1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bệnh do virus gây ra trên cá tầm (acipenser spp ) nuôi tại lâm đồng

63 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nuôi tại Lâm Đồng” được thực hiện nhằm xác định các tác nhân virus gây bệnh trên cá tầm nuôi tại Lâm Đồng.. xii IHNV xuất hiện trên cả 2 loài cá tầm Nga và cá tầm Siberi với 3 dấu hiệu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

TRẦN VĂN ĐÁP

NGHIÊN CỨU BỆNH DO VIRUS GÂY RA Ở CÁ TẦM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

TRẦN VĂN ĐÁP

NGHIÊN CỨU BỆNH DO VIRUS GÂY RA Ở CÁ TẦM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do chính bản thân tôi thực hiện dưới sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của TS Hứa Ngọc Phúc, ThS Võ Thị Dung – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III và TS Lương Công Trung – Trường Đại học Nha Trang cùng sự hỗ trợ của các anh, chị thuộc Phòng Công nghệ sinh học và Vắc xin thủy sản – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3

Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Khánh Hòa, ngày 24 tháng 03 năm 2018

Tác giả

Trần Văn Đáp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Viện Nuôi Trồng Thuỷ Sản, Phòng đào tạo sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạoViện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian, trang thiết bị, cơ sở thí nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự chỉ dẫn tận tình, chu đáo của các giáo viên, cán bộ hướng dẫn TS Hứa Ngọc Phúc, TS Lương Công Trung và Ths Võ Thị Dung đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn về phương pháp nghiên cứu và báo cáo khoa học

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của các anh, chị Phòng Công nghệ Sinh học và Vắc xin thủy sản - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III trong quá trình thực hiện luận văn và sự truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu của các thầy, cô giảng viên đã tham gia giảng dạy khoá học

Cuối cùng, tôi được bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn

bè đã luôn động viên khích lệ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó

Khánh Hòa, ngày 24 tháng 03 năm 2018

Tác giả

Trần Văn Đáp

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC BẢNG x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá tầm (Acipenser) 3

1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố của cá tầm 3

1.1.2 Đặc điểm sinh học cá tầm 4

1.2 Tình hình nuôi cá tầm trên thế giới và ở Việt Nam 5

1.2.1 Tình hình nuôi cá tầm trên thế giới 5

1.2.2 Tình hình nuôi cá tầm ở Việt Nam 5

1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá tầm 8

1.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tầm trên Thế giới 8

1.3.1.1 Bệnh do nấm 8

1.3.1.2 Bệnh do ký sinh trùng 11

1.3.1.3 Bệnh do vi khuẩn 12

1.3.1.4 Bệnh do virus 14

1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tầm tại Việt Nam 16

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 19

2.2 Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu 19

2.2.1 Thiết bị 19

2.2.2 Dụng cụ 19

Trang 6

2.3 Sơ đồ nghiên cứu 20

2.4 Phương pháp thu mẫu cá 20

2.5 Quan sát và mô tả dấu hiệu bệnh lý 20

2.6 Phương pháp nghiên cứu mô bệnh học 21

2.7 Phương pháp xác định virus gây bệnh trên cá tầm bằng PCR 22

2.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 26

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Dấu hiệu bệnh lý các mẫu cá tầm bệnh 27

3.1.1 Bệnh xuất huyết 27

3.1.2 Bệnh cong thân 27

3.1.3 Bệnh cá bơi quay, không định hướng 28

3.2 Virus gây bệnh ở cá tầm xác định bằng phương pháp mô học 29

3.2.1 Sự xuất hiện virus trên mô não cá tầm mẫu 29

3.2.2 Sự xuất hiện virus trên mô thận cá tầm mẫu 31

3.2.3 Sự xuất hiện virus trên mô gan cá tầm mẫu 32

3.3 Virus xuất hiên trên cá tầm xác định bằng phương pháp PCR 33

3.3.1 Kết quả thử nghiệm PCR đối với White Sturgeon Iridovirus (WSIV) 34

3.3.2 Kết quả thử nghiệm PCR đối với White Sturgeon Herpesvirus (WSHV) 36

3.3.3 Kết quả thử nghiệm PCR đối với Infectious Hematopoietic Necrosis Virus (IHNV) 37

3.3.4 Kết quả thử nghiệm PCR đối với Viral nervous necrosis Virus (VNN) 39

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 41

4.1 Kết luận 41

4.2 Đề xuất ý kiến 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DNA: Deoxyribonucleic acid ĐK: Đường kính

KHCN: Khoa học công nghệ KST: Ký sinh trùng

NC: Negative control NĐP: Nhiệt độ phòng NTTS: Nuôi trồng thủy sản

PC: Positive control PCR: Polymerase chain reaction RNA: Ribonucleic acid

TB: Trung bình TSBG: Tần số bắt gặp VK: Vi khuẩn bp: Base pair

Trang 8

viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Cá tầm Nga 3

Hình 1.2 Cá tầm Siberi 3

Hình 2.1 Bộ điện di Ex-Mupid 19

Hình 2.2 Máy NanoDrop 2000 19

Hình 2.3 Máy PCR 19

Hình 2.4 Bàn soi LMS-26 (UVP, Mỹ) 19

Hình 2.5 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 20

Hình 2.6 Sơ đồ qui trình tách chiết DNA 23

Hình 2.7 Sơ đồ quy trình tách chiết RNA 24

Hình 2.8 Sơ đồ quy trình phản ứng PCR đối với tác nhân virus trên cá tầm 25

Hình 2.9 Sơ đồ quy trình thực hiện phản ứng chuyển đổi từ RNA sang cDNA 25

Hình 3.1 Cá tầm bị bệnh xuất huyết 27

Hình 3.2 Cá tầm bị bệnh cong thân 28

Hình 3.3 Cá tầm bị bệnh bơi quay, không định hướng 28

Hình 3.4 Mô não cá khỏe chụp dưới kính hiển vi điện tử 30

Hình 3.5 A - Mô não cá tầm Nga giống bình thường; B – Mô não cá tầm Nga giống bơi không định hướng 30

Hình 3.6 Mô não cá tầm xuất huyết, cong thân, bơi không định hướng 30

Hình 3.7 Mô thận cá khỏe chụp dưới kính hiển vi điện tử 31

Hình 3.8 A- Mô thận cá tầm Nga giống khỏe; B- Mô thận cá tầm Nga giống bị xuất huyết 31

Hình 3.9 Dấu hiệu mô cá tầm bị nhiễm virus Nodavirus 32

Hình 3.10 Mô gan cá khỏe chụp dưới kính hiển vi điện tử 32

Hình 3.11 A - Mô gan cá tầm giống có nhân phình to (→); B – Mô gan cá tầm giống có sự tập trung các tế bào viêm xung quanh xoang máu trong gan (→) 33

Hình 3.12 Mô biểu bì cá tầm Nga nhiễm virus có hiện tượng nhân phình to 33

Hình 3.13 Hình ảnh điện di sản phẩm của PCR kiểm nghiệm và phát hiện WSIV trên các mẫu cá tầm 34

Hình 3.14 Phát hiện nhanh iridovirus cá hồi trắng (WSIV) bằng cách sử dụng phép thử phản ứng chuỗi PCR 35

Trang 9

Hình 3.15 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR kiểm nghiệm và phát hiện WSHV trên các mẫu cá tầm 36 Hình 3.16 Hình ảnh điện di sản phẩm của PCR kiểm nghiệm và phát hiện IHNV trên các mẫu cá tầm 37 Hình 3.17 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR kiểm nghiệm và phát hiện VNN trên các mẫu cá tầm 39 Hình 3.18 Sự khuếch đại phản ứng chuỗi polymerase (PCR) RNA của virut hoại tử thần kinh 40

Trang 10

x

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các loài nấm được tìm thấy trên cá tầm 10

