1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 12

Giáo trình Tâm lý học trong kinh doanh

118 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các quảng cáo loại này chủ yếu các nhà quảng cáo đưa ra các yếu tố hấp dẫn (như đợt mua có thưởng, mua 1 tặng 1,...) nhằm tạo sự khát vọng ở khách hàng mà đi đến quyết định mua h[r]

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: TÂM LÝ HỌC TRONG KINH DOANH

NGÀNH: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP

(Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-CĐKTKT ngày tháng năm 20 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh)

Trang 2

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: TÂM LÝ HỌC TRONG KINH DOANH

NGÀNH: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

Trang 4

Tâm lý là một ngành khoa học có vai trò quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực xã hội Tâm lý học và tâm lý học trong kinh doanh theo hướng ứng dụng trong lĩnh vực xã hội, kinh doanh và quản trị kinh doanh, là công cụ không thể thiếu được trong hoạt động nghiên cứu và quản lý Tâm lý học trong kinh doanh đã trở thành một môn học cơ sở trong ngành đào tạo thuộc khối kinh tế

Giáo trình này được biên soạn nhằm mục đích giúp cho bạn đọc am hiểu các vấn

đề về lý thuyết, chuẩn bị cho những tiết thực hành có hiệu quả, là cơ sở quan trọng cho người học tiếp cận thực tế

Để đáp ứng nhu cầu trên, Tác giả thực hiện biên soạn quyển sách giáo trình Tâm

lý học trong kinh doanh Tài liệu này được viết trên cơ sở bạn đọc đã có kiến thức phổ thông, cho nên cuốn sách không đi sâu về mặt tâm lý học mà chú trọng đến kết quả và ứng dụng trong lĩnh vực kinh doanh và quản trị kinh doanh với các ví dụ gần gũi với thực

tế

Giáo trình Tâm lý học trong kinh doanh gồm 5 chương:

Chương 1: Khái quát về tâm lý học

Chương 2: Những hiện tượng tâm lý cá nhân

Chương 3: Tập thể - Đối tượng quản trị

Chương 4: Tâm lý trong hoạt động quản trị

Chương 5: Tâm lý trong hoạt động kinh doanh

Với kinh nghiệm giảng dạy được tích lũy qua nhiều năm, tham gia thực hiện các

đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội; cùng với sự phối hợp và hỗ trợ của đồng nghiệp, Tác giả hy vọng quyển sách này đáp ứng được nhu cầu học tập của các sinh viên và nhu cầu tham khảo của các bạn đọc có quan tâm đến Tâm lý học trong kinh doanh trong nghiên cứu kinh tế xã hội

Trong quá trình biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của bạn đọc để lần tái bản sau quyển sách được hoàn thiện hơn Xin chân thành cám ơn

TP HCM, ngày……tháng……năm Chủ biên

Trang 5

MỤC LỤC

GIỚI THIỆU

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC 1

1.1 Sơ lược về các hiện tượng tâm lý 1

1.1.1 Tâm lý là gì? 1

1.1.2 Chức năng của hiện tượng tâm lý 2

1.1.3 Đặc điểm chung của các hiện tượng tâm lý 3

1.1.4 Phân loại các hiện tượng tâm lý 4

1.2 TÂM LÝ HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC TRONG KD 6

1.3 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ HỌC KD 8

1.3.1 Vài nét về lịch sử hình thành của khoa học tâm lý 8

1.3.2.Quá trình hình thành của tâm lý học QTKD 10

1.4 VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÌM HIỂU TÂM LÝ CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG QTKD 13

1.4.1 Quan sát 13

1.4.2 Thực nghiệm tự nhiên 14

1.4.3 Phương pháp đàm thoại 15

1.4.4 Phương pháp dùng bảng câu hỏi (hay bản anket) 17

1.4.5 Phương pháp trắng nghiệm hay Test 18

1.4.6 Phương pháp xạ ảnh 18

1.4.7 Phương pháp “tiểu sử” 19

1.4.8 Phương pháp trắc lượng xã hội 19

CHƯƠNG 2: NHỮNG HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ CÁ NHÂN 21

2.1 HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC 21

2.1.1 Nhận thức cảm tính 21

2.1.2 Trí nhớ 27

2.1.3 Nhận thức lý tính 33

2.2 TÌNH CẢM VÀ Ý CHÍ 36

2.2.1 Tình cảm 36

2.2.2 Ý chí và hành động ý chí 39

2.3 NGÔN NGỮ 42

2.3.1 Ngôn ngữ 42

Trang 6

2.4.2 Khái niệm nhân cách trong tâm lý học 44

2.4.3 Các đặc điểm cơ bản của nhân cách: 44

2.4.4 Những thuộc tính tâm lý nhân cách 45

CHƯƠNG 3: TẬP THỂ - ĐỐI TƯỢNG QUẢN TRỊ 51

3.1 KHÁI NIỆM VỀ NHÓM VÀ TẬP THỂ 51

3.1.1 Khái niệm nhóm: 51

3.1.2 Phân loại nhóm: 51

3.1.3 Khái niệm tập thể: 52

3.2 CƠ CẤU TÂM LÝ – XÃ HỘI CỦA TẬP THỂ 52

3.2.1.Cơ cấu chính thức va cơ cấu không chính thức 52

3.2.2 Cơ cấu tổ chức của tập thề 53

3.3 CÁC GIAI ĐOẠN CỦA TẬP THỂ 53

3.4 NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ TẬP THỂ CẦN LƯU Ý TRONG QUẢN TRỊ 54

3.4.1 Khái niệm về tâm lý tập thể 54

3.4.2 Những hiện tượng tâm lý trong nhóm và tập thể 54

CHƯƠNG 4: TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ 64

4.1 VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG VÀ ĐẶC NGHỀ NGHIỆP CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 64

4.2 NHỮNG PHẨM CHẤT CẦN THIẾT CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 65

4.2.1 Những phẩm chất chính trị-tư tưởng, đạo đức 65

4.2.2 Những nét tính cách quan trọng của nhà quản trị 66

4.2.3 Những phẩm chất về năng lực 67

4.3 NHỮNG KHÍA CẠNH TÂM LÝ CỦA UY TÍN NHÀ QUẢN TRỊ 68

4.3.1 Bản chất của uy tín nhà quản trị 69

4.3.2 Những biểu hiện uy tín thực chất của nhà quản trị. 69

4.3.3 Các loại uy tín giả 70

4.3.4 Các kiểu lãnh đạo cơ bản 71

4.4 TÂM LÝ TRONG QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH QUẢN TRỊ 72

4.4.1 Bản chất tâm lý của quyết định quản trị 72

4.4.2 Các phương pháp ra quyết định 73

4.4.3 Các giai đoạn của quá trình ra quyết định 74

4.4.4 Những yêu cầu tâm lý trong tổ chức thực hiện quyết định 74

4.4.5 Phương pháp kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quyết định 76

Trang 7

5.2 TÌM HIỂU TÂM LÝ THỊ TRƯỜNG 81

5.3 HÀNH VI TIÊU DÙNG 83

5.3.1 Khái niệm về hành vi tiêu dùng 83

5.3.2 Nhu cầu tiêu dùng 84

5.3.3 Động cơ tiêu dùng 86

5.4 TÂM LÝ TRONG CÁC CHIẾN LƯỢC MARKETING 89

5.4.1 Tâm lý trong thiết kế sản phẩm mới 89

5.4.2 Tâm lý trong chiến lược giá. 92

5.4.3 Tâm lý trong quảng cáo thương mại 96

5.4.4 Tâm lý trong tiêu thụ sản phẩm 98

5.5 TÂM LÝ CỦA CÁC NHÓM KHÁCH HÀNG KHÁC NHAU 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 8

Tên môn học: Tâm lý học trong kinh doanh

Mã môn học: MH2105051

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:

- Vị trí: Môn học Tâm lý học trong kinh doanh thuộc nhóm các môn học cơ sở được bố trí giảng dạy sau khi đã học xong các môn học chung Trong nhóm các môn học cơ sở, môn Tâm lý học trong kinh doanh chính được bố trí sau các môn kinh tế chính trị

- Tính chất: Môn học Tâm lý học trong kinh doanh cung cấp những kiến thức cơ bản, nền tảng về tâm lý trong kinh doanh làm cơ sở cho học sinh nhận thức các môn chuyên môn của nghề

- Ý nghĩa và vai trò của môn học:

Ý nghĩa:

Ở bất cứ nền kinh tế nào, nền văn minh nào, bất cứ ngành nghề nào, hễ đã có con người, người chỉ huy hay người thực hiện, người phục vụ hay người được phục vụ …thì hiệu quả hoạt động của ngành ấy tất yếu phụ thuộc vào những yếu tố tâm lý, thể chất của mỗi cá nhân với tư cách là một thành viên của một tập thể nhất định

Muốn quản lý, lãnh đạo tốt cần phải nắm vững tâm lý, tâm lý cá nhân và tâm lý tập thể Nhưng để nắm vững tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân cần phải có tri thức về tâm

lý đại cương làm cơ sở Tùy theo yêu cầu công việc mà mỗi người nhất là nhà quản lý, lãnh đạo cần phải có tri thức tâm lý học cần thiết Muốn giảng dạy và giáo dục tốt các thầy cô giáo phải biết được tâm lý lứa tuổi, tâm lý sư phạm Giám đốc doanh nghiệp, các nhà quản trị muốn quản lý tốt nhân lực, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cần nghiên cứu tâm lý học sản xuất, tâm lý học kinh doanh, tâm lý học quản trị

Như vậy, những kiến thức về tâm lý học sẽ là một cơ sở nền tảng khoa học quan trọng cho công tác quản lý xã hội nói chung và quản trị kinh doanh nói riêng

Vai trò:

Về mặt lý thuyết tâm lý học quản lý giúp các nhà quản lý có được một hệ thống lý luận và nhận thức được các quy luật chung nhất trong việc quản lý con người trong đối nhân xử thế khi quản lý và lãnh đạo quần chúng Mặt khác, nó còn giúp các nhà lãnh đạo tránh được những sai lầm trong tuyển chọn cán bộ, trong ứng xử, trong giao tiếp trong hoạch định chính sách và kế hoạch quản lý

Về mặt thực tiễn và ứng dụng, tâm lý học quản trị đã mang lại nhiều lợi ích cho công tác quản lý, tạo ra năng suất và hiệu quả lao động cao hơn, làm cho xã hội ngày càng văn minh và tiến bộ hơn Có thể nêu một số tác động chính của tâm lý học quản trị trên các bình diện sau đây:

Trang 9

- Về kiến thức:

+ Trình bày được các khái niệm, hiện tượng tâm lý học trong kinh doanh

+ Trình bày được các phương pháp tìm hiểu tâm lý con người trong hoạt động quản trị kinh doanh

+ Trình bày được các hiện tượng tâm lý của cá nhân trong đời sống hàng ngày + Trình bày được cơ cấu tâm lý – xã hội của tập thể và những yếu tố tâm lý tập thể trong quản trị

+Trình bày được những khía cạnh tâm lý của uy tính nhà quản trị

+ Trình bày được các hiện tượng tâm lý trong kinh doanh

- Về kỹ năng:

+ Vận dụng được hiện tượng tâm lý của cá nhân trong đời sống hàng ngày

+ Vận dụng được tâm lý học trong trong hoạt động nhóm và tập thể

+ Vận dụng được tâm lý học trong hoạt động quản trị

+ Vận dụng được tâm lý học trong hoạt động kinh doanh như tâm lý trong các chiến lược Marketing và tâm lý của các nhóm khách hàng khác nhau

Trang 10

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC Giới thiệu:

Mô tả các đặc điểm cơ bản của tâm lý người Phân tích chức năng của tâm lý trong đời sống con người Nhận biết Tâm lý học là một khoa học có đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ, lịch sử hình thành, phương pháp nghiên cứu cụ thể và vai trò của tâm lý học trong đời sống xã hội Nhận thức được ứng dụng của Tâm lý học có tính chất đa dạng và quan trọng đối với xã hội và các ngành nghề khác, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị và áp dụng tâm lý học trong kinh doanh

Mục tiêu:

- Trình bày được các khái niệm, hiện tượng tâm lý học trong kinh doanh

- Trình bày được các phương pháp tìm hiểu tâm lý con người trong hoạt động quản trị kinh doanh

Khi đã nhận thức được sự vật, hiện tượng xung quanh mình, chúng ta thường tỏ thái độ với chúng Hiện tượng này làm cho chúng ta buồn rầu, hiện tượng kia làm cho chúng ta sung sướng, có lúc lại làm cho chúng ta đau khổ, tức giận Đó chính là tình cảm của con người

Trong quá trình hoạt động, chúng ta thường gặp những khó khăn trở ngại làm hao tổn sức lực, thậm chí có thể bị đau khổ hoặc nguy hiểm đến tính mạng Lúc đó có một hiện tượng tâm lý khác xuất hiện, đó là hoạt động ý chí, nó giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, trở ngại để đạt đến mục đích của hoạt động

Có một loại hiện tượng tâm lý cao cấp khác giúp con người không những phản ánh thế giới bên ngoài mà còn phản ánh được chính mình giúp cho chúng ta nhận biết

Trang 11

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

mình, đánh giá được hành vi, thái độ, đánh giá được tình cảm, đạo đức, tài năng cũng như

vị trí, vai trò, trách nhiệm, của mình Đó là ý thức và tự ý thức Và cũng chính nhờ có ý thức và tự ý thức mà ở con người hình thành một hiện tượng tâm lý cao cấp khác đó là nhân cách

Tất cả những hiện tượng kể trên đều là những hiện tượng tâm lý Như vậy thuật ngữ “tâm lý” trong khoa học là rất rộng, đó là tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc của con người, gắn liền và điều hành mọi hoạt động, hành động của con người Theo cách hiểu này thì tâm lý con người là nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, tình cảm, ý chí đến tính cách, ý thức và tự ý thức, là nhu cầu, năng lực, đến các động cơ hành vi, đến các hứng thú và khả năng sáng tạo, khả năng lao động đến các tâm thế xã hội và những định hướng giá trị v.v… Tất cả những hiện tượng đó tạo ra 4 lĩnh vực tâm lý cơ bản của con người, đó là nhận thức, tình cảm-ý chí, giao tiếp và nhân cách

1.1.2 Chức năng của hiện tượng tâm lý

Hiện tượng tâm lý có những chức năng sau:

Trước hết tâm lý giúp con người nhận biết được thế giới khách quan, giúp con người phân tích, đánh giá các sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh họ - đó là chức năng nhận thức của tâm lý

Tâm lý giúp con người định hướng khi bắt đầu hoạt động: trước hết ở con người xuất hiện các nhu cầu và nảy sinh động cơ và mục đích hoạt động Động cơ, mục đích đó

có thể là một lý tưởng, niềm tin, cũng có thể là lương tâm, danh dự, danh vọng, tiền tài…, mà cũng có thể là một tình cảm, tư tưởng, khái niệm, biểu tượng v.v… hoặc một

kỷ niệm thậm chí một ảo tưởng…

Tâm lý thực hiện chức năng là động lực thúc đẩy hành động hoạt động: thông thường thì động lực của hoạt động là những tình cảm nhất định (say mê, tình yêu, căm thù…), trong nhiều trường hợp khác cũng có thể là những hiện tượng tâm lý khác còn kèm theo cảm xúc như biểu tượng của tưởng tượng, ám thị, sự hụt hẫng, ấm ức…

Tâm lý điều khiển kiểm soát quá trình hoạt động bằng một mẫu hình, chương trình, kế hoạch, phương thức hay một cách thức, thao tác

Tâm lý còn giúp con người điều chỉnh hoạt động của mình Để thực hiện chức năng này con người có trí nhớ và khả năng phân tích, so sánh

Tâm lý có nhiều chức năng quan trọng như vậy cho nên để giao tiếp với con người, quản lý con người, tác động đến con người nhà quản lý phải nắm vừng tâm lý, tác động phù hợp với qui luật tâm lý của họ mới có thể đạt hiệu quả cao nhất trong lao động

SX, trong hoạt động và trong quản lý con người, quản lý xã hội

Trang 12

1.1.3 Đặc điểm chung của các hiện tượng tâm lý

Các hiện tượng tâm lý có một số đặc điểm cơ bản chung sau đây:

- Các hiện tượng tâm lý vô cùng phong phú, phức tạp và đầy bí ẩn- và có tính tiềm tàng Tâm lý là hiện tượng rất quen thuộc, rất gần gũi nhưng cũng rất mênh mông, xa vời Tâm lý là “Thế giới bên trong” vô cùng phức tạp, hấp dẫn, kỳ diệu, thậm chí kỳ lạ, huyền bí… Nó huyền bí, kỳ lạ đến mức, đã có thời người ta qui các hiện tượng tâm lý là hiện tượng thần linh, không giải thích nổi – “tâm lý là lĩnh vực khả cảm nhưng bất khả tri”

Do chưa hiểu bản chất thực sự của tâm lý con người cho nên trong thực tế cuộc sống còn những hiện tượng: hoặc thần bí hóa tâm lý dẫn đến mê tín dị đoan, hoặc phủ nhận sạch trơn những hiện tượng tâm lý phức tạp dẫn đến những việc làm phi nhân tính

Trong thực tế người ta đã bắt gặp rất nhiều người có khả năng ngoại cảm Ví dụ: hiện tượng thấu thị khả năng tác động bằng ý chí tới một vật từ xa, khả năng hấp dẫn các

đồ vật… Chính vì tính chất tiềm tàng đó của bộ não con người mà làm cho lĩnh vực tâm

lý của chúng ta càng them phức tạp

- Các hiện tượng tâm lý quan hệ với nhau rất chặt chẽ

Các hiện tượng tâm lý tuy phong phú, đa dạng nhưng chúng không tách rời nhau,

mà chúng tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta đều có thể cảm nhận được sự tác động lẫn nhau giữa hai lĩnh vực tâm lý- nhận thức và tình cảm: khi chúng ta nhận xét, đánh giá một người (tức là chúng ta nhận thức về họ) thường bị chi phối bởi tình cảm của mình đối với người đó Hiện tượng “yêu nên tốt, ghét nên xấu” là rất phổ biến, vì vậy khi đánh giá, nhận xét một nhân viên nào đó, nhà quản trị cần lưu ý rằng tình cảm hay ác cảm của mình đối với họ cũng có thể làm cho chúng ta nhìn nhận, đánh giá họ một cách sai lệch

đi Hay giữa các cảm giác của con người cũng có sự tác động lẫn nhau rất chặt chẽ : “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”, ở đây có sự tác động qua lại giữa thị giác tới cảm giác

cơ thể, và từ thị giác tới vị giác

- Tâm lý là hiện tượng tinh thần, nó tồn tại trong đầu óc của ta, chúng ta không thể nhìn thấy nó, không thể sờ thấy, không thể cân đong, đo, đếm một cách trực tiếp như những hiện tượng vật chất khác Tuy nhiên tâm lý lại được thể hiện ra bên ngoài thông qua hoạt động, hành động, hành vi cử chỉ, nét mặt Chính vì thế mà chúng ta có thể nghiên cứu nó bằng cách quan sát những hành vi, cử chỉ, biểu hiện bên ngoài của con người, nghiên cứu tâm lý con người thông qua các sản phẩm hoạt động

Chẳng hạn, chúng ta không thể nhìn thấy tình cảm của một người là to hay nhỏ, là dài hay ngắn, không thể bắc nó lên cân xem bao nhiêu cân, bao nhiêu lạng, bởi vì tình

Trang 13

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

cảm là tinh thần là vô hình là vô sắc, tuy nhiên ta có thể nhận biết được tình cảm của họ đối với ta “nặng nề, sâu sắc như thế nào thông qua ánh mắt, nụ cười, những hành vi biểu cảm khi học tiếp xúc với ta” Nhưng cũng cần lưu ý rằng, khi chúng ta tìm hiểu tâm lý của một người là chúng ta chỉ có thể tìm hiểu thông qua những biểu hiện bên ngoài không phải bao giờ cũng thống nhất với những tâm lý bên trong: cũng có khi “ngoài thì xơn xớt nói cười, còn trong nham hiểm giết người không dao” hoặc cũng có khi “khẩu xà nhưng tâm phật”… Vì thế khi tìm hiểu tâm lý của một người chúng ta cần phải thận trọng kẻo dễ bị vẻ bên ngoài của họ đánh lừa

- Các hiện tượng tâm lý có sức mạnh vô cùng to lớn trong đời sống con người, nó

có thể làm cho chúng ta trở nên khỏe mạnh hơn, sung sức hơn và hiệu quả hơn Tuy nhiên, tâm lý cũng có thể làm cho chúng ta trở nên yếu đuối đi, nhu nhược đi và mất hết sức lực

Khi đánh giá sức mạnh của một người chúng ta không những chú ý tới thể lực của anh ta,

mà còn xét xem anh ta có khả năng ổn định tâm lý giúp cho anh ta huy động được them sức mạnh tiềm tàng của mình trong những tình huống khó khăn

Ngược lại, nếu khả năng ổn định tâm lý kém thì khi gặp những tình huống bất trắc, anh ta trở nên yếu đuối đi và mất hết tính hiệu quả

Từ những đặc điểm trên của các hiện tượng tâm lý, trong cuộc sống cũng như trong hoạt đọng quản trị cần chú ý:

* Không nên phủ nhận sạch trơn những hiện tượng tâm lý phức tạp, khó hiểu, mà cần phải để ý, nghiên cứu chúng một cách thận trọng và khoa học

* Chống các hiện tượng mê tín, dị đoan, hoặc tin tưởng quá vào những hiện tượng “thần linh” để rồi thần bí hóa chúng dẫn đến sai lầm, gây hậu quả khó lường cho cá nhân và xã hội

* Khi nhìn nhận đánh giá một người chúng ta cần xem xét tới tận bản chất của họ, chứ không nên chỉ đánh giá thông qua vẻ bên ngoài một cách hời hợt, dễ dấn đến sai lầm

* Cần tạo ra những hiện tượng tâm lý tích cực, bầu không khí tâm lý thoải mái trong tập thể giúp con người tạo thêm sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất của họ, góp phần tang hiệu quả lao động của tập thể

1.1.4 Phân loại các hiện tượng tâm lý

*Trước hết người ta phân biệt hiện tượng tâm lý cá nhân với hiện tượng tâm lý xã hội Tâm lý cá nhân điều hành hành động, hoạt động của cá nhân người có tâm lý đó và phản ánh hiện thực khách quan trong hoạt động của người đó mà thôi Nhưng thường khi

Trang 14

nhỏ cho đến cộng đồng xã hội rộng lớn khác nhau Hiện tượng tâm lý nảy sinh trong trường hợp đó sẽ điều hành những hành động, hoạt động tương đối giống nhau của cả cộng đồng người ấy và phản ánh hiện thực khách quan bao hàm trong hoạt động này một cách tương đối giống nhau Đó là những hiện tượng tâm lý xã hội Ví dụ, nhà quản trị cần quan tâm đến những hiện tượng tâm lý xã hội xảy ra trong tập thể như: phong tục, tập quán, dư luận xã hội, hiện tượng lực áp lực nhóm, lây lan tâm lý,…

*Cũng có khi người ta phân biệt tâm lý về phương diện là chức năng, là sự vận động, là quá trình với tâm lý về phương diện là cấu tạo, một sản phẩm Ví dụ: Tư duy là một quá trình, một chức năng tâm lý, một sựu vận động để đi đến những cấu tạo tâm lý là những khái niệm, phán đoán, suy lí, ý nghĩ v.v…cũng như thế tưởng tượng là một quá trình, một chức năng còn biểu tượng của tưởng tượng, ước mơ, sáng chế phát minh là những cấu tạo tâm lý

*Căn cứ vào sự diễn biến và thời gian tồn tại của các hiện tượng tâm lý, ta chia chúng ra làm 3 loại chính sau đây:

-Các quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong một thời gian tương đối ngắn và có mở đầu, diễn biến và kết thúc Đó là quá trình nhận thức, đó là quá trình cảm xúc, đó là quá trình ý chí, đó là quá trình giao tiếp, bắt chước và lây lan tâm lý… Các quá trình tâm lý nguồn gốc của tất cả đời sống tâm lý cá nhân và tâm lý của tập thể

-Các trạng thái tâm lý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài, thường đi kèm với các quá trình tâm lý và chi phối chúng Ví dụ: trạng thái chú ý, tâm trạng, trạng thái do dự, trạng thái nghi hoặc, tâm trạng tập thể, bầu không khí tâm lý tập thể…

-Các thuộc tính tâm lý: là những hiện tương tâm lý đã trở nên ổn định và bền vững tạo nên nét riêng biệt của chủ thể mang hiện tượng tâm lý đó và chi phối tới các quá trình tâm lý và trạng thái tâm lý

-Các thuộc tính tâm lý hình thành lâu dài và kéo dài rất lâu Ví dụ: tính cách, tình cảm, quan điểm, lý tưởng, phong tục tập quán, truyền thống …

*Căn cứ vào sự tham gia của ý thức, ta có thể chia các hiện tượng tâm lý ra làm 2 loại lớn sau đây:

-Những hiện tượng tâm lý có ý thức: là những hiện tượng tâm lý có sự tham gia, điều chỉnh của ý thức Đó những hiện tượng tâm lý được nhận thức, tức là chúng ta có thể nhận biết được sự diễn biến của chúng, đó là những hiện tượng tâm lý có chủ định, chủ tâm, có dự tính trước Ở con người trưởng thành và bình thường, hầu hết các hiện tượng tâm lý ít nhiều đều có ý thức Ở họ, các hành vi, cử chỉ, lời ăn tiếng nói v.v…đều có sự

Trang 15

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

tham gia của ý thức và kết quả của sự chi phối của ý thức Vì thế mà hoạt động của con người khác về chất so với loài vật

-Những hiện tượng tâm lý không ý thức (vô thức): là những hiện tượng tâm lý xảy ra không có sự tham gia của ý thức và con người không nhận thức được, ví dụ

+ Những hiện tượng tâm lý có tính chất bệnh lý như hiện tượng hoang tưởng, ảo giác, bệnh tâm thần, những hành vi trong lúc say rượu…

+ Những hiện tượng tâm lý xảy ra trong trạng thái ức chế của hệ thần kinh như: mơ, mộng du, thôi miên

+ Những hiện tượng xuất phát từ bản năng, nhưng ở con người loại này đã được ý thức hóa một phần như Chớp mắt, ngủ gật, ngáp

+ Tiềm thức: là những hiện tương ban đầu là có ý thức, nhưng sau đó không được lặp đi, lặp lại và ý thức “ẩn” đi, “lặn sâu” vào bên trong, không còn bộc lộ rõ nữa, chẳng hạn các thói quen, kỷ xảo

+ Hiện tượng vụt sáng: là sự xuất hiện những ý tưởng bất ngờ, khi chúng ta không hề nghĩ tới Chúng có ý nghĩa rất lớn trong lĩnh vực sáng tạo Chẳng hạn sự vụt sáng của Acsimete về qui luật sức đẩy của nước, vụt sáng của Mendelep về bảng hệ thống tuần hoàn…

Trong đời sống tâm lý con người thì lĩnh vực tâm lý có ý thức đóng vai trò chủ đạo, tuy nhiên các hiện tượng vô thức cũng có ý nghĩa nhất định, chúng cũng tham gia vào điều khiển các hành vi của con người Mối quan hệ giữa ý thức và vô thức là mối quan hệ biện chứng, chuyển hóa cho nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho tâm lý không phải căng thẳng quá tải mà vẫn đảm bảo hoạt động một cách tối ưu

1.2 TÂM LÝ HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC TRONG KD

Tâm lý học là một khoa học nghiên cứu về tâm lý Nó nghiên cứu các sự kiện của đời sống tâm lý, các qui luật nảy sinh, diễn biến và phát triển của các sự kiện đó, cũng như cơ chế hình thành của những hiện tượng tâm lý

Đối tượng của tâm lý học đó là:

- Tất cả các hiện tượng tâm lý người các quá trình, các trạng thái các thuộc tính, cả những hiện tượng tâm lý có ý thức cả những hiện tượng tâm lý vô thức, cả những hiện tượng tâm lý cá nhân cả những hiện tượng tâm lý xã hội…

- Các qui luật nảy sinh, biểu hiện và phát triển của các hiện tượng đó Cơ sở sinh lý thần kinh và cơ chế hình thành các hiện tượng tâm lý

Trang 16

Với nội dung nghiên cứu trên, tâm lý học đặt ra cho mình những hiện nhiệm vụ cơ bản như:

- Làm rõ những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến sự hình thành đời sống tâm lý con người

- Mô tả và nhận diện các hiện tượng tâm lý

- Làm rõ mối quan hệ, liên hệ qua lại giữa các hiện tượng tâm lý

- Tham gia vào giải quyết các vấn đề thực tiễn mà xã hội đặt ra (trong đó có cả lĩnh vực sản xuất kinh doanh, giáo dục, chăm lo sức khỏe con người v.v…)

Ngày nay tâm lý học đã tách ra rất nhiều chuyên ngành đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thực tiễn xã hội, đó là: Tâm lý học đại cương, tâm lý xã hội, tâm lý học y học, tâm lý học sư phạm, tâm lý học kỹ sư, tâm lý học lao động, tâm lý học quân sự, tâm lý học tội phạm, tâm lý học vũ trụ, tâm lý học thể thao, tâm lý học quản trị và kinh doanh v.v…

Tâm lý học quản trị kinh doanh là một trong hơn bao chục chuyên ngành của tâm lý học Đối tượng của nó là nghiên cứu ứng dụng các qui luật tâm lý vào hoạt động quản trị và kinh doanh, mà cụ thể là:

- Nghiên cứu sự thích ứng của công việc SXKD với con người Theo hướng này TLH QTKD chú ý tới các khía cạnh tâm lý của việc tổ chức quá trình sản xuất, kinh doanh: Đặc biệt là các vấn đề phân công lao động, tổ chức chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, đưa yếu tố thẩm mỹ vào SXKD

- Nghiên cứu mối quan hệ con người với nghề nghiệp Theo hướng này các nhà TLH đã nghiên cứu cơ sở tâm lý và các phương pháp tâm lý học của việc phát hiện, sử dụng và bồi dưỡng nhân tài góp phần đắc lực cho công tác quản trị nhân sự Ứng dụng các dạng trắc nghiệm tâm lý để đo năng lực trí tuệ phẩm chất nhân cách, ý chí… của con người, giúp cho các nhà quản trị trong việc tuyển chọn, đánh giá, đề bạt cán bộ, nhân viên của mình

- Nghiên cứu sự thích ứng của con người với con người trong SXKD Theo hướng này TLH QTKD nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với con người trong tập thể, cụ thể là bầu không khí tâm lý tập thể, sự hòa hợp hay không hòa hợp giữa các thành viên; quan hệ giữa nhà quản trị với nhân viên (vấn đề tìm hiểu, đánh giá, đối xử với nhân viên, vấn đề kích thích lao động…) Tâm lý học QTKD cũng giải quyết nhiều vấn đề khác như: vấn đề về mối tương quan giữa phóng các luận lý và hiệu quả hoạt động của tập thể, vấn

đề uy tín của nhà quản trị…

Trang 17

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

- Nghiên cứu những vấn đề tâm lý trong việc tiêu thụ sản phẩm Theo hướng này TLH QTKD tìm hiểu những qui luật tâm lý người trong các vấn đề như: tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng; phong tục tập quán của thị trường để nhà kinh doanh lập kế hoạch sản xuất, thiết kế kiểu dáng, mẫu mã…; nghiên cứu những qui luật tâm lý áp dụng trong nghệ thuật quảng cáo để giới thiệu, hướng dẫn và kích thích hành vi mua hang của khách hàng…

1.3 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ HỌC KD

1.3.1 Vài nét về lịch sử hình thành của khoa học tâm lý

Từ khi ra đời, lịch sử phát triển những tư tưởng tâm lý học cùng với những tư tưởng triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Thời cổ đại, Đemocrite (460-370 TCN) đại diện cho dòng phái duy vật, Platon (428-318 TCN) đại diện cho dòng phái duy tâm Về thế giới tâm lý, các nhà duy vật cổ đại đi tìm cơ sở ban đầu của chúng trong lửa, khí và nước Họ đưa ra quan niệm rằng các hiện tượng tâm

lý cũng tuân theo những quy luật của thế giới tự nhiên Các nhà duy tâm cho rằng tư tưởng, tâm lý là cái có trước, thực tại là cái có sau Tâm lý tồn tại phụ thuộc vào Thượng

đế chứ không phụ thuộc vào con người và thế giới xung quanh

Những tư tưởng duy tâm phản khoa học đã bị Arixtote (384-322 TCN), học trò của Platon, phê phán Arixtote là tác giả của tác phẩm lớn đầu tiên về thế giới tâm hồn con người- “Bàn về tâm hồn” Trong cuốn sách này ông đã trình bày một luận điểm hết sức tiến bộ so với thời bấy giờ Đó là tồn tại mối quan hệ giữa tâm lý và cơ thể với thế giới xung quanh, tâm lý phụ thuộc vào con người và tự nhiên, xã hội

Đến nửa đầu thế kỷ XVII tâm lý học khoa học lại có thêm một phát kiến mới cực

kỳ quan trọng- đó là phát kiến ra phản xạ của Decac (1596-1650) Tuy nhiên ông lại đi theo thuyết nhị nguyên luận đáng phê phán Cũng trong khoảng thời gian này nhiều học thuyết mới xuất hiện như: “Tâm lý học kinh nghiệm” của J Lov (1632-1701), “Tâm lý học duy vật máy móc” của Didro (1713-1781)

Mặc dù đến năm 1732 tên gọi “Tâm lý học” đã ra đời trong cuốn sách “Tâm lý học kinh nghiệm” của Volf (Đức), nhưng tâm lý học vẫn chỉ là một bộ phận của triết học

mà thôi Chỉ đến năm 1879, khi nhà tâm lý học Vung (Đức) sáng lập ra phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới (sau này là Viện tâm lý học của Đức) thì tâm lý học mới thực

sự trở thành một môn khoa học độc lập

Trong vòng 10 năm đầu thế kỷ XX xuất hiện ba trường phái tâm lý học khách quan, đó là “Tâm lý học hành vi” của Watson (1878-1958), “Tâm lý học cấu trúc” của các nhà tâm lý học Đức – Wertheimer (1880-1943), Kohler (1887-1967) và Kofka (1886-1947), và “Phân tâm học” do Z.Freud (1856-1936) sáng lập

Trang 18

Tâm lý học hành vi không mô tả hay giải thích các trạng thái của ý thức bỏ qua các mối quan hệ bản chất của con trong xã hội lịch sử nhất định Mục đích chính là nghiên cứu hành vi của con người Hành vi có nghĩa là những cử chỉ, động tác đáp lại của người ta khi có một kích thích từ bên ngoài nào đó theo công thức S (Stimul)-R (Response), hễ có kích thích thì có phản ứng và kích thích nào thì phản ứng đó Do đó chỉ cần nghiên cứu tính chất của kích thích thì sẽ dự đoán được tâm lý của một người

Trường phái tâm lý học cấu trúc đề xuất một chương trình nghiên cứu tâm lý từ góc độ các cấu trúc chỉnh thể Nó đã phát hiện hàng loạt các thuộc tính quan trọng của tri giác như: tính ổn định, tính cấu trúc

Luận điểm cơ bản của trường phái phân tâm học là giải thích mối quan hệ giữa một bên là các nhu cầu vô thức tiềm ẩn chủ yếu là bản năng tình dục và một bên là sự cấm kỵ và ràng buộc của xã hội để điều chỉnh cái Tôi hiện thực

Theo G.Freud thì cấu trúc của nhân cách gồm 3 hệ thống: cái Ấy (ID) hay là tầng

vô thức tập hợp tất cả những bản năng như là: tình dục, xâm kích, đói khát Cái ấy chính

là động lực thúc đẩy mọi hoạt động của con người, nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn tối đa Tần thứ hai- cái Siêu tôi (Superego), bao gồm các chuẩn mực xã hội, nó hoạt động theo nguyên tắc chèn ép, kiểm duyệt, nó chèn ép, kiểm duyệt – các bản năng của con người Tầng thứ ba- cái Tôi(ego), chính là phần ý thức của cá nhân được kiểm soát,

nó hoạt động theo nguyên tắc hiện thực, nó có chức năng điều hòa giữa cái ấy và cái Siêu Tôi Mối quan hệ giữa ba hệ thống trong cấu trúc nhân cách lầ mối quan hệ ràng buộc nhưng luôn luôn mâu thuẫn và xung đột lẫn nhau cho nên trong con người sinh ra các hoạt động tâm lý phức tạp Cả ba trường phái trên đều tự gọi là tâm lý học khách quan, nhưng đều bỏ qua các mối quan hệ bản chất của con người, bỏ qua việc nghiên cứu đời sống tâm lý con người và coi con người như một cái máy, như một sinh vật, bỏ qua mặt

xã hội của con người Chính vì thế mà cả ba trường phái này đều đi vào chỗ bế tắc

Phải chờ đến tâm lý học Macxit do các nhà tâm lý học Xô-viết có tên tuổi như Coocnhilop (1879-1957), Vygotsky (1896-1934), Rubinstein (1889-1960), Leonchep (1903-1979) cùng với các nhà tâm lý khác xây dựng nên thì chúng ta mới có một nền tâm lý học thực sự khoa học và khách quan

Tâm lý học Macxit đưa ra những luận điểm sau đây để nói về bản chất tâm lý con người:

- Tâm lý con người chính là sự phản ánh hiện thực khách quan bằng hành động và hoạt động của mình “ Tâm lý là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” (V.I.Lênin), tức là những sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tác động vào cơ quan cảm giác của ta và được ta phản ánh, tạo nên hình ảnh tâm lý về các sự vật hiện tượng đó Cho nên nguồn gốc của tâm lý không phải là từ Thượng đế, mà cũng không chỉ từ “lửa, khí, nước”

Trang 19

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

mà là từ hiện thực khách quan, trong đó gồm có thế giới tự nhiên, thế giới xã hội và bản thân con người

- Tâm lý con người là kinh nghiệm xã hội-lịch sử của loài người được biến thành của riêng mỗi người thông qua hoạt động và giao lưu Khác với động vật, con người có lao động, sống thành xã hội và có ngôn ngữ, nên tâm lý con người có mức độ phát triển mới về chất so với tâm lý động vật Ngoài những bản năng được truyền lại trong gien, con người còn tiếp thu kinh nghiệm của loài người để lại trong sách, vở, tài liệu, các tác phẩm văn học, nghệ thuật thông qua quá trình hoạt động và giao lưu Tuy nhiên tâm lý mỗi các nhân không phải là sự “copy”một cách máy móc biến đổi thông qua đời sống tâm lý của mỗi người Chính vì thế tâm lý của mỗi cá nhân con người vừa mang những nét chung đặc trưng cho xã hội, lịch sử vừa mang những nét riêng biệt tạo nên cá tính của mỗi cá nhân

- Tâm lý là chức năng, là sản phẩm hoạt động não Sự vật và hiện tượng tác động vào các giác quan, vào não chúng ta tạo nên hình ảnh tri giác, bắt ta phải suy nghĩ, đánh giá tưởng tượng và tỏ thái độ với chúng Tất cả những quá trình đó đều diễn ra trong hệ thần kinh, trong não và trên võ não Não tiếp nhận các tác động từ thế giới bên ngoài dưới dạng các xung động thần kinh cùng những biến đổi lý hoasowr từng tế bào thần kinh, từng xi-náp, các trung khu thần kinh, làm cho bộ não trở nên hoạt động theo các qui luật của hệ thần kinh và tạo nên những hiện tượng tâm lý tương ứng Như vậy là hiện thực khách quan tác động vào hệ thần kinh, não hoạt động nên con người có tâm lý

1.3.2.Quá trình hình thành của tâm lý học QTKD

Cũng như tâm lý học nói chung, tâm lý học QTKD, một trong 30 chuyên ngành của nó, ra đời một cách muộn màng nhưng tốc độ phát triển rất nhanh Năm 1912, nhà tâm lý học Đức là H.Munsterberg lần đầu tiên giảng một chương trình “Tâm lý học QTKD” lúc đầu là ở Đức, sau đó là ở Mỹ Ý tưởng chính của ông là nên sử dụng những con người khác nhau về khí chất, về xu hướng, về năng lực phù hợp với từng loại công việc Ông đã tiến hành hàng loạt công trình nghiên cứu và đã xây dựng nên những luận điểm mà sau này trở thành cơ sở cho môn xã hội học lao động và thực nghiệm xã hội Sau này, khi qua Mỹ Munsterberg giảng dạy và nghiên cứu ra một hệ thống đo lường để lựa chọn những người vào học những nghề khác nhau, và đã chứng minh được hiệu quả của luận điểm của mình bằng một thwucj nghiệm ở công ty Mỹ “American Tobaco Company” Ý tưởng của Munsterberg có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành môn tâm lý học quản lý sau này

Việc ứng dụng môn tâm lý học vào QTKD trong giai đoạn 1900-1930 chủ yếu dựa trên quan điểm “duy lý” hay “tính hợp lý” của Ph.Taylor và Max Werber Theo quan

Trang 20

điểm này, người ta coi con người như một bộ phận của máy móc, của một dây chuyền sản xuất Mỗi một người trong tổ chức lao động được qui định từng thao tác, từng chức năng khá chi tiết, chặt chẽ từng giờ, không có thao tác dư thừa, không có sự trùng lặp Trường phái Werber, Taylor cố gắng chứng minh rằng, nếu có thể nghiên cứu tổng hợp được danh sách đầy đủ những thủ pháp và qui tắc cho phép phân tích công việc thiết lập kiểm soát tối đa, kết hợp với quyền lực và trách nhiệm, thì các vấn đề quan trọng nhất của quản lý tập thể coi như đã giải thích xong Tuy nhiên cho đến năm 1930 thì lý thuyết này trở nên lạc hậu trước sự tiến bộ của KHKT và các tư tưởng tiến bộ, buộc phải có sự thay đổi

Lý thuyết của Werber và Taylor bị đánh bật bởi thuyết “ quan hệ con người- con người trong quản lý”, mà những người đứng đầu là E.Mayo, D.Mc Gregor, Barnard và

Ph Selznick

Từ năm 1927-1932 E.Mayo, một chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học xã hội và

xã hội học lao động đã tiến hành một thí nghiệm nổi tiếng ở xí nghiệp Hawthome (Chicago) để kiểm tra lại lý thuyết của Taylor : tăng độ chiếu sáng đèn trong phân xưởng thì năng suất lao động tăng, nhưng kỳ lạ thay giảm độ chiếu sang thì năng suất vẫn tiếp tục tăng Thực nghiệm kéo dài nhiều năm, nhưng lại cho kết quả nản lòng Mặc dù số liệu thực nghiệm thu được rất lớn, nhưng kết luận chủ yếu là: mối quan hệ giữa con người-con người trong sản xuất ảnh hưởng đến năng suất lao động hơn nhiều so với các điều kiện vật chất Công trình nghiên cứu của Mayo đã góp phần thúc đẩy nghiên cứu và vận dụng tâm lý học một cách trực tiếp, khoa học vào quản lý SXKD, thúc đẩy việc ứng dụng tâm lý học vào QTKD

Chính từ kết quả của các thí nghiệm Hawthorne mà K.Lewin đã nảy sinh ý tưởng cho thuyết về động lực của nhóm Theo ông thì trong cuộc sống của nhóm, bản thân nó cũng như các thành viên của nó sẽ hướng tới những gì tích cực hấp dẫn nó và xa lánh những gì tiêu cực Hành vi này được hướng dẫn bởi những “trường động lực” trong nhóm Vì vậy một đặc tính quan trọng của nhóm là: sự gắn bó của nhóm được coi là trường của toàn bộ các động lực tác động lên mỗi thành viên làm cho họ ở lại mãi mãi trong nhóm Mức độ gắn bó của nhóm chịu ảnh hưởng bởi một loạt những điều kiện: đó

là sự cộng tác hơn là cạnh tranh, bầu không khí dân chủ hơn là tự do độc đoán, đó là nhóm đã có sẵn một nền nếp tổ chức từ trước, ổn định, vững mạnh, mọi người quan tâm đến nhiệm vụ chung và tự hào về uy tính của nhóm v.v…

Về sau lý thuyết lãnh đạo của K.Lewin được bổ sung them bởi lý thuyết “lãnh đạo theo hoàn cảnh” của E.Fiedler Theo ông, không có một phong cách lãnh đạo nào tự bản thân nó là tối ưu cả Phong cách tối ưu là phong cách tùy thuộc vào bầu không khí tâm lý

Trang 21

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

của tập thể Đối với một người lãnh đạo có quyền lực mạnh, có quan hệ tốt đối với quần chúng, thực hiện những nhiệm vụ được xác định rõ ràng thì xu hướng lãnh đạo độc đoán

có hiệu quả hơn Ngược lại, với một người lãnh đạo, có quyền lực yếu, có quan hệ xấu với quần chúng, phải thực hiện những nhiệm vụ không xác định thì tốt hơn là lãnh đạo theo kiểu dân chủ

Sau Thế chiến thứ hai, nổi bật lên trong lĩnh vực tâm lý học quản lý là Mc Gregor, tác giả của thuyết X thuyết Y Công nhân lười biếng, phải thúc dục họ, phải chỉ huy, phải kiểm tra, đe dọa (thuyết X); công nhân là đấng sáng tạo, làm việc một cách tự nguyện, có thể trao toàn quyền cho họ (thuyết Y) Hai thuyết đối chọi nhau Các thuyết của Gregor sau này bị một giáo sư quản trị học người Nhật là W.Ouchi phản bác bằng phong cách quản lý của Nhật Bản W.Ouchi đưa ra thuyết Z Ông cho rằng, trong thực tế không có người lao động nào hoàn toàn thuộc về bản chất X hay Y, và điều mà Mc.Gregor gọi là bản chất, thì chỉ có thể gọi là thái độ lao động của con người và thái độ

đó tùy thuộc vào cách thức con người được đối xử trong thực tế Qua kinh nghiệm quản trị của người Nhật, mọi người lao động đều có thể lao động một cách hăng hái, nhiệt tình, nếu họ được tham gia vào các quyết định trong xí nghiệp và được xí nghiệp quan tâm đến nhu cầu của họ

Gần như cùng thời với Gregor và Mayo, có Barnard và Selzlick Năm 1938, Barnard cho ra mắt cuốn “Chức năng nhà quản lý” với ý tưởng về vai trò hàng đầu của nhà lãnh đạo như người sáng tạo và điều hòa các giá trị chủ đạo trong tổ chức Hơn 10 năm sau khi cuốn sách của Barnard ra đời, Ph.Selzlick công bố học thuyết tương tự Ông đưa ra những khái niệm mới như “uy tính đặc biệt”, và “tính cách của tổ chức”

Giai đoạn từ 1960 đến 1970 được đánh giá như vừa là bước tiến, vừa là bước lùi của các tư tưởng tâm lý học QTKD Lùi vì nó quay lại với giả định cơ học về con người Tiến là vì các nhà lý thuyết cuối cùng đã xem xét công ty như là một bộ phận cấu thành của thị trường Từ đầu những năm 70 xuất hiện lý thuyết “tình huống” của Scott Những luận điểm cơ bản của nó là: Hệ thống tổ chức quản lý là phải mở, phụ thuộc vào đặc điểm của môi trường bên trong và bên ngoài (như đặc điểm kinh tế, KHKT, thị trường, tình hình chính trị, xã hội…)

- Việc lựa chọn các hình thức quản lý để mang lại hiệu quả cao không phải là thực hiện những nguyên tắc đã được hình thành một cách tiên nghiệm giống như trong phạm

vi mô hình “duy lý”, mà đúng hơn là sự phối hợp bối cảnh tổ chức khách quan và cấu trúc bên trong của tổ chức

- Bối cảnh khách quan càng ổn định và xác định thì hệ thống quản lý dựa trên cơ

sở tiến gần tới mô hình “duy lý” càng có lợi hơn và hợp lý hơn Ngược lại khi môi trường

Trang 22

luôn luôn biến động, mục tiêu thường xuyên thay đổi, công nghệ luôn đổi mới mà muốn kích thích tính tích cực của mọi người thì cần dựa trên cơ sở giải phóng tự do ít hay nhiều

ở hệ thống tổ chức quản lý bên trong và tiến tới gần mô hình tổ chức của trường phái

“quan hệ con người-con người trong quản lý”

Lý thuyết này mãi đến những năm 80 mới được công nhận một cách rộng rãi Từ

đó các tổ chức quản lý được xây dựng linh hoạt hơn, bớt đi tính duy lý, máy móc

Ngày nay Tâm lý học QTKD gắn liền với thời đại mà nổi bật là sự phát triển cá nhân, sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, ô nhiễm môi trường tự nhiên cũng như xã hội… chắc chắn sẽ làm phong phú them các khoa học về con người trong đó có TLH QTKD ở nước

ta cũng như trên thế giới

1.4 VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÌM HIỂU TÂM LÝ CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG QTKD

1.4.1 Quan sát

Quan sát là phương pháp dùng các giác quan để ghi nhận và đánh giá những đặc điểm tâm lý thông qua những biểu hiện bên ngoài một cách có hệ thống và khoa học Quan sát là phương pháp thu thập những thông tin tâm lý ban đầu về đối tượng không thể thay thế được Tuy nhiên, đây chỉ là phương pháp giúp ta định hướng ban đầu về đối tượng mà thôi, bởi vì nó mang nhiều yếu tố chủ quan tùy theo kinh nghiệm và kỹ năng của người quan sát

Nhà quản trị có thể dùng phương pháp quan sát trong rất nhiều trường hợp:

- Quan sát để tìm hiểu tâm lý của một cá nhân khi tiếp xúc với mình (quan sát nhân viên, quan sát thủ trưởng, quan sát khách hàng, quan sát đối tác làm ăn…) để kịp thời điều chỉnh hành vi giao tiếp Chẳng hạn: trong một cuộc thương lượng hợp đồng, thông qua những cử chỉ, biểu hiện bên ngoài của đối tác, nhà kinh doanh có thể đoán được rằng anh ta sẽ chấp thuận những điều khoản mà mình đưa ra hay không

- Quan sát tâm lý của tập thể: dùng tai để lắng nghe những ý kiến, dư luận của tập thể; dùng mắt để nhìn mọi hiện tượng xã hội-xảy ra trong tập thể; quan sát tâm trạng của tập thể, bầu không khí tâm lý trong tập thể, những xung đột tập thể và quan sát đời sống của tập thể nhân viên

- Có thể quan sát tại cổng nhà máy, công ty, xí nghiệp, tại nơi làm việc để phát hiện ra những cảm xúc, tâm trạng của từng người, xem ai vui, ai buồn và tìm nguyên nhân cùng các biện pháp khắc phục, tránh hiện tượng lây lan tâm trạng xấu trong tập thể, làm giảm năng suất lao động

Trang 23

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

- Quan sát để tìm hiểu tâm lý thị trường: đó là quan sát xu thế của thời trang,

“mốt” để biết thị hiếu của khách hàng; quan sát phong cách, thói quen mua hàng; quan sát thái độ của khách hàng đối với một mặt hàng, kiểu dáng, mẫu mã mới tung ra…

Muốn quan sát có hiệu quả và thu thập được những thông tin khách quan, cần phải tuân theo những yêu cầu sau:

- Các đối tượng cần tìm hiểu phải được quan sát trong những điều kiện bình thường của chúng

- Phải có kế hoạch chi tiết, cụ thể phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu Kế hoạch thường bao gồm: xác định khách thể và đối tượng quan sát, xác định mục tiêu, nhiệm vụ; lựa chọn hình thức quan sát (quan sát có tham dự hay không tham dự); chuẩn bị các tài liệu và thiết bị kĩ thuật (nếu cần) như: máy quay phim, chụp ảnh, ghi âm…

- Tốt nhất không để cho đối tượng biết được là mình bị quan sát để tránh hiện tượng giả, mất tính tự nhiên và tính khách quan

- Phải quan sát đối tượng từ nhiều khía cạnh và trong các điều kiện khác nhau

1.4.2 Thực nghiệm tự nhiên

Thực nghiệm tự nhiên là phương pháp mà trong đó người ta chủ động tạo ra các tình huống hết sức tự nhiên để đối tượng phải bộc lộ ra những phẩm chất tâm lý mà mình cần tìm hiểu Thực nghiệm tự nhiên còn gọi là phương pháp thử bằng tình huống, tức là chúng ta muốn kiểm tra đặc điểm tâm lý nào của đối tượng thì ta đưa ra những tình huống giống như trong thực tế để trong đó họ phải bộc lộ ra những đặc điểm mà mình cần quan tâm

Phương pháp này đã được người xưa dùng khá rộng rãi Trong khi bàn về phép dụng người, Gia Cát Lượng đã nói tới phương pháp này:

“Cho việc khó để thử tài,

Hỏi lúc vội vàng để xem trí,

Cho đi xa để xem trung,

Cho ở gần để xem kính,

Giao vật chất để xem nhân,

Cho chén say để xem tính khí ”

Ngày nay nhà quản trị cũng phải dùng phương pháp này trong các trường hợp sau:

- Khi muốn tìm hiểu tính cách của nhân viên mình (kiểm tra tính trung thực hay

Trang 24

thường cũng có những người đóng kịch rất giỏi, bình thường họ tỏ ra lfaf người rất thật thà, mẫu mực, nhưng khi có tình huống đột xuất thì họ mới bộc lộ ra là một lẻ gian xảo, thấp hèn Hoặc ngược lại, có những người trong cuộc sống bình thường không có gì đặc sắc, nổi bật, nhưng khi có tình huống đặc biệt xảy ra thì họ vụt sáng như một người anh hùng Vì những điểm đó mà đôi khi chúng ta cần phải tạo ra những tình huống thử thách đặc biệt để tìm hiểu bản chất của một con người

- Khi muốn kiểm tra năng lực của một cán bộ, nhân viên sắp được đề bạt Ví dụ: thủ trưởng muốn kiểm tra năng lực một nhân viên nào đó để đề bạt, thế thì có thể trước khi đi công tác đâu đó ông ta ủy nhiệm quyền giám đốc cho nhân viên đó Sau khi đi về, thủ trường kiểm tra lại các giấy tờ, tài liệu xem người kia xử lý thế nào trong điều kiện do mình tạo ra

- Khi muốn kiểm tra mô hình quản lý mới mà nhà quản trị định thi hành trong tương lai v.v

Trong quá trình thực nghiệm như vậy, sẽ thể hiện ưu và nhược điểm của các thành viên, của mô hình quản lý mới Trên cơ sở đó mà ta nhận xét, đánh giá nhân viên, đề bạt cán bộ và đổi mới công tác quản lý

Trước khi tiến hành thực nghiệm chúng ta cần chú ý chọn tiêu chuẩn thực nghiệm một cách đúng đắn Tức là xem liệu mình có thể dùng “tiêu chuẩn đó để đánh giá đặc điểm tâm lý của đối tượng một cách chính xác hay không Khi đánh giá kết quả thực nghiệm, cần loại bỏ những yếu tố khách quan có thể làm ảnh hưởng đến kết quả thực nghiệm Chẳng hạn, nguyên vật liệu không được cung cấp kịp thời, điện thường bị cúp v.v có thể ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng công việc của công nhân

đó, cũng như tìm hiểu năng lực tư duy và các phẩm chất khác của đối tượng

- Nhà quản trị trực tiếp gặp gỡ quần chúng để thăm dò ý kiến về một vấn đề nào

đó thuộc đường lối chủ trương, chính sách, kế hoạch quản lý

- Nhà quản trị cũng có thể sử dụng phương pháp đàm thoại (phỏng vấn) để phỏng vấn dự tuyển viên trong quá trình tuyển chọn nhân viên

Trang 25

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

Một cuộc đàm thoại hay phỏng vấn bất kì nào cũng thường trải qua 3 giai đoạn sau:

- Giai đoạn làm quen: Ở đây nhà quản trị chủ động làm quen với đối tượng bằng những câu hỏi tiếp xúc nhằm tạo được bầu không khí thân mật, tin tưởng, cởi mở lẫn nhau Trong giai đoạn này tốt nhất là chỉ nên đưa ra những câu hỏi vô thưởng vô phạt, chẳng hạn về thời tiết, thể thao, phim ảnh và cũng có thể hỏi những gì mà mình biết chắc đối tượng thích thú trả lời và trả lời với một niềm tự hào, hãnh diện Tránh hỏi những câu hỏi có thể gây sự khó chịu, bực mình cho đối tượng, hoặc những câu hỏi có thể gây xung đột quan điểm như: quan điểm chính trị, quan điểm về tôn giáo v.v

- Giai đoạn thực hiện nội dung cuộc đàm thoại: Nhà quản trị đưa ra các câu hỏi và chú ý lắng nghe, ghi chép hoặc ghi âm (nếu cần thiết), cố gắng tạo ra và duy trì bầu không khí cởi mởi, đặt các câu hỏi rõ ràng, ngắn gọn không nên quá dài quá phức tạp làm người bị hỏi mệt mỏi, chán nản Trong khi trả lời sẽ gặp những câu mà người nhận được câu hỏi tỏ ra lưỡng lự, không muốn trả lời, lãng tránh, có thể vì đụng chạm đến chính kiến thì không nên dồn ép, còn nếu họ tỏ ra không hiểu câu hỏi thì kiên trì, nhẹ nhàng giải thích lại từ đầu nội dung câu hỏi Tuyệt đối không nên tranh cãi tay đôi trong phỏng vấn đàm thoại

- Giai đoạn kết: Sau khi đã thực hiện xong những câu hỏi “chính”, đạt được mục đích của cuộc đàm thoại, chúng ta kết thúc bằng những câu hỏi “phụ” để giải tỏa sự căng thẳng tâm lý cho đối tượng và cảm ơn về sự giúp đỡ, hứa hẹn những lần gặp tới

Trong khi đàm thoại, tùy vào từng tình huống cụ thể mà chúng ta có thể kết hợp 4 loại câu hỏi sau đây để khai thác thông tin tâm lý của đối tượng:

+ Câu hỏi trực tiếp: tức là hỏi thẳng vào vấn đề mình cần tìm hiểu Loại này có ưu điểm là thu thập thông tin một cách nhanh chóng và thường tạo ra yếu tố bất ngờ ở đối tượng làm cho họ không kịp phản ứng Tuy nhiên nó cũng có nhiều nhược điểm là để lộ mục đích tìm hiểu, làm cho đối tượng không được tự nhiên Trong một số trường hợp, hỏi trực tiếp sẽ không lịch sự, không tế nhị, hoặc gây ra bầu không khí căng thẳng, không thoải mái

+ Câu hỏi tiếp xúc: tức là hỏi về những vấn đề phụ trước để tạo ra bầu không khí thoải mái, tin tưởng, cởi mở với nhau, sau đó hỏi về vấn đề mà mình cần tìm hiểu

+ Câu hỏi gián tiếp: tức là hỏi A để suy ra B khi không thể hỏi về B một cách trực tiếp.Loại câu hỏi này làm cho đối tượng không biết được mục đích tìm hiểu của ta Tuy nhiên cần phải kết hợp nó với câu hỏi tiếp xúc một cách linh hoạt

+ Câu hỏi “chặn đầu”: tức là đưa ra một câu hỏi nhưng thực ra là giăng ra một cái bẫy để đối tượng phải thừa nhận một vấn đề mà mình cần tìm hiểu Ví dụ: chúng ta muốn

Trang 26

biết công ty A có làm ăn với công ty X hay không, chúng ta có thể hỏi một cách rất tự tin:

“Các anh góp vốn thế nào với X”, ở đây mặc dù chúng ta chưa biết họ có làm ăn với X hay không, nhưng khi chúng ta đưa ra câu hỏi này thường gây ra một ấn tượng là chúng

ta đã biết rồi, bây giờ chỉ quan tâm tới việc góp vốn thôi Mà khi họ trả lời vấn đề góp vốn thì nghiễm nhiên chúng ta biết được học có làm ăn với nhau hay không

1.4.4 Phương pháp dùng bảng câu hỏi (hay bản anket)

Là dùng những bản chứa một loạt câu hỏi được xây dựng theo những nguyên tắc nhất định, đặt ra cho một số lớn đối tượng, và thông qua những câu trả lời chúng ta đánh giá tâm lý của họ Bản câu hỏi được coi là hình thức thu thập thông tin nhanh nhất và rẻ nhất Nếu có một số người được tập trung lại ở một địa điểm trong một thời gian ngắn thì phương pháp này cho ta thu thập được dữ liệu một cách nhanh chóng nhất Mặt khác bản câu hỏi còn đảm bảo tự do tư tưởng cho người được hỏi vì tính khuyết danh của nó (không cần ghi họ, tên, địa chỉ )

Phương pháp bản câu hỏi cũng thường được dùng để nghiên cứu ý kiến, dư luận của tập thể về một loạt vấn đề liên quan đến việc cải tiến công tác quản lý, chẳng hạn: ý kiến về việc phân phối thu nhập, phân công lao động, về cung cách quản lý hiện hành Cũng có thể dùng bản câu hỏi để tìm hiểu tâm lý khách hàng (có thể gửi đi theo đường bưu điện, có thể phát tận tay trong một hội nghị khách hàng ) Việc soạn thảo câu hỏi đòi hỏi một trình độ chuyên sâu mới mong thu được một lượng thông tin chính xác, khách quan Một bản câu hỏi thường được bố cục gồm ba phần như sau:

Phần thứ nhất: là phần tiếp xúc làm quen gồm có: lời mở đầu mang tính chất kêu gọi tham gia, nói lên tầm quan trọng của đề tài, giá trị đóng góp của người trả lời; đưa ra các câu hỏi tiếp xúc đơn giản (lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ); những lời giải thích cần thiết cách thực hiện bản câu hỏi

Phần thứ hai: là nội dung chính của bản câu hỏi Ở đây thường sử dụng 2 loại câu hỏi:

- Câu hỏi mở: là câu hỏi để cho đối tượng trả lời một cách tự do, không có các phương

án trả lời kèm theo Thí dụ: Anh hay chị hãy cho biết tại sao lại xin vào làm việc ở công

ty này?

- Câu hỏi đóng: là ra một câu hỏi và có kèm theo một số phương ản trả lời, đối tượng chỉ được chọn một trong số các phương án đó mà thôi Thí dụ: cũng câu hỏi trên nhưng kèm theo các phương án: a) Vì lương cao; b) Vì tiền đồ; e) Vì dễ xin việc Loại câu hỏi này thường được sử dụng hơn vì tiện cho việc xử lý, tính toán trên máy tính

Các loại câu hỏi này được bố cục sao cho tăng dần lên tính chất phức tạp và đi dần vào nội dung chính yếu

Trang 27

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

Phần thứ ba: là phần kết bao gồm những câu hỏi tâm lý chức năng nhằm giảm bớt sự căng thẳng và lời cảm ơn, hứa hẹn lần gặp tới

Khi soạn thảo câu hỏi cần chú ý tới những yêu cầu sau đây:

- Câu hỏi phải thật dễ hiểu, rõ ràng, không được dùng các khái niệm, thuật ngữ khoa học, chuyên ngành hẹp ít người biết đến Câu hỏi phải sát với trình độ người được hỏi

- Câu hỏi không nên hàm chứa một số gợi ý cách trả lời như thế nào là tốt, như thế kia là xấu

- Các câu hỏi đụng chạm đến quan điểm chính trị, quyền lợi, uy tính danh dự cá nhân thì phải hết sức tế nhị, không nên hỏi trực tiếp, mà chỉ nên hỏi gián tiếp

1.4.5 Phương pháp trắng nghiệm hay Test

Trắc nghiệm là một phép thử để “đo lường” tâm lý mà trước đó đã được chuẩn hóa trên một lượng người vừa đủ tiêu biểu Trắc nghiệm thường là tập hợp gồm nhiều bài tập nhỏ khác nhau, được chuẩn sẵn trên một lượng người vừa đủ tiêu biểu và thông qua

số điểm giải được mà người ta đánh giá tâm lý của đối tượng Ngày nay các chuyên gia

đã lập ra hàng ngàn loại trắc nghiệm khác nhau để xác định đủ các loại phẩm nhất tâm, sinh lý con người: trí tuệ, tài năng, đức độ, độ nhạy cảm, trí thông minh, tình cảm, trí nhớ Các loại trắc nghiệm này được các nhà quản trị sử dụng một cách rộng rãi vào nhiều mục đích khác nhau: tuyển chọn nhân viên, cán bộ, tuyển chọn nhân tài, chọn người bán hàng

1.4.6 Phương pháp xạ ảnh

*Liên tưởng từ: Người nghiên cứu đưa cho đối tượng một bảng gồm nhiều chữ không có liên quan gì tới họ, để cho đối tượng đọc xong thì hỏi họ xem từ nào họ liên tưởng tới trước tiên Từ việc phân tích nội dung những từ được đưa ra và thời gian phản ứng, người nghiên cứu biết được ấn tượng, thái độ, nhu cầu của đối tượng Phương pháp liên tưởng từ gồm có:

- Liên tưởng tự do: tức là đối tượng tùy ý nói ra tùy nào mà mình nghĩ tới

- Liên tưởng có khống chế: tức là đối tượng chỉ có thể chọn những từ nào trong số những

từ mà người nghiên cứu đưa ra Ví dụ: khi nhìn thấy từ “Tivi”, thì đối tượng có thể liên tưởng tới những từ thuộc các nhãn hiệu của tivi, như: “Sam sung”, “Sanio”, “Sharp”

- Liên tưởng liên tục: tức là đối tượng nói ra từ thứ nhất, sau đó liên tưởng tới từ thứ hai, thứ ba Ví dụ: khi đối tượng nhìn thấy từ “Tivi”, thì anh ta liên tưởng tới “đầu video”, và liên tưởng tới các nhãn hiệu của nó

Trang 28

*Liên tưởng bằng hình vẽ (của Rozensveig): Người nghiên cứu đưa cho đối tượng nhiều hình vẽ trong đó có các nhân vật đang nói chuyện với nhau, nhưng đang bỏ trống một câu nói nào đó, nhiệm vụ của đối tượng là đưa ra một câu nói nào đó nếu họ là nhân vật trong hình vẽ Ví dụ: có bức tranh trong đó một người khách hàng đang phàn nàn với người bán hàng: “Chiếc đồng hồ này dở lắm, tôi mới mua của ông được 3 ngày mà đã chết tới hai lần”, giả sử bạn ở cương vị người bán hàng thì bạn sẽ nói sao?

*Phương pháp hoàn thành nốt một câu: Người nghiên cứu đưa cho đối tượng những câu văn không hoàn chỉnh Nhiệm vụ của đối tượng là nhanh chóng điền nốt đoạn câu còn lại Ví dụ: đưa cho đối tượng một câu: “Nếu tôi có triệu chứng cảm, thì sẽ uống ”, yêu cầu đối tượng điền nốt cho hết câu

*Phương Pháp TAT (Thematic Apperception Test): Người nghiên cứu đưa cho đối tượng những bức ảnh không rõ nghĩa, yêu cầu giải thích nội dung bức ảnh đó, qua đó tìm hiểu được nhu cầu, động cơ và những yếu tố nội tâm của họ

1.4.7 Phương pháp “tiểu sử”

Bản chất của phương pháp này là thu thập và phân tích các tài liệu có tính chất tiểu sử của một người cụ thể hay một tập thể (thư từ, nhật ký, các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học của một người; các biên bản, tài liêu lưu trữ khác của tập thể ) nhằm làm

rõ hơn các đặc điểm tâm lý của đối tượng đó và sự phát triển của chúng

Nhà quản trị có thể tìm hiểu tâm lý của nhân viên mình thông qua các sản phẩm lao động của họ Chẳng hạn, khi xem một bản báo cáo, bản kế hoạch của nhân viên, ta cũng có thể đánh giá được một cách tổng quát đạo đức, năng lực, trình độ của anh ta Nhờ phương pháp này mà nhiều khi nhà quản trị phát hiện ra được nhân tài, đào tạo họ trở thành những nhà quản trị giỏi

1.4.8 Phương pháp trắc lượng xã hội

Phương pháp này do nhà tâm lý học, xã hội học Marino (người Mỹ, gốc Ý) đề xướng để nghiên cứu cơ cấu không chính thức trong một tập thể, một nhóm và nhằm phát hiện ra thủ lĩnh Thực chất của nó tương tự như phương pháp bản câu hỏi Tuy nhiên những câu hỏi ở đây chỉ xoay quanh 2 vấn đề: đối tượng chọn ai và không chọn ai

Ví dụ: - Anh (chị) muốn làm việc với ai trong một dây chuyền?

-Nếu phải đi công tác xa, anh (chị) sẽ chọn ai đi cùng

- Nếu có dịp đi nghỉ mát Vũng Tàu, anh (chị) muốn đi với ai?

Để thực hiện tốt phương pháp này, thường chỉ đưa vào bản anket 8-10 câu hỏi Cấu trúc của các câu hỏi không chỉ phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu, mà còn phụ thuộc vào đặc điểm của tập thể (lứa tuổi, giới tính, tính chất nghề nghiệp )

Trang 29

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 1: Khái quát về tâm lý học

Kết quả thu được sẽ cho phép nhà quản trị vẽ được họa đồ xã hội của tập thể, trong đó sẽ phản ánh ai là nhân vật trung tâm (ngôi sao), ai là người bị xa lánh, ai là thủ lĩnh công việc, ai là thủ lĩnh tình cảm Những thông tinh này rất có lợi cho công tác lãnh đạo

Trên đây là những phương pháp nghiên cứu cơ bản, nhà quản trị phải áp dụng chúng một cách khoa học, kết hợp chúng một cách linh hoạt, có thể dùng phương pháp này để kiểm tra đại kết quả của phương pháp khác, thì mới tìm hiểu được tâm lý của nhân viên mình, tập thể mình cũng như của các đối tác làm ăn với mình một cách đầy đủ và chính xác

Trang 30

CHƯƠNG 2: NHỮNG HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ CÁ NHÂN Giới thiệu:

Mô tả các hiện tượng cơ bản trong đời sống tâm lý con người xét góc độ cá nhân như: hiện tượng nhận thức (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý, trí nhớ), đời sống tình cảm (màu sắc xúc cảm của cảm giác, xúc cảm, tình cảm) và nhân cách (xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực) Phân biệt các hiện tượng này và vai trò của chúng trong cuộc sống con người Đưa ví dụ từ thực tế phù hợp với quy luật của các hiện tượng tâm lý cơ bản này

Áp dụng kiến thức từ việc nghiên cứu những hiện tượng tâm lý này trong việc giải quyết những bài tập, tình huống liên quan đến các lĩnh vực: lao động và sản xuất; lãnh đạo và quản lý; tiếp thị và bán hàng; đàm phán trong kinh doanh Có ý thức điều chỉnh thái độ và cách nhìn nhận, đánh giá bản thân, người khác hoặc sự việc – hiện tượng trên

cơ sở hiểu biết các nguyên nhân về mặt tâm lý một cách phù hợp

Mục tiêu:

- Trình bày được các hiện tượng tâm lý của cá nhân trong đời sống hàng ngày

- Vận dụng được hiện tượng tâm lý của cá nhân trong đời sống hàng ngày

Nội dung chính:

2.1 HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC

Nhận thức là một trong 3 mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người ( Nhận thức, tình cảm, hành động ) nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người

Họat động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau và thể hiện ở những mức

độ phản ánh hiện thực khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, biểu tượng, khái niệm)

Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia họat động nhận thức thành hai mức độ: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau, thống nhất trong qua trình nhận thức

2.1.1 Nhận thức cảm tính

2.1.1.1 Cảm giác

2.1.1.1.1 Khái niệm chung về cảm giác

- Cảm giác là gì

Trang 31

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 2: Những hiện tượng tâm lý cá nhân

Một số ví dụ về cảm giác

Tay đụng vào một vật nhọn thấy đau, sờ vào nước đá thấy lạnh

Để một vật tròn trên tay, nhắm mắt lại cảm thấy vật đó là tròn, nhẵn

Mùa đông gió thổi vào da cảm thấy lạnh buốt

Cắn quả ớt thấy cay,

Đi qua bờ kênh cảm thấy mùi bốc lên rất khó chịu

Tất cả những hiện tượng đó đều gọi là cảm giác

Vậy: Cảm giác là một qúa trình tâm lý phản ánh thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của ta

- Đặc điểm của cảm giác

- Là một quá trình tâm ly, có kích thích là bản thân các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan

- Chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vât hiện tượng

- Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp

- Cảm giác không chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của đối tượng bên ngòai, mà còn phản ánh những trạng thái bên trong của cơ thể (Đói cồn cào, gặp người đẹp tim hồi hộp)

- Bản chất xã hội của cảm giác

Cảm giác có cả ở người và vật, nhưng cảm giác ở người khác xa về chất so với cảm giác của động vật Bản chất xã hội của cảm giác thể hiện ở chỗ:

- Đối tượng phản ánh của cảm giác không phải chỉ là sự vật hiện tượng có trong tự nhiên

mà bao gồm cả những sản phẩm lao động của con người tạo ra

Ví dụ: Chế tạo ra máy lạnh để tạo ra cảm giác mát mẻ về mùa hè

Tường sơn màu xanh để tạo ra một cảm giác dễ chịu khi làm việc

Chế biến thức ăn để ăn ngon miệng: Chuột đồng miền tây, cá lóc nướng chui, cá lóc chiên xù

- Cơ chế sinh lý của cảm giác ở con người không chỉ giới hạn ở hệ thống tín hiệu thứ nhất

Ví dụ: Các thợ máy ô tô, máy bay chuyên nghe tiếng nổ động cơ

Các thầy thuốc nội khoa chuyên nghe tim và phổi để chấn đóan bệnh

Trang 32

Những người chăn vịt lành nghề chỉ nhìn qua trứng hay con vịt mới nở cũng biết phân biệt được đâu là con cái, đâu là con đực

Những người làm nghề nếm thử (trong các nghành chế biến rượu, chè, thuốc lá ) phân biệt được 40 thứ bậc từng lọai vị, mùi có người chỉ tợp một ngụm rượu cũng biết là rượu

đó do cây nho ở xứ nào làm ra

- Cảm giác của con người còn chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lý cao cấp nhất

Ví dụ: Lúc buồn, hay đau khổ thì ăn cảm thấy không ngon, thậm chí không có cảm giác đói

- Vai trò của cảm giác:

- Cảm giác là hình htức định hướng đầu tiên của con người trong hiện thực khách quan

- Cảm giác cung cấp những nguyên liệu cần thiết cho hình htức nhận thức cao hơn

- Cảm giác là điều kiện đảm bảo trạng thái họat động của võ não, nhờ đó mà họat động tinh thần của con người được bình thường

- Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng đối với những người bị khuyết tật.Những người câm, mù, điếc đã nhận ra người thân và hàng lạot đồ vật nhờ cảm giác, đặc biệt là xú giác

2.1.1.1.2 Các loại cảm giác

Căn cứ vào nguồn kích thích gây nên cảm giác ở ngòai hay ở trong cơ thể thì cảm giác được chia thành hai lọai:

* Cảm giác ngoài gồm:

- Cảm giác nhìn (Thị giác): Cho ta biết hình thù khối lượng, độ sáng, độ xa màu sắc của

sự vật Nó giữ vai trò cơ bản trong sự nhận thức thế giới bên ngòi của con người nảy sinh

do các sóng điện từ dài từ 380 đến 770 mi-li-mi-crông tác động vào mắt

- Cảm giác nghe (thính giác): Phản ánh những thuộc tính về âm thanh, tiếng nói, nảy sinh chuyển động của sóng âm thanh có bước sóng từ 16 đến 20 000 hec( tần số giao động trong một giây) tác động vào màng tai

- Cảm giác ngưởi (Khứu giác): cho biết thuộc tính mùi của đối tượng

- Cảm giác nếm (vị giác): Cho ta biết thuộc tính vị của đối tượng có 4 lọai: Cảm giác ngọt, cảm giác chua, mặn và đắng

- Cảm giác da (mạc giác): cho ta biết sự đụng chạm, sức ép của vật vào da cũng như nhiệt độ của vật Cảm giác da gồm 5 loại: Cảm giác đụng chạm, cảm giác nén, cảm giác nóng, cảm giác lạnh, cảm giác đau

* Cảm giác bên trong:

- Cảm giác vận động: ( còn gọi là cảm giác cơ khớp) là cảm giác về vận động và vị trí của từng bộ phận của thân thể phản ánh độ co duỗi của các cơ, dây chằng, khớp xương của thân thể Phần lớn các cơ quan thụ cảm vận động được phân bổ ở các ngón tay, lưỡi

Trang 33

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 2: Những hiện tượng tâm lý cá nhân

và môi vì đó là những cơ quan phải thực hiện những cử động lao động và ngôn ngữ tinh

vi và chính xác

- Cảm giá thăng bằng Cho ta biết vị trí và phương hướng chuyển động của đầu ta so với phương của trọng lực Cơ quan của cảm giác thăng bằng nằm ở thành ba của ống bán khuyên ở tai trong và liên quan chặt chẽ với nội quan Cơ quan cảm giác thăng bằng bị kích thích quá mức sẽ gây mất thăng bàng ta cảm thấy chóng mặt, có khi nôn mửa

- Cảm giác cơ thể: Cho ta biết những biến đổi trong họat động của các cơ quan nội tạng gồm cảm giác đói, no, khát, buồn nôn, và các cảm giác khác liên quan đến hô hấp và tuần hòan

- Cảm giác rung: do các dao động của không khí tác động lên bề mặt thân thể tạo nên Nó phản ánh sự rung động của các sự vật, cảm giác này đặc biệt phảt triển mạnh ở người điếc, nhất là vừa điếc vừa câm

2.1.1.1.3 Các quy luật cơ bản của cảm giác

*Quy luật về ngưỡng của tri giác

Không phải mọi kích thích nào cũng gây ra cảm giác: kích thích yếu hay quá mạnh đều không gây ra cảm giác Giới hạn của cường độ mà ở đó kích thích gây ra cảm giác thì gọi là ngưỡng của cảm giác

Có hai loại ngưỡng :

- Ngưỡng tuyệt đối phía trên là cường độ kích thích tối đa vẫn gây cho ta cảm giác

- Ngưỡng tuyệt đối phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu đủ gây cho ta cảm giác (còn gọi là ngưỡng tuyệt đối), nó tỷ lệ nghịch với độ nhạy cảm của cảm giác

Trong phạm vi giữa ngưỡng dưới và ngưỡng trên là vùng cảm giác được trong đó có một vùng phản ánh tốt nhất

Chẳng hạn đối với cảm giác nhìn ngưỡng dưới của mắt là những sóng ánh sáng có bước sóng 390 milimicron và ngưỡng trên 780 milimicron, vùng phản ánh tốt nhất 565 milimicoron của cảm giác nghe là 1000hec

- Ngưỡng sai biệt: Đó là mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích đủ để cho ta phân biệt hai kích thích đó Ngưỡng sai biệt là một hắng sô Cảm giác thị giác là 1/100 thính giác là 1/10

Ví dụ: Một vật nặng 1kg, phải thêm vào ít nhất là 34 gam nữa thì mới gây cảm giác về sự biến đổi trọng lượng của nó

*Quy luật về sự thích ứng của cảm giác

Để đảm bảo cho sự phản ánh được tốt nhất và đảm bảo cho hệ thần kinh khỏi bị huỷ hoại, cảm giác của con người có khả năng thích ứng vơí kích thích Đó là khả năng thay

đổi độ nhạy cảm cho phù hợp vơí cường độ kích thích

Có nhiều kiểu thích ứng của cảm giác:

Trang 34

Ví dụ: Ít ai có cảm giác về sức nặng của đồng hồ đeo tay, kính đeo ở mắt, quần áo mặc trên người,

- Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm

Ví dụ: Từ chỗ tối bước qua chỗ sáng, phải qua một thời gian đợi cho tính nhạy cảm của khí quan phân tích giảm xuống ta mới phân biệt được các vật chung quanh Người lái máy bay bị đền chiếu dọi vào mắt ít nhất cũng qua từ 3 đến 6 giây mới giảm được sự nhạy cảm để nhìn rõ con số trên đồng hồ

- Khi cường độ kích thích giảm thì độ nhạy cảm tăng

Ví dụ : Từ nơi sáng bước vào bóng tối

Hai bàn tay, một ngâm vào nước nóng, một ngâm vào nước lạnh sau đó nhúng cả hai vào chậu nước bình thường thì bàn tay ngâm ở châu nước cảm thấy nước ở chậu lạnh hơn so với bàn tay kia

Mức độ thích ứng của các loại cảm giác khác nhau là không giống nhau Khả năng thích

ứng của các cảm giác là do rèn luyện

*Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác

Sự tác động qua lại giữa các cảm giác là sự thay đổi tính nhạy cảm của một cảm giác này dưới ảnh hưởng của cảm giác kia Sự tác động qua lại đó diễn ra theo một quy luật chung như sau: sự kích thích yếu lên một cảm giác này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của cảm giác kia Sự kích thích mạnh lên một cảm giác này sẽ làm giảm độ nhạy cảm của cảm giác kia

Ví dụ: Những âm thanh nhẹ làm tăng thêm tình nhạy cảm nhìn

Một mùi thơm dễ chịu làm cho mắt ta nhìn tinh hơn Lúc bệnh ăn gì cũng không cảm thây ngon

Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại

Ví dụ: Sau một kích thích lạnh thì một kích thích ấm sẽ có vẻ nóng hôn- Đó là tương phản nối tiếp

*Đặc điểm của tri giác:

- Là quá trình tâm lý cũng chỉ phản ánh thuộc tính bên ngòai của sự vật hiện tượng đang tác động trực tiếp vào các giác quan

Trang 35

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 2: Những hiện tượng tâm lý cá nhân

- Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn: Tính trọn vẹn của sự vật hiện tượng là do tính trọn vẹn khách quan của bản thân sự vật hiện tượng quy định

- Tri giác là quá trình tích cực gắn liền với họat động của con người Tri giác mang tính

tự giác giải quyêt1t một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó là một hành dộng tích cực trong đó có sự kết hợp chặt chẽ của các yếu tố của cảm giác vận động

Những đặc điểm trên đây chứng tỏ rằng tri giác là mức phản ánh cao hơn cảm giác, nhưng vẫn thuộc giai đọan nhận thức cảm tính, chỉ phản ánh thuộc tính bề ngòai của

sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào

2.1.1.2.2 Các loại tri giác

Phân loại theo cơ quan phân tích nào giữ vai trò chính trong số các cơ quan tham gia vào quá trình tri giác ta có :

- Tri giác nhìn

- Tri giác nghe

- Tri giác sờ mó

Phân loại theo đối tượng phản ánh ta có

- Tri giác không gian: là tri giác về hình dáng, độ lớn, vị trí, độ xa và phương hướng của các sự vật đang tồn tại trong không gian, tri giác này giữ vai trò quan trọng trong sự tác động qua lại của con người với môi trường xung quanh, nó là điều kiện để con người định hướng trong môi trường

- Tri giác thời gian: Lọai tri giác này cho biết độ dài lâu, tốc độ, nhịp điệu và tính liên tục khách quan của các hiện tượng trong hiện thực Nhờ tri giác thời gian mà những biến đổi xẩy ra trong thế giới chung quanh được phản ánh

Trong tri giác thời gian cũng có những ảo giác, nghĩa là những sai lầm trong việc nhận xét độ ngắn dài của khỏang thời gian, chẳng hạn khi chúng ta bận nhiều công việc, hoặc trạng thái phấn khởi thì thời gian hình như đi nhanh hơn, rút ngắn lại Trái lại những lúc nhàn rỗi hoặc trong trạng thái chờ đợi hoặc buồn bực thì chúng ta cảm thấy thời gian như đi chậm lại

- Tri giác vận động: là sự phản ánh những thay đổi về vị trí các sự vật trong không gian, lọai này cho ta biết phương hướng, tốc độ, thời gian chuyển động của đối tượng tri giác

- Tri giác con người (tri giác xã hội): Là quá trình nhận thức lẫn nhau của con người trong điều kiện giao lưu trực tiếp Đây là lọai tri giác đặc biệt vì đối tượng tri giác cũng là con người quá trình này bao gồm tất cả các mức độ của sự phản ánh tâm lý từ cảm giác cho đến tư duy

2.1.1.2.3 Quan sát và năng lực quan sát:

- Quan sát là một hình thức tri giác cao nhất mang tính tích cực, chủ động, có mục đích, có kế họach rõ rệt có sử dụng những phương tiện cần thiết Quan sát diễn ra thường

Trang 36

- Năng lực quan sát là khả năng tri giác nhanh chóng và chính xác những đặc điểm quan trọng, chủ yếu và đặc sắc của sự vật hiện tượng cho dù những đặc điểm đó khó nhận thấy hoặc có vẻ là thứ yếu Năng lực quan sát ở mỗi người khác nhau và phụ thuộc vào những đặc điểm nhân cách

Những người mắc bệnh thị giác hay thính giác (cận thị, lọan thị, nghễng ngãng ) thì khả năng quan sát bị hạn chế

2.1.1.2.4 Các quy luật cơ bản của tri giác

- Quy luật về tính đối tượng của tri giác: Tính đối tượng của tri giác đó là hình ảnh

trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng là cũng thuộc về một sự vật, hiện tượng nhất định nào đó của thế giới bên ngoài Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng – nó

là cơ sở của chức năng định hướng hành vi và hoạt động của con người

- Quy luật về tính lựa chọn của tri giác: khi ta tri giác một sự vật hiện tượng nào đó tì

có nghĩa là ta tách sự vật đó ra khỏi bối cảnh chung quanh lấy nó làm đối tượng phản ánh của mình Vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể hoán đổi cho nhau: Một vật nào đó lúc này là đối tượng của tri giác, lúc khác lại có thể trở thành bối cảnh và ngược lại

Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan ( đặc điểm của vật kích thích, ngôn ngữ của người khác, đặc điểm của hoàn cảnh tri giác…)

- Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác: Những hình ảnh của tri giác mà con người

thu được luôn luôn có một ý nghĩa xác định khi tri giác một sự vật hiện tượng nào đó ta gọi tên được sự vật hiện tượng đó trong óc, và xếp sự vật hiện tượng đó vào một nhóm, một lớp các sự vật hiện tượng nhất định, ngay cả tri giác sự vật không quen thuộc, chúng

ta cũng cố thu nhận trong nó một sự giống nhau nào đó vơí những đối tượng mà mình đã

biết, xếp nó vào một nhóm phạm trù nào đó

- Quy luật về tính ổn định của tri giác: Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh

sự vật hiện tượng một cách không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi

Tính ổn định của tri giác được hình thành trong hoạt động với đồ vật và là một điều kiện cần thiết của đời sống con người Tính ổn định của tri giác do kinh nghiệm mà có

- Quy luật tổng giác: Ngoài bản thân những kích thích gây ra nó, tri giác của con

người còn bị quy định bơỉ một loạt các nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác Sự phụ thuộc của tri giác vào vào nội dung của đơì sống tâm lý, vào đặc điểm nhân cách của

Trang 37

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 2: Những hiện tượng tâm lý cá nhân

Nói một cách khác, trí nhớ là qúa trình thu nhận thông tin, tạo “vết” tương ứng với thông tin đả thu nhận được, củng cố, giữ gìn và tách các thông tin cần thiết

Các tri giác, ý nghĩ, cảm giác, khát vọng, các hành vi và hoạt động của con người đả xẩy ra trước đây thường không phải biến đi không để lại dấu vết gì mà chúng còn lưu lại dưới dạng các hình ảnh nhất định Các hình ảnh này được gọi là biểu tượng Chúng tham gia một cách hữu cơ vào hoạt động tâm lý tiếp theo của con người

Như chúng ta đã biết, cảm giác, tri giác, phản ánh những sự vật hiện tượng đang tác động trực tiếp vào chúng ta, nghĩa là trong thời điểm hiện tại Còn đối với trí nhớ phản ánh những sự vật hiện tượng đã tác động vào con người trước đây (qúa khứ)

Khi con người ghi nhớ một điều gì là hình thành một hệ thống đường liên

hệ thần kinh tạm thời trên võ não Đường liên hệ thần kinh này tương đối vững chắc có khả năng phục hồi lại về sau Muốn giữ gìn những đường liên hệ đó phải củng cố bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần Đó chính là cơ sở sinh lý của trí nhớ

* Sự liên tưởng

Sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan luôn có mối liên hệ với nhau do vậy khi ta nhớ tới sự vật hiện tượng này thì đồng thời nhớ tới sự vật hiện tượng khác

Để phản ánh mối liên hệ phức tạp này, trong võ não phải hình thành một đường liên hệ thần kinh tạm thời Khi một đường liên hệ thần kinh tạm thời hưng phấn thì làm hưng phấn những đường liên hệ thần kinh tạm thời lân cận

I.M.Setrenop đả chỉ rỏ bản chất của phản xạ của liên tưởng: “Liên tưỏng là một dãy các phản xạ liên tục thông thường, trong đó tính về mặt thời gian, cái cuối của phản xạ trước gắn với sự bắt đầu của phản xạ tiếp theo… Liên tưởng là một dãy liên tục của những tiếp xúc cái cuối của phản xạ trước với cái bắt đầu của phản xạ sau”.(Setrenop, tuyển tập tác phẩm, tập 1, viện hàn khoa học Liên Xô (cu)û, Matxcơva,1952, tr 88.)

Trong tâm lý học người ta phân biệt ba loại liên tưởng:

Trang 38

Xuất hiện khi những đối tượng hoặc những hiện tượng có sự gần gũi nhau trong không gian và thời gian khi chúng ta nhớ tới

- Liên tưởng giống nhau:

Xuất hiện trong trường hợp đối tượng hoậc hiện tượng này có những đặc điểm giống hệt nhau hay gần giống nhau

Liên tưởng giống nhau có một ý nghĩa rất lớn trong bất kỳ qúa trình học tập nào Nhờ có nó mà ta có thể so sánh các hiện tượng đang được học với các hiện tượng đã được học, tìm ra những nét riêng và những nét chung giữa chúng Và, như vậy ta có thể tiếp thu và ghi nhớ tài liệu cần học một cách tốt hơn

- Liên tưởng tương phản:

Xuất hiện trong trường hợp đối tượng hoặc hiện tượng này với biểu tượng của đối tượng hoặc hiện tượng kia có những đặc điểm trái ngược nhau hay đối xứng nhau

2.1.2.2 Các quá trình cơ bản của trí nhớ

- Ghi nhớ

Đây là bước đầu tiên của qúa trình trí nhớ Qúa trình này xẩy ra khi có những tác nhân kích thích vào các giác quan làm hiện lên trong trí óc những hình của sự vật, hiện tượng Con người ghi lại những hình ảnh đó bằng những đường liên hệ thần kinh tạm thời trên võ não và lưu giữ nó bằng những “dấu vết” trên tế bào não Những hình ảnh đó được ghi lại trong não bộ Muốn củng cố “vết” đó cần có một khoảng thời gian đáng kể để ghi nhớ Ghi nhớ được hình thành và phát triện trong mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động trí lực Trí nhớ là một quá trình được

tổ chức chặt chẽ, nó phụ thuộc vào động cơ và mục đích của con người

- Nhận lại

Qúa trình ghi nhớ là qúa trình tích lũy kinh ngiệm Còn khi sự vật, hiện tượng

mà ta tri giác được trước kia lại tác động vào cơ quan phân tích ta sẽ nhận ra sự vật

và hiện tượng Đó là qúa trình nhận lại

Nhận lại là khâu đơn giản nhất và xẩy ra sớm hơn nhớ lại Tốc độ và chất lượng nhận lại phụ thuộc vào sự giống nhau giữa cái cũ và cái mới Sự giống nhau

đó càng rõ rệt thì sự nhớ lại càng nhanh Muốn có khâu nhận lại cần có qúa trình ghi lại, bởi vì qúa trình ghi lại là cơ sở cho qúa trình nhận lại

- Nhớ lại

Sự vật không có trước mắt ta nhưng chúng ta vẫn có hình ảnh của chúng ở trong đầu Nhớ lại là khâu cuối cùng của trí nhớ và là tiêu chuẩn của trí nhớ Bởi vì không cần có sự vật hiện tượng trước mắt, con người cũng có được hình ảnh của sự vật hiện tượng

Trang 39

Tâm lý học trong kinh doanh Chương 2: Những hiện tượng tâm lý cá nhân

Các qúa trình của trí nhớ luôn luôn có quan hệ biện chứng với nhau

2.1.2.3 Phân loại

- Loại trí nhớ có chủ định và không có chủ định

+ Không có chủ định: Đây là hình thức ghi nhớ đầu tiên trong đó chủ thể không đặt mục đích ghi nhớ trước và không sử dụng các hình thức ghi nhớ Nếu sự vật phù hợp với nhu cầu của con người thì vẫn ghi nhớ một cách bền vững, tuy không có chủ định Trí nhớ có chủ định làm cho ta nhớ nhanh, sâu, tốn ít năng lượng

Kết luận sư phạm:

Trong dạy học vai trò đồ dùng trực quan, lời giảng bài truyền cảm sẽ gây ấn tượng tốt đối với học sinh và làm cho học sinh dễ nhớ bài học Trí nhớ có chủ định: Con người đặt trước mục đích ghi nhớ và có sử dụng những cách thức để ghi nhớ dễ dàng hơn

Đây là hoạt động trí tuệ rất phức tạp Trong khi nhận thức hiện thực xung quanh con người có vô số những nhiệm vụ phải ghi nhớ Ví dụ: Học thuộc lòng các công thức, định lý, bài thơ, và những điều trong cuộc sống v.v… trong qúa trình đó ngôn ngũ đóng vai trò rất quan trọng Vì thông qua ngôn ngữ sẽ làm cho qúa trình hưng phấn của võ não mạnh hơn, làm cho các đường liên hệ thần kinh tạm thời trên võ não vững chắc hơn

Ghi nhớ có chủ định vào hoàn cảnh lứa tuổi, vào khối lượng phải ghi nhớ Trí nhớ củng phát triển theo lứa tuổi và giảm dần theo lứa tuổi (trừ những cá nhân kiệt xuất trong lịch sử nhân loại)

Trong ghi nhớ có chủ định được chia thành hai loại:

* Ghi nhớ máy móc: Được xây dựng trên cơ sở những mối liên hệ bên ngoài của đối tượng mà không cần hiểu nội dung tài liệu

* Ghi nhớ có ý nghĩa: Đây là loại ghi nhớ dựa vào sự hiểu biết nội dung tài liệu, hiểu biết mối quan hệ bản chất, lôgic của tài liệu Kết qủa của loại ghi nhớ này bền vững, dễ dàng nhanh chóng hơn ghi nhớ máy móc

Trong thực tế cả hai kiểu ghi nhớ này có mối quan hệ với nhau Sự xâm nhập của ghi nhớ có ý nghĩa làm cho ghi nhớ máy móc nhanh hơn, số lần lặp đi lặp lại ít đi Ngược lại ghi nhớ máy móc làm tăng độ chính xác và sức thuyết phục của tài liệu ghi nhớ có chủ định

Tóm lại:

Cả hai loại ghi nhớ có chủ định và không có chủ định có mối quan hệ lẫn nhau và bổ sung cho nhau trong qúa trình nhận thức Tuy vậy, đối với chúng ta ghi

Trang 40

động nhận thức của con người

- Ghi nhớ bằng mắt, bằng tai, vận động, hỗn hợp

+ Mắt: Đây là kiểu ghi nhớ phổ biến nhất liên quan chặt chẽ với trí nhớ hình ảnh Đối với kiểu ghi nhớ bằng mắt phải thấy cho được hình dáng, kích thước, màu sắc… của vật thể hoặc cử chỉ của người mình đang tiếp xúc Những lời nghe được phải ghi lên giấy, những điều quan trọng phải được đánh dấu Khi đọc không đọc thành tiếng mà đọc bằng mắt Kiểu ghi nhớ này chiếm khoảng trên 80% các kích thích mà con người tiếp nhận được

+ Tai: Kiểu ghi nhớ này ít phổ biến hơn, thường thiên về kiểu ghi nhớ

trừu tượng, logich Muốn thực hiện được kiểu ghi nhớ này cần phải có

những điều kiện sau đây:

- Nge nhiều âm lượng lớn của người khác

- Xem tài liệu phải đọc to

- Làm việc trong im lặng, tránh ồn ào

- Nói và biện luận phải to

+ Vận động: Loại ghi nhớ này khá phổ biến, bởi vì có sự kết hợp của hai loại ghi nhớ ở trên (mắt và tai)

Nội dung ghi nhớ của loại trí nhớ này là các hình ảnh vận động cơ của các động tác Trí nhớ vận động rất có ý nghĩa khi nhớ các bài tập thể chất cũng như qúa trình lao động liên quan đến vận động

+ Hỗn hợp: Loại ghi nhớ này đều có ở tất cả mọi người Đó là có sự kết hợp của ba loại ghi nhớ như đã nêu ở trên Kiểu ghi nhớ này có kết qủa cao nhất

- Ghi nhớ ngắn hạn và ghi nhớ dài hạn

2.1.2.4 Sự quên

(xem thêm: Những bí ẩn trong tâm lý con người của Đức Uy, nxb Đà nẵng 1988, tr 211)

Ngày đăng: 29/01/2021, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w