ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngày, tháng, năm sinh: 23/11/1987 Nơi sinh:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
TRẦN TUYẾT SƯƠNG
NGHIÊN CỨU TINH CHẾ TINH DẦU TRÀM TRÀ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHƯNG CẤT PHÂN ĐOẠN VÀ ỨNG DỤNG VÀO SẢN PHẨM NƯỚC RỬA TAY
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
MÃ SỐ: 605275
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 01 năm 2013
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Huỳnh Quyền ………
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 Chủ tịch hội đồng: PGS.TS Mai Thanh Phong
2 Ủy viên, phản biện 1: PGS.TS Trịnh Văn Dũng
3 Uỷ viên, phản viện 2: TS Lê Thị Kim Phụng
4 Ủy viên: TS Huỳnh Quyền
5 Ủy viên, thư ký: TS Ngô Thanh An
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngày, tháng, năm sinh: 23/11/1987 Nơi sinh: Tây Ninh
I – TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU TINH CHẾ TINH DẦU TRÀM TRÀ BẰNG
PHƯƠNG PHÁP CHƯNG CẤT PHÂN ĐOẠN VÀ ỨNG DỤNG VÀO SẢN PHẨM NƯỚC RỬA TAY
II – NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Nghiên cứu tinh chế tinh dầu tràm trà tinh từ tinh dầu tràm trà thô (chứa khoảng
34% terpinen-4-ol, thu được từ chưng cất lôi cuốn hơi nước cây tràm trà thuộc giống Melaleuca alternifolia) bằng phương pháp chưng cất phân đoạn ở áp suất
chân không
- So sánh tinh dầu tràm trà tinh sau chưng cất phân đoạn với tiêu chuẩn quốc tế ISO
4730 về tinh dầu tràm trà và khảo sát hoạt tính sinh học của tinh dầu
- Từ tinh dầu tràm trà thu được nghiên cứu hướng ứng dụng, cụ thể là phối chế sản
phẩm nước rửa tay công nghiệp
III – NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: ngày 16 tháng 08 năm 2012
IV – NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: ngày 03 tháng 12 năm 2012
V – CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS HUỲNH QUYỀN
Tp HCM, ngày tháng năm
TRƯỞNG KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Huỳnh Quyền, người thầy
đã trực tiếp hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo chân tình của thầy đã cho tôi những bước đi quan trọng để có thể hoàn thành luận văn này Đồng thời tôi xin cảm ơn chị Hạnh – công ty mỹ phẩm Mai Phương đã định hướng cho tôi nghiên cứu sản phẩm nước rửa tay và cung cấp nguồn nguyên liệu cho tôi thực hiện nghiên cứu hướng ứng dụng tinh dầu tràm trà Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Kỹ thuật Hóa học – Trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong trong suốt thời gian học đại học và cao học Đồng thời tôi cũng rất cảm ơn những đồng nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Lọc Hóa dầu – Trường Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh đã hỗ trợ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân và bạn
bè đã luôn giúp đỡ động viên tôi trong học tập và cuộc sống Những tình cảm quý báu đó luôn là động lực thúc đẩy tôi phấn đấu để có được kết quả như ngày hôm nay
Trần Tuyết Sương
Trang 5ABSTRACT
Tea tree oil (TTO) comes from the leaves of Melaleuca alternifornia that belongs to the myrtle family (Myrtaceae) It is one of the most powerful immune system stimulants and sorts out most viral, bacterial and fungal infections in a snap, while it is great to heal wounds and acnes In Vietnam, Melaleuca trees can grow on acid land that stretches in a large portion of lands in the Mekong Delta region However, TTO contains various amounts of 1,8-cineole that causes skin irritant
In my thesis, TTO was refined through vacuum distillation process to increase concentration of terpinen-4-ol, decrease the minimum concentration of 1,8-cineole and meet International Standard ISO 4730 Materials for this process are crude TTO (34% of Terpinen-4-ol) from steam distillation Optimal conditions are 5mmHg pressure with a reflux ratio of around 1:2 After vacuum distillation process, TTO contains 95-99% of concentration of terpinen-4-ol but not 1,8-cineol (cleaned TTO) and the recovery of yield is 64,7%
For TTO application, cleaned TTO was used as an antibacterial ingredient in
industrial hand cleaner Targeted product that is being used at Kawakin Core-Tech
Company Ltd (Viet Nam), was imported from Japan With 0,3% of cleaned TTO in hand cleaner, it can kill 98,86% bacteria In addition, the product has good cleaning ability, contains beeswax particles that keep soft and moisture hand
Trang 6Trong nghiên cứu ứng dụng, TTO tinh được bổ sung vào sản phẩm nước rửa tay công nghiệp Với sản phẩm mục tiêu là nước rửa tay được nhập khẩu từ Nhật
đang được sử dụng tại công ty TNHH Kawakin Core -Tech Việt Nam Với hàm
lượng TTO trong sản phẩm nước rửa tay là 0,3%; nước rửa tay có khả năng kháng khuẩn 98,86% Ngoài ra, sản phẩm có khả năng tẩy rửa tốt chứa các hạt beeswax giúp giữ ẩm và mềm da
Trang 7MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH ix
TỔNG QUAN 3
Chương 1 Tổng quan về tinh dầu tràm trà 3
1.1 Lịch sử phát triển cây tràm trà trên thế giới 3
1.1.1 Đặc điểm thực vật 4
1.1.2 Sự phát triển của tinh dầu tràm trà tại Việt Nam [5] 5
1.1.3 Tính chất vật lý và thành phần hóa học của tinh dầu tràm trà 6
1.1.4 Hoạt tính sinh học của tinh dầu tràm trà 12
1.1.5 Độc tính của tinh dầu tràm trà 16
1.1.6 Khả năng ứng dụng của tinh dầu tràm trà 17
1.1.7 Các phương pháp chiết tách thu tinh dầu tràm trà 19
1.2 Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước 19
1.2.1 Phương pháp trích ly CO 2 siêu tới hạn 20
1.2.2 Phương pháp chưng cất phân đoạn 23
1.2.3 Sơ lược về da và hệ vi sinh vật trên da 26
1.3 Cấu trúc da [23] 26
1.3.1 Vi sinh vật trên da 28
1.3.2 Một số bệnh lây truyền qua bàn tay bẩn 31
1.3.3 Sản phẩm làm sạch cá nhân – Nước rửa tay 32
1.4 Một số vấn đề cần quan tâm khi rửa tay 33 1.4.1
Trang 8Yêu cầu của sản phẩm [6] 34 1.4.2
Thành phần nguyên liệu nước rửa tay [6] [28] 34 1.4.3
Một số sản phẩm nước rửa tay trên thị trường 36 1.4.4
THỰC NGHIỆM 38 Chương 2
Mục tiêu 382.1
Nội dung nghiên cứu 382.2
Nghiên cứu tinh chế tinh dầu tràm trà bằng phương pháp chưng cất 2.2.1
phân đoạn ở áp suất chân không 38
Nghiên cứu phối chế sản phẩm nước rửa tay công nghiệp có nguồn gốc 2.2.2
từ tinh dầu tràm trà 38
Phương pháp đánh giá 392.3
Đánh giá tính chất của tinh dầu tràm trà tinh 39 2.3.1
Đánh giá tính chất sản phẩm nước rửa tay công nghiệp 42 2.3.2
Thực nghiệm 462.4
Chưng cất phân đoạn ở áp suất chân không 46 2.4.1
Phối chế sản phẩm nước rửa tay công nghiệp có nguồn gốc tinh dầu 2.4.2
đường cong phân bố nồng độ của terpinen-4-ol theo các chỉ số hồi lưu: 61