Bảng 2.1 Số lượng tiêu bản cá nghiên cứu mô học 22

Bảng 2.2 Các cặp mồi và chương trình luân nhiệt cho PCR 24

Bảng 3.1 Tần số bắt gặp tiêu bản mô học có dấu hiệu virus gây bệnh 29

Bảng 3.2 Kết quả tách chiết DNA và RNA 33

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Cá tầm (Acipencer) là những đối tượng thủy sản nước ngọt quan trọng được du

nhập và nuôi thành công ở nhiều nước trên thế giới như Nga, Pháp, Mỹ và Trung Quốc

Cá tầm được du nhập vào Việt Nam từ đầu năm 2005 Tuy nhiên hiện nay việc nghiên cứu về bệnh trên cá tầm nuôi tại Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu bệnh virus còn nhiều

hạn chế, do đó đề tài “Nghiên cứu bệnh do virus gây ra ở cá tầm (Acipenser spp.)

nuôi tại Lâm Đồng” được thực hiện nhằm xác định các tác nhân virus gây bệnh trên cá

tầm nuôi tại Lâm Đồng

Nội dung nghiên cứu

Mô tả các dấu hiệu bệnh lý liên quan đến bệnh do virus gây ra ở cá tầm

Xác định virus gây bệnh ở cá tầm bằng phương pháp mô bệnh học

Xác định virus gây bệnh ở cá tầm bằng phương pháp PCR

Kết quả nghiên cứu

Các dấu hiệu bệnh lý virus chính trong thời gian nghiên cứu: Bệnh xuất huyết, cong thân, bơi không định hướng

TSBG mô cá có dấu hiệu virus gây bệnh tại các cơ quan đích đối với cá tầm Nga cao nhất là ở mô não và ở mô thận cá xuất huyết với tỉ lệ 42%, tiếp theo là ở mô não và mô thận cá cong thân, mô não cá bơi quay, không định hướng với tỉ lệ 33,3% Đối với cơ quan đích là mô gan TSBG mô học có dấu hiệu virus gây bệnh thấp hơn, cao nhất là ở cá cong thân, bơi không định hướng với tỉ lệ 25% và thấp nhất ở cá xuất huyết với tỉ lệ 14%

Ở cá tầm Siberi TSBG mô học có dấu hiệu virus gây bệnh tại các cơ quan đích đối với cá tầm Siberi cao nhất là ở mô thận cá xuất huyết với tỉ lệ 100%, tại các vị trí mô gan TSBG mô học có dấu hiệu virus gây bệnh thấp nhất là ở cá cong thân với tỉ

lệ 25% Đối với cơ quan đích là mô gan của cá bơi không định hướng chưa phát hiện

mô học có dấu hiệu virus gây bệnh

Tỷ lệ mẫu dương tính đối với virus IHNV là 12/24 (50%), mẫu dương tính với virus VNN với tỉ lệ 3/24 (12,5%), mẫu dương tính với virus WSIV với tỉ lệ 2/24 (8,33%), phân tích PCR phát hiện virus WSHV cho kết quả âm tính

Mẫu dương tính với virus WSIV xuất hiện trên các mẫu cá tầm Nga với 2 dấu hiệu bệnh lý chính là xuất huyết và bơi không định hướng,mẫu dương tính với virus

Trang 12

xii

IHNV xuất hiện trên cả 2 loài cá tầm Nga và cá tầm Siberi với 3 dấu hiệu bệnh lý chính là xuất huyết, cong thân và bơi không định hướng, mẫu dương tính với virus VNN xuất hiện trên các mẫu cá tầm Nga với dấu hiệu bệnh lý chính là bơi không định hướng

Trang 13

MỞ ĐẦU

Cá tầm (Acipencer) thuộc nhóm cá nước lạnh, nhưng có thể thích ứng với nhiệt

Nam có thể nuôi thành công các loài cá này Cá tầm lần đầu tiên được nuôi thử nghiệm

ở lòng hồ Na Hang (Tuyên Quang) nhưng số lượng không nhiều, chỉ vài ngàn con Sau

đó cá được nuôi mở rộng ra ở các hồ như hồ Tuyền Lâm (Lâm Đồng), hồ Thuỷ điện

Đa Mi (Bình Thuận), hồ thủy điện Vĩnh Sơn (Bình Định), hồ thủy điện Buôn Tu Srah (Daklak), hồ Cấm Sơn (Bắc Giang), Văn Chấn và hồ Thác Bà Yên Bái, và ở các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng, cho kết quả rất khả quan Tốc độ tăng trưởng của

cá nuôi ở Việt Nam nhanh hơn so với các nơi khác trên thế giới [2]

Tại Lâm Đồng từ tháng 9/2006, cá tầm bắt đầu được đưa vào nuôi thử nghiệm

và phát triển Đây là đối tượng có thể thích nghi và phát triển tốt tại một số địa phương trong tỉnh (hồ Tuyền Lâm, Giang ly, Lâm Hà, Di Linh) mở ra triển vọng mới cho phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Nghề nuôi

cá tầm nói chung và cá tầm Nga nói riêng tại Lâm Đồng đã phát triển nhanh với sản lượng đạt được khoảng 100 tấn/năm Hiện nay, nghề nuôi cá tầm đã được tỉnh quy hoạch phát triển với quy mô hàng nghìn tấn sản phẩm/năm [5]

Do đa số cá giống ở Lâm Đồng hiện nay được ương từ nguồn trứng nhập từ nước ngoài nên công tác kiểm dịch để phát hiện mầm bệnh còn gặp nhiều khó khăn Vì thế khả năng lây nhiễm bệnh trong quá trình ương nuôi rất cao [5]

Các kết quả nghiên cứu bệnh cá tầm tại Lâm Đồng cho đến nay chỉ tập trung vào các tác nhân ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn Chưa có công trình nào nghiên cứu

về các tác nhân virus gây bệnh

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu

bệnh do virut bệnh gây ra ở cá tầm (Acipenser spp.) nuôi tại Lâm Đồng”

Mục tiêu của đề tài là nhằm xác định các tác nhân virus gây bệnh trên cá tầm

nuôi tại Lâm Đồng

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Cung cấp những dữ liệu nghiên cứu về bệnh do virus xuất hiện trên cá tầm nuôi tại Lâm Đồng làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu phòng và trị bệnh cho cá tầm

Giúp người nuôi hiểu và nhận biết dấu hiệu của đàn cá bị nhiễm bệnh nói chung

và bệnh gây ra do virus nói riêng

Trang 14

2

Xác định được nguyên nhân gây bệnh từ đó giúp người nuôi cá nâng cao nhận thức cũng như sự chủ động trong công tác quản lý môi trường và phòng bệnh trên đàn

cá tầm nuôi

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá tầm (Acipenser)

1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố của cá tầm

Giống: Acipenser (Linnaeus, 1758)

Tên tiếng Anh: Sturgeon

Acipenser, Huso, Scaphirhynchus và Pseudoscaphirhynchus gồm 30 loài Các loài

thường gặp nhất là cá tầm trắng, cá tầm mũi ngắn, cá tầm sao, Beluga và Sterlet Vài

loài có toàn bộ vòng đời ở nước ngọt, có loài sống ngoài biển khơi nhưng bơi ngược trở về sông để đẻ trứng [2]

Trong tự nhiên cá chỉ phân bố ở vùng Bắc bán cầu và thường gặp tại Bắc Ðại Tây Dương, Bắc Thái Bình Dương, vùng biển Caspian, biển Ðen, tại nhiều sông và hồ như sông Delaware, Rhin, Garonne, Elbe, Volga, Danube và hồ Ladoga

Trang 16

4

Cá tầm thuộc cá xương sụn, vảy tấm, thân cá hình ống, thuôn dài, được phủ bởi

5 hàng xương gai - vảy xương: 1 hàng trên lưng, 2 hàng ở 2 bên sườn và 2 bên bụng Giữa những dãy vảy xương có những tấm bản hình sao lớn nhỏ xen kẽ nhau Đường bên có từ 29 - 50 chiếc vảy xương Da dày, nhám và không vảy, màu sắc thay đổi tùy loài, tuổi và tùy vùng sinh thái Miệng cá nhỏ ở phía dưới, không răng Mũi dài nhọn,

có 4 râu dài, hình trụ cứng ở phía dưới trước miệng dùng để tìm mồi Vây lưng lùi về phía sau, lỗ hậu môn mở ra ở gần vây bụng Ðuôi cá dạng chẻ đôi, phần trên của vây đuôi có vảy sọc và dài hơn phần dưới [28]

1.1.2 Đặc điểm sinh học cá tầm

Cá tầm là loài cá ăn thịt, sống và kiếm mồi trong môi trường nước mát (lợ, ngọt), sạch Với chiếc mõm hình nêm, chúng sục sạo lớp đáy bùn mềm và bắt mồi bằng cơ quan xúc giác nhạy cảm (râu) Trong tự nhiên cá có tập tính bắt mồi ở tầng đáy, thức ăn khoái khẩu của cá tầm là các loài động vật đáy: nhuyễn thể, cá tầng đáy, giáp xác, ốc, giun Cá tầm thường tìm thức ăn vào ban đêm [2]

Trong tự nhiên, khi còn nhỏ thành phần thức ăn chính của chúng là nhuyễn thể, giun ít tơ, ấu trùng muỗi, ấu trùng các côn trùng và tôm tép nhỏ Khi cá trưởng thành thức ăn của chúng là cá nhỏ, tôm và những động vật nhỏ trong nước [2]

Trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá có chiều dài 3,05 cm (7 - 10 ngày sau khi trứng nở) bắt đầu ăn mồi, thức ăn chủ yếu là các côn trùng, động vật phù du như Copepoda, Cladocera, và giun ít tơ [2]

Tốc độ lớn của cá bột rất nhanh Sau khi đạt tới tuổi trưởng thành 2 - 4 năm thì tốc độ tăng trưởng của chúng dường như chậm lại rất nhiều, mặc dù vẫn còn tiếp tục trong vài năm Phần lớn cỡ cá khai thác được trong tự nhiên khoảng 15 - 20 kg, đôi khi gặp cá ở 10 - 12 năm tuổi và khối lượng đạt 20 - 30kg

Cá tầm phát dục và sinh sản lần đầu ở 4 - 6 năm tuổi hoặc cao hơn nữa Khi cá

bố mẹ đến tuổi phát dục đòi hỏi phải trải qua thời gian mùa đông nhất định thì buồng trứng mới chuyển sang giai đoạn IV và cho đẻ được Cá đẻ không liên tục, khoảng cách giữa các lần đẻ là 1 - 2 năm Trong tự nhiên, cá có thời gian thành thục chậm hơn rất nhiều so với điều kiện nuôi nhân tạo, thành thục sớm hay muộn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố môi trường và hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn Vào mùa đông, nhiệt

độ nước hạ xuống cũng là lúc tuyến sinh dục của cá cũng bắt đầu phát triển mạnh Nhiệt độ thích hợp nhất cho tuyến sinh dục của cá phát triển là 8 - 120C [16]

Trang 17

1.2 Tình hình nuôi cá tầm trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình nuôi cá tầm trên thế giới

Năm 1869 Ovxianhicov và Penxam lần đầu tiên thụ tinh nhân tạo cá Acipencer

ruthenus thành công Năm 1870 trứng thụ tinh nhân tạo và cá bột của loài này đã được

gửi sang Scotlen và năm 1874 được gửi sang Đức, đánh dấu công trình đầu tiên trên thế giới về sinh sản nhân tạo cá tầm [3]

Năm 1919 ở Astrakhan xuất bản tài liệu hướng dẫn sinh sản nhân tạo cá tầm

Năm 1979, Smoljanov, hoàn thiện kỹ thuật cho đẻ 2 loài cá steliat (A ruthenus) và cá

tầm Siberi hoàn toàn sống trong điều kiện nước ngọt Sau này kỹ thuật đã được áp dụng ở một số nước như Pháp, Mỹ, Nhật, Đức và Ba Lan Kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất để nuôi cá thịt là sử dụng cá lai nhằm tận dụng ưu điểm của con bố và con

mẹ Một thí dụ điển hình là sử dụng cá besta, là con lai giữa cá đực steliat (A

ruthenus) và cá cái Beluga (Huso huso) Cá sinh trưởng nhanh và thành thục sớm [2]

Hiện nay, quốc gia có nghề nuôi cá tầm gồm: Áo, Azerbaijan, Bỉ, Bulgaria, Chi

Lê, Estonia, Pháp, Đức, Hungary, Italia, Latvia, Ba Lan, Rumania, Slovenia, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Ukraine, Nga, Hoa Kỳ, Uruguay

Các loài cá nuôi chủ yếu gồm: cá tầm trắng, cá tầm Siberi, cá Steliat, cá Beluga, Beste, cá tầm sông Đanup, cá tầm Nga, cá tầm Ship [3]

1.2.2 Tình hình nuôi cá tầm ở Việt Nam

Đề tài thử nghiệm di giống và nuôi cá tầm Nga được thực hiện đầu tiên năm

2000 tại Lâm Đồng do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III chủ trì Năm 2003 -

2004, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I thông qua dự án hợp tác với Phần Lan đã đưa được trứng cá tầm Siberi và cá tầm Nga về nuôi thử nghiệm tại Sapa thành công

Từ năm 2005, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã khởi động dự án nhập công nghệ sản xuất giống và đề án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh tại Thác Bạc (Sa Pa, Lào Cai), sau đó chuyển vào nuôi thử nghiệm tại tỉnh Lâm Đồng vào năm 2007 Đến nay, phong trào nuôi cá tầm đã phát triển mạnh trên 21 tỉnh, điển hình là Lào Cai, Lâm Đồng, Lai Châu, Yên Bái, Tuyên Quang, và Sơn La [2]

Tháng 4/2006, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III thử nghiệm nuôi ở Đà Lạt một số ít cá tầm cỡ lớn (2 kg/con) nhập về từ Sapa Cá thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ở đây và có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, đến tháng 8/2008 đạt khối lượng 10

- 15 kg/con Từ đó nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã mở rộng mô hình nuôi cá tầm và bước đầu đã thành công [2]

Trang 18

6

Diện tích có thể nuôi được cá tầm ở Tây Nguyên rất lớn, đặc biệt nuôi tại các

hồ chứa với khoảng 54.000 ha

Trên thực tế, không chỉ ở các tỉnh vùng cao phía Bắc có nhiệt độ lạnh quanh năm hay các tỉnh Tây Nguyên mà ngay cả một số vùng như Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế hay thậm chí các tỉnh Duyên hải miền Trung đều có những vùng có khí hậu thích hợp với nuôi cá tầm như: Trên hồ Đa Mi, tỉnh Bình Thuận, công ty cá tầm Việt Nam đã đầu tư nuôi cá tầm rất thành công trong 30 lồng với 23.000 con trên diện tích 30 ha [2]

Thông qua đầu tư của Nhà nước, tư nhân và với sự hỗ trợ của các tổ chức, chuyên gia quốc tế, đến nay Việt Nam đã nhập được cá tầm Siberi, cá tầm Trung Hoa,

cá tầm Nga (A gueldenstaedtii), cá tầm Đức Beluga, (Huso huso), cá tầm lai (lai giữa

2 loài A.ruthenus x Huso huso)

Hiện vẫn chưa chủ động việc sản xuất giống cá tầm, đề tài nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo mới được tiến hành tại Viện nghiên cứu NTTS - 1, đang thực hiện khảo nghiệm quy trình ấp trứng cá tầm đã thụ tinh và ương từ cá bột lên cá tầm giống;

quy trình ấp trứng cá tầm Beluga, (Huso huso) đã thụ tinh và ương từ cá bột lên cá giống, khảo nghiệm cá tầm Nga (A gueldenstaedtii) giai đoạn nuôi thương phẩm, khảo nghiệm quy trình ấp trứng cá tầm Sterlet (A ruthenus) đã thụ tinh và ương từ cá bột

lên cá giống [2]

 Hiện trạng nghề nuôi cá tầm ở Lâm Đồng:

Năm 2003 - 2004, Viện NTTS - 1 thông qua dự án hợp tác quốc tế với Phần Lan

đã đưa trứng cá tầm Siberi và cá tầm Nga về nuôi thử nghiệm tại Sapa thành công Năm

2005, một số cá giống đã chuyển vào nuôi ở Đà Lạt thành công, đó là cơ sở để các doanh nghiệp mở rộng qui mô Năm 2007 - 2008, công ty cá tầm Việt Nam đã sản xuất được gần

100 tấn cá tầm tại hồ Tuyền Lâm và Đa Nhim, Lâm Đồng, đem lại nguồn thu đáng kể

Ngày 22/3/2006 của UBND tỉnh Lâm Đồng thực hiện quyết định 1045/QĐ- UBND về việc “Phê duyệt đề án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”, mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là tận dụng những vùng có khí hậu lạnh để nuôi

cá, đồng thời tạo môi trường thuận lợi nhất để thu hút vốn đầu tư, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế của vùng và phát triển du lịch - dịch vụ Từ tháng 4/2006 đến nay, Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng đã chủ trì phối hợp với Viện Nghiên cứu NTTS - 1, trạm nghiên cứu thực nghiệm Quảng Hiệp - Đức Trọng thuộc Viện Nghiên cứu NTTS-

3, công ty cổ phần Hà Quang thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai thực hiện các nội

Trang 19

dung đề án được duyệt, sau 2 năm thực hiện đề án nuôi cá nước lạnh có kết quả như sau [2]:

Nuôi lồng bè trên hồ Tuyền Lâm – thành phố Đà Lạt, gồm 2 đợt vận chuyển từ Sapa và Hải Dương về Hồ Tuyền Lâm với số lượng 20 cá tầm Nga với khối lượng 1,4

- 2,5 kg, được nuôi trong 1 lồng Với điều kiện sinh thái phù hợp, khả năng thích nghi

và sinh trưởng nhanh, bình quân tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt Hiện nay khối lượng bình quân đạt 14,5kg/con, cá lớn có con đạt 20kg/con

Khu ao nuôi cá nước chảy tại tiểu khu 91, thôn Klong Klanh, huyện Lạc Dương nằm trong thượng nguồn suối nước lạnh Đa Mưng Tổng diện tích nuôi thử nghiệm 3

ha, với 4 dãy gồm 27 ao, một khu ương cá bột lên cá giống 1200m2 Do vốn của UBND tỉnh Lâm Đồng và công ty TNHH Sản xuất, Thương mại Hoàng Phố TP HCM tham gia đầu tư nuôi thử nghiệm và hiện nay cho kết quả rất tốt

Sử dụng đập tràn dự phòng của hồ Tuyền Lâm triển khai kế hoạch nhập trứng

cá tầm Nga và triển khai công nghệ ấp nở, ương nuôi cá bột, cá giống để phát triển cá tầm thương phẩm hàng hóa trên địa bàn Lâm Đồng

Dựa vào sự thành công trong quá trình ấp nở, ương nuôi cá bột, thương phẩm, của cá tầm Nga, Siberi trạm nghiên cứu thực nghiệm nuôi cá Quảng Hiệp kết hợp với trung tâm nghiên cứu quốc gia đã thử nghiệm ương nuôi cá tầm Trung Quốc với số lượng 600 con có khối lượng trung bình 1g/con

Ngoài ra trạm nghiên cứu thực nghiệm Quảng Hiệp còn nhập cá tầm Siberi về nuôi thương phẩm trong ao đất theo hình thức nuôi công nghiệp, bước đầu đã thu kết quả như mong đợi Bên cạnh đó, vì cá tầm là đối tượng có giá trị kinh tế nên có một số công ty đã và đang triển khai ấp trứng, ương nuôi cá bột, nuôi thương phẩm trên toàn tỉnh Lâm Đồng

Tháng 3/2008, với sự giúp đỡ của chuyên gia Ukraina, Viện NCNTTS - 1 đã phối hợp với Viện Nghiên cứu NTTS - 3 ấp nở với số lượng lớn trứng cá tầm, ương được khoảng 300.000 con giống tại thôn Klong Klanh xã Đạ Chais, Lạc Dương (Lâm Đồng) Tỉ lệ nở đạt khoảng 70% và tỉ lệ ương đến cá cỡ 10 - 15 cm khoảng 50%

Theo kết quả điều tra về môi trường tự nhiên của Viện Nghiên cứu NTTS - 3, tại vùng quy hoạch nuôi thả cá nước lạnh của tỉnh Lâm Đồng trên địa bàn các huyện, thành (trừ 3 huyện phía Nam) có 45 hồ chứa nước thủy lợi và 2 suối tự nhiên (suối Bướm và suối nước lạnh Đam Rông) có đủ các điều kiện về diện tích lưu vực, mực nước dâng bình thường, nhiệt độ và hiện trạng xung quanh thủy vực để nuôi thả cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm) với quy mô tương đối lớn

Trang 20

8

Trong 45 hồ chứa nước này có nhiều hồ có lưu vực và dung tích lớn như hồ Suối Vàng, hồ KaLa, hồ Đạ Ròn, hồTuyền Lâm Nếu khai thác có hiệu quả các hồ chứa này để nuôi thả cá nước lạnh, sản xuất nông nghiệp của tỉnh sẽ có bước đột phá trong vài năm tới

Cuối năm 2011 theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT đã kết hợp với Hiệp hội Cá nước lạnh Lâm Đồng và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 3 xây dựng “Quy hoạch chi tiết phát triển nuôi cá nước lạnh tỉnh Lâm Đồng tới năm 2020” Qua kết quả khảo sát, thì vào thời điểm cuối năm 2011 đầu năm 2012, trên địa bàn tỉnh đã có 12 doanh nghiệp và hộ gia đình tổ chức sản xuất cá giống và cá nước lạnh thương phẩm, với sản lượng sản xuất năm 2011 gồm 100.000 cá hồi giống, 390.000 con cá tầm giống và 360 tấn cá nước lạnh thương phẩm trên diện tích gần 80

ha mặt nước nuôi thả Ngoài sản xuất cá giống, các doanh nghiệp này đều kết hợp với nuôi cá thương phẩm; một số hồ chứa nước thủy lợi cũng đã được các doanh nghiệp khai thác thả cá nước lạnh như hồ Đasar (Lâm Hà) với Công ty cổ phần Tầm Việt, hồ KaLa (Di Linh) của Tổng Công ty Thủy sản Việt Nam, hồ Proh (Đơn Dương) của Công ty TNHH Tầm Dương, hồ Mai Thành (Bảo Lộc) của Công ty cổ phần Hàng hải dầu khí Việt Xô… đã cho kết quả khả quan

1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá tầm

1.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tầm trên Thế giới

1.3.1.1 Bệnh do nấm

Ở cá nước ngọt, nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn đã được báo cáo,

trong đó nhiều báo cáo cho thấy nấm Aphanomyces invadans là một trong những tác

nhân chính gây triệu chứng lở loét trên cá Nhật, Úc và một số nước Châu Á [2]

Trong tài liệu về hội chứng lở loét ở cá FAO (2001) khẳng định rằng: nấm luôn luôn được coi là có vai trò quan trọng trong nguyên nhân tổng hợp của hội chứng dịch bệnh lở loét Những giống nấm có liên quan với các biểu hiện của dịch bệnh lở loét

như Saprolegnia, Achlya, Aphanomyces, tuy nhiên là phổ biến nhất có liên quan đến lở

loét ở da Những cá mới có dấu hiệu sớm của bệnh hoặc ở giai đoạn vết thương đang lành thì khó có thể phân lập được nấm

Cá tầm bị nhiễm nấm do họ Saprolegniaceae, bao gồm các loài thuộc giống Saprolegnia, Achyla, và Dictyuchus Hệ sợi nấm có màu trắng như các sợi cotton hoặc

có màu hơi xám phát triển trên bề mặt cơ thể cá và cả trên mang cá Saprolegnia hay các loài nấm khác gây bệnh thường chỉ là tác nhân thứ cấp khi cá bị ảnh hưởng bởi môi trường, nhân tố gây ức chế, trầy da, thiếu dinh dưỡng hoặc bị nhiễm vi khuẩn,

Trang 21

virus, và ký sinh trùng Saprolegnia được tìm thấy trong tất cả các giai đoạn phát triển của cá tầm bao gồm cả trứng Đàn cá ngoài tự nhiên rất dễ bị nhiễm nấm trong điều kiện đánh bắt vì cá bị trầy xước, tổn thương do đánh bắt và vận chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển trong 2 - 3 ngày sau khi đánh bắt [21]

Theo nghiên cứu của Czeczuga và cộng sự, (1995) trong sinh sản nhân tạo cá tầm gặp phải vấn đề lớn đó là trứng cá tầm ấp không nở (70 - 90% bị hư) do bị nhiễm nấm Tác giả đã tìm thấy 42 dạng động bào tử của nấm trên trứng của 6 loài cá tầm

Trong đó trứng của cá tầm Huso huso và Acipenser guldenstadti là ít bị nấm ký sinh

hơn cả, 4 loài còn lại tìm thấy rất nhiều bào tử nấm (14 - 16 dạng/loài) Trong số 42

dạng nấm tìm thấy chỉ có 9 loài (Achlya bisexualis, A.hypogyna, A.klebsiana,

Saprolegnia ferax, S.mixta, S.monoica, S parasitica, S.declina và Leptolegnia caudata) là đã được thông báo trước đây, còn 33 loài còn lại là hoàn toàn mới được

tìm thấy trên cá tầm Trong số đó loài nấm thường tìm thấy là Leptomitus lacteus (trên tất cả các loài cá tầm nghiên cứu) và Saprolegnia parasitica (xuất hiện trên 5 loài),

Saprolegnia shikotsuensis (xuất hiện trên 4 loài) Sự phát triển của nấm trên trứng cá

phụ thuộc vào chất lượng nước ở từng dạng thủy vực khác nhau Đa số phát triển trên trứng cá ở trong các ao, vì có sự khác nhau về thành phần các hợp chất trong nước Điều đó cũng cho thấy rằng mức độ nhiễm nấm của trứng cá phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nước dùng để ương ấp, mà đặc biệt là các chất dinh dưỡng và các chất bẩn

có trong nước [17]

Athanassopoulou và cộng sự (2004) thông báo nấm Saprolegnia sp gây bệnh

cho cá tầm Nga, tuy nhiên kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ ở mức 5% và cường

độ nhiễm ở mức nhẹ Ghomi và cộng sự (2007) cho biết dùng ozone và Ôxy già có thể phòng và trị bệnh nấm cho trứng cá tầm trong quá trình ấp nở, các tác giả cho biết, tỷ

lệ nở của trứng khi được phòng và trị nấm tăng lên 16,1% [10]

Theo Zaror và cộng sự (2004), nấm Saprolegnia không tồn tại được trong môi trường nước có độ mặn cao (<17,5%o) cá biệt như loài nấm S parasitica có thể tồn tại

là yếu tố quan trọng trong giải pháp sử dụng nước muối để điều trị bệnh cho cá tầm

nói riêng và cá nước ngọt nói chung do nấm Saprolegnia spp gây ra [49]

Nấm men Candida sp được tìm thấy trong ruột của cá tầm vịnh (A oxyrinchus

desotoi) nuôi tại Florida, là nguyên nhân làm cá chết rải rác trong suốt tháng 4 và 5

năm 1998 Cá bị nhiễm nấm 3 - 6 tuần tuổi, cá thường tập trung ở đáy bể, đuôi cong lại

về phía đầu tạo hình vòng cung [20]

Trang 23

Isoachlya anisospora Coker X X

Candida albicans Berkhout

(conidial fungi)

X

1.3.1.2 Bệnh do ký sinh trùng

Năm 1967, theo nghiên cứu của Hoffman, đã phát hiện 5 loại ký sinh trùng trên

cá tầm nuôi ở sông Columbia, 3 loài sán lá (Nitzschia quadritestes, Tubulovesicula

lindbergi, Cestrahelmins rivularis) một loài sán dây (Amphilina bipuctata) và một loài

giun tròn (Cystoopsis acipenseri) Trong đó loài T lindbergi bắt gặp nhiều hơn trên cá

nước mặn, chúng ký sinh trên cá tầm có thể là lây từ cá hồi di cư đi đẻ từ biển vào và

mang theo chúng Bốn loài còn lại (Nitzschia quadritestes, Cestrahelmins rivularis,

Amphilina bipuctata, Cystoopsis acipenseri) bắt gặp nhiều hơn trên cá tầm [29]

Mokhayer, 1943 đã mô tả được một số loài KST trên cá tầm của bờ biển Iran từ

Trang 24

Theo báo cáo kiểm tra ký sinh trùng từ cá tầm Đại Tây Dương ở sông Saint

John, Canada đã phát hiện sán lá Nitzchia sturionis ký sinh trên mang của cá tầm con Giun tròn Truttaedacnitis sphaerocephala và giun đầu móc Echinorhynchus gadi tìm thấy trên cá trưởng thành Ngoài ra còn phát hiện thấy 2 loài giáp xác Dichelesthium

oblongum và Argulus sp, và sán lá Deropristis hispida ký sinh trên mang cá Nghiên

cứu của Post (1987) đã tìm thấy Chilodonella sp, Trichodina sp, Hexamita sp,

Ichthyoboda sp và Ichthyopthirius multifiliis trên cá tầm Đại Tây Dương và chúng có

thể gây chết hơn 50% quần đàn cá chỉ trong 4 ngày [46]

Loài Cystoopsis acipenseri tìm thấy trên cá tầm trắng ở sông Columbia, Oregon

và sông Fraser, British Columbia Hiện vẫn chưa biết rõ bằng cách nào mà ký sinh trùng này ký sinh được trên cá tầm, có thể là do cá tầm ăn phải một loài nào đó là ký

chủ trung gian vì C acipenseri đã tìm thấy trên một số loài giáp xác Sau khi vào trong

ruột cá chúng chui qua thành ruột di chuyển ra phía ngoài hình thành bào nang và trưởng thành ở phía dưới da tạo nên các u lồi, phồng rộp dưới da Hầu hết ký sinh trùng ở cá lây lan trực tiếp từ cá thể này sang cá thể khác hoặc qua ký chủ trung gian

Hiện vẫn chưa có nhiều thông tin về ba loài ký sinh trùng còn lại (N.quadritestes, C

rivularis, A bipuctata) [46]

P Cakić và cộng sự đã nghiên cứu KST ở cá tầm Sterlet (A.ruthenus) trên sông

Danube của vùng Belgrade Trong 517 mẫu cá ở các độ tuổi (0+ - 1+) đã được kiểm tra có

342 (66,15%) mẫu đã phát hiện 13 loài KST gồm: bốn loài Trematoda, 1 loài Cestoda, bốn loài Nematoda, bốn loài Acanthocephala [45]

Trichodina reticulata và sán lá song chủ Diplostomum spathaceum ký sinh trên

cá tầm con Cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm tăng lên theo thời gian nuôi và có thể tăng

do nhiệt độ nước và nồng độ các chất hữu cơ trong nước tăng [13]

1.3.1.3 Bệnh do vi khuẩn

Bệnh do vi khuẩn là nguyên nhân gây ra các tổn thất nghiêm trọng ở các trại nuôi cá Hầu hết các các vi khuẩn gây bệnh phổ biến là vi khuẩn Gram âm, tuy nhiên,

vẫn có nhiều loại vi khuẩn Gram dương, bao gồm cả Streptococcus Các liên cầu

khuẩn thường gây ra tỷ lệ tử vong cao và kéo dài một thời gian cá nhiễm bệnh [48]

Trang 25

Edwardsiella Tarda cũng đã phân lập được từ cá tầm Đại Tây Dương, vi khuẩn

này có thể gây chết 50% quần đàn, dùng kháng sinh oxytetracycline để trị cho thấy có

hiệu quả [21] Karen (2001) đã phân lập được Yersinia ruckeri từ não của cá tầm Nga

Cá bệnh bơi lung tung không định hướng và cho thấy dấu hiệu liên quan tới bệnh thần kinh trong vài tuần bị nhiễm bệnh [33]

Nghiên cứu trên cá Acipenser baeri cho thấy loài này rất nhạy cảm với Yersinia

ruckeri, Vibrio anguillarum và Flexibacter columnaris Cá tầm trắng (A transmentanous) ở Iran được phát hiện mẫn cảm với Myxobacteriosis, Columonaris,

Costia, và nấm ngoại ký sinh [2]

Bauer và cộng sự (2002) thông báo vi khuẩn Flavobacterium johnsonae là tác

nhân gây thiệt hại lớn cho cá con (3- 4 gam/con) Bệnh xảy ra vào mùa xuân khi nhiệt

độ dưới 160

C [12]

Athanassopoulou và cộng sự (2004), Aoki, T 1999 đã phát hiện ra vi khuẩn

Aeromonas hydrophila và A caviae gây bệnh và góp phần làm cá tầm A gueldestaedtii chết nhanh, sau khi cá bị nhiễm virus và suy yếu [9, 10, 39]

Khi nhiệt độ nước xuống dưới 10oC thì một số cá tầm con bị mắc phải hội chứng phồng rộp bóng hơi (hyper-inflated swim bladder syndrome) Cá mất dần khả năng giữ thăng bằng, bơi nghiêng, bụng hơi phồng lên, có lúc bơi ngửa gần mặt nước

và cố gắng lật cơ thể lại như vị trí bình thường Tác nhân chính gây hội chứng này vẫn

chưa xác định chính xác Tuy nhiên đã phân lập được vi khuẩn Bacteriodes sp từ ruột

của cá bị bệnh Vi khuẩn này sinh H2S như là sản phẩm thải của quá trình trao đổi chất, có thể là nguyên nhân gây chướng bụng nếu chúng sinh ra quá nhiều khí này Theo đó khí được sinh ra quá mức sẽ dồn ngược lên thực quản chạy vào bóng hơi mang theo vi khuẩn làm cho bóng hơi cũng căng phồng lên Có thể điều trị bệnh bằng oxytetracycline [31]

Cao Hai Peng và cộng sự (2007), đã phân lập được 5 loài vi khuẩn trên một số

loài cá tầm lai (cá đực Huso huso với cá cái Acipenser ruthenus và cá tầm kaluga-Huso

dauricus), trong đó có 2 loài được cho là tác nhân gây bệnh là A punctata subsp.caviae và Plesiomonas shigelloides Cả 2 loài này đều là vi khuẩn Gram âm,

hình que, dương tính với phản ứng oxydase, chúng rất nhạy với kháng sinh Cefoperazone, Tobramycin, Ceftriaxone, Cefotaxime, Netilmicin và Necmycin [15]

Trang 26

14

1.3.1.4 Bệnh do virus

Một số công trình nghiên cứu cho biết cá tầm có thể nhiễm các loại virus khác nhau như: white sturgeon adenovirus (WSAV), hai dạng herpesvirus (WSHV ), white sturgeon iridovirus (WSIV) và white sturgeon papova-like virus (WSPV) [12, 14, 26]

Trong đó bệnh WSIV được biết đến nhiều nhất và thường xảy ra nhất Virus này ký sinh ở lớp biều mô của da và mang có thể gây chết hơn 90% ở cá nhỏ hơn 1 tuổi Dấu hiệu thường thấy ở cá khi bị nhiễm virus này là cá hô hấp khó khăn, mất khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu, cá có thể bị nhiễm thêm tác nhân thứ cấp là nấm WSIV được thông báo là xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau bao gồm vùng hạ lưu sông Columbia và sông Kootenay và có khả năng lây lan cho đàn cá ngoài tự nhiên Để giảm thiểu sự lây nhiễm của bệnh người ta khử trùng trứng trước khi ấp, chỉ thả cá khi đã được 1 tuổi ra tự nhiên, giảm nguy cơ bị ức chế và tránh nuôi ở mật độ quá cao [35]

White sturgeon adenovirus-WSAV thường thấy trên các tế bào ở ruột và làm cá

lờ đờ, chán ăn và bị chết đói Các nỗ lực đầu tiên để nuôi cấy virus này trên các dòng tế

bào của cá tầm trắng (Acipenser transmontanus), cá Lepomonis macrochirus, cá L

nebulosus, Pimepales promelas, cá da trơn và cá hồi tuyết đều thất bại [27] Tuy nhiên

các thử nghiệm gần đây đã thành công khi nuôi cấy WSAV trên tế bào lách của cá tầm

Sự lây lan và phát sinh bệnh do virus này đối với các loài cá khác hiện vẫn chưa rõ

Đối với hai dạng White Sturgeon Herpesvirus và White Sturgeon Papova-like Virus thì các công trình nghiên cứu còn nhiều hạn chế Herpes virus thường thấy trên

cá và cá là ký chủ đặc hiệu WSHV type 1 thường gây nhiễm ở cá tầm con (nhỏ hơn 10cm), có khả năng gây tổn thất lớn cho nghề nuôi cá tầm vì tỷ lệ chết lớn Chúng lây nhiễm qua da và theo miệng vào cơ thể cá WSHV type 2 nhiễm trên cá tầm cỡ lớn hơn so với type 1, gây nên những tổn thương, làm da phồng rộp tạo điều kiện cho các tác nhân khác xâm nhập và làm bệnh nghiêm trọng hơn [23, 25, 34, 38, 42] Theo Mohler, (2003) cá tầm trắng con và tiền trưởng thành bắt ở phía bắc California nhạy cảm với virus này Cá cỡ 17g khi phơi nhiễm virus 3% bị chết, 17% cá sống sót mang virus này suốt đời Cá bệnh chết có các dấu hiệu như tổn thương xuất huyết và lở loét

bề mặt ở lưng và vùng bụng, đặc biệt là xuất huyết xung quanh miệng Đối với papova-like virus gây bệnh trên cá tầm hoang dã thì không cho thấy dấu hiệu bên ngoài nào đáng chú ý nhưng những tổn thương nhỏ đã được tìm thấy trên mang, gan, lách, thận qua kính hiển vi điện tử Cơ chế phát sinh và lan truyền cho các loài cá khác hiện vẫn chưa xác định được đối với ba loại virus này [40]

Trang 27

Hai loại bệnh do virus làm chết cá hồi cũng đã được nghiên cứu trên cá tầm: là IHNV-Infectious Hematopoietic Necrosis Virus và IPNV-Infectious Pancreatic Necrosis Virus IHNV là một trong những bệnh gây chết nhiều ở cá hồi giống, chúng lây lan theo cả trục dọc (từ mẹ sang con) và trục ngang (từ cá thể này sang cá thể khác)

và có thể lây lan thông qua ký sinh trùng Thử nghiệm cảm nhiễm virus nàytrên cá tầm cho thấy virus gây chết ở cá con, nhưng không gây chết cá lớn hơn và nuôi chung với

cá hồi cũng không thấy lây lan bệnh cho cá hồi Hơn nữa khi cho cá tầm ăn cá hồi bị nhiễm cũng không thấy dấu hiệu của bệnh và cũng không lan truyền bệnh cho cá hồi nuôi chung Điều đó cho thấy việc nuôi chung cá tầm lớn có thể giảm việc lan truyền bệnh IHNV cho cá hồi [37]

Theo Orpetveit i et al 2010, IPNV gây bệnh trên cá hồi giống bằng cách gây hoại tử các tế bào tuyến tụy và các cơ quan khác như gan Các dòng tế bào cá tầm khi phơi nhiễm với IPNV thì không nhạy đối với virus này Cá tầm giống khi phơi nhiễm trong môi trường có virus và tiêm dịch vào xoang bụng với nồng độ virus cao, không

có bằng chứng rõ ràng để chứng minh có sự lan truyền virus, mặc dù IPNV đã tìm thấy trên một con cá tầm được tiêm sau 34 ngày, nhưng không phát hiện được virus khi kiểm tra lại sau 47 và 54 ngày Mặc dù nồng độ tiêm cao đã được dùng trong thử nghiệm trên nhưng vẫn không có ghi nhận nào về trường hợp cá chết, hay sự hoành hành của bệnh [44]

VNN (Viral Nervous Necrosis) là bệnh hoại tử thần kinh Nguyên nhân gây

bệnh là virus Betanodavirus hình cầu, có đường kính 26 - 32 nm và nhân chứa ARN

Virus ký sinh trong tế bào chất của tế bào thần kinh trong não và trong võng mạc mắt Bệnh VNN là bệnh cấp tính xuất hiện từ trại ương giống Ấu trùng (từ 10 - 25 ngày tuổi) hoặc cá giống bỏ ăn, cá chết rải rác, bơi lờ đờ trên tầng mặt do bóng hơi trương phồng Có sự xung huyết trong não mà có thể nhìn thấy được Cá nhiễm bệnh bơi không bình thường, bơi lội mạnh không định hướng, đầu chúc xuống dưới [22]

Cá tầm Nga là loài rất nhạy cảm đối với bệnh do nodavirus và bệnh dị hình cột sống khi cá có khối lượng cơ thể hơn 500 g Cá nuôi trong hệ thống nước chảy khi đạt kích cỡ này bắt đầu có dấu hiệu bất thường ở xương sống và ngày càng rõ ràng hơn Phân tích mô bệnh học đối với cá bệnh nuôi tại Ai Cập và Canada đều không thể kết luận gì về nguyên nhân của sự dị dạng cột sống Hiện nay vẫn chưa có thông tin đầy đủ

về bệnh này Sau một thời gian bị bệnh cá có hiện tượng bơi nghiêng, bỏ ăn, nằm ngửa

Trang 28

16

và dễ dàng bị nhiễm tác nhân thứ cấp là Aeromonas hydrophila Một số loài cá tầm khác

khỏe mạnh, phát triển bình thường và không có biểu hiệu di dạng cột sống, khi phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh quan sát thấy cá lờ đờ, lật ngửa cơ thể ra nằm bất động tựa như chết, tuy nhiên cá vẫn có thể sống sót trong một thời gian dài mặc dù không ăn Qua kiểm tra cũng không có phát hiện ký sinh trùng hay các tổn thương nào Phân tích PCR

từ mô não cá có dấu hiệu bệnh như trên cho kết quả giống với mẫu nodarvirus dương tính đối chứng [10, 24, 47]

Kwak và cs (2006) đã sử dụng PCR để phát hiện WSIV ở cá tầm, các tác giả cho biết phương pháp này nhanh hơn và nhạy hơn trong việc phát hiện virus so với các phương pháp như tách virus và kiểm tra lát cắt mô nhuộm dưới kính hiển vi [36]

1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tầm tại Việt Nam

Các loài ký sinh trùng Trichodina sp, Ichthyophthirius multifilis, và

Gyrodactylus sp cũng đã được bắt gặp ở cá tầm nuôi ở Lâm Đồng [5]

Kết quả phân lập được 6 loài vi khuẩn gồm Aeromonas hydrophila,

Pseudomonas cepacia, Streptococus sp, Enterobacter sakazaki, Vibrio cholerae và Serratia odorifera đã được phân lập từ cá tầm nuôi thương phẩm bị xuất huyết lở loét

Các tác giả cũng cho biết thêm rất có thể vi khuẩn là tác nhân gây nên hội chứng xuất huyết lở loét trong trường hợp này [5]

Formol, thuốc tím, và oxy già sử dụng với các liều lượng phù hợp, có thể trị một số bệnh do ký sinh trùng gây ra;Ciprofloxacine: 0,3 – 0,5 g/kg thức ăn ( 0.5g/kg thức ăn cho kết quả tốt nhất), cho ăn 7 - 10 ngày; hoặc Kanamycin: 50 mg/kg thể trọng

cá, liên tục 7 ngày Các bệnh do vi khuẩn Streptococcus được trị bằng Enrofloxacin

trộn vào thức ăn với liều lượng 25 – 50 mg/1kg cá/ ngày, cho ăn 4 – 7 ngày (Võ Thế Dũng và cộng sự, 2012) Ngâm cá trong nước muối (NaCl) 2-3%; hoặc Methylen 2-

kìm hãm và tiêu diệt sự phát triển của nấm Saprolegnia và Achlya [5]

Võ Thế Dũng và Võ Thị Dung, (2014) đã phân lập được 9 loài vi khuẩn bao

gồm Aeromonas hydrophila, Yersinia ruckeri, Burkholderia cepacia, Streptococcus sp,

Vibrio cholera, Enterobacter sakazakii, Serratia plymuthica, Serratia odorifera, và Hafnia alvei ở cá tầm nuôi ao bị bệnh và 6 loài vi khuẩn là A hydrophila, B cepacia, Serratia sp, V cholera, E sakazakii và S odorifera ở cá tầm nuôi lồng bị bệnh; tác

nhân chính gây bệnh là A hydrophylla, B cepacia A hydrophila trên cá tầm nhạy

Trang 29

cảm với Ciprofloxacin và Kanamycin; B cepacia nhạy cảm với Ciprofloxacin và

Erythromycin [6]

Võ Thế Dũng và cộng sự, (2015) cũng đã nghiên cứu bệnh do ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn trên cá giống và trứng cá hồi và cá tầm tại Lâm Đồng [7]

Tìm thấy 4 loài KST ở cá hồi giống, 6 loài KST ở cá tầm Nga và 7 loài KST ở

cá tầm Siberi Nhìn chung cường độ nhiễm KST ở cá tầm và cá hồi ở mức bình thường, vài loài trong đó có khả năng gây bệnh cho cá

Cá hồi giống ở Lâm Đồng bị các bệnh xuất huyết, lở loét và bệnh mòn cụt vây

Từ các mẫu bị xuất huyết lở loét đã phân lập được 3 loài vi khuẩn A hydrophila, A

salmonicida và Flavobacterium sp; trong đó, A hydrophila có tần suất bắt gặp cao

nhất Từ các mẫu thối vây, mòn cụt đuôi đã phân lập được 3 loài vi khuẩn

Flavobacterium sp, A hydrophila và A salmonicida; trong đó Flavobacterium sp có

tần suất bắt gặp cao nhất [7] Các tác giả cũng đã phân lập được hai loài nấm Achlya sp.và Saprolegnia sp trêncá giống và trứng của cá tầm Nga và cá tầm Siberi thu tại

Lâm Đồng [7]

Cá tầm Nga và cá tầm Siberi giống bị các bệnh xuất huyết và bệnh đen thân, bơi

xoáy Từ các mẫu bệnh xuất huyết đã phân lập được 3 loài vi khuẩn A hydrophila,

Pseudomonas luteola và Plesiomonas shigelloides; trong đó, A hydrophila có tần suất

bắt gặp rất cao (85/98 mẫu, chiếm 86,73% trên cá tầm Nga và 67/75, (89,33%) trên cá tầm Siberi) Từ các mẫu bệnh đen thân, bơi xoáy đã phân lập được 3 loài vi khuẩn

Streptococcus sp., A hydrophila và P shigelloides; trong đó, Streptococcus sp có

TSBG khá cao (22/43 mẫu chiếm 52,38% ở cá tầm Nga và 23/41 mẫu 56,10% ở cá tầm Siberi) [7]

Sử dụng một số thuốc và hóa chất trong phòng và trị bệnh trên trứng và cá giống của cá tầm và cá hồi có khả năng hạn chế được dịch bệnh (Võ Thế Dũng và cộng sự, 2015) Sử dụng nước muối nồng độ 18‰ - 20‰ tắm cho cá hồi giống trong

thời gian 10 phút có tác dụng phòng trị bệnh Ichthyophthirius multifilis, Trichodina sp

Sử dụng Ciprofloxacine nồng độ 0,3 – 0,5g trộn vào thức ăn cho cá hồi giống

và cá tầm giống ăn liên tục trong 5 ngày có khả năng tăng đáng kể tỷ lệ sống khi cá bị bệnh xuất huyết, mòn vây, cụt đuôi Sử dụng oxy già nồng độ 500 – 700ppm tắm cho

cá tầm giống bị bệnh lở loét do nấm trong thời gian 30 phút có khả năng tăng đáng kể

tỷ lệ sống khi cá bị bệnh, đồng thời tắm cho trứng cá tầm và cá hồi có thể phòng được bệnh do nấm gây ra

Trang 30

18

Các kết quả nghiên cứu bệnh cá tầm tại Lâm Đồng cho đến nay mới chỉ tập trung vào các tác nhân ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn Chƣa có công trình nào nghiên cứu về các tác nhân virus gây bệnh; mặc dù đây là tác nhân đã đƣợc nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho biết có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các loài

cá này Do đó các nghiên cứu về bệnh do tác nhân virus gây ra ở cá tầm nuôi tại Lâm Đồng là hết sức cần thiết

Trang 31

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá có dấu hiệu bệnh (cá tầm Nga và cá tầm Siberi).

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Mẫu cá được thu tại cơ sở nuôi cá tầm: Klong Klanh, Lạc Dương, Lâm Đồng Mẫu được đưa về phân tích tại phòng Công nghệ sinh học và Vắc xin thủy sản – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

- Bộ dụng cụ dùng trong giải phẫu mẫu cá: dao, kéo, mâm inox

- Bộ dụng cụ dùng trong phòng thí nghiệm nghiên cứu bệnh do virus: ống đong, cốc thủy tinh, bình tam giác, micropipet và các dụng cụ cần thiết khác

-

Hình 2.1 Bộ điện di Ex-Mupid Hình 2.2 Máy NanoDrop 2000

Hình 2.3 Máy PCR Hình 2.4 Bàn soi LMS-26 (UVP, Mỹ)

Ngày đăng: 29/01/2021, 11:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Phước Thuần. “Nghiên cứu về bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra trên cá tầm (Acipenser spp) nuôi tại Lâm Đồng”. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, Khánh Hòa, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra trên cá tầm ("Acipenser" spp) nuôi tại Lâm Đồng
3. Nguyễn Quốc Ân. “Báo cáo tình hình nghiên cứu , công nghệ nuôi cá tầm, cá Hồi, Bào ngƣ trên thế giới. Phân tích và lựa chọ công nghệ nuôi phù hợp với điều kiện Việt Nam”. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, Khánh Hòa, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình nghiên cứu , công nghệ nuôi cá tầm, cá Hồi, Bào ngƣ trên thế giới. Phân tích và lựa chọ công nghệ nuôi phù hợp với điều kiện Việt Nam
9. Aoki, T. . Motile aeromonas (Aeromonas hydrophila). In: Fish diseases and disorders. Woo PTK, Bruno D.W. (ed.) CABI Publishing, Wallingford, UK, pp.427-453, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aeromonas hydrophila
10. Athanassopoulou, F., Billinis C., and Prapas Th. Important disease conditions of newly cultured species in intensive freshwater farms in Greece: first incedence of nodavirus infections in Acipenser sp. Diseases of Aquatic Organisms, 60:247-252, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acipenser
13. Bazari Moghaddam S. et al. Parasitic infection among larvae and fingerlings of the Persian sturgeon (Acipenser persicus) in Vniro tanks and earthen ponds. Iranian Journal of Fisheries Sciences, 9(3) pp 342-351, , 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acipenser persicus
16. Chebanov, M. and Galich E. Sturgeon Hatchery Manual. FAO Fisheries and Aquaculture Technical Paper 558 Food and Agriculture Organisation of the United Nations, Ankara, Turkey. 325 p. ISBN 978–92–5–106823–6 (English), ISBN 978– Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sturgeon Hatchery Manual
17. Czeczuga B., Muszynska E., Wossughi G., Kama LY A., Kiziewicz B. Aquatic fungi growing on the eggs of several species of acipenserid fishes. – Acta Ichthyol. Piscat., 25. 71, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquatic fungi growing on the eggs of several species of acipenserid fishes
19. Eftychia Xylouri1, Yannis P. Kotzamanis2, Fotini Athanassopoulou3**, Li Dong1, Ioannis S. Pappas4, Alexandros Argyrokastritis5 and Eirini Fragkiadaki1.Isolation, Characterization, and Sequencing of Nodavirus in Sturgeon (Acipenser gueldestaedi L.) Reared in Freshwater Facilities*, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acipenser gueldestaedi L
20. Francis-Floyd, R., Klinger, R., Reed, P. and Blazer, V. Mycotic enteritis in Gulf sturgeon (Acipenser oxyrinchus desotoi). Proceedings of the International Association for Aquatic Animal Medicine30:109-110. , 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acipenser oxyrinchus desotoi
21. Francis-Floyd, R., Reed, P., Bolon, B., Estes, J. and McKinney, S. An epizootic of Edwardsiella tarda in largemouth bass (Micropterus salmoides). Journal of Wildlife Disease 29:334-336, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: dwardsiella tarda " in largemouth bass ("Micropterus salmoides
27. Hedrick, Speas R.P., J., Kent M.L., and McDowell T. Adenovirus-like particles associated with a disease of cultured white sturgeon, Acipenser transmontanus.Can. J. Fish. Aquat. Sci. 42:1321-1325, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acipenser transmontanus
28. Hochleithner, M. &amp; Gessner, I. . The sturgeons and paddlefishes of the world: biology and aquaculture. Kitzbuehel, Aquatech. 165 pp, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The sturgeons and paddlefishes of the world: "biology and aquaculture
32. John D. Drennan1, Scott E. LaPatra2, Jack T. Siple3, Sue Ireland3, Kenneth D. Cain1,*. Transmission of white sturgeon iridovirus in Kootenai River white sturgeon Acipenser transmontanus, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acipenser transmontanus
39. LI Yuan-Yuan, CAO Hai-Peng, HE Shan, YANG Xian-Le. Isolation and Identification of Aeromonas hydrophila Strain X1 from Acipenser baerii and Its Antibiotic Sensitivity. Aquatic Pathogen Collection Center of Ministry of Agriculture, SHOU,Shanghai, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aeromonas hydrophila "Strain X1 from "Acipenser baerii
40. Mohler J. W. 2003 – Culture manual for the Atlantic sturgeon Acipenser oxyrinchus oxyrinchus – U.S. Fish &amp; Wildlife Service, Hadley, Massachusetts: 1– 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture manual for the Atlantic sturgeon Acipenser oxyrinchus oxyrinchus
45. P. D. Cakić, vesna dj. Djikanović, z. B. Kulišić , m. M. Paunović, Dunja g. Jakovčev-todorović1, and snežana m. Milošević1. The fauna of endoparasites in acipenser ruthenus Linnaeus, 1758 from the serbian part of the danuberiver, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: acipenser ruthenus
49. Zaror, L.; E–mail: lzaroruach.cl.; Collado, L.; Bohle, H.; Landskron, E.; Montana, J.; Avendano, F.: Saprolegnia parasitica in salmon and trout from southern Chile Saprolegnia parasitica en salmones y truchas del sur de Chile. Archivos de Medicina Veterinaria (Valdivia): 361: 71–78, , 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saprolegnia parasitica in salmon and trout from southern Chile Saprolegnia parasitica en salmones y truchas del sur de Chile
1. Đỗ Thị Hòa. Một số phương pháp dùng trong nghiên cứu bệnh Thủy sản. Giáo trình môn bệnh học thủy sản. Trường Đại học Nha Trang, 2005 Khác
4. Võ Thế Dũng. Quy hoạch chi tiết nuôi cá nước lạnh của tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, Khánh Hòa, 2011 Khác
5. Võ Thế Dũng, Võ Thị Dung, Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, Lê Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Tuyên, Nguyễn Viết Thùy, Nguyễn Trọng Lực. Nghiên cứu tìm hiểu tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn trên cá hồi và cá tầm nuôi tại Lâm Đồng. Báo cáo tổng kết Khoa học Kỹ thuật Đề tài.Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng, 121 trang, 2012 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm