- Cơ sở để ghi nhận các loại chi phí này là dựa vào các chính sách, quy định của Nhànước cũng như của đơn vị, bao gồm các quy định về việc chi tiền hoa hồng trong giaodịch, môi giới bán
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG VÀ KIỂM TOÁN CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
I Nội dung của chi phí hoạt động
1 Khái niệm và đặc điểm
Theo quy định hiện hành, chi phí bán hàng là những khoản chi phí mà doanhnghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụtrong kỳ như chi phí nhân viên bán hàng, chi phí dụng cụ bán hàng, chi phí quảng cáo,chi phí hoa hồng bán hàng, các chi phí vận chuyển liên quan đến hoạt động bán hàng,khấu hao phương tiện bán hàng…
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí phát sinh có liên quanchung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng được cho bất
kì một hoạt động nào Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm lương cho Ban giámđốc và nhân viên quản lý, khấu hao nhà xưởng và phương tiện sử dụng của Bộ phậnvăn phòng, đồ dùng văn phòng, thuế nhà đất, các chi phí văn phòng, chi phí quản lýhành chính và các chi phí khác
Chi phí hoạt động nói chung bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanhnghiệp là những chi phí bao gồm những đặc điểm sau:
- Chi phí hoạt động là những chi phí gián tiếp, các khoản chi phí này phát sinh khôngtrực tiếp liên quan đến quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm
- Cơ sở để ghi nhận các loại chi phí này là dựa vào các chính sách, quy định của Nhànước cũng như của đơn vị, bao gồm các quy định về việc chi tiền hoa hồng trong giaodịch, môi giới bán hàng; quy định về tiền công tác phí cho nhân viên bán hàng; quychế về chi tiếp khách, quảng cáo…
- Chi phí hoạt động là một trong các cơ sở để xác định chỉ tiêu lợi nhuận và các loạithuế khác nên rất nhạy cảm với các gian lận nảy sinh trong quá trình xác định lợinhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
- Các chỉ tiêu chi phí phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh luôn cómối quan hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu thu chi tiền mặt, tiền gửi,…là những yếu tố động
và dễ xảy ra gian lận
Trang 2- Tất cả các chỉ tiêu về chi phí phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh có mối quan hệ rất chặt chẽ với các chỉ tiêu phản ánh trên Bảng cân đối tàisản: tiền lương; công cụ, dụng cụ; khấu hao tài sản cố định; tiền;
2 Các quy định về hạch toán chi phí hoạt động
Để hạch toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, theo chế độ hiệnhành, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
TK 641 – Chi phí bán hàng, gồm các tiểu khoản :
- TK 6411: chi phí nhân viên bán hàng
- TK 6412: chi phí vật liệu bao bì
TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp, gồm các tiểu khoản:
- TK 6421: chi phí nhân viên quản lý
- TK 6422: chi phí vật liệu quản lý
Trang 3TK 911
TK 111, 138
TK 331, 111, 112, 141
Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác
Chi phí trích trước, chi phí chờ phân bổ
TK 1421,335
TK 133
TK 133 Thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ nếu được tính vào chi phí bán hàng
TK 512
TK 33311 Thành phẩm hàng hoá, dịch vụ sử dụng nội bộ
TK 641 Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương
Trang 4TK 139
TK 331, 111, 112,
TK 335, 1421
TK 214
Trích lập dự phòng phải thu khó đòi
Chí chí dịch vụ mua ngoài và chi bằng tiền khác
Chi phí trích trước và chi phí phân bổ dần
Kết chuyển vào kỳ sau Chờ kết chuyển
Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí khấu hao TSCĐ
Thuế, phí, lệ phí phải nộp (Thuế môn bài, tiền thuê đất, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp phải nộp NSNN)
Sơ đồ hạch toán tổng quát chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 5II Kiểm toán chi phí hoạt động trong kiểm toán tài chính
1 Vai trò của chi phí hoạt động trong chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vai trò của chi phí hoạt động trong chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí hoạt động có một đặc điểm quan trọng đó là nó là một loại chi phí giántiếp đối với quá trình sản xuất nhưng lại là một chỉ tiêu trực tiếp để xác định thu nhậpchịu thuế Chính vì đặc điểm đó mà nảy sinh nhiều vấn đề trong công tác kế toán cũngnhư kiểm toán đối với các khoản mục này
Trong hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chi phí hoạt động là những chiphí đơn giản, phát sinh từ hoạt động bán hàng hay chi phí phục vụ ban quản lý Từ đóchi phí hoạt động được ghi nhận dựa vào các chính sách, quy định của Nhà nước haycủa đơn vị Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh quy mô lớn, đangành đa nghề, đa sản phẩm; các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu;doanh nghiệp thương mại; doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ như dịch vụ hàngkhông, dịch vụ bưu điện thì chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là chiphí chủ đạo trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có thể kể ramột số vai trò quan trọng của chi phí hoạt động như:
- Các khoản mục chi phí trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là những chỉtiêu quan trọng phản ánh tổng quát quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.Mọi sai sót liên quan đến việc phản ánh chi phí đều có ảnh hưởng trực tiếp tới việcđánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí hoạt động cũng ảnh hưởng tới các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán.Một sự thay đổi lớn về chi phí hoạt động sẽ làm thay đổi số dư của tài khoản lợinhuận, thuế phải nộp…
- Chi phí hoạt động phát sinh thường liên quan đến các khoản phải trả ngắn hạn haycác khoản phải trả ngay là những yếu tố có khả năng tồn tại gian lận cao
- Đối với ngân sách thì các chỉ tiêu chi phí là một trong các cơ sở để xác định thunhập chịu thuế do đó luôn đòi hỏi đơn vị hạch toán tuân thủ theo đúng quy định, điều
TK 911
Trang 6này cũng đòi hỏi các kiểm toán viên phải thận trọng khi kiểm toán các khoản mục nàynếu họ không muốn khách hàng của mình bị truy thu thuế vì hạch toán chi phí khônghợp lý, hợp lệ.
Quả thực không thể phủ nhận vai trò quan trọng của chi phí hoạt động trong hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó chi phí hoạt động cũng có một số ảnhhưởng nhất định đến một cuộc kiểm toán
Vai trò của chi phí hoạt động trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Vì các đặc điểm trên mà chi phí hoạt động thường được đánh giá là quan trọngtrong hạch toán kế toán đồng thời chi phí hoạt động cũng có những ảnh hưởng nhấtđịnh đến một cuộc kiểm toán tài chính vì những lý do sau đây:
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được xem là một khoản mụctrọng yếu trong Báo cáo tài chính của doanh nghiệp do đó khi thực hiện kiểm toán thìphải được thực hiện đầy đủ để tránh bỏ sót những sai sót có thể có đối với khoản mụcnày
- Khoản mục chi phí hoạt động không những bản thân nó trọng yếu mà còn ảnhhưởng tới các khoản mục trong Báo cáo tài chính Do đó kiểm tra, xem xét việc tậphợp và kết chuyển chi phí hoạt động cũng chính là việc xem xét tính đúng đắn của cáckhoản mục trên Bảng cân đối kế toán như: lợi nhuận, thuế phải nộp
- Tính đúng đắn của việc tập hợp chi phí sản xuất là một cơ sở quan trọng để kiểmtoán viên đưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính của doanh nghiệp đồng thời đưa
ra những lời tư vấn giúp doanh nghiệp hoàn thiện hơn trong công tác hạch toán kếtoán cũng như công việc kinh doanh của khách hàng
Các chuẩn mực chung và các quy định của Nhà nước về hạch toán chi phí màkiểm toán toán viên phải quan tâm trong quá trình kiểm toán
Khi thực hiện kiểm toán chi phí nói chung và chi phí hoạt động nói riêng, kiểmtoán viên thường quan tâm đến các chuẩn mực (nguyên tắc) sau:
- Nguyên tắc nhất quán: Nguyên tắc này đòi hỏi việc sử dụng phương pháp hạch toánchi phí phải thống nhất giữa kỳ này với kỳ trước đồng thời việc sử dụng các phươngpháp tính giá, phương pháp hạch toán, tập hợp hay phân bổ chi phí phải được thựchiện trên cơ sở thống nhất giữa các kỳ và nếu có sự thay đổi thì phải trình bày ảnhhưởng trên Thuyết minh Báo cáo tài chính
Trang 7- Nguyên tắc thận trọng: Đảm bảo sự an toàn khi tính toán các khoản chi phí và thunhập Cụ thể thu nhập phải được đảm bảo chắc chắn, chi phí phải được tính đúng, tính
đủ một cách tối đa
- Nguyên tắc phù hợp: Hạch toán chi phí phải đúng đối tượng chịu phí, đúng thời kỳ
và phù hợp với thu nhập trong kỳ
Ngoài ra trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên không chỉ quan tâm đến cácchuẩn mực chung mà phải còn phải dựa vào các quy định, chế độ của Nhà nước vềhạch toán và ghi nhận chi phí, như các quy định sau:
- Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp
- Nghị định của Chính phủ số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 quy định chi tiết thihành Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp
- Nghị định của Chính phủ số 26/2001/NĐ-CP ngày 4/6/2001 sửa đổi, bổ sung 1 sốđiều của Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 của chính phủ quy định chitiết thi hành Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp
- Thông tư 18/2002/TT-BTC ngày 20/2/2002 hướng dẫn thi hành Nghị định số26/2001 ngày 4/6/2001 và Nghị định số 30/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thihành Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp
- Thông tư của Bộ Tài chính số 13/2001/TT-BTC ngày 6/3/2001 hướng dẫn thi hànhquy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam.,…
2 Mục tiêu kiểm toán chi phí hoạt động
Theo VSA 200: Mục tiêu của cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính là giúp cho kiểmtoán viên và công ty kiểm toán xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sởchuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận hay không, có tuân thủpháp luật hiện hành và phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính xét trên cáckhía cạnh trọng yếu hay không
Các mục tiêu kiểm toán chung bao gồm:
- Mục tiêu hợp lý chung: Mục tiêu này giúp kiểm toán viên xem xét đánh giá tổngthể các số dư tài khoản trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm trình bày thông tintrên Báo cáo tài chính là trung thực, hợp lý và với tất cả các thông tin mà kiểm toán
Trang 8viên thu được qua khảo sát thực tế ở khách hàng trong quan hệ với việc lựa chọn cácmục tiêu chung khác.
- Các mục tiêu chung khác: được đặt ra tương ứng với các cam kết của Ban giám đốc
là hiệu lực, trọn vẹn, tính giá, quyền và nghĩa vụ, chính xác cơ học, phân loại và trìnhbày
- Mục tiêu hiệu lực: là hướng tới xác minh tính có thật của các số tiền trên các khoảnmục Có thể xem mục tiêu này hướng tới tính đúng đắn về nội dung kinh tế của cáckhoản mục trong quan hệ với các bộ phận cấu thành khoản mục đó Từ đó phản ánh
số tiền phản ánh vào Báo cáo tài chính là có thật
- Mục tiêu trọn vẹn (đầy đủ): là hướng tới xác minh sự đầy đủ về các thành phần cấuthành nên số tiền ghi trên khoản mục
- Mục tiêu quyền và nghĩa vụ: bổ sung cho cam kết về quyền và nghĩa vụ của Bangiám đốc với ý nghĩa xác minh lại quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng lâu dài đượcpháp luật thừa nhận) về tài sản và nghĩa vụ pháp lý đối với các khoản nợ và vốn
- Mục tiêu định giá: là hướng xác minh vào cách thức và kết quả biểu hiện tài sản,vốn, chi phí, thu nhập bằng tiền Mục tiêu này hướng tới việc thẩm tra giá trị thực tế
kể cả cách thức đánh giá theo nguyên tắc kế toán, thực hiện các phép tính số học Tuynhiên mục tiêu này không ngoại trừ quá trình xem xét mối liên hệ về cơ cấu có ảnhhưởng tới số tiền ghi trong Báo cáo tài chính và mục tiêu này được sử dụng để xácnhận cam kết của các Ban giám đốc về đánh giá và phân bổ
- Mục tiêu phân loại: là hướng xác minh và xem xét lại việc xác định các bộ phận,các nghiệp vụ đưa vào các tài khoản cùng việc sắp xếp các tài khoản đó trong Báo cáotài chính theo bản chất kế toán được thể chế bằng văn bản pháp lý cụ thể đang có hiệulực
- Mục tiêu chính xác cơ học: là hướng xác minh về sự đúng đắn tuyệt đối qua con sốcộng sổ, chuyển sổ, các sổ chi tiết tài khoản Cần nhất trí với các con số trên các sổphụ tương ứng với số cộng gộp của từng tài khoản với số tổng cộng trên các sổ phụ cóliên quan và các số chuyển sổ sang trang phải thống nhất với nhau
- Mục tiêu trình bày: là hướng xác minh vào cách ghi và cách thuyết trình các số dư (hay các số phát sinh) trên các Báo cáo tài chính Để thực hiện mục tiêu này kiểm toánviên phải thử nghiệm chắc chắn đó là tất cả các tài khoản của Bảng cân đối kế toán và
Trang 9Báo cáo kết quả kinh doanh cùng các thông tin liên quan đã được trình bày đúng và đãđược thuyết minh rõ ràng trong các bảng và các giải trình kèm theo.
Mục tiêu kiểm toán đặc thù đối với chi phí hoạt động
Mục tiêu kiểm toán chung được cụ thể hoá vào từng khoản mục, từng phần hành
cụ thể gọi là các mục tiêu kiểm toán đặc thù Mục tiêu kiểm toán đặc thù được xácđịnh trên cơ sở các mục tiêu chung và đặc điểm, bản chất của từng khoản mục haytừng phần hành cùng việc phản ánh theo dõi chúng trong hệ thống kế toán, hệ thốngkiểm soát nội bộ Cụ thể các mục tiêu kiểm toán đối với chi phí hoạt động là:
- Tính có thật: mục tiêu này bảo đảm tất cả các nghiệp vụ chi phí hoạt động ghi sổ cóthực sự phát sinh hay không
- Tính trọn vẹn: mục tiêu này bảo đảm tất cả các nghiệp vụ phát sinh liên quan đếnchi phí hoạt động trong kỳ phải được phản ánh trên sổ sách đầy đủ
- Tính chính xác, máy móc: mục tiêu này bảo đảm các khoản chi phí hoạt động phátsinh trong kỳ phải được ghi sổ theo đúng giá trị thật của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
và khớp đúng với chứng từ gốc đi kèm
- Trình bày và khai báo: các nghiệp vụ về chi phí hoạt động phát sinh phải được ghi
sổ và phân loại theo đúng tài khoản Việc ghi sổ và chuyển sổ phải được thực hiệnmột cách chính xác và phù hợp với nguyên tắc kế toán
Ngoài ra trong quá trình kiểm toán chi phí hoạt động, kiểm toán viên cũng rấtquan tâm đến tính tuân thủ trong việc hạch toán các khoản mục chi phí này Với mụctiêu này kiểm toán viên phải thu thập đủ bằng chứng để chứng minh việc hạch toánchi phí hoạt động tại doanh nghiệp đúng hoặc chưa đúng quy định của Nhà nước cũngnhư các quy định do doanh nghiệp đề ra
3 Nội dung kiểm toán chi phí hoạt động
Khi kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động, nội dung công việc thường baogồm:
Thứ nhất là thu thập bảng tổng hợp các loại chi phí hoạt động, thực hiện so sánh
chi phí năm kiểm toán với các năm trước, so sánh chi phí thực tế phát sinh với chi phítrong dự toán của doanh nghiệp từ đó có thể thấy các biến động bất thường và tìmhiểu nguyên nhân của những biến động đó
Trang 10Thứ hai là phải thực hiện kiểm toán phối hợp với các bằng chứng thu được từ
các phần hành kiểm toán khác có liên quan Chẳng hạn:
- Chi phí khấu hao liên quan đến khoản mục tài sản cố định
- Chi phí tiền lương, nhân công, tiền ăn giữa ca, các khoản mang tính chất tiền công,tiền lương khác liên quan đến khoản mục tiền lương và các khoản trích theo lương
- Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ, chi phí dịch vụ mua ngoài liên quan đếncác khoản mục tiền mặt, tiền gửi, các khoản phải trả
- Chi phí lãi vay liên quan đến các khoản vay
- Chi phí dự phòng phải thu khó đòi liên quan đến các khoản phải thu khách hàng
- Chi phí tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, tiếp tân, khánhtiết, chi phí giao dịch đối ngoại, hoa hồng môi giới liên quan đến tài khoản tiền và tàikhoản phải trả
- Các khoản thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất phải nộp liên quan đến tài khoản 333
- Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng máy móc thiết bị liên quan đến khoản mục tài sản cốđịnh và tài khoản phải trả
- Chi phí bảo hành sản phẩm thì liên quan đến khoản mục tiền mặt, hàng tồn kho vàtài khoản phải thu
Thứ ba là lập bảng phân tích các tài khoản chi phí có khả năng xảy ra sai phạm
cao như chi phí sửa chữa tài sản cố định, chi phí vận chuyển hàng bán, các chi phídịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác,
Thứ tư là phải soát xét các khoản chi phí quy mô lớn và bất thường.
Thứ năm là phải thu thập bản giải trình của Ban Giám đốc về các cam kết thuê
tài sản, các chi phí phát sinh không nằm trong dự toán và các nghiệp vụ xảy ra khôngthường xuyên
4 Những sai phạm thường gặp khi kiểm toán chi phí hoạt động
Trong quá trình kiểm toán chi phí nói chung và chi phí hoạt động nói riêng, kiểmtoán viên thường gặp phải những rủi ro sau:
Chi phí phản ánh trên báo cáo, sổ sách kế toán cao hơn chi phí thực tế, trường hợp này được thể hiện như sau:
Trang 11- Doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí hoạt động những khoản chi không có chứng
từ hoặc hạch toán trùng hoá đơn
- Doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh cả những khoản chi màtheo quy định là không được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh như các tiềnphạt do vi phạm pháp luật; các khoản chi phí kinh doanh, chi phí đi công tác nướcngoài vượt định mức quy định; các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản; chi mua sắm tàisản cố định; các khoản chi thuộc nguồn kinh phí khác tài trợ; các khoản chi ủng hộcác cơ quan, tổ chức xã hội và ủng hộ cán bộ công nhân viên (trừ trường hợp đã cóquy định của Chính phủ cho tính vào chi phí kinh doanh), chi từ thiện và các khoảnchi khác không liên quan đến doanh thu, thu nhập chịu thuế
- Doanh nghiệp có sự nhầm lẫn trong việc tính toán, ghi sổ do đó làm cho chi phí ghitrong sổ sách, báo cáo kế toán tăng lên so với số phản ánh trên chứng từ kế toán
- Doanh nghiệp đã tính vào chi phí các khoản trích trước mà thực tế không chi hếtnhằm làm giảm bớt lãi thực tế Ví dụ: trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định,chi phí bảo hành sản phẩm hàng hoá, công trình xây dựng, chi phí lãi vay,…
- Doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí trong năm các khoản chi phí thực tế đã phátsinh nhưng do nội dung, tính chất hoặc độ lớn của khoản chi nên theo quy định cáckhoản chi này phải phân bổ cho nhiều kỳ sản xuất kinh doanh
Chi phí phản ánh trên sổ sách, báo cáo thấp hơn chi phí thực tế, điều này biểu hiện cụ thể như sau:
- Có một số khoản thực tế đã chi, nhưng vì chứng từ thất lạc mà doanh nghiệp không
có những biện pháp cần thiết để có chứng từ hợp lệ nên số khoản chi này không đượchạch toán vào chi phí trong kỳ mà vẫn được treo ở các tài khoản khác như tài khoảntạm ứng, nợ phải thu, ứng trước cho nhà cung cấp
- Có một số khoản thực tế đã chi nhưng do người được giao nhiệm vụ chưa hoànthành các thủ tục thanh toán Thí dụ: một cán bộ được ứng tiền đi mua vật tư hoặcthực hiện một số công việc đã hoàn thành trong kỳ, nhưng đến cuối tháng cán bộ nàyvẫn không làm các thủ tục thanh toán, do đó những khoản chi này vẫn chưa được hạchtoán vào chi phí trong kỳ
Trang 12- Doanh nghiệp đã theo dõi và hạch toán các khoản chi tiêu cho những công việcchưa hoàn thành trong kỳ kế toán (chi phí dở dang) theo giá hạch toán thấp hơn so vớichi phí thực tế của những công việc này mà không có sự điều chỉnh.
Ngoài ra có thể xảy ra sai phạm liên quan đến việc phân loại chi phí Thí dụ:doanh nghiệp đã có sự nhầm lẫn trong việc hạch toán giữa chi phí hoạt động kinhdoanh với chi phí hoạt động tài chính và chi phí khác
Những rủi ro thường gặp nói trên có nhiều nguyên nhân Song có thể nguyênnhân chủ yếu là do nhân viên kế toán chưa nắm được đầy đủ các quy định về hạchtoán chi phí hoặc do trình độ chuyên môn không cao, không nắm bắt những thay đổi
về quy định, chế độ tài chính, kế toán đặc biệt khi mà hệ thống chế độ của nước tachưa hoàn thiện đang có nhiều sửa đổi
5 Quy trình kiểm toán chi phí hoạt động trong kiểm toán tài chính
5.1 Lập kế hoạch kiểm toán
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300, Kiểm toán viên và Công ty kiểmtoán phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách
có hiệu quả
Kế hoạch kiểm toán có 3 loại: Kế hoạch chiến lược, Kế hoạch kiểm toán tổng thể
và Kế hoạch kiểm toán chi tiết
Kế hoạch chiến lược là định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp
tiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tìnhhình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán Kế hoạch chiếnlược phải được lập cho các cuộc kiểm toán lớn về quy mô, tính chất phức tạp, địa bànrộng hoặc kiểm toán báo cáo tài chính của nhiều năm
Nội dung của kế hoạch chiến lược bao gồm:
-Những thông tin về tình hình kinh doanh của khách hàng
-Những vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính như chế độ kế toán, chuẩn mực kếtoán áp dụng, yêu cầu về lập báo cáo và quyền hạn của công ty
-Xác định vùng rủi ro chủ yếu của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nó tới báo cáo tàichính
-Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