rồng xấu do phương pháp thu nổ và xử lý tài liệu Liên kết mặt cắt thời gian gặp nhiều khó khăn vì trên giao tuyến các tuyến địa chấn có độ lệch pha đến 60ms

Năm 2002, trong phạm vi lô 09-3 giới hạn với khu vực Nam Rồng của XNLD Vietsovpetro, công ty Western Geophysical đã thực hiện khảo sát địa chấn 3D

lý tài liệu này do công ty Golden Pacific Group ở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, còn phần xử lý dịch chuyển chiều sâu trước khi cộng (PrSDM) và minh giải khối số liệu kết quả xử lý do công ty CGE ở thành phố Matxcơva thực hiện Ngoài tài liệu PrSDM, khi minh giải nhà thầu còn sử dụng số liệu khoan ở cấu tạo Trung Tâm Rồng nằm ở phía bắc khu vực khảo sát địa chấn 3D và tài liệu lưu trữ địa chất địa vật lý của vùng nghiên cứu Công ty CGE sử dụng hệ chương trình minh giải INPRES để phân tích tài liệu địa chấn ở khu vực Nam Rồng - Đồi Mồi

Vào năm 2004, Viện NCKH&TK đã tiến hành nghiên cứu các thuộc tính địa chấn nhằm xác định đới nứt nẻ trong đá móng để thiết kế các giếng khoan trong

Đối tượng xử lý là đá móng Tài liệu ở trầm tích của phần trên lát cắt có chất lượng không cao

Trong tháng tư năm 2004 giếng khoan thăm dò đầu tiên DM-1X được đặt trên phần đỉnh của khối A cấu tạo Nam Rồng - Đồi Mồi, bắt gặp móng ở độ sâu 3304MD/-3282TVDm, giếng khoan dừng tại đáy có độ sâu 3850MDm/- 3828TVDm mở vào 546 m đá móng Khi thử giếng khoan đã thu được dòng dầu không ổn định với lưu lượng trung bình 66 thùng/ng (10.49 m3/ng) ở lần thử đầu

Ngày đăng: 29/01/2021, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w