Đánh giá chất lượng tinh dầu tràm trà tinh 73 3.1.2
Phối chế sản phẩm nước rửa tay công nghiệp nguồn gốc tinh dầu tràm trà 3.2
75
Kết quả khảo sát hàm lượng chất hoạt động bề mặt (HĐBM) chính 3.2.1
Trang 9Kết quả khảo sát hàm lượng chất làm đặc TC-Carbomer 380: 76 3.2.2
Đánh giá thành phần công thức nền thành phần nước rửa tay 77 3.2.3
Kết quả khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của nước rửa tay 78 3.2.4
Kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng đưa sản phẩm ra thị trường: 80 3.2.5
Kết luận và Kiến nghị 82 Chương 4
Kết luận 824.1
Đối với quá trình thực nghiệm chưng cất phân đoạn ở áp suất chân 4.1.1
không thu tinh dầu tràm trà tinh: 82
Đối với định hướng ứng dụng tinh dầu tràm trà vào sản phẩm nước 4.1.2
rửa tay công nghiệp 82
Kiến nghị 834.2
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐƯỢC CÔNG BỐ 87 Phụ lục 1: Kết quả phân tích GC tinh dầu tràm trà thô và 18 phân đoạn chưng cất phân đoạn ở chế độ R 12 89 Phụ lục 2: Thông số thành phần nguyên liệu nước rửa tay [6] [28] 90 Phụ lục 3: Mô hình đánh giá các tiêu chuẩn kỹ thuật trong sản phẩm nước rửa tay 92
Phụ lục 4 : Kết quả kiểm nghiệm của Viện Pasteur TP.HCM 93
Trang 10DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
TTO : Tinh dầu tràm trà (Tea Tree Oil)
MIC : Nồng độ tối thiểu của kháng sinh ức chế được vi khuẩn (Minimum
Inhibitory Concentration μg/ml), từ MIC xác định được vi khuẩn kháng
hay nhạy với kháng sinh
MBC : Nồng độ tối thiểu tiêu diệt chủng vi khuẩn (Minimum Batericidal
Concentration)
MFC : Nồng độ tối thiểu tiêu diệt chủng vi nấm (Minimum Fungal
Concentration)
MRSA : Chủng vi khuẩn rất thường gặp trong các bệnh viện
(methicillin-resistant staphylococcus aureus)
SCCP : Hội khoa học các sản phẩm tiêu dùng tại châu Âu (The Scientific
Committee on Consumer Product)
SFE :Trích ly siêu tới hạn (Supercritical Fluid Extraction)
HĐBM : Hoạt động bề mặt
SLS : Sodium lauryl sulfate
CAPB : Cocamido propyl betain
CDE : Coconut Diethanolamine
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần của M alternifolia (tea tree) oil theo tiêu chuẩn ISO 4730 [8]
và theo nghiên cứu của Brophy [1] 7
Bảng 1.2: Tiêu chuẩn của Úc cho tinh dầu tràm trà [9] 8
Bảng 1.3: Nồng độ tối thiểu ức chế và tiêu diệt các chủng vi khuẩn của tinh dầu tràm trà (M.alternifolia) [10] 12
Bảng 1.4: Nồng độ tối thiểu ức chế và tiêu diệt các chủng vi nấm của tinh dầu tràm trà (M.alternifolia) 14
Bảng 1.5: Hàm lượng tối đa tinh dầu tràm trà trong mỹ phẩm theo SCCP [9] 18
Bảng 1.6: Một số sản phẩm mỹ phẩm trên thị trường có sử dụng tinh dầu tràm trà 18 Bảng 1.7: Thành phần của 8 monoterpen được chiết xuất bằng phương pháp 22
Bảng 1.8: Nước rửa tay diệt khuẩn [29] 35
Bảng 1.9: Nước rửa tay với thành phần các hạt dầu khoáng [29] 36
Bảng 2.1: Khả năng kháng khuẩn dựa vào đường kính vô khuẩn 42
Bảng 2.2: Hàm lượng tinh dầu tràm trà thô sử dụng cho chưng cất chân không 46
Bảng 2.3: Thành phần và chức năng các nguyên liệu trong nước rửa tay 54
Bảng 2.4: Dụng cụ thiết bị, thí nghiệm phối chế nước rửa tay 54
Bảng 2.5: Công thức nghiên cứu ảnh hưởng của SLS đến sản phẩm 56
Bảng 2.6: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI NƯỚC RỬA TAY 59
Bảng 3.1: Số liệu chưng cất phân đoạn ở chế độ R11 61
Bảng 3.2: Nồng độ Terpinen-4-ol trong các phân đoạn ở chế độ R11 62
Bảng 3.3: Số liệu chưng cất phân đoạn ở chế độ R12 64
Bảng 3.4: Nồng độ Terpinen-4-ol trong các phân đoạn ở chế độ R12 65
Trang 12Bảng 3.5: Số liệu chưng cất phân đoạn ở chế độ R13 67
Bảng 3.6: Nồng độ Terpinen-4-ol trong các phân đoạn ở chế độ R13 68
Bảng 3.7: Số liệu chưng cất phân đoạn ở chế độ R21 70
Bảng 3.8: Nồng độ Terpinen-4-ol trong các phân đoạn ở chế độ R21 71
Bảng 3.9: Hàm lượng các cấu tử trong tinh dầu tràm trà tinh được phân tích tại RPTC và so sánh với tiêu chuẩn ISO 4730 73
Bảng 3.10: Kết quả khảo sát khả năng kháng một số chủng vi khuẩn của tinh dầu tràm trà tinh 74
Bảng 3.11: Kết quả nghiên cứu tỷ lệ SLS 75
Bảng 3.12: Kết quả nghiên cứu hàm lượng TC-Carbomer 380 76
Bảng 3.13: Thành phần công thức nền nước rửa tay 77
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ nhớt và pH của sản phẩm nước rửa tay 77
Bảng 3.15: Khả năng kháng khuẩn của mẫu nước rửa tay 78
Bảng 3.16: Thành phần công thức nước rửa tay và công dụng 79
Bảng 3.17: Bảng đánh giá sản phẩm nước rửa tay 80
Trang 13DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1: Cây tràm trà Melaleuca Alternifolia trồng ở Úc 4
Hình 1.2: Đồ thị biểu diễn trạng thái vùng siêu tới hạn của môt chất 21
Hình 1.3: Mô hình chưng cất phân đoạn chân không 24
Hình 1.4: Cấu trúc da [23] 27
Hình 1.5: Hình ảnh một số vi khuẩn dưới kính hiển vi 29
Hình 1.6: Hình ảnh một số vi nấm dưới kính hiển vi 30
Hình 1.7: Một vài loại vi khuẩn thường gặp trên bàn tay 33
Hình 1.8: Một số sản phẩm nước rửa tay trên thị trường Việt Nam 37
Hình 2.1: Sơ đồ thực nghiệm tiến hành nghiên cứu 39
Hình 2.2: Bình định mức fiol 40
Hình 2.3: Thiết bị sắc kí khí Agilent 6890N 41
Hình 2.4: Máy đo độ nhớt SYD – 265B 43
Hình 2.5: Kính hiển vi điện tử và buồng đếm hồng cầu 44
Hình 2.6: Xưởng thực nghiệm tinh dầu tràm trà tại Tiền Giang 46
Hình 2.7: Cây tràm trà được trồng tại Tân Phước – Tiền Giang 46
Hình 2.8: Sản phẩm tinh dầu tràm trà thô 47
Hình 2.9: Hệ thống chưng cất thực nghiệm 47
Hình 2.10: Quá trình thiết lập một sản phẩm [6] 53
Hình 2.11: Sơ đồ quy trình thực nghiệm điều chế nước rửa tay 55
Hình 2.12: Quá trình khuấy trộn điều chế nước rửa tay 55
Hình 3.1: Đường cong % thể tích tích lũy theo nhiệt độ chưng cất ở chế độ R11 63
Hình 3.2: Đường cong phân bố nồng độ của Terpinen-4 ol ở chế độ R11 63
Trang 14Hình 3.3: Đường cong % thể tích tích lũy theo nhiệt độ chưng cất ở chế độ R12 65
Hình 3.4: Đường cong phân bố nồng độ của Terpinen-4 ol ở chế độ R12 66
Hình 3.5: Đường cong % thể tích tích lũy theo nhiệt độ chưng cất ở chế độ R13 69
Hình 3.6: Đường cong phân bố nồng độ của Terpinen-4 ol ở chế độ R13 69
Hình 3.7: Đường cong % thể tích tích lũy theo nhiệt độ chưng cất ở chế độ R21 72
Hình 3.8: Đường cong phân bố nồng độ của Terpinen-4-ol ở chế độ R21 72
Hình 3.9: 73
Hình 3.10: Sản phẩm tinh dầu tinh 74
Hình 3.11: Đánh giá chất lượng nước rửa tay khi hàm lượng SLS thay đổi 76
Hình 3.12: Đồ thị khả năng diệt khuẩn của sản phẩm nước rửa tay theo hàm lượng tinh dầu tràm trà trong sản phẩm 79
Hình 3.13: Sản phẩm nước rửa tay nguồn gốc tinh dầu tràm trà tinh 80
Hình 3.14: Số người sử dụng đánh giá đối với từng tiêu chuẩn (nước rửa tay) 81
Hình 3.15: Đánh giá tính chất của nước rửa tay 81
Trang 15MỞ ĐẦU
Tinh dầu tràm trà (Tea Tree Oil, TTO) sẽ thu được từ lá của cây tràm trà
Melaleuca alternifolia, thuộc họ sim Đây là một trong những chất kích thích hệ
thống miễn dịch mạnh nhất và có thể loại trừ các bệnh nhiễm trùng do virus, vi
khuẩn và nấm trong thời gian ngắn Bên cạnh đó TTO rất tốt để chữa lành vết
thương và mụn Tại Việt Nam, cây tràm trà có thể phát triển trên đất phèn, loại
đất chiếm phần lớn diện tích khu vực đồng bằng sông Cửu Long Vì vậy, có
nhiều rừng tràm trà đã và đang phát triển theo kế hoạch của chính phủ Việt Nam
nhằm tăng cường diện tích rừng, thay thế dần các loại cây truyền thống không
còn mang lại giá trị kinh tế cao Các nghiên cứu cho thấy hoạt tính sinh học của
tràm trà là do Terpinen-4-ol, một monoterpen có hàm lượng cao (thấp nhất là
30%) trong tinh dầu Tuy nhiên, TTO cũng chứa 1,8-cineole gây kích ứng da [1]
Trong việc sản xuất tinh dầu tràm trà, hiện nay ở Việt Nam chưa có một
nhà máy hay công nghệ nào được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn Đa số các
nghiên cứu chủ yếu thực hiện trong phòng thí nghiệm, chưa sản xuất được loại
tinh dầu này hoặc sản xuất dưới dạng thủ công quy mô nhỏ, sản lượng cũng như
chất lượng chưa đạt yêu cầu ứng dụng trong các lĩnh vực y dược, mỹ phẩm (tiêu
chuẩn quốc tế ISO 4730)
Chính vì thế, mục tiêu của luận văn là nghiên cứu công nghệ tinh chế và
hướng sử dụng tinh dầu tràm trà Trên cơ sở những kết quả đã nghiên cứu trước
đó tại Tiền Giang, tiếp tục tiến hành nghiên cứu phương pháp chưng cất phân
đoạn ở áp suất chân không, nhằm mục tiêu:
- Thu tinh dầu tràm trà có hàm lượng terpinen-4-ol cao (95 - 99%) và hầu
như không chứa 1,8-cineol, đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO 4730, cụ thể
với giống tràm trà Melaleuca alternifolia được nhập từ Úc và hiện đang được
trồng tại Tân Phước – Tiền Giang
- Nghiên cứu sản phẩm mỹ phẩm có nguồn gốc từ tinh dầu tràm trà, cụ thể
là sản phẩm nước rửa tay công nghiệp, so sánh với sản phẩm mục tiêu là nước rửa
tay nhập từ Nhật mà công ty TNHH Kawakin Core-Tech Việt Nam đang dùng
Từ đó, góp phần nâng cao giá trị kinh tế của cây tràm trà
Trang 16 Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn rất nhiều vùng đất phèn, ngập
mặn bỏ hoang không khai thác được Vì vậy lựa chọn trồng một giống cây mới
có khả năng thích nghi với vùng này và cho hiệu quả kinh tế cao được Sở khoa
học các tỉnh quan tâm Và cây tràm trà đã đáp ứng được những yêu cầu đó bởi
những lí do:
- Lựa chọn trồng giống cây tràm trà thay cho giống cây tràm cừ, tràm gió
đã có mặt ở Việt Nam rất lâu và trong khi cả hai cây này cũng đều thích nghi với
vùng đất phèn ngập mặn là bởi vì hiện nay người dân đã ít sử dụng tràm cừ để
đóng cọc, làm cột nhà, làm cầu khỉ…mà thay vào đó sử dụng các cột bêtông, còn
tinh dầu tràm gió do có một số vấn đề dẫn tới uy tín của tinh dầu tràm gió của
Việt Nam bị giảm trên thị trường thế giới Vì vậy bà con nông dân trồng hai loại
cây này đang gặp nhiều khó khăn khi không có đầu ra
- Tinh dầu của cây tràm trà được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực y học,
dược phẩm, mỹ phẩm vì có nhiều cấu tử có hoạt tính sinh học Một số dự án đang
hướng tới xây dựng xưởng sản xuất TTO với quy mô công nghiệp ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam công nghệ tinh chiết TTO đều thực hiện theo
phương pháp thủ công và ở quy mô nhỏ, điều này đưa đến chất lượng của TTO
không đạt các yêu cầu theo tiêu chuẩn chất lượng Quốc tế ISO 4730 Tinh dầu
chưa được tinh chế để có các thành phần hữu ích ứng dụng trong thực tiễn, tinh
dầu ở dạng thô giá rất thấp, chưa nghiên cứu được các sản phẩm hàng hóa cụ thể
từ nguyên liệu chính là tinh dầu tràm trà Chính vì vậy, việc nghiên cứu công
nghệ tinh chế và hướng sử dụng tinh dầu sẽ góp phần nâng cao giá trị cây tràm
trà, tạo thêm nhiều rừng tràm, cải thiện cuộc sống người dân vùng đất phèn
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng quy trình công nghệ sản xuất TTO
trên quy mô công nghiệp và nâng cao chất lượng TTO đáp ứng theo tiêu chuẩn
quốc tế ISO 4730 Đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng triển khai
vào các cơ sở sản xuất TTO và sản xuất sản phẩm mỹ phẩm có nguồn gốc từ thiên
nhiên
Trang 17[2] Tinh dầu tràm trà – Tea Tree Oil (TTO) thuộc giống Melaleuca
alternifolia được xem là một loại thảo mộc đa dụng của thổ dân Bundjalung vùng
New South Wales nước Úc Từ hàng ngàn năm, họ đã dùng lá để chữa bệnh cảm
và một số loại bệnh khác như trị bỏng, chỗ côn trùng cắn, bệnh ngoài da, những
vết thương ngoài da Họ cũng dùng lá để pha nước uống hoặc tắm ở những vùng
sông suối gần nơi cây tràm trà mọc để trị bệnh
Tuy nhiên, tên gọi "tea tree" chỉ có từ năm 1770 được đặt bởi nhà thám
hiểm người Anh thuyền trưởng James Cook Trong chuyến hành trình đến Úc
vào năm 1770, Jame Cook cùng với John Bank (nhà thực vật học) đã thu thập lá
tràm trà và mang về nghiên cứu Jame Cook theo dõi nhà thực vật học sử dụng lá
tràm trà để pha trà và cảm thấy thích thú với mùi và vị cũng như hương thơm từ
nước trà pha từ lá này Vì vậy họ gọi cây này là cây trà (tea tree) Thực ra loại
cây này thuộc họ sim (họ cây tràm) nên được gọi là cây tràm trà để tránh nhầm
lẫn với cây trà cho lá để pha nước uống hàng ngày
Năm 1923 báo cáo khoa học đầu tiên về tinh dầu tràm trà được xuất bản bởi
giáo sư hóa học A.R.Penfold sống tại Sydney Khi kiểm tra khả năng sát trùng
của TTO, ông nhận thấy khả năng sát trùng (diệt vi khuẩn) của nó mạnh hơn gấp
13 lần so với chất sát trùng tiêu chuẩn vào thời đó là acid carbalic Vì vậy từ
1923, lịch sử phát triển của tinh dầu tràm trà bắt đầu Năm 1929, F.R Morrison
và Penfold xuất bản sách "Australian Tea Trees of Economic Value"
Trong suốt những năm 1930 TTO được sử dụng để sát trùng cho vết thương
và vệ sinh miệng TTO cũng được sử dụng như một hóa chất sát trùng trong xà
phòng Hiệu quả của xà phòng chứa TTO lên vi khuẩn gây bệnh thương hàn cao
gấp 60 lần so với với các loại xà phòng có chứa các chất sát trùng khác
Suốt chiến tranh thế giới thứ II, bệnh nấm chân là nỗi kinh hoàng đối với
những binh sĩ Úc và lúc đó chưa có thuốc chữa loại bệnh này Một bác sĩ xuất
phát từ một bộ tộc ở Úc nhớ đến cây tràm trà và dùng tinh dầu của nó để chữa
bệnh này Binh sĩ sử dụng tinh dầu bôi lên chân, sau 2 ngày bệnh nấm chân được
Trang 18chữa khỏi hẳn Sau chiến tranh, việc sử dụng thuốc kháng sinh dược phẩm ngày
càng nhiều, do đó nhu cầu sử dụng TTO trên thế giới giảm ngoại trừ tại Úc TTO
bắt đầu được nghiên cứu rộng rãi vào năm 1960 Ngày nay, cây tràm trà
Melaleuca alternifolia cũng được trồng ở California và thực tế Trung Quốc đang
chiếm 10% sản lượng tinh dầu tràm trà của thế giới
Đặc điểm thực vật
1.1.2
Theo [2] môi trường sống tự nhiên của cây tràm trà là ở vùng đầm lầy, vùng
đất trũng Có khoảng 300 loài cây tràm trà, nhưng chỉ có 3 loài (Melaleuca
alternifolia, Melaleuca linariifolia, Melaleuca dissitiflora) cho thành phần hoá
học terpinen-4-ol cao và 1,8-cineol thấp
Hai loài đầu tiên thường gặp phổ biến
hơn Trong đó loài Melaleuca
alternifolia là có giá trị thương mại nhất
vì cho hàm lượng terpinen-4-ol lớn hơn
37% và 1,8-cineol nhỏ hơn 3% [3]
Melaleuca Alternifolia
Tên: Tràm trà, tràm Úc
Tên khoa học: Melaleuca alternifolia
Thuộc: Họ Sim (Myrtaceae)
Tràm trà được tìm thấy chủ yếu tại Úc (khoảng 230 loài), các loài còn lại ở
Malaysia, Indonesia, quần đảo Solomon, New Caledonia Hiện nay, Melaleuca
Alternifolia được trồng nhiều ở New South Wales (Úc), Zimbabwe, Kenya,
Trung Quốc [4]
Đặc điểm thực vật: tùy loài mà có thể là cây bụi hoặc thân gỗ, cao từ
2-30m có lớp vỏ cây dễ tróc Lá hình kim, mọc so le dài 1-25cm và rộng 0,5-7cm
hoa tràm mọc thành cụm dày đặc theo thân, mỗi hoa với các cánh hoa nhỏ và một
chùm nhị mọc dày đặc, màu hoa từ trắng tới hồng, đỏ, vàng nhạt hay ánh lục
Quả dạng quả nang nhỏ chứa nhiều hạt (khoảng 300 hạt) Lá tràm có chứa tinh
dầu (khoảng 2%) Cây trồng sau 6 tháng có thể thu hoạch lá để thu tinh dầu, sau
12 tháng thì hàm lượng tinh dầu trong lá ổn định và khoảng 1-2% trên lá ẩm [4]
Hình 1.1: Cây tràm trà Melaleuca
Alternifolia trồng ở Úc
Trang 19Sự phát triển của tinh dầu tràm trà tại Việt Nam [5]
1.1.3
Tháng 6/1986, tràm trà du nhập vào Việt Nam và được gọi theo nguồn gốc
và sinh thái cây là tràm Úc, tràm lá kim, tràm dầu…Tuy nhiên, cây tràm trà chỉ
được trồng tại Hà Nội, Hà Tây, Quảng Bình, Phú Yên… với số lượng rất ít Năm
1995, trong chương trình hợp tác với Úc, bác sĩ Nguyễn Hoàng Tâm đã trồng
trên quy mô 25 ha tại xã Lộc Thành - Lộc Ninh - Bình Phước với mục đích khai
thác được tinh dầu cho xuất khẩu với số lượng lớn
Khảo sát khả năng sinh trưởng của cây tràm trà tại một số vùng như Lộc
Ninh - Bình Phước; Xuyên Mộc - Bà Rịa Vũng Tàu; Long Thành - Đồng Nai,
Trảng Bàng - Tây Ninh và Tiên Phước - Tiền Giang (vùng Đồng Tháp Mười -
thường ngập nước) cho thấy: cây tràm trà trồng ở vùng ngập nước cho thấy chu
vi gốc, chiều cao cây, năng suất lá sau 12 tháng trồng đều cao hơn các cây trồng
tại các vùng Đông Nam Bộ khô hạn Đồng thời, hàm lượng tinh dầu và chất
lượng tinh dầu cây tràm trà trồng tại đây cũng có phần trội hơn tại các vùng khác
Cây cho hàm lượng tinh dầu tốt từ 1,72 – 2,0%, chất lượng tinh dầu chứa
terpinen-4-ol cao 38,63-38,70 [2] Kết quả nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu
tại Úc
Bên cạnh đó, hiện tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn rất nhiều vùng
đất phèn, ngập mặn bỏ hoang không khai thác được Vì vậy lựa chọn trồng một
giống cây mới có khả năng thích nghi với vùng này và cho hiệu quả kinh tế cao
đang được Sở khoa học các tỉnh quan tâm Và cây tràm trà đã đáp ứng được
những yêu cầu đó bởi những lí do:
Lựa chọn trồng giống cây tràm trà thay cho giống cây tràm cừ,
tràm gió đã có mặt ở Việt Nam rất lâu và trong khi cả hai cây này cũng đều thích
nghi với vùng đất phèn ngập mặn đó là bởi vì hiện nay người dân đã ít sử dụng
tràm cừ để đóng cọc, làm cột nhà, làm cầu khỉ…mà thay vào đó sử dụng các cột
bêtông, còn tinh dầu tràm gió do có một số vấn đề dẫn tới uy tín của tinh dầu
tràm gió của Việt Nam bị giảm trên thị trường thế giới Vì vậy bà con nông dân
trồng hai loại cây này đang gặp nhiều khó khăn khi không có đầu ra
Tinh dầu của cây tràm trà được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực y
học, dược phẩm, mỹ phẩm vì có nhiều cấu tử có hoạt tính sinh học Một số dự án
Trang 20đang hướng tới xây dựng xưởng sản xuất tinh dầu tràm trà với quy mô công
nghiệp ở Việt Nam để sản xuất tinh dầu và sâu hơn là đầu tư vào lĩnh vực tinh
chế tinh dầu tràm trà
Riêng giống Tràm Trà - Melaleuca Alternifolia, Sở Khoa học và Công nghệ
Tiền Giang đã thực hiện đề tài nghiên cứu trồng thử nghiệm thành công cho chất
lượng tinh dầu thô rất tốt (do Kỹ sư Nguyễn Hoàng Hạnh làm chủ nhiệm
2004-2005) Đến năm 2008, diện tích trồng cây tràm trà là 20ha Đặc biệt, tràm trà tại
vùng Tân Phước – Tiền Giang phát triển rất tốt Cây trồng khoảng 6 tháng thì có
thể thu hoạch lá để thu tinh dầu, sau 12 tháng thì hàm lượng tinh dầu trong lá ổn
định và khoảng 1-2% tinh dầu trên lá ẩm Do đó, luận văn sử dụng cây tràm trà
giống Melaleuca Alternifolia được trồng tại Tân Phước để tiến hành nghiên cứu
tinh chế tinh dầu tràm trà
Trong việc sản xuất tinh dầu tràm trà, hiện nay ở Việt Nam chưa có một
nhà máy hay công nghệ nào được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn Đa số các
nghiên cứu chủ yếu thực hiện trong phòng thí nghiệm, chưa sản xuất được loại
tinh dầu này hoặc sản xuất dưới dạng thủ công quy mô nhỏ, sản lượng cũng như
chất lượng chưa đạt yêu cầu ứng dụng trong các lĩnh vực y dược, mỹ phẩm (tiêu
chuẩn quốc tế ISO 4730)
Các công trình nghiên cứu liên quan nhất đến tinh dầu tràm trà là trong
khuôn khổ Dự án Jica – HCMUT, Trung Tâm Nghiên Cứu Công Nghệ Lọc Hóa
Dầu – Đại học Bách Khoa Tp.HCM kết hợp với trường đại học Toyohashi Nhật
Bản đã có các nghiên cứu cơ bản về sản xuất và tinh chế tinh dầu từ cây tràm trà
(Melaleuca Alternifolia) và đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ (nhóm
nghiên cứu: PGS.TS Phan Đình Tuấn, KS Nguyễn Hoàng Hạnh, ThS Ngô Đình
Trang 21Tinh dầu tràm trà là hỗn hợp của các terpen hydrocacbons (C10H16)n gồm
các monoterpen, sesquiterpen và các alcohol tương ứng [1] Năm 1989, Brophy
và cộng sự đã nghiên cứu hơn 800 mẫu tinh dầu tràm trà bằng phương pháp sắc
kí khí kết hợp sắc kí ghép khối phổ và đã xác định được trong tinh dầu có khoảng
100 chất, trong đó có hơn 60 chất đã được định danh [7] Các nghiên cứu đã
chứng minh rằng terpinen-4-ol (monoterpen) là thành phần chính của TTO
(chiếm tối thiểu 30%) và chịu trách nhiệm cho hầu hết các hoạt tính kháng khuẩn
của TTO, bên cạnh đó TTO cũng chứa một lượng khác nhau của 1,8-cineole là
nguyên nhân gây kích ứng da
Bảng 1.1: Thành phần của M alternifolia (tea tree) oil theo tiêu chuẩn ISO 4730 [8] và
theo nghiên cứu của Brophy [1]
≤15 1,5-5 0,5-12 1-6 1,5-8 Trace-7 Trace-8 0,5-4 Trace-3,5 Trace-3 Trace-1,5
40,1 23,0 10,4 5,1 3,1 2,9 2,6 2,4 1,5 1,3 1,0 0,2 0,2 0.1
a IOS 4730, International Organization for Standardization standard no 4730 (tiêu chuẩn số 4730
về tinh dầu tràm trà của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế)
Trang 22Hàm lượng các thành phần trong tinh dầu khác nhau phụ thuộc vào loại đất,
khí hậu, thời điểm thu hoạch (tuổi của cây), độ ẩm của lá và quá trình chưng
cất, Thành phần TTO có thể thay đổi đáng kể trong quá trình lưu trữ, hàm
lượng ρ-xymen tăng lên gấp 10 lần, trong khi đó α-và γ-terpinene giảm dần Sự
ổn định của tinh dầu chịu ảnh hưởng của ánh sáng, nhiệt, không khí, độ ẩm …do
đó TTO cần được lưu giữ trong tối, mát, điều kiện khô, tốt nhất trong một bình
chứa ít không khí [1] Quá trình oxy hóa dẫn đến sự hình thành của peroxide,
endoperoxide và epoxide Sự oxy hóa TTO tạo ra các chất có khả năng gây kích
ứng da, do đó khi sử dụng TTO trong mỹ phẩm phải tránh sự tiếp xúc của mỹ
phẩm với ánh sáng và tránh sự oxy hóa bằng cách thêm vào các chất chống oxy
hóa
Hiện nay, ngoài tiêu chuẩn quốc tế ISO 4730, trên thế giới còn đưa ra một
số tiêu chuẩn về chất lượng tinh dầu tràm trà như: [9]
Australian Standard: AS 2782
French Standard: T75 – 358
British Pharmacopoeia Codex, 1949
Martindale Extra Pharmacopoeia, 28th Edition 1982
European Pharmacopoeia 4.1
Hai tiêu chuẩn thường dùng là tiêu chuẩn của Úc AS 2782 và tiêu chuẩn
quốc tế ISO 4730
Tiêu chuẩn AS 2782 – 1985 quy định hàm lượng tinh dầu tràm trà
(Melaleuca Alternifolia) trong các lĩnh vực ứng dụng:
Bảng 1.2: Tiêu chuẩn của Úc cho tinh dầu tràm trà [9]
Trang 23 Tính chất hóa lý và cấu trúc hóa học các thành phần chính
D = 1,4765 Tan trong ethanol, không tan trong nước
Hoạt tính sinh học: kháng nấm, kháng khuẩn, kháng virus,…
D = 1,4831 Tan trong ethanol, không tan trong nước
Hoạt tính sinh học: kháng nấm, kháng khuẩn
D = 1,4765 Tan trong ethanol, không tan trong nước
Trang 24D = 1,448 Tan trong ethanol, không tan trong nước
Dễ bị oxi hoá trong không khí tạo thành p-cymen
Hoạt tính sinh học: kháng khuẩn
D = 1,448 Tan ít trong nước
D = 1,4664 Tan ít trong nước
Trang 25Hoạt tính sinh học: kháng khuẩn, kháng virus
D = 1,4809 Không tan trong nước
D = 1,4664 Hoạt tính sinh học: kháng khuẩn
Trang 26Hoạt tính sinh học của tinh dầu tràm trà
1.1.5
Tinh dầu tràm trà là dược thảo đa năng đối với những thổ dân Úc Hàng
ngàn năm trước đây họ đã biết sử dụng lá tràm bằng cách vò nát và đắp lên vết
thương để sát trùng Tuy nhiên thuộc tính của tinh dầu tràm trà vẫn là bí mật cho
đến năm 1923, A.R.Penfold một nhà hóa học người Úc đã nghiên cứu hoạt tính
của nó Sau đó nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn về tinh dầu tràm trà đã được
thực hiện, từ đó ứng dụng nó trong rất nhiều sản phẩm
Một số hoạt tính nổi bật của tinh dầu tràm trà:
Kháng khuẩn (antibacterial)
[10] Trong tất cả các hoạt tính sinh học của TTO, hoạt tính kháng khuẩn
nhận được sự quan tâm nhiều nhất A.R.Penfold là người công bố những nghiên
cứu đầu tiên về hoạt tính kháng khuẩn của TTO vào những năm 1920-1930 Hoạt
tính kháng khuẩn của TTO được Penfold so sánh với tính diệt khuẩn của carbalic
acid hoặc phenol Kết quả cho thấy hoạt tính kháng khuẩn của TTO gấp 11 lần
phenol và 13 lần carbalic acid Báo cáo đưa ra một số thành phần trong TTO có
hoạt tính cao hơn so với phenol: cineole (3,5 lần), cymene (8 lần), linalool (13
lần), terpinen-4-ol (13,5 lần) và terpineol (16 lần)
Tinh dầu được pha với Tween 80 ở những nồng độ khác nhau để kiểm tra
nồng độ tối thiểu ức chế vi khuẩn và tiêu diệt vi khuẩn (MIC và MBC) Kết quả
được thể hiện trong Bảng 1.3
Bảng 1.3: Nồng độ tối thiểu ức chế và tiêu diệt các chủng vi khuẩn của tinh dầu tràm trà
Trang 27Trong các chủng khuẩn trên thì hoạt tính của TTO đối với chủng khuẩn
MRSA (Methicillin-resistant staphylococcus aureus), một chủng vi khuẩn rất
thường gặp trong bệnh viện được quan tâm nhiều nhất Theo [11] MRSA sinh sôi
trong các bệnh viện rất nhanh từ 3% vào năm 1980 lên 40% vào năm 1990
MRSA thường tấn công lên vết thương của người bệnh, vết mổ làm suy giảm hệ
thống miễn dịch Tuy nhiên MRSA không bị tiêu diệt bởi nhiều chất kháng
khuẩn thông thường, ngoại trừ Vancomycin Năm 1990, giáo sư Tom Riley - Đại
học Western Australia nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của TTO lên vi khuẩn
MRSA Đến 1990, Carson và cộng sự đã nghiên cứu khả năng kháng 64 loại
MRSA của TTO và đã tìm ra nồng độ ức chế tối thiểu là 0,25% TTO và nồng độ
diệt khuẩn tối thiểu là 0,5% TTO Khi so sánh hoạt tính của Vancomycin với
TTO về hiệu quả diệt MRSA, kết quả cho thấy khả năng diệt MRSA của TTO tốt
hơn Từ đó xà phòng có chứa TTO được sử dụng cho bác sĩ cũng như bệnh nhân
để diệt MRSA do chủng này dễ lây lan qua con đường tiếp xúc ngoài da
Trang 28 Kháng nấm (anti-fungal)
TTO đã được nghiên cứu có khả năng chống lại nhiều loại nấm khác nhau
như nấm âm hộ, nấm trên da, nấm sợi Hầu hết các thành phần trong TTO đều
thể hiện hoạt tính kháng nấm Trong đó, nồng độ tối thiểu ức chế (MIC) và tiêu
diệt (MFC) vi nấm là 0,25% đối với terpinen-4-ol, α-terpineol, linalool, α -pinen,
β-pinen, 1,8-cineole Các thành phần còn lại có hoạt tính thấp hơn với MIC và
MFC khoảng 0,5–2% Ngoại trừ β-myrcene không có hoạt tính kháng nấm [12]
TTO được pha với Tween 80 theo những nồng độ khác nhau lên một số
Trang 29Cơ chế kháng nấm được tập trung nghiên cứu chủ yếu trên Candida
albicans - một loại nấm phổ biến Kết quả cho thấy 1,0% TTO gây ức chế hô
hấp khoảng 95% và khả năng ức chế giảm xuống còn 40% khi sử dụng 0,25%
TTO Như vậy, TTO làm thay đổi tính thấm của màng vi nấm gây sự ức chế hô
hấp, làm tổn thương hoặc thay đổi chức năng của màng tế bào Đồng thời, TTO
còn có khả năng ức chế hình thành ống mầm và thay đổi hệ sợi nấm Đây là
nguyên nhân làm cho TTO có khả năng kháng nấm [13]
Khả năng kháng nấm của TTO được ứng dụng trong một số sản phẩm trị
các bệnh về chân cho vận động viên thể thao, trị ngứa, bệnh lở miệng, viêm âm
đạo, nhiễm trùng nấm ở móng tay
Hoạt tính kháng virus (antiviral)
Hoạt tính kháng virus của TTO được nghiên cứu lần đầu tiên với virus
khảm thuốc lá và cây thuốc lá bởi Bishop với nồng độ TTO là 100, 250, 500ppm
Kết quả sau 10 ngày, giảm đáng kể tổn thương trên mỗi centimet vuông của lá
cây do virus gây ra [14] Trong các thành phần của TTO, terpinen-4-ol làm sự
hình thành màng tế bào virus giảm xuống dưới 0,0005%; 1,8-cineole ức chế
99,99% sự hoạt động của virus, còn α-terpinene chỉ ức chế 55% hoạt động của
virus [10]
HSV (Herpes simplex virus) là tác nhân gây bệnh rất thường gặp, gây các
bệnh khác nhau từ nhẹ đến nặng, trong một số trường hợp chúng có thể gây tử
vong, đặc biệt ở bệnh nhân tổn thương miễn dịch HSV 1 gây bệnh ở da, niêm
mạc, phần trên của cơ thể như mắt, mũi, miệng Lây truyền bằng tiếp xúc trực
tiếp với virus qua thương tổn hoặc qua nước bọt Khi nghiên cứu khả năng kháng
virus HSV1 của TTO và các thành phần trong TTO (2%) nhận thấy các chất
Trang 30ρ-cymene, γ-terpinene, α-terpinene có tính kháng virus không cao, hoạt tính kháng
virus chủ yếu do cấu tử terpinen-4-ol, terpineol, 1,8-cineole Hiệu quả kháng
virus HSV1 giảm theo thứ tự: terpinen-4-ol = α-terpineol > 1,8-cineole > TTO
>> ρ-cymene > γ-terpinene > α-terpinene [10]
Hoạt tính kháng viêm (anti-inflammatory)
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy TTO cũng có tính kháng viêm Nó sẽ
cung cấp các hoạt chất làm cho bạch cầu trung tính có đầy đủ hoạt tính trong
phản ứng kháng viêm cấp tính và loại trừ các kháng nguyên Bạch cầu trung tính
là tế bào đầu tiên tấn công vào chỗ viêm nhiễm, chúng là những thực bào có khả
năng xâm nhập và sau đó phá hủy những tổ chức vi sinh VD: TTO có thể ức chế
lipopolysaccharide, đây là tác nhân gây viêm nhiễm tạo khối u TNF-α (Tumor
Necrosis Fator alpha), interleukin-1β [15]
Độc tính của tinh dầu tràm trà
1.1.6
Năm 2003, trung tâm kiểm soát chất lượng của hiệp hội Mỹ công bố có
7310 trường hợp bị phản ứng phụ khi sử dụng sản phẩm chứa tinh dầu, trong đó
có 787 trường hợp (518 trẻ dưới 6 tuổi, 57 trẻ từ 6-19 tuổi, 212 người trên 19
tuổi) bị phản ứng phụ khi sử dụng sản phẩm chứa TTO TTO gây độc khi uống
và đã được nghiên cứu trên chuột (LD50 = 1,9-2,6 ml/kg chuột) và những báo cáo
về các trường hợp người bị ngộ độc vì TTO [16]
Một báo cáo ghi nhận trường hợp một trẻ em khoảng 23 tháng tuổi bị độc
đối với tinh dầu tràm trà Đứa trẻ này đã uống ít hơn 10ml tinh dầu tràm trà
nguyên chất, sau khi ngủ 30 phút, khi tỉnh dậy thì chân đứng không vững và có
dấu hiệu như người say Nó được đưa đến bệnh viện và được xử lý với than hoạt
tính và sorbitol để súc dạ dày và sau 5 giờ trở lại bình thường Các bác sĩ đo nhịp
tim, nồng độ oxy, hoạt động của đồng tử, chất điện phân và gluco trong máu của
đứa trẻ thấy vẫn bình thường Tuy nhiên các bác sĩ nhận định rằng đó là triệu
chứng lâm sàng đối với sự suy nhược hệ thần kinh trung ương do tinh dầu tràm
trà gây ra Những triệu chứng tương tự cũng xảy ra sau với trường hợp một đứa
trẻ 17 tháng tuổi khi uống dưới 10 ml tinh dầu tràm trà nguyên chất Trường hợp
thứ 3 cũng được ghi nhận khi một đứa trẻ khoảng 4 tuổi uống 2 muỗng tinh dầu
Trang 31đó bị hôn mê và khó thở Hệ thống thần kinh trung ương của đứa trẻ dần hồi
phục sau 10 giờ và được xuất viện sau 24 giờ [16]
Một số trường hợp cũng được ghi nhận xảy ra ở người lớn Trường hợp bị
độc bởi tinh dầu tràm trà ở người lớn là một người uống nửa cốc tinh dầu tràm
trà Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi trong 12 giờ, nửa tỉnh nửa mê, thấy ảo giác
trong 36 giờ tiếp theo Có triệu chứng đau bụng và bị tiêu chảy liên tục trong
khoảng 6 tuần sau Một người đàn ông 60 tuổi uống khoảng nửa đến một muỗng
canh tinh dầu tràm trà để ngăn ngừa bệnh cảm thì thấy nổi mẩn đỏ ở chân, đầu
gối, nửa người, tay Tay, chân, mặt của ông ta cũng bị sưng phồng Hiện tượng
nổi mẩn đỏ và các triệu chứng khác hết từ từ và khoảng một tuần sau là khỏi hẳn
[16]
TTO bị oxy hóa trong quá trình tồn trữ gây ra những kích ứng và dị ứng da
Một cuộc khảo sát đối với 311 người sử dụng TTO không pha loãng liên tục
trong 21 ngày kết quả có 5,5% trường hợp bị kích ứng da Một nghiên cứu khác
của Danish trên 217 người về khả năng dị ứng với 10% TTO và không tìm thấy
kích ứng nào Một nhóm tương tự cũng được thí nghiệm với dạng lotion chứa 5%
TTO và có 44 người phản ứng nhẹ [17]
Khả năng ứng dụng của tinh dầu tràm trà
1.1.7
Từ xưa TTO đã được xem là loại thảo mộc đa dụng đối với thổ dân Úc
Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển, những hoạt tính sinh học của tinh dầu
đã được chứng minh và ứng dụng của tinh dầu ngày càng rộng rãi Với những
hoạt tính đa dạng: kháng khuẩn, kháng nấm, kháng viêm,…TTO được sử dụng
trong y học để điều trị các chứng do côn trùng cắn, sát trùng vết thương, chữa trị
các bệnh về da do nhiễm khuẩn hay nấm như mụn trứng cá, mụn mủ, nấm kẻ tay,
kẻ chân, lang ben,… [18]
[9] 3/2007 Hội khoa học các sản phẩm tiêu dùng tại châu Âu (The
Annette.orloff@ec.europa.eu) công nhận tinh dầu thu được từ các giống tràm trà
Melaleuca alternifolia, Melaleuca linariifolia và Melaleuca dissitiflora phù hợp
với các yêu cầu nêu trong tiêu chuẩn ISO 4730-2004 và đồng thời quy định hàm
lượng TTO trong một số sản phẩm mỹ phẩm
Trang 32Bảng 1.5: Hàm lượng tối đa tinh dầu tràm trà trong mỹ phẩm theo SCCP [9]
Tinh dầu khi pha loãng có thể được dùng làm hương liệu
Không giống như các chất diệt khuẩn khác, TTO là dẫn xuất từ thiên nhiên
nên còn có tác dụng làm mềm và chăm sóc da Do có tính diệt khuẩn nên TTO là
nguyên liệu trong rất nhiều sản phẩm mỹ phẩm
Bảng 1.6: Một số sản phẩm mỹ phẩm trên thị trường có sử dụng tinh dầu tràm trà
Tea Tree Oil Hand Cleanse Gel: gel rửa tay không cần
dùng nước, làm sạch và khô nhanh, đồng thời bổ sung thêm tinh dầu tràm trà giúp da tay mềm mại và không bị khô
Australian Bodycare Tea Tree Oil: tẩy tế bào chết và
dưỡng ẩm cơ thể sẽ giúp giữ cho làn da mềm mại và mịn màng Sự kết hợp giữa các hạt, tinh dầu tràm trà và Glycerin
sẽ loại bỏ các tế bào da chết, duy trì độ ẩm và tạo cảm giác tươi mát
Nước súc miệng Thành phần: Purified water, glycerin, polysorbate 80,
organic tea tree oil, aloe vera gel, witch hazel distillate, ascorbic acid (vitamin c), calcium ascorbate, citric acid, essential oil of spearmint
Công dụng: làm sạch và giảm tích tụ mảng bám, giúp trị
các vấn đề liên quan đến viêm nướu, hôi miệng, bệnh nướu răng, loét miệng nhờ vào tinh dầu tràm trà (được chiết xuất
từ là của cây Melaleuca alternifolia)
Trang 33Các phương pháp chiết tách thu tinh dầu tràm trà
1.2
Để tách tinh dầu ra khỏi nguyên liệu ban đầu có thể dùng nhiều phương
pháp Tuy nhiên lựa chọn phương pháp nào tùy thuộc vào từng loại tinh dầu, giá
trị thương mại của tinh dầu, khả năng tách tinh dầu ra khỏi nguyên liệu, độ bền
nhiệt của tinh dầu và dạng nguyên liệu ban đầu Tuy nhiên các phương pháp
được dùng để tách phải thỏa mãn những yêu cầu cơ bản sau:
Giữ cho tinh dầu có mùi vị tự nhiên ban đầu
Đơn giản, thích hợp, thuận tiện và nhanh chóng
Tách tương đối triệt để, khai thác được hết tinh dầu có trong
nguyên liệu với chi phí thấp nhất
Để tách tinh dầu có thể dùng một số phương pháp như: phương pháp cơ
học, phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước, phương pháp trích ly bằng dung
môi, phương pháp lên men và một số phương pháp hiện đại như: phương pháp
trích ly bằng CO2 lỏng siêu tới hạn Trong đó 3 phương pháp đầu thường được
ứng dụng nhiều [6]
Một số phương pháp chiết tách thu tinh dầu từ cây tràm trà Melaleuca
alternifolia đã được nghiên cứu và áp dụng:
Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
1.2.1
Nguyên tắc: dựa trên nguyên tắc chưng cất hỗn hợp 2 chất lỏng bay
hơi được không trộn lẫn vào nhau (nước và tinh dầu) Khi áp suất bão hoà bằng
áp suất khí quyển, hỗn hợp bắt đầu sôi và hơi nước kéo theo hơi tinh dầu [6]
Hầu hết các loại tinh dầu ngày nay được chiết tách bằng phương pháp
chưng cất hơi nước Đây là phương pháp lâu đời nhất, đơn giản và là phương
pháp tốt nhất để thu tinh dầu từ lá cây Hơn nữa, quá trình này gây ra rất ít sự
thay đổi thành phần trong tinh dầu; hơi nước có sẵn, rẻ, không độc hại và có thể
thu hồi Vì vậy, chưng cất lôi cuốn hơi nước thường được sử dụng để thu TTO
(35 - 45% terpinen-4-ol) [19]
Michael R Johns và cộng sự đã tiến hành chưng cất lôi hơi nước cây tràm
trà để khảo sát ảnh hưởng của tốc độ hơi và việc tiền xử lí nguyên liệu lá (ngâm
trong nước) đến năng suất, thành phần và tỉ lệ thu hồi các thành phần trong TTO
với thời gian chưng cất 2-3h Kết quả cho thấy năng suất và thành phần TTO
Trang 34thay đổi không đáng kể tuy nhiên tỉ lệ thu hồi các thành phần riêng biệt trong
TTO có những ảnh hưởng đáng kể Các thành phần trong tinh dầu chia thành 2
nhóm lớn Các thành phần oxy hóa đặc biệt là terpinen-4-ol và 1,8-cineole, được
thu hồi nhanh nhất, mặc dù có nhiệt độ sôi cao hơn các thành phần khác Tỉ lệ thu
hồi tăng khi tăng tốc độ hơi nước nhưng không chịu ảnh hưởng của việc ngâm lá
Nhóm thứ hai các thành phần có cấu trúc kị nước (monoterpene) hoặc kích thước
phân tử lớn (sesquiterpene) chịu ảnh hưởng ngược lại Tỷ lệ thu hồi các thành
phần này không bị ảnh hưởng bởi tốc độ hơi nước và nhưng bị ảnh hưởng bởi
việc ngâm lá Nghiên cứu này là cơ sở cho việc kiểm soát chất lượng tinh dầu
theo mục tiêu sản xuất [20]
[8] Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO), TTO thu được từ giống tràm
Melaleuca alternifolia bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước lá và cành
nhỏ thỏa mãn tiêu chuẩn ISO 4730 Tuy nhiên hàm lượng terpinen-4-ol trong
TTO vẫn chưa cao khoảng 35-37% Do đó một số nghiên cứu tinh chế TTO đang
được nghiên cứu, nhằm nâng cao giá trị tinh dầu Một vài phương pháp tinh chế
thường được sử dụng: kết tinh, hóa học, sắc ký cột, CO2 siêu tới hạn, chưng cất
phân đoạn ở áp suất chân không,…
Phương pháp trích ly CO 2 siêu tới hạn
1.2.2
Đối với một chất đang ở trạng thái khí, khi bị nén đẳng nhiệt với một áp
suất đủ cao, chất khí sẽ hóa lỏng và ngược lại Tuy nhiên, có một giá trị áp suất
mà tại đó, nếu tăng nhiệt độ lên thì chất lỏng cũng không hóa hơi trở lại mà trở
thành một dạng đặc biệt gọi là trạng thái siêu tới hạn Vật chất ở dạng này có tính
chất trung gian, mang nhiều đặc tính của chất khí và chất lỏng Chất lỏng ở trạng
thái siêu tới hạn có tỷ trọng tương đương như tỷ trọng của pha lỏng nhưng sự
linh động của các phần tử lại rất lớn, sức căng bề mặt nhỏ, hệ số khuyếch tán cao
giống như đang ở trạng thái khí [6]
Trang 35Hình 1.2: Đồ thị biểu diễn trạng thái vùng siêu tới hạn của môt chất
Kỹ thuật chiết bằng CO 2 siêu tới hạn [6]
CO2 và một số dung môi khác ở trạng thái siêu tới hạn có tính chất hóa lý
đặc biệt như: Sức căng bề mặt thấp; độ linh động cao, độ nhớt thấp; tỷ trọng xấp
xỉ tỷ trọng của chất lỏng; có thể thay đổi khả năng hòa tan của chất khác bằng
cách thay đổi nhiệt độ và áp suất
SCO2 thường được chọn làm dung môi để chiết tách các hợp chất thiên
nhiên vì những thuận lợi sau:
CO2 là chất dễ kiếm, rẻ tiền vì nó là sản phẩm phụ của nhiều ngành công
nghiệp hóa chất khác
Là một chất trơ, ít có phản ứng kết hợp với các chất cần tách chiết Khi
được đưa lên tới trạng thái tới hạn, CO2 không tự kích nổ, không bắt lửa
và không duy trì sự cháy
CO2 không độc với con người và không duy trì sự cháy;
Điểm tới hạn của CO2 ( PC=73 atm; TC= 0,90C) là một điểm có giá trị
nhiệt độ và áp suất không cao lắm so với các chất khác nên sẽ tốn ít năng
lượng hơn để đưa CO2 tới vùng tới hạn
Có khả năng hòa tan các chất hữu cơ ở thể rắn cũng như thể lỏng, đồng
thời cũng hòa tan được cả các chất thơm dễ bay hơi, không hòa tan các
kim loại nặng và có thể điều chỉnh các thông số trạng thái như áp suất,
nhiệt độ để thay đổi chọn lọc của dung môi;
Khi sử dụng CO2 thương phẩm để chiết tách không có dư lượng chất độc
hại trong chế phẩm chiết;
Trang 36[21] Đối với TTO, phương pháp trích ly siêu tới hạn (SFE) sử dụng CO2 đã
được nghiên cứu bởi Victor Wong và cộng sự Nghiên cứu khảo sát những ảnh
hưởng của mật độ CO2 siêu tới hạn (scCO2) và nhiệt độ trích ly Mục đích là cải
tiến điều kiện trích ly nhằm tách 8 monoterpene quan trọng (Pinene,
Terpinene, ρ-Cymene, 1,8-Cineole, γ-Terpinene, Terpinolene, Terpinen-4-ol,
α-Terpineol) trong lá tràm Úc Trong nghiên cứu này, điều kiện tối ưu cho quá
trình trích ly là 0,25 g/ml scCO2 ở nhiệt độ 110oC, đặc biệt khi sử dụng nguyên
liệu lá tươi
Bảng 1.7: Thành phần của 8 monoterpen được chiết xuất bằng phương pháp
trích ly siêu tới hạn [21]
TTO thu được bằng phương pháp ScCO2 thỏa mãn yêu cầu tiêu chuẩn ISO
4730 TTO có hàm lượng terpinen-4-ol khoảng 50% (cao hơn terpinen-4-ol thu
được bằng chưng cất lôi cuốn hơi nước) Tuy nhiên, phương pháp trích ly siêu tới
hạn đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, chi phí đầu tư cao nhưng thời gian trích ly
ngắn Do đó, khi cần tinh chế TTO để thu Terpinen-4-ol có hàm lượng cao
(>99%) phải sử dụng thêm phương pháp tinh chế khác Trong các phương pháp
tinh chế tinh dầu, phương pháp chưng cất phân đoạn ở áp suất chân không được
sử dụng nhiều do những đặc điểm: làm giàu hoạt chất, tách riêng một số thành
phần của tinh dầu, hạ nhiệt độ sôi tinh dầu hạn chế sự biến tính tinh dầu
Trang 37Phương pháp chưng cất phân đoạn
1.2.3
Có thể thực hiện ở áp suất thường hoặc áp suất thấp Nhưng chủ yếu là ở áp
suất thấp (áp suất chân không) do khi giảm áp suất thì nhiệt độ sôi của các cấu tử
giảm, vì vậy cấu tử sẽ không bị biến tính bởi nhiệt Mục đích của chưng cất phân
đoạn làm giàu hoạt chất, tách riêng một số thành phần của tinh dầu…
Do cấu tử không bị biến tính nên phương pháp chưng cất phân đoạn có thể
được dùng để thu tinh dầu tràm trà có hàm lượng terpinen-4-ol cao (>99%) sau
khi tiến hành chưng cất lôi cuốn hơi nước để thu tinh dầu có hàm lượng
terpinen-4-ol khoảng 37%
Thiết bị chưng cất phân đoạn ở áp suất chân không [22]
Khả năng tách của thiết bị cất phân đoạn chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố
như: chất lượng, độ cao của cột, áp suất thực hiện và kỹ thuật thao tác Về
nguyên tắc, thiết bị chưng cất phân đoạn chân không gồm các bộ phận:
Bình chứa tinh dầu: Làm bằng kim loại (công nghiệp) hay bằng thủy tinh
(phòng thí nghiệm) chịu được áp suất, có nhiệt kế và áp kế, ống dẫn hồi lưu,
được đun nóng bằng hơi nước hay bằng bếp cách cát, điều chỉnh được nhiệt độ
Cột phân đoạn: Được nối liền ngay trên bình chứa tinh dầu Trong phòng
thí nghiệm, cột phân đoạn được nhồi sứ, cột có đĩa thủy tinh dài từ 30–130cm,
bên ngoài được bảo ôn bằng amiăng Trong công nghiệp, cột chưng phân đoạn
thường dài 4 – 6m có nhiều tầng đĩa và các ống hồi lưu, chịu áp suất, cột cũng
được bảo ôn bằng amiăng
Phần ngưng lạnh: Trong phòng thí nghiệm là ống sinh hàn bằng thủy tinh
được nối với cột bằng các nút thủy tinh, nút mài tiêu chuẩn, chịu được áp suất
Ống sinh hàn có thể bố trí nằm nghiêng hoặc thẳng đứng.Trong công nghiệp
thường là hệ ngưng lạnh ống chùm hoặc ống xoắn ruột gà chịu áp
Ống hứng: Gồm hai phần nút nối giữa sinh hàn và bình hứng Bình hứng
có thể là bình cầu cũng có thể là một bình hình nhện chứa nhiều bình để có thể
hứng nhiều phân đoạn khác nhau, chỉ cần xoay cổ các bình hứng
Bơm chân không: có thể đạt đến áp suất tuyệt đối 5-10 mmHg do đó nhiệt
độ sôi của các loại tinh dầu giảm nhiều so với ở áp suất thường, tránh được hiện
tượng hóa nhựa ở nhiệt độ cao
Trang 38Hình 1.3: Mô hình chưng cất phân đoạn chân không
không:
- Tách được các cấu tử có nhiệt độ sôi xa nhau Phương pháp này được
dùng để thay đổi thành phần ban đầu của tinh dầu
- Tinh dầu tràm trà có khoảng hơn 100 cấu tử, tuy nhiên chỉ có khoảng
12 cấu tử chính Mỗi cấu tử sẽ có những tính chất khác nhau, vì vậy khi thay đổi
thành phần của tinh dầu sẽ làm thay đổi các tính chất của tinh dầu như: mùi, vị,
hoạt tính sinh học, tính chất lý hóa và sẽ có những ứng dụng khác nhau
- Mặt khác, chưng cất phân đoạn sẽ thay đổi thành phần tinh dầu cho phù
hợp với tiêu chuẩn ISO 4730 và có giá trị thương mại hơn
Trang 39 Ứng dụng chưng cất phân đoạn chân không cho tinh dầu
Các loại tinh dầu thiên nhiên nói chung được trích lấy từ một số cây cỏ
thảo mộc, có thể lấy từ hoa, lá như tràm trà, sả, bạc hà, hương nhu…, hoặc lấy từ
thân cây trái rễ như thiên niên kiện, hồi,… hoặc lấy từ cây như dầu thông Do đó
tinh dầu thiên nhiên là hỗn hợp nhiều cấu tử phức tạp
Mỗi loại tinh dầu khi chưa được chế biến tạm gọi là tinh dầu thô, mặc dù
chứa khoảng vài chục cấu tử nhưng trong đó chỉ có một vài cấu tử chính “ đặc
trưng” cần lưu ý Ý nghĩa “đặc trưng” ở đây là nồng độ cao hơn hẳn các cấu tử
khác và tính chất của nó quyết định chất lượng của tinh dầu thô Cụ thể như trong
tinh dầu tràm trà, cấu tử đặc trưng là terpinen-4-ol Chính nhờ những cấu tử đặc
trưng đó mà TTO có giá trị trong lĩnh vực dược liệu Các cấu tử khác còn lại
trong tinh dầu, ngoài cấu tử chính đặc trưng, đều coi là tạp chất vì sự có mặt của
chúng làm giảm giá trị của cấu tử chính về hương thơm cũng như dược chất Tuy
nhiên, các cấu tử được gọi là tạp chất này cũng có thể sử dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau Có nhiều phương pháp tinh chế nhằm tách tạp chất ra khỏi tinh
dầu thiên nhiên, nâng cao nồng độ cấu tử chính đặc trưng đến mức tối đa, nhưng
thường sử dụng phương pháp chưng cất Ưu điểm của phương pháp chưng cất
trong việc tinh chế các loại tinh dầu là sản phẩm thu nhận được không có vết cấu
tử lạ và quy trình công nghệ đơn giản Tuy nhiên không thể tạo được sản phẩm ở
dạng cấu tử tinh khiết bằng phương pháp chưng cất thuần túy Thông thường
chưng cất tinh dầu được tiến hành ở áp suất thấp (chân không)
Quy trình công nghệ chưng cất tinh dầu thiên nhiên có thể được xây dựng
theo phương án vận hành gián đoạn và cũng có thể theo phương án vận hành liên
tục Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng Phương án gián đoạn có thiết bị
đơn giản, vốn đầu tư nhỏ, tuy nhiên năng suất không cao và chất lượng sản phẩm
khó ổn định Phương pháp liên tục thì hệ thống thiết bị phức tạp hơn do đó chi
phí đầu tư sẽ cao hơn, tuy nhiên chất lượng sản phẩm ổn định, năng suất cao, dễ
thực hiện quá trình tự động hóa hệ thống
Muốn xây dựng phương án chưng cất phân đoạn một loại tinh dầu thiên
nhiên, dù cho quá trình chưng cất gián đoạn hay liên tục, ta cũng cần biết các dữ
kiện sau:
Trang 40 Thành phần các cấu tử trong mẫu tinh dầu thô
Đường cong nhiệt độ sôi chưng cất thực của mẫu tinh dầu thô
Đường cong biến thiên nồng độ cấu tử chính đặc trưng theo % thể tích
hoặc theo nhiệt độ chưng cất
Đối với việc xác định thành phần các cấu tử trong mẫu tinh dầu thô, ta có
thể sử dụng phương pháp phân tích sắc ký
Để xây dựng được đường cong nhiệt độ sôi chưng cất của một mẫu tinh
dầu thô, ta tiến hành chưng cất ở phòng thí nghiệm với cột chưng cất chân không
loại đệm, tỷ số hồi lưu hợp lý và độ chân không thích hợp từng loại tinh dầu
Trong quá trình thí nghiệm, ứng với một khoảng thời gian nhất định ta đọc nhiệt
độ cùng lúc với đo thể tích dịch ngưng và tách riêng ra để xác định nồng độ cấu
tử chính trong mẫu phân đoạn (xác định bằng phương pháp phân tích sắc ký)
Như vậy, với một lần thí nghiệm ta thu nhận được số liệu cho đường cong chưng
cất và đường biến thiên nồng độ cấu tử chính của tinh dầu
Hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào về tinh
chế TTO nhằm nâng cao hàm lượng terpinen-4-ol từ TTO thô chứa 34%
terpinen-4-ol (thu được bằng chưng cất lôi cuốn hơi nước) ở quy mô công
nghiệp Do đó, luận văn tiến hành nghiên cứu chưng cất phân đoạn ở áp suất
chân không TTO thô nhằm mục đích thu TTO có hàm lượng terpinen-4-ol cao
trên hệ thống chưng cất chân không công nghiệp,với mục tiêu nâng cao giá trị
thương mại của TTO
Sơ lược về da và hệ vi sinh vật trên da
1.3
Da nằm bao bọc xung quanh cơ thể chiếm 16% trọng lượng cơ thể Chức
năng chính của da là cảm giác, bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân bên ngoài
(tác nhân hóa học, vật lý, cơ học,…), điều hòa nhiệt độ của cơ thể, giảm sự thoát
hơi nước, chứa các tuyến bài tiết, cơ quan cảm giác, tổng hợp vitamin D [6] [23]
Cấu trúc da [23]
1.3.1
Da bao gồm ba lớp riêng biệt được chia khác nhau dựa vào yếu tố sinh lý,
sinh hóa và hình dạng cấu tạo của chúng