Qua hoạt động này tín dụng ngân hàng đã góp phần cung ứng và điều hoà vốn trong từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất đ-ược tiến hành một cách trôi chảy, đ
Trang 1TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG VIỆC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VAI TRÒ NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CHO
VAY
I Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân.
1 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế nẩy sinh trong điều kiện nền sản suất hàng hoá Sự ra đời và phát triển của tín dụng không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu điều hoà vốn trong xã hội mà còn là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng của một nước
Theo nội dung kinh tế, tín dụng thực chất là một quan hệ phân phối hình thức giá trị, tín dụng biểu hiện một hình thái vận động đặc biệt của nguồn tài chính,
sự vận động này được thực hiện theo một chu kỳ khép kín mang tính quy luật Nói
một cách khác “Tín dụng là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời giữa người cho vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả dựa trên sự tín nhiệm” nhờ có
tín dụng mà nguồn tài chính đã luân chuyển sang nền kinh tế quốc dân từ chủ thể này sang chủ thể khác nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
Vai trò của tín dụng đối với sản xuất và sự tăng trưởng kinh tế ở mọi quốc gia trên thế giới là không thể phủ nhận được Đặc biệt tính chất cạnh tranh vốn của nền kinh tế thị trường luôn tạo ra xu hướng đa dạng hoá các loại hình tín dụng Với mục đích sử dụng tín dụng như là một công cụ khai thác và động viên có hiệu quả nhất những lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, phù hợp với quá trình vận động của vốn tiền tệ trong xã hội thì tín dụng ngân hàng là tiến bộ nhất, có vai trò quan trong nhất
Tín dụng ngân hàng được hình thành từ rất sớm ngay từ khi hình thành các ngân hàng thương mại Trong thời kỳ này các ngân hàng thương mại đã luôn tìm kiếm các cơ hội để tiến hành cho vay coi đó như là một nhu cầu chủ yếu trong việc
duy trì và mở rộng hoạt đông của mình Trên góc độ kinh tế học “Tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời giữa ngân hàng (với tư cách là
ng-ời đi vay) theo nguyên tắc hoàn trả dựa trên cơ sở sự tín nhiệm nhằm thoả mãn
Trang 2nhu cầu về vốn các doanh nghiệp và các cá nhân trong kinh doanh” Vai trò của tín
dụng ngân hàng trong việc phục vụ phát triển kinh tế như sau:
1.1 Tín dụng ngân hàng là chiếc cầu nối giữa cung và cầu về vốn từ đó góp phần đầu tư phát triển kinh tế
Trong xã hội luôn hình thành các nguồn tiền nhàn rỗi tại các chủ thể khác nhau, những người sở hữu các nguồn tiền này luôn mong muốn nó vận động để sinh lời do vậy họ nẩy sinh ý định cho vay làm hình thành nên khả năng cung ứng
về vốn tín dụng Mặt khác trong xã hội luôn có những người có nhu cầu sử dụng tiền vượt quá khả năng vốn hiện có của họ làm nảy sinh ý định đi vay hình thành nên cầu về vốn tín dụng
Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại đã thoả mãn được những
lo lắng của người có vốn và đáp ứng được nhu cầu của người cần vốn có nghĩa là các ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian nhận tiền gửi từ tất cả các thành phần kinh tế và cho vay lại các đơn vị cá nhân trong nền kinh tế hay nói cách khác: Tín dụng ngân hàng là cầu nối để những người có vốn và những người cần vốn gặp nhau
Qua hoạt động này tín dụng ngân hàng đã góp phần cung ứng và điều hoà vốn trong từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất đ-ược tiến hành một cách trôi chảy, đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cố định, vốn lưu động, bổ xung tăng cường củng cố tài sản cố định làm cho quá trình sản xuất được tuần hoàn, thúc đẩy sản xuất lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng
1.2 Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và phục vụ sản xuất kinh doanh:
Bằng các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú cùng với việc thoả mãn thích đáng nhu cầu lợi ích, nhu cầu cần tiền đột xuất của người gửi tiền mà các ngân hàng thương mại đã thu hút được tất cả các nguồn tiền nhàn rỗi
dù là nhỏ nhất từ trong dân chúng tập trung về tay mình và từ đó đáp ứng đựợc nhu cầu về vốn ngày càng tăng của nền kinh tế hay nói cách khác hoạt động của tín
Trang 3dụng đã làm nhiệm vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc thực hiện hoạt động đi vay và cho vay
Thông qua công tác tín dụng các ngân hàng thương mại đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư
đư-ợc mở rộng, và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Việc đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn vay của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng
là kênh quan trọng nhất chuyên cung ứng vốn và giúp các doanh nghiệp khai thác
có hiệu quả kinh tế, kỹ thuật lao động của mình Quá trình đầu tư tín dụng không phải rải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu đầu tư được tập trung cho doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả Đầu tư tập trung là tất yếu trên cơ sở đảm bảo các điều kiện tín dụng sẽ tránh được rủi ro và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.3 Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện để phát triển quan hệ kinh tế với các nư
ớc:
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, tín dụng ngân hàng góp phần trong sự phát triển quan hệ nước ta với các nước bạn Một mặt tín dụng ngân hàng trực tiếp tham gia trong các quan hệ thanh toán quốc tế , mặt khác tín dụng ngân hàng đã tham gia trực tiếp trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá
Ngân hàng nhận các nguồn vốn tài trợ từ các nước cấp tín dụng cũng như các tổ chức tín dụng Quốc tế đem cho vay tài trợ các hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu, đầu tư chiều sâu, đổi mới cộng nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong nước thúc đẩy sản xuất trong nước nhằm phục vụ tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế
Như vậy thông qua các hoạt động của mình, tín dụng ngân hàng đã góp một phần không nhỏ trong công cuộc đổi mới và chuyển biến nền kinh tế đất nước
2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh:
Doanh nghiệp ngân hàng cũng như mọi doanh nghiệp khác hoạt động trên thị trường đều cần có khách hàng, nó đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển hoạt động của mọi doanh nghiệp trên thị trường Đối với ngân hàng, khách hàng gữi vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, khi khách
Trang 4hàng của ngân hàng hoạt động có hiệu quả phát triển tốt thì ngân hàng sẽ có điều kiện để mở rộng quy mô và chất lượng kinh doanh của mình và ngược lại Do đó hoạt động ngân hàng luôn luôn phải gắn chặt vào hoạt động của các doanh nghiệp nhằm thoả mãn cao nhất các mong muốn của khách hàng, hơn nữa khách hàng còn
là người cung cấp vốn để ngân hàng kinh doanh, vì vậy ngân hàng vừa phải thu hút khách hàng để củng cố đầu vào, vừa phải thu hút khách hàng để củng cố đầu ra
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, các doanh nghiệp có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng, nó là điều kiện đảm bảo những cân đối chủ yếu cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên một vấn đề khó khăn lớn nhất hiện nay đối với các doanh nghiệp là thiếu vốn kinh doanh Họ giải quyết bằng con đường nào là tối ưu nhất? Vốn tín dụng có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của doanh nghiệp?
2.1 Tín dụng ngân hàng đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp được liên tục:
Trong một nền kinh tế nhu cầu về tín dụng thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, đổi mới các phương tiện vận chuyển, tin học kỹ thuật đặc biệt đối với nền kinh tế Việt nam hiện nay, nhu cầu về vốn rất lớn trong lúc các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều, chưa có thời gian để tích luỹ vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn rất hạn chế Do vậy đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp mới chủ yếu dựa vào vốn tự có của các nhà kinh doanh và bộ phận chủ yếu còn lại phải nhờ vào vốn của hệ thống ngân hàng Vốn tín dụng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, bù đắp các khoản chi phí sản xuất kinh doanh có vốn các doanh nghiệp sẽ mua được nguyên nhiên vật liệu để xây dựng nhà máy, thuê được lao động, mua được bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ từ đó góp phần thúc đẩy và tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục phát triển
2.2 Tín dụng ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp:
Trang 5Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các thành phần kinh tế, các loại hình danh nghiệp ngày càng phát triển đa dạng, chính điều này đã đòi hỏi sức vươn lên của từng doanh nghