nuôi tại Lâm Đồng” được thực hiện nhằm xác định các tác nhân virus gây bệnh trên cá tầm nuôi tại Lâm Đồng.. xii IHNV xuất hiện trên cả 2 loài cá tầm Nga và cá tầm Siberi với 3 dấu hiệu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
TRẦN VĂN ĐÁP
NGHIÊN CỨU BỆNH DO VIRUS GÂY RA Ở CÁ TẦM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
TRẦN VĂN ĐÁP
NGHIÊN CỨU BỆNH DO VIRUS GÂY RA Ở CÁ TẦM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do chính bản thân tôi thực hiện dưới sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của TS Hứa Ngọc Phúc, ThS Võ Thị Dung – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III và TS Lương Công Trung – Trường Đại học Nha Trang cùng sự hỗ trợ của các anh, chị thuộc Phòng Công nghệ sinh học và Vắc xin thủy sản – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Khánh Hòa, ngày 24 tháng 03 năm 2018
Tác giả
Trần Văn Đáp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Viện Nuôi Trồng Thuỷ Sản, Phòng đào tạo sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạoViện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian, trang thiết bị, cơ sở thí nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự chỉ dẫn tận tình, chu đáo của các giáo viên, cán bộ hướng dẫn TS Hứa Ngọc Phúc, TS Lương Công Trung và Ths Võ Thị Dung đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn về phương pháp nghiên cứu và báo cáo khoa học
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của các anh, chị Phòng Công nghệ Sinh học và Vắc xin thủy sản - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III trong quá trình thực hiện luận văn và sự truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu của các thầy, cô giảng viên đã tham gia giảng dạy khoá học
Cuối cùng, tôi được bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn
bè đã luôn động viên khích lệ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Khánh Hòa, ngày 24 tháng 03 năm 2018
Tác giả
Trần Văn Đáp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC BẢNG x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá tầm (Acipenser) 3
1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố của cá tầm 3
1.1.2 Đặc điểm sinh học cá tầm 4
1.2 Tình hình nuôi cá tầm trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1 Tình hình nuôi cá tầm trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình nuôi cá tầm ở Việt Nam 5
1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá tầm 8
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tầm trên Thế giới 8
1.3.1.1 Bệnh do nấm 8
1.3.1.2 Bệnh do ký sinh trùng 11
1.3.1.3 Bệnh do vi khuẩn 12
1.3.1.4 Bệnh do virus 14
1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tầm tại Việt Nam 16
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 19
2.2 Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu 19
2.2.1 Thiết bị 19
2.2.2 Dụng cụ 19
Trang 62.3 Sơ đồ nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp thu mẫu cá 20
2.5 Quan sát và mô tả dấu hiệu bệnh lý 20
2.6 Phương pháp nghiên cứu mô bệnh học 21
2.7 Phương pháp xác định virus gây bệnh trên cá tầm bằng PCR 22
2.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Dấu hiệu bệnh lý các mẫu cá tầm bệnh 27
3.1.1 Bệnh xuất huyết 27
3.1.2 Bệnh cong thân 27
3.1.3 Bệnh cá bơi quay, không định hướng 28
3.2 Virus gây bệnh ở cá tầm xác định bằng phương pháp mô học 29
3.2.1 Sự xuất hiện virus trên mô não cá tầm mẫu 29
3.2.2 Sự xuất hiện virus trên mô thận cá tầm mẫu 31
3.2.3 Sự xuất hiện virus trên mô gan cá tầm mẫu 32
3.3 Virus xuất hiên trên cá tầm xác định bằng phương pháp PCR 33
3.3.1 Kết quả thử nghiệm PCR đối với White Sturgeon Iridovirus (WSIV) 34
3.3.2 Kết quả thử nghiệm PCR đối với White Sturgeon Herpesvirus (WSHV) 36
3.3.3 Kết quả thử nghiệm PCR đối với Infectious Hematopoietic Necrosis Virus (IHNV) 37
3.3.4 Kết quả thử nghiệm PCR đối với Viral nervous necrosis Virus (VNN) 39
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 41
4.1 Kết luận 41
4.2 Đề xuất ý kiến 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNA: Deoxyribonucleic acid ĐK: Đường kính
KHCN: Khoa học công nghệ KST: Ký sinh trùng
NC: Negative control NĐP: Nhiệt độ phòng NTTS: Nuôi trồng thủy sản
PC: Positive control PCR: Polymerase chain reaction RNA: Ribonucleic acid
TB: Trung bình TSBG: Tần số bắt gặp VK: Vi khuẩn bp: Base pair
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cá tầm Nga 3
Hình 1.2 Cá tầm Siberi 3
Hình 2.1 Bộ điện di Ex-Mupid 19
Hình 2.2 Máy NanoDrop 2000 19
Hình 2.3 Máy PCR 19
Hình 2.4 Bàn soi LMS-26 (UVP, Mỹ) 19
Hình 2.5 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 20
Hình 2.6 Sơ đồ qui trình tách chiết DNA 23
Hình 2.7 Sơ đồ quy trình tách chiết RNA 24
Hình 2.8 Sơ đồ quy trình phản ứng PCR đối với tác nhân virus trên cá tầm 25
Hình 2.9 Sơ đồ quy trình thực hiện phản ứng chuyển đổi từ RNA sang cDNA 25
Hình 3.1 Cá tầm bị bệnh xuất huyết 27
Hình 3.2 Cá tầm bị bệnh cong thân 28
Hình 3.3 Cá tầm bị bệnh bơi quay, không định hướng 28
Hình 3.4 Mô não cá khỏe chụp dưới kính hiển vi điện tử 30
Hình 3.5 A - Mô não cá tầm Nga giống bình thường; B – Mô não cá tầm Nga giống bơi không định hướng 30
Hình 3.6 Mô não cá tầm xuất huyết, cong thân, bơi không định hướng 30
Hình 3.7 Mô thận cá khỏe chụp dưới kính hiển vi điện tử 31
Hình 3.8 A- Mô thận cá tầm Nga giống khỏe; B- Mô thận cá tầm Nga giống bị xuất huyết 31
Hình 3.9 Dấu hiệu mô cá tầm bị nhiễm virus Nodavirus 32
Hình 3.10 Mô gan cá khỏe chụp dưới kính hiển vi điện tử 32
Hình 3.11 A - Mô gan cá tầm giống có nhân phình to (→); B – Mô gan cá tầm giống có sự tập trung các tế bào viêm xung quanh xoang máu trong gan (→) 33
Hình 3.12 Mô biểu bì cá tầm Nga nhiễm virus có hiện tượng nhân phình to 33
Hình 3.13 Hình ảnh điện di sản phẩm của PCR kiểm nghiệm và phát hiện WSIV trên các mẫu cá tầm 34
Hình 3.14 Phát hiện nhanh iridovirus cá hồi trắng (WSIV) bằng cách sử dụng phép thử phản ứng chuỗi PCR 35
Trang 9Hình 3.15 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR kiểm nghiệm và phát hiện WSHV trên các mẫu cá tầm 36 Hình 3.16 Hình ảnh điện di sản phẩm của PCR kiểm nghiệm và phát hiện IHNV trên các mẫu cá tầm 37 Hình 3.17 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR kiểm nghiệm và phát hiện VNN trên các mẫu cá tầm 39 Hình 3.18 Sự khuếch đại phản ứng chuỗi polymerase (PCR) RNA của virut hoại tử thần kinh 40
Trang 10x
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các loài nấm được tìm thấy trên cá tầm 10
Bảng 2.1 Số lượng tiêu bản cá nghiên cứu mô học 22
Bảng 2.2 Các cặp mồi và chương trình luân nhiệt cho PCR 24
Bảng 3.1 Tần số bắt gặp tiêu bản mô học có dấu hiệu virus gây bệnh 29
Bảng 3.2 Kết quả tách chiết DNA và RNA 33
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Cá tầm (Acipencer) là những đối tượng thủy sản nước ngọt quan trọng được du
nhập và nuôi thành công ở nhiều nước trên thế giới như Nga, Pháp, Mỹ và Trung Quốc
Cá tầm được du nhập vào Việt Nam từ đầu năm 2005 Tuy nhiên hiện nay việc nghiên cứu về bệnh trên cá tầm nuôi tại Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu bệnh virus còn nhiều
hạn chế, do đó đề tài “Nghiên cứu bệnh do virus gây ra ở cá tầm (Acipenser spp.)
nuôi tại Lâm Đồng” được thực hiện nhằm xác định các tác nhân virus gây bệnh trên cá
tầm nuôi tại Lâm Đồng
Nội dung nghiên cứu
Mô tả các dấu hiệu bệnh lý liên quan đến bệnh do virus gây ra ở cá tầm
Xác định virus gây bệnh ở cá tầm bằng phương pháp mô bệnh học
Xác định virus gây bệnh ở cá tầm bằng phương pháp PCR
Kết quả nghiên cứu
Các dấu hiệu bệnh lý virus chính trong thời gian nghiên cứu: Bệnh xuất huyết, cong thân, bơi không định hướng
TSBG mô cá có dấu hiệu virus gây bệnh tại các cơ quan đích đối với cá tầm Nga cao nhất là ở mô não và ở mô thận cá xuất huyết với tỉ lệ 42%, tiếp theo là ở mô não và mô thận cá cong thân, mô não cá bơi quay, không định hướng với tỉ lệ 33,3% Đối với cơ quan đích là mô gan TSBG mô học có dấu hiệu virus gây bệnh thấp hơn, cao nhất là ở cá cong thân, bơi không định hướng với tỉ lệ 25% và thấp nhất ở cá xuất huyết với tỉ lệ 14%
Ở cá tầm Siberi TSBG mô học có dấu hiệu virus gây bệnh tại các cơ quan đích đối với cá tầm Siberi cao nhất là ở mô thận cá xuất huyết với tỉ lệ 100%, tại các vị trí mô gan TSBG mô học có dấu hiệu virus gây bệnh thấp nhất là ở cá cong thân với tỉ
lệ 25% Đối với cơ quan đích là mô gan của cá bơi không định hướng chưa phát hiện
mô học có dấu hiệu virus gây bệnh
Tỷ lệ mẫu dương tính đối với virus IHNV là 12/24 (50%), mẫu dương tính với virus VNN với tỉ lệ 3/24 (12,5%), mẫu dương tính với virus WSIV với tỉ lệ 2/24 (8,33%), phân tích PCR phát hiện virus WSHV cho kết quả âm tính
Mẫu dương tính với virus WSIV xuất hiện trên các mẫu cá tầm Nga với 2 dấu hiệu bệnh lý chính là xuất huyết và bơi không định hướng,mẫu dương tính với virus
Trang 12xii
IHNV xuất hiện trên cả 2 loài cá tầm Nga và cá tầm Siberi với 3 dấu hiệu bệnh lý chính là xuất huyết, cong thân và bơi không định hướng, mẫu dương tính với virus VNN xuất hiện trên các mẫu cá tầm Nga với dấu hiệu bệnh lý chính là bơi không định hướng
Trang 13MỞ ĐẦU
Cá tầm (Acipencer) thuộc nhóm cá nước lạnh, nhưng có thể thích ứng với nhiệt
Nam có thể nuôi thành công các loài cá này Cá tầm lần đầu tiên được nuôi thử nghiệm
ở lòng hồ Na Hang (Tuyên Quang) nhưng số lượng không nhiều, chỉ vài ngàn con Sau
đó cá được nuôi mở rộng ra ở các hồ như hồ Tuyền Lâm (Lâm Đồng), hồ Thuỷ điện
Đa Mi (Bình Thuận), hồ thủy điện Vĩnh Sơn (Bình Định), hồ thủy điện Buôn Tu Srah (Daklak), hồ Cấm Sơn (Bắc Giang), Văn Chấn và hồ Thác Bà Yên Bái, và ở các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng, cho kết quả rất khả quan Tốc độ tăng trưởng của
cá nuôi ở Việt Nam nhanh hơn so với các nơi khác trên thế giới [2]
Tại Lâm Đồng từ tháng 9/2006, cá tầm bắt đầu được đưa vào nuôi thử nghiệm
và phát triển Đây là đối tượng có thể thích nghi và phát triển tốt tại một số địa phương trong tỉnh (hồ Tuyền Lâm, Giang ly, Lâm Hà, Di Linh) mở ra triển vọng mới cho phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Nghề nuôi
cá tầm nói chung và cá tầm Nga nói riêng tại Lâm Đồng đã phát triển nhanh với sản lượng đạt được khoảng 100 tấn/năm Hiện nay, nghề nuôi cá tầm đã được tỉnh quy hoạch phát triển với quy mô hàng nghìn tấn sản phẩm/năm [5]
Do đa số cá giống ở Lâm Đồng hiện nay được ương từ nguồn trứng nhập từ nước ngoài nên công tác kiểm dịch để phát hiện mầm bệnh còn gặp nhiều khó khăn Vì thế khả năng lây nhiễm bệnh trong quá trình ương nuôi rất cao [5]
Các kết quả nghiên cứu bệnh cá tầm tại Lâm Đồng cho đến nay chỉ tập trung vào các tác nhân ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn Chưa có công trình nào nghiên cứu
về các tác nhân virus gây bệnh
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu
bệnh do virut bệnh gây ra ở cá tầm (Acipenser spp.) nuôi tại Lâm Đồng”
Mục tiêu của đề tài là nhằm xác định các tác nhân virus gây bệnh trên cá tầm
nuôi tại Lâm Đồng
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp những dữ liệu nghiên cứu về bệnh do virus xuất hiện trên cá tầm nuôi tại Lâm Đồng làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu phòng và trị bệnh cho cá tầm
Giúp người nuôi hiểu và nhận biết dấu hiệu của đàn cá bị nhiễm bệnh nói chung
và bệnh gây ra do virus nói riêng
Trang 142
Xác định được nguyên nhân gây bệnh từ đó giúp người nuôi cá nâng cao nhận thức cũng như sự chủ động trong công tác quản lý môi trường và phòng bệnh trên đàn
cá tầm nuôi
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá tầm (Acipenser)
1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố của cá tầm
Giống: Acipenser (Linnaeus, 1758)
Tên tiếng Anh: Sturgeon
Acipenser, Huso, Scaphirhynchus và Pseudoscaphirhynchus gồm 30 loài Các loài
thường gặp nhất là cá tầm trắng, cá tầm mũi ngắn, cá tầm sao, Beluga và Sterlet Vài
loài có toàn bộ vòng đời ở nước ngọt, có loài sống ngoài biển khơi nhưng bơi ngược trở về sông để đẻ trứng [2]
Trong tự nhiên cá chỉ phân bố ở vùng Bắc bán cầu và thường gặp tại Bắc Ðại Tây Dương, Bắc Thái Bình Dương, vùng biển Caspian, biển Ðen, tại nhiều sông và hồ như sông Delaware, Rhin, Garonne, Elbe, Volga, Danube và hồ Ladoga
Trang 164
Cá tầm thuộc cá xương sụn, vảy tấm, thân cá hình ống, thuôn dài, được phủ bởi
5 hàng xương gai - vảy xương: 1 hàng trên lưng, 2 hàng ở 2 bên sườn và 2 bên bụng Giữa những dãy vảy xương có những tấm bản hình sao lớn nhỏ xen kẽ nhau Đường bên có từ 29 - 50 chiếc vảy xương Da dày, nhám và không vảy, màu sắc thay đổi tùy loài, tuổi và tùy vùng sinh thái Miệng cá nhỏ ở phía dưới, không răng Mũi dài nhọn,
có 4 râu dài, hình trụ cứng ở phía dưới trước miệng dùng để tìm mồi Vây lưng lùi về phía sau, lỗ hậu môn mở ra ở gần vây bụng Ðuôi cá dạng chẻ đôi, phần trên của vây đuôi có vảy sọc và dài hơn phần dưới [28]
1.1.2 Đặc điểm sinh học cá tầm
Cá tầm là loài cá ăn thịt, sống và kiếm mồi trong môi trường nước mát (lợ, ngọt), sạch Với chiếc mõm hình nêm, chúng sục sạo lớp đáy bùn mềm và bắt mồi bằng cơ quan xúc giác nhạy cảm (râu) Trong tự nhiên cá có tập tính bắt mồi ở tầng đáy, thức ăn khoái khẩu của cá tầm là các loài động vật đáy: nhuyễn thể, cá tầng đáy, giáp xác, ốc, giun Cá tầm thường tìm thức ăn vào ban đêm [2]
Trong tự nhiên, khi còn nhỏ thành phần thức ăn chính của chúng là nhuyễn thể, giun ít tơ, ấu trùng muỗi, ấu trùng các côn trùng và tôm tép nhỏ Khi cá trưởng thành thức ăn của chúng là cá nhỏ, tôm và những động vật nhỏ trong nước [2]
Trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá có chiều dài 3,05 cm (7 - 10 ngày sau khi trứng nở) bắt đầu ăn mồi, thức ăn chủ yếu là các côn trùng, động vật phù du như Copepoda, Cladocera, và giun ít tơ [2]
Tốc độ lớn của cá bột rất nhanh Sau khi đạt tới tuổi trưởng thành 2 - 4 năm thì tốc độ tăng trưởng của chúng dường như chậm lại rất nhiều, mặc dù vẫn còn tiếp tục trong vài năm Phần lớn cỡ cá khai thác được trong tự nhiên khoảng 15 - 20 kg, đôi khi gặp cá ở 10 - 12 năm tuổi và khối lượng đạt 20 - 30kg
Cá tầm phát dục và sinh sản lần đầu ở 4 - 6 năm tuổi hoặc cao hơn nữa Khi cá
bố mẹ đến tuổi phát dục đòi hỏi phải trải qua thời gian mùa đông nhất định thì buồng trứng mới chuyển sang giai đoạn IV và cho đẻ được Cá đẻ không liên tục, khoảng cách giữa các lần đẻ là 1 - 2 năm Trong tự nhiên, cá có thời gian thành thục chậm hơn rất nhiều so với điều kiện nuôi nhân tạo, thành thục sớm hay muộn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố môi trường và hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn Vào mùa đông, nhiệt
độ nước hạ xuống cũng là lúc tuyến sinh dục của cá cũng bắt đầu phát triển mạnh Nhiệt độ thích hợp nhất cho tuyến sinh dục của cá phát triển là 8 - 120C [16]
Trang 171.2 Tình hình nuôi cá tầm trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi cá tầm trên thế giới
Năm 1869 Ovxianhicov và Penxam lần đầu tiên thụ tinh nhân tạo cá Acipencer
ruthenus thành công Năm 1870 trứng thụ tinh nhân tạo và cá bột của loài này đã được
gửi sang Scotlen và năm 1874 được gửi sang Đức, đánh dấu công trình đầu tiên trên thế giới về sinh sản nhân tạo cá tầm [3]
Năm 1919 ở Astrakhan xuất bản tài liệu hướng dẫn sinh sản nhân tạo cá tầm
Năm 1979, Smoljanov, hoàn thiện kỹ thuật cho đẻ 2 loài cá steliat (A ruthenus) và cá
tầm Siberi hoàn toàn sống trong điều kiện nước ngọt Sau này kỹ thuật đã được áp dụng ở một số nước như Pháp, Mỹ, Nhật, Đức và Ba Lan Kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất để nuôi cá thịt là sử dụng cá lai nhằm tận dụng ưu điểm của con bố và con
mẹ Một thí dụ điển hình là sử dụng cá besta, là con lai giữa cá đực steliat (A
ruthenus) và cá cái Beluga (Huso huso) Cá sinh trưởng nhanh và thành thục sớm [2]
Hiện nay, quốc gia có nghề nuôi cá tầm gồm: Áo, Azerbaijan, Bỉ, Bulgaria, Chi
Lê, Estonia, Pháp, Đức, Hungary, Italia, Latvia, Ba Lan, Rumania, Slovenia, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Ukraine, Nga, Hoa Kỳ, Uruguay
Các loài cá nuôi chủ yếu gồm: cá tầm trắng, cá tầm Siberi, cá Steliat, cá Beluga, Beste, cá tầm sông Đanup, cá tầm Nga, cá tầm Ship [3]
1.2.2 Tình hình nuôi cá tầm ở Việt Nam
Đề tài thử nghiệm di giống và nuôi cá tầm Nga được thực hiện đầu tiên năm
2000 tại Lâm Đồng do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III chủ trì Năm 2003 -
2004, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I thông qua dự án hợp tác với Phần Lan đã đưa được trứng cá tầm Siberi và cá tầm Nga về nuôi thử nghiệm tại Sapa thành công
Từ năm 2005, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã khởi động dự án nhập công nghệ sản xuất giống và đề án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh tại Thác Bạc (Sa Pa, Lào Cai), sau đó chuyển vào nuôi thử nghiệm tại tỉnh Lâm Đồng vào năm 2007 Đến nay, phong trào nuôi cá tầm đã phát triển mạnh trên 21 tỉnh, điển hình là Lào Cai, Lâm Đồng, Lai Châu, Yên Bái, Tuyên Quang, và Sơn La [2]
Tháng 4/2006, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III thử nghiệm nuôi ở Đà Lạt một số ít cá tầm cỡ lớn (2 kg/con) nhập về từ Sapa Cá thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ở đây và có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, đến tháng 8/2008 đạt khối lượng 10
- 15 kg/con Từ đó nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã mở rộng mô hình nuôi cá tầm và bước đầu đã thành công [2]
Trang 186
Diện tích có thể nuôi được cá tầm ở Tây Nguyên rất lớn, đặc biệt nuôi tại các
hồ chứa với khoảng 54.000 ha
Trên thực tế, không chỉ ở các tỉnh vùng cao phía Bắc có nhiệt độ lạnh quanh năm hay các tỉnh Tây Nguyên mà ngay cả một số vùng như Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế hay thậm chí các tỉnh Duyên hải miền Trung đều có những vùng có khí hậu thích hợp với nuôi cá tầm như: Trên hồ Đa Mi, tỉnh Bình Thuận, công ty cá tầm Việt Nam đã đầu tư nuôi cá tầm rất thành công trong 30 lồng với 23.000 con trên diện tích 30 ha [2]
Thông qua đầu tư của Nhà nước, tư nhân và với sự hỗ trợ của các tổ chức, chuyên gia quốc tế, đến nay Việt Nam đã nhập được cá tầm Siberi, cá tầm Trung Hoa,
cá tầm Nga (A gueldenstaedtii), cá tầm Đức Beluga, (Huso huso), cá tầm lai (lai giữa
2 loài A.ruthenus x Huso huso)
Hiện vẫn chưa chủ động việc sản xuất giống cá tầm, đề tài nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo mới được tiến hành tại Viện nghiên cứu NTTS - 1, đang thực hiện khảo nghiệm quy trình ấp trứng cá tầm đã thụ tinh và ương từ cá bột lên cá tầm giống;
quy trình ấp trứng cá tầm Beluga, (Huso huso) đã thụ tinh và ương từ cá bột lên cá giống, khảo nghiệm cá tầm Nga (A gueldenstaedtii) giai đoạn nuôi thương phẩm, khảo nghiệm quy trình ấp trứng cá tầm Sterlet (A ruthenus) đã thụ tinh và ương từ cá bột
lên cá giống [2]
Hiện trạng nghề nuôi cá tầm ở Lâm Đồng:
Năm 2003 - 2004, Viện NTTS - 1 thông qua dự án hợp tác quốc tế với Phần Lan
đã đưa trứng cá tầm Siberi và cá tầm Nga về nuôi thử nghiệm tại Sapa thành công Năm
2005, một số cá giống đã chuyển vào nuôi ở Đà Lạt thành công, đó là cơ sở để các doanh nghiệp mở rộng qui mô Năm 2007 - 2008, công ty cá tầm Việt Nam đã sản xuất được gần
100 tấn cá tầm tại hồ Tuyền Lâm và Đa Nhim, Lâm Đồng, đem lại nguồn thu đáng kể
Ngày 22/3/2006 của UBND tỉnh Lâm Đồng thực hiện quyết định 1045/QĐ- UBND về việc “Phê duyệt đề án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”, mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là tận dụng những vùng có khí hậu lạnh để nuôi
cá, đồng thời tạo môi trường thuận lợi nhất để thu hút vốn đầu tư, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế của vùng và phát triển du lịch - dịch vụ Từ tháng 4/2006 đến nay, Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng đã chủ trì phối hợp với Viện Nghiên cứu NTTS - 1, trạm nghiên cứu thực nghiệm Quảng Hiệp - Đức Trọng thuộc Viện Nghiên cứu NTTS-
3, công ty cổ phần Hà Quang thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai thực hiện các nội
Trang 19dung đề án được duyệt, sau 2 năm thực hiện đề án nuôi cá nước lạnh có kết quả như sau [2]:
Nuôi lồng bè trên hồ Tuyền Lâm – thành phố Đà Lạt, gồm 2 đợt vận chuyển từ Sapa và Hải Dương về Hồ Tuyền Lâm với số lượng 20 cá tầm Nga với khối lượng 1,4
- 2,5 kg, được nuôi trong 1 lồng Với điều kiện sinh thái phù hợp, khả năng thích nghi
và sinh trưởng nhanh, bình quân tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt Hiện nay khối lượng bình quân đạt 14,5kg/con, cá lớn có con đạt 20kg/con
Khu ao nuôi cá nước chảy tại tiểu khu 91, thôn Klong Klanh, huyện Lạc Dương nằm trong thượng nguồn suối nước lạnh Đa Mưng Tổng diện tích nuôi thử nghiệm 3
ha, với 4 dãy gồm 27 ao, một khu ương cá bột lên cá giống 1200m2 Do vốn của UBND tỉnh Lâm Đồng và công ty TNHH Sản xuất, Thương mại Hoàng Phố TP HCM tham gia đầu tư nuôi thử nghiệm và hiện nay cho kết quả rất tốt
Sử dụng đập tràn dự phòng của hồ Tuyền Lâm triển khai kế hoạch nhập trứng
cá tầm Nga và triển khai công nghệ ấp nở, ương nuôi cá bột, cá giống để phát triển cá tầm thương phẩm hàng hóa trên địa bàn Lâm Đồng
Dựa vào sự thành công trong quá trình ấp nở, ương nuôi cá bột, thương phẩm, của cá tầm Nga, Siberi trạm nghiên cứu thực nghiệm nuôi cá Quảng Hiệp kết hợp với trung tâm nghiên cứu quốc gia đã thử nghiệm ương nuôi cá tầm Trung Quốc với số lượng 600 con có khối lượng trung bình 1g/con
Ngoài ra trạm nghiên cứu thực nghiệm Quảng Hiệp còn nhập cá tầm Siberi về nuôi thương phẩm trong ao đất theo hình thức nuôi công nghiệp, bước đầu đã thu kết quả như mong đợi Bên cạnh đó, vì cá tầm là đối tượng có giá trị kinh tế nên có một số công ty đã và đang triển khai ấp trứng, ương nuôi cá bột, nuôi thương phẩm trên toàn tỉnh Lâm Đồng
Tháng 3/2008, với sự giúp đỡ của chuyên gia Ukraina, Viện NCNTTS - 1 đã phối hợp với Viện Nghiên cứu NTTS - 3 ấp nở với số lượng lớn trứng cá tầm, ương được khoảng 300.000 con giống tại thôn Klong Klanh xã Đạ Chais, Lạc Dương (Lâm Đồng) Tỉ lệ nở đạt khoảng 70% và tỉ lệ ương đến cá cỡ 10 - 15 cm khoảng 50%
Theo kết quả điều tra về môi trường tự nhiên của Viện Nghiên cứu NTTS - 3, tại vùng quy hoạch nuôi thả cá nước lạnh của tỉnh Lâm Đồng trên địa bàn các huyện, thành (trừ 3 huyện phía Nam) có 45 hồ chứa nước thủy lợi và 2 suối tự nhiên (suối Bướm và suối nước lạnh Đam Rông) có đủ các điều kiện về diện tích lưu vực, mực nước dâng bình thường, nhiệt độ và hiện trạng xung quanh thủy vực để nuôi thả cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm) với quy mô tương đối lớn
Trang 208
Trong 45 hồ chứa nước này có nhiều hồ có lưu vực và dung tích lớn như hồ Suối Vàng, hồ KaLa, hồ Đạ Ròn, hồTuyền Lâm Nếu khai thác có hiệu quả các hồ chứa này để nuôi thả cá nước lạnh, sản xuất nông nghiệp của tỉnh sẽ có bước đột phá trong vài năm tới
Cuối năm 2011 theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT đã kết hợp với Hiệp hội Cá nước lạnh Lâm Đồng và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 3 xây dựng “Quy hoạch chi tiết phát triển nuôi cá nước lạnh tỉnh Lâm Đồng tới năm 2020” Qua kết quả khảo sát, thì vào thời điểm cuối năm 2011 đầu năm 2012, trên địa bàn tỉnh đã có 12 doanh nghiệp và hộ gia đình tổ chức sản xuất cá giống và cá nước lạnh thương phẩm, với sản lượng sản xuất năm 2011 gồm 100.000 cá hồi giống, 390.000 con cá tầm giống và 360 tấn cá nước lạnh thương phẩm trên diện tích gần 80
ha mặt nước nuôi thả Ngoài sản xuất cá giống, các doanh nghiệp này đều kết hợp với nuôi cá thương phẩm; một số hồ chứa nước thủy lợi cũng đã được các doanh nghiệp khai thác thả cá nước lạnh như hồ Đasar (Lâm Hà) với Công ty cổ phần Tầm Việt, hồ KaLa (Di Linh) của Tổng Công ty Thủy sản Việt Nam, hồ Proh (Đơn Dương) của Công ty TNHH Tầm Dương, hồ Mai Thành (Bảo Lộc) của Công ty cổ phần Hàng hải dầu khí Việt Xô… đã cho kết quả khả quan
1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá tầm
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tầm trên Thế giới
1.3.1.1 Bệnh do nấm
Ở cá nước ngọt, nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn đã được báo cáo,
trong đó nhiều báo cáo cho thấy nấm Aphanomyces invadans là một trong những tác
nhân chính gây triệu chứng lở loét trên cá Nhật, Úc và một số nước Châu Á [2]
Trong tài liệu về hội chứng lở loét ở cá FAO (2001) khẳng định rằng: nấm luôn luôn được coi là có vai trò quan trọng trong nguyên nhân tổng hợp của hội chứng dịch bệnh lở loét Những giống nấm có liên quan với các biểu hiện của dịch bệnh lở loét
như Saprolegnia, Achlya, Aphanomyces, tuy nhiên là phổ biến nhất có liên quan đến lở
loét ở da Những cá mới có dấu hiệu sớm của bệnh hoặc ở giai đoạn vết thương đang lành thì khó có thể phân lập được nấm
Cá tầm bị nhiễm nấm do họ Saprolegniaceae, bao gồm các loài thuộc giống Saprolegnia, Achyla, và Dictyuchus Hệ sợi nấm có màu trắng như các sợi cotton hoặc
có màu hơi xám phát triển trên bề mặt cơ thể cá và cả trên mang cá Saprolegnia hay các loài nấm khác gây bệnh thường chỉ là tác nhân thứ cấp khi cá bị ảnh hưởng bởi môi trường, nhân tố gây ức chế, trầy da, thiếu dinh dưỡng hoặc bị nhiễm vi khuẩn,
Trang 21virus, và ký sinh trùng Saprolegnia được tìm thấy trong tất cả các giai đoạn phát triển của cá tầm bao gồm cả trứng Đàn cá ngoài tự nhiên rất dễ bị nhiễm nấm trong điều kiện đánh bắt vì cá bị trầy xước, tổn thương do đánh bắt và vận chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển trong 2 - 3 ngày sau khi đánh bắt [21]
Theo nghiên cứu của Czeczuga và cộng sự, (1995) trong sinh sản nhân tạo cá tầm gặp phải vấn đề lớn đó là trứng cá tầm ấp không nở (70 - 90% bị hư) do bị nhiễm nấm Tác giả đã tìm thấy 42 dạng động bào tử của nấm trên trứng của 6 loài cá tầm
Trong đó trứng của cá tầm Huso huso và Acipenser guldenstadti là ít bị nấm ký sinh
hơn cả, 4 loài còn lại tìm thấy rất nhiều bào tử nấm (14 - 16 dạng/loài) Trong số 42
dạng nấm tìm thấy chỉ có 9 loài (Achlya bisexualis, A.hypogyna, A.klebsiana,
Saprolegnia ferax, S.mixta, S.monoica, S parasitica, S.declina và Leptolegnia caudata) là đã được thông báo trước đây, còn 33 loài còn lại là hoàn toàn mới được
tìm thấy trên cá tầm Trong số đó loài nấm thường tìm thấy là Leptomitus lacteus (trên tất cả các loài cá tầm nghiên cứu) và Saprolegnia parasitica (xuất hiện trên 5 loài),
Saprolegnia shikotsuensis (xuất hiện trên 4 loài) Sự phát triển của nấm trên trứng cá
phụ thuộc vào chất lượng nước ở từng dạng thủy vực khác nhau Đa số phát triển trên trứng cá ở trong các ao, vì có sự khác nhau về thành phần các hợp chất trong nước Điều đó cũng cho thấy rằng mức độ nhiễm nấm của trứng cá phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nước dùng để ương ấp, mà đặc biệt là các chất dinh dưỡng và các chất bẩn
có trong nước [17]
Athanassopoulou và cộng sự (2004) thông báo nấm Saprolegnia sp gây bệnh
cho cá tầm Nga, tuy nhiên kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ ở mức 5% và cường
độ nhiễm ở mức nhẹ Ghomi và cộng sự (2007) cho biết dùng ozone và Ôxy già có thể phòng và trị bệnh nấm cho trứng cá tầm trong quá trình ấp nở, các tác giả cho biết, tỷ
lệ nở của trứng khi được phòng và trị nấm tăng lên 16,1% [10]
Theo Zaror và cộng sự (2004), nấm Saprolegnia không tồn tại được trong môi trường nước có độ mặn cao (<17,5%o) cá biệt như loài nấm S parasitica có thể tồn tại
là yếu tố quan trọng trong giải pháp sử dụng nước muối để điều trị bệnh cho cá tầm
nói riêng và cá nước ngọt nói chung do nấm Saprolegnia spp gây ra [49]
Nấm men Candida sp được tìm thấy trong ruột của cá tầm vịnh (A oxyrinchus
desotoi) nuôi tại Florida, là nguyên nhân làm cá chết rải rác trong suốt tháng 4 và 5
năm 1998 Cá bị nhiễm nấm 3 - 6 tuần tuổi, cá thường tập trung ở đáy bể, đuôi cong lại
về phía đầu tạo hình vòng cung [20]
Trang 23Isoachlya anisospora Coker X X
Candida albicans Berkhout
(conidial fungi)
X
1.3.1.2 Bệnh do ký sinh trùng
Năm 1967, theo nghiên cứu của Hoffman, đã phát hiện 5 loại ký sinh trùng trên
cá tầm nuôi ở sông Columbia, 3 loài sán lá (Nitzschia quadritestes, Tubulovesicula
lindbergi, Cestrahelmins rivularis) một loài sán dây (Amphilina bipuctata) và một loài
giun tròn (Cystoopsis acipenseri) Trong đó loài T lindbergi bắt gặp nhiều hơn trên cá
nước mặn, chúng ký sinh trên cá tầm có thể là lây từ cá hồi di cư đi đẻ từ biển vào và
mang theo chúng Bốn loài còn lại (Nitzschia quadritestes, Cestrahelmins rivularis,
Amphilina bipuctata, Cystoopsis acipenseri) bắt gặp nhiều hơn trên cá tầm [29]
Mokhayer, 1943 đã mô tả được một số loài KST trên cá tầm của bờ biển Iran từ
Trang 24Theo báo cáo kiểm tra ký sinh trùng từ cá tầm Đại Tây Dương ở sông Saint
John, Canada đã phát hiện sán lá Nitzchia sturionis ký sinh trên mang của cá tầm con Giun tròn Truttaedacnitis sphaerocephala và giun đầu móc Echinorhynchus gadi tìm thấy trên cá trưởng thành Ngoài ra còn phát hiện thấy 2 loài giáp xác Dichelesthium
oblongum và Argulus sp, và sán lá Deropristis hispida ký sinh trên mang cá Nghiên
cứu của Post (1987) đã tìm thấy Chilodonella sp, Trichodina sp, Hexamita sp,
Ichthyoboda sp và Ichthyopthirius multifiliis trên cá tầm Đại Tây Dương và chúng có
thể gây chết hơn 50% quần đàn cá chỉ trong 4 ngày [46]
Loài Cystoopsis acipenseri tìm thấy trên cá tầm trắng ở sông Columbia, Oregon
và sông Fraser, British Columbia Hiện vẫn chưa biết rõ bằng cách nào mà ký sinh trùng này ký sinh được trên cá tầm, có thể là do cá tầm ăn phải một loài nào đó là ký
chủ trung gian vì C acipenseri đã tìm thấy trên một số loài giáp xác Sau khi vào trong
ruột cá chúng chui qua thành ruột di chuyển ra phía ngoài hình thành bào nang và trưởng thành ở phía dưới da tạo nên các u lồi, phồng rộp dưới da Hầu hết ký sinh trùng ở cá lây lan trực tiếp từ cá thể này sang cá thể khác hoặc qua ký chủ trung gian
Hiện vẫn chưa có nhiều thông tin về ba loài ký sinh trùng còn lại (N.quadritestes, C
rivularis, A bipuctata) [46]
P Cakić và cộng sự đã nghiên cứu KST ở cá tầm Sterlet (A.ruthenus) trên sông
Danube của vùng Belgrade Trong 517 mẫu cá ở các độ tuổi (0+ - 1+) đã được kiểm tra có
342 (66,15%) mẫu đã phát hiện 13 loài KST gồm: bốn loài Trematoda, 1 loài Cestoda, bốn loài Nematoda, bốn loài Acanthocephala [45]
Trichodina reticulata và sán lá song chủ Diplostomum spathaceum ký sinh trên
cá tầm con Cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm tăng lên theo thời gian nuôi và có thể tăng
do nhiệt độ nước và nồng độ các chất hữu cơ trong nước tăng [13]
1.3.1.3 Bệnh do vi khuẩn
Bệnh do vi khuẩn là nguyên nhân gây ra các tổn thất nghiêm trọng ở các trại nuôi cá Hầu hết các các vi khuẩn gây bệnh phổ biến là vi khuẩn Gram âm, tuy nhiên,
vẫn có nhiều loại vi khuẩn Gram dương, bao gồm cả Streptococcus Các liên cầu
khuẩn thường gây ra tỷ lệ tử vong cao và kéo dài một thời gian cá nhiễm bệnh [48]
Trang 25Edwardsiella Tarda cũng đã phân lập được từ cá tầm Đại Tây Dương, vi khuẩn
này có thể gây chết 50% quần đàn, dùng kháng sinh oxytetracycline để trị cho thấy có
hiệu quả [21] Karen (2001) đã phân lập được Yersinia ruckeri từ não của cá tầm Nga
Cá bệnh bơi lung tung không định hướng và cho thấy dấu hiệu liên quan tới bệnh thần kinh trong vài tuần bị nhiễm bệnh [33]
Nghiên cứu trên cá Acipenser baeri cho thấy loài này rất nhạy cảm với Yersinia
ruckeri, Vibrio anguillarum và Flexibacter columnaris Cá tầm trắng (A transmentanous) ở Iran được phát hiện mẫn cảm với Myxobacteriosis, Columonaris,
Costia, và nấm ngoại ký sinh [2]
Bauer và cộng sự (2002) thông báo vi khuẩn Flavobacterium johnsonae là tác
nhân gây thiệt hại lớn cho cá con (3- 4 gam/con) Bệnh xảy ra vào mùa xuân khi nhiệt
độ dưới 160
C [12]
Athanassopoulou và cộng sự (2004), Aoki, T 1999 đã phát hiện ra vi khuẩn
Aeromonas hydrophila và A caviae gây bệnh và góp phần làm cá tầm A gueldestaedtii chết nhanh, sau khi cá bị nhiễm virus và suy yếu [9, 10, 39]
Khi nhiệt độ nước xuống dưới 10oC thì một số cá tầm con bị mắc phải hội chứng phồng rộp bóng hơi (hyper-inflated swim bladder syndrome) Cá mất dần khả năng giữ thăng bằng, bơi nghiêng, bụng hơi phồng lên, có lúc bơi ngửa gần mặt nước
và cố gắng lật cơ thể lại như vị trí bình thường Tác nhân chính gây hội chứng này vẫn
chưa xác định chính xác Tuy nhiên đã phân lập được vi khuẩn Bacteriodes sp từ ruột
của cá bị bệnh Vi khuẩn này sinh H2S như là sản phẩm thải của quá trình trao đổi chất, có thể là nguyên nhân gây chướng bụng nếu chúng sinh ra quá nhiều khí này Theo đó khí được sinh ra quá mức sẽ dồn ngược lên thực quản chạy vào bóng hơi mang theo vi khuẩn làm cho bóng hơi cũng căng phồng lên Có thể điều trị bệnh bằng oxytetracycline [31]
Cao Hai Peng và cộng sự (2007), đã phân lập được 5 loài vi khuẩn trên một số
loài cá tầm lai (cá đực Huso huso với cá cái Acipenser ruthenus và cá tầm kaluga-Huso
dauricus), trong đó có 2 loài được cho là tác nhân gây bệnh là A punctata subsp.caviae và Plesiomonas shigelloides Cả 2 loài này đều là vi khuẩn Gram âm,
hình que, dương tính với phản ứng oxydase, chúng rất nhạy với kháng sinh Cefoperazone, Tobramycin, Ceftriaxone, Cefotaxime, Netilmicin và Necmycin [15]
Trang 2614
1.3.1.4 Bệnh do virus
Một số công trình nghiên cứu cho biết cá tầm có thể nhiễm các loại virus khác nhau như: white sturgeon adenovirus (WSAV), hai dạng herpesvirus (WSHV ), white sturgeon iridovirus (WSIV) và white sturgeon papova-like virus (WSPV) [12, 14, 26]
Trong đó bệnh WSIV được biết đến nhiều nhất và thường xảy ra nhất Virus này ký sinh ở lớp biều mô của da và mang có thể gây chết hơn 90% ở cá nhỏ hơn 1 tuổi Dấu hiệu thường thấy ở cá khi bị nhiễm virus này là cá hô hấp khó khăn, mất khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu, cá có thể bị nhiễm thêm tác nhân thứ cấp là nấm WSIV được thông báo là xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau bao gồm vùng hạ lưu sông Columbia và sông Kootenay và có khả năng lây lan cho đàn cá ngoài tự nhiên Để giảm thiểu sự lây nhiễm của bệnh người ta khử trùng trứng trước khi ấp, chỉ thả cá khi đã được 1 tuổi ra tự nhiên, giảm nguy cơ bị ức chế và tránh nuôi ở mật độ quá cao [35]
White sturgeon adenovirus-WSAV thường thấy trên các tế bào ở ruột và làm cá
lờ đờ, chán ăn và bị chết đói Các nỗ lực đầu tiên để nuôi cấy virus này trên các dòng tế
bào của cá tầm trắng (Acipenser transmontanus), cá Lepomonis macrochirus, cá L
nebulosus, Pimepales promelas, cá da trơn và cá hồi tuyết đều thất bại [27] Tuy nhiên
các thử nghiệm gần đây đã thành công khi nuôi cấy WSAV trên tế bào lách của cá tầm
Sự lây lan và phát sinh bệnh do virus này đối với các loài cá khác hiện vẫn chưa rõ
Đối với hai dạng White Sturgeon Herpesvirus và White Sturgeon Papova-like Virus thì các công trình nghiên cứu còn nhiều hạn chế Herpes virus thường thấy trên
cá và cá là ký chủ đặc hiệu WSHV type 1 thường gây nhiễm ở cá tầm con (nhỏ hơn 10cm), có khả năng gây tổn thất lớn cho nghề nuôi cá tầm vì tỷ lệ chết lớn Chúng lây nhiễm qua da và theo miệng vào cơ thể cá WSHV type 2 nhiễm trên cá tầm cỡ lớn hơn so với type 1, gây nên những tổn thương, làm da phồng rộp tạo điều kiện cho các tác nhân khác xâm nhập và làm bệnh nghiêm trọng hơn [23, 25, 34, 38, 42] Theo Mohler, (2003) cá tầm trắng con và tiền trưởng thành bắt ở phía bắc California nhạy cảm với virus này Cá cỡ 17g khi phơi nhiễm virus 3% bị chết, 17% cá sống sót mang virus này suốt đời Cá bệnh chết có các dấu hiệu như tổn thương xuất huyết và lở loét
bề mặt ở lưng và vùng bụng, đặc biệt là xuất huyết xung quanh miệng Đối với papova-like virus gây bệnh trên cá tầm hoang dã thì không cho thấy dấu hiệu bên ngoài nào đáng chú ý nhưng những tổn thương nhỏ đã được tìm thấy trên mang, gan, lách, thận qua kính hiển vi điện tử Cơ chế phát sinh và lan truyền cho các loài cá khác hiện vẫn chưa xác định được đối với ba loại virus này [40]
Trang 27Hai loại bệnh do virus làm chết cá hồi cũng đã được nghiên cứu trên cá tầm: là IHNV-Infectious Hematopoietic Necrosis Virus và IPNV-Infectious Pancreatic Necrosis Virus IHNV là một trong những bệnh gây chết nhiều ở cá hồi giống, chúng lây lan theo cả trục dọc (từ mẹ sang con) và trục ngang (từ cá thể này sang cá thể khác)
và có thể lây lan thông qua ký sinh trùng Thử nghiệm cảm nhiễm virus nàytrên cá tầm cho thấy virus gây chết ở cá con, nhưng không gây chết cá lớn hơn và nuôi chung với
cá hồi cũng không thấy lây lan bệnh cho cá hồi Hơn nữa khi cho cá tầm ăn cá hồi bị nhiễm cũng không thấy dấu hiệu của bệnh và cũng không lan truyền bệnh cho cá hồi nuôi chung Điều đó cho thấy việc nuôi chung cá tầm lớn có thể giảm việc lan truyền bệnh IHNV cho cá hồi [37]
Theo Orpetveit i et al 2010, IPNV gây bệnh trên cá hồi giống bằng cách gây hoại tử các tế bào tuyến tụy và các cơ quan khác như gan Các dòng tế bào cá tầm khi phơi nhiễm với IPNV thì không nhạy đối với virus này Cá tầm giống khi phơi nhiễm trong môi trường có virus và tiêm dịch vào xoang bụng với nồng độ virus cao, không
có bằng chứng rõ ràng để chứng minh có sự lan truyền virus, mặc dù IPNV đã tìm thấy trên một con cá tầm được tiêm sau 34 ngày, nhưng không phát hiện được virus khi kiểm tra lại sau 47 và 54 ngày Mặc dù nồng độ tiêm cao đã được dùng trong thử nghiệm trên nhưng vẫn không có ghi nhận nào về trường hợp cá chết, hay sự hoành hành của bệnh [44]
VNN (Viral Nervous Necrosis) là bệnh hoại tử thần kinh Nguyên nhân gây
bệnh là virus Betanodavirus hình cầu, có đường kính 26 - 32 nm và nhân chứa ARN
Virus ký sinh trong tế bào chất của tế bào thần kinh trong não và trong võng mạc mắt Bệnh VNN là bệnh cấp tính xuất hiện từ trại ương giống Ấu trùng (từ 10 - 25 ngày tuổi) hoặc cá giống bỏ ăn, cá chết rải rác, bơi lờ đờ trên tầng mặt do bóng hơi trương phồng Có sự xung huyết trong não mà có thể nhìn thấy được Cá nhiễm bệnh bơi không bình thường, bơi lội mạnh không định hướng, đầu chúc xuống dưới [22]
Cá tầm Nga là loài rất nhạy cảm đối với bệnh do nodavirus và bệnh dị hình cột sống khi cá có khối lượng cơ thể hơn 500 g Cá nuôi trong hệ thống nước chảy khi đạt kích cỡ này bắt đầu có dấu hiệu bất thường ở xương sống và ngày càng rõ ràng hơn Phân tích mô bệnh học đối với cá bệnh nuôi tại Ai Cập và Canada đều không thể kết luận gì về nguyên nhân của sự dị dạng cột sống Hiện nay vẫn chưa có thông tin đầy đủ
về bệnh này Sau một thời gian bị bệnh cá có hiện tượng bơi nghiêng, bỏ ăn, nằm ngửa
Trang 2816
và dễ dàng bị nhiễm tác nhân thứ cấp là Aeromonas hydrophila Một số loài cá tầm khác
khỏe mạnh, phát triển bình thường và không có biểu hiệu di dạng cột sống, khi phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh quan sát thấy cá lờ đờ, lật ngửa cơ thể ra nằm bất động tựa như chết, tuy nhiên cá vẫn có thể sống sót trong một thời gian dài mặc dù không ăn Qua kiểm tra cũng không có phát hiện ký sinh trùng hay các tổn thương nào Phân tích PCR
từ mô não cá có dấu hiệu bệnh như trên cho kết quả giống với mẫu nodarvirus dương tính đối chứng [10, 24, 47]
Kwak và cs (2006) đã sử dụng PCR để phát hiện WSIV ở cá tầm, các tác giả cho biết phương pháp này nhanh hơn và nhạy hơn trong việc phát hiện virus so với các phương pháp như tách virus và kiểm tra lát cắt mô nhuộm dưới kính hiển vi [36]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tầm tại Việt Nam
Các loài ký sinh trùng Trichodina sp, Ichthyophthirius multifilis, và
Gyrodactylus sp cũng đã được bắt gặp ở cá tầm nuôi ở Lâm Đồng [5]
Kết quả phân lập được 6 loài vi khuẩn gồm Aeromonas hydrophila,
Pseudomonas cepacia, Streptococus sp, Enterobacter sakazaki, Vibrio cholerae và Serratia odorifera đã được phân lập từ cá tầm nuôi thương phẩm bị xuất huyết lở loét
Các tác giả cũng cho biết thêm rất có thể vi khuẩn là tác nhân gây nên hội chứng xuất huyết lở loét trong trường hợp này [5]
Formol, thuốc tím, và oxy già sử dụng với các liều lượng phù hợp, có thể trị một số bệnh do ký sinh trùng gây ra;Ciprofloxacine: 0,3 – 0,5 g/kg thức ăn ( 0.5g/kg thức ăn cho kết quả tốt nhất), cho ăn 7 - 10 ngày; hoặc Kanamycin: 50 mg/kg thể trọng
cá, liên tục 7 ngày Các bệnh do vi khuẩn Streptococcus được trị bằng Enrofloxacin
trộn vào thức ăn với liều lượng 25 – 50 mg/1kg cá/ ngày, cho ăn 4 – 7 ngày (Võ Thế Dũng và cộng sự, 2012) Ngâm cá trong nước muối (NaCl) 2-3%; hoặc Methylen 2-
kìm hãm và tiêu diệt sự phát triển của nấm Saprolegnia và Achlya [5]
Võ Thế Dũng và Võ Thị Dung, (2014) đã phân lập được 9 loài vi khuẩn bao
gồm Aeromonas hydrophila, Yersinia ruckeri, Burkholderia cepacia, Streptococcus sp,
Vibrio cholera, Enterobacter sakazakii, Serratia plymuthica, Serratia odorifera, và Hafnia alvei ở cá tầm nuôi ao bị bệnh và 6 loài vi khuẩn là A hydrophila, B cepacia, Serratia sp, V cholera, E sakazakii và S odorifera ở cá tầm nuôi lồng bị bệnh; tác
nhân chính gây bệnh là A hydrophylla, B cepacia A hydrophila trên cá tầm nhạy
Trang 29cảm với Ciprofloxacin và Kanamycin; B cepacia nhạy cảm với Ciprofloxacin và
Erythromycin [6]
Võ Thế Dũng và cộng sự, (2015) cũng đã nghiên cứu bệnh do ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn trên cá giống và trứng cá hồi và cá tầm tại Lâm Đồng [7]
Tìm thấy 4 loài KST ở cá hồi giống, 6 loài KST ở cá tầm Nga và 7 loài KST ở
cá tầm Siberi Nhìn chung cường độ nhiễm KST ở cá tầm và cá hồi ở mức bình thường, vài loài trong đó có khả năng gây bệnh cho cá
Cá hồi giống ở Lâm Đồng bị các bệnh xuất huyết, lở loét và bệnh mòn cụt vây
Từ các mẫu bị xuất huyết lở loét đã phân lập được 3 loài vi khuẩn A hydrophila, A
salmonicida và Flavobacterium sp; trong đó, A hydrophila có tần suất bắt gặp cao
nhất Từ các mẫu thối vây, mòn cụt đuôi đã phân lập được 3 loài vi khuẩn
Flavobacterium sp, A hydrophila và A salmonicida; trong đó Flavobacterium sp có
tần suất bắt gặp cao nhất [7] Các tác giả cũng đã phân lập được hai loài nấm Achlya sp.và Saprolegnia sp trêncá giống và trứng của cá tầm Nga và cá tầm Siberi thu tại
Lâm Đồng [7]
Cá tầm Nga và cá tầm Siberi giống bị các bệnh xuất huyết và bệnh đen thân, bơi
xoáy Từ các mẫu bệnh xuất huyết đã phân lập được 3 loài vi khuẩn A hydrophila,
Pseudomonas luteola và Plesiomonas shigelloides; trong đó, A hydrophila có tần suất
bắt gặp rất cao (85/98 mẫu, chiếm 86,73% trên cá tầm Nga và 67/75, (89,33%) trên cá tầm Siberi) Từ các mẫu bệnh đen thân, bơi xoáy đã phân lập được 3 loài vi khuẩn
Streptococcus sp., A hydrophila và P shigelloides; trong đó, Streptococcus sp có
TSBG khá cao (22/43 mẫu chiếm 52,38% ở cá tầm Nga và 23/41 mẫu 56,10% ở cá tầm Siberi) [7]
Sử dụng một số thuốc và hóa chất trong phòng và trị bệnh trên trứng và cá giống của cá tầm và cá hồi có khả năng hạn chế được dịch bệnh (Võ Thế Dũng và cộng sự, 2015) Sử dụng nước muối nồng độ 18‰ - 20‰ tắm cho cá hồi giống trong
thời gian 10 phút có tác dụng phòng trị bệnh Ichthyophthirius multifilis, Trichodina sp
Sử dụng Ciprofloxacine nồng độ 0,3 – 0,5g trộn vào thức ăn cho cá hồi giống
và cá tầm giống ăn liên tục trong 5 ngày có khả năng tăng đáng kể tỷ lệ sống khi cá bị bệnh xuất huyết, mòn vây, cụt đuôi Sử dụng oxy già nồng độ 500 – 700ppm tắm cho
cá tầm giống bị bệnh lở loét do nấm trong thời gian 30 phút có khả năng tăng đáng kể
tỷ lệ sống khi cá bị bệnh, đồng thời tắm cho trứng cá tầm và cá hồi có thể phòng được bệnh do nấm gây ra
Trang 3018
Các kết quả nghiên cứu bệnh cá tầm tại Lâm Đồng cho đến nay mới chỉ tập trung vào các tác nhân ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn Chƣa có công trình nào nghiên cứu về các tác nhân virus gây bệnh; mặc dù đây là tác nhân đã đƣợc nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho biết có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các loài
cá này Do đó các nghiên cứu về bệnh do tác nhân virus gây ra ở cá tầm nuôi tại Lâm Đồng là hết sức cần thiết
Trang 31CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá có dấu hiệu bệnh (cá tầm Nga và cá tầm Siberi).
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Mẫu cá được thu tại cơ sở nuôi cá tầm: Klong Klanh, Lạc Dương, Lâm Đồng Mẫu được đưa về phân tích tại phòng Công nghệ sinh học và Vắc xin thủy sản – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Bộ dụng cụ dùng trong giải phẫu mẫu cá: dao, kéo, mâm inox
- Bộ dụng cụ dùng trong phòng thí nghiệm nghiên cứu bệnh do virus: ống đong, cốc thủy tinh, bình tam giác, micropipet và các dụng cụ cần thiết khác
-
Hình 2.1 Bộ điện di Ex-Mupid Hình 2.2 Máy NanoDrop 2000
Hình 2.3 Máy PCR Hình 2.4 Bàn soi LMS-26 (UVP, Mỹ)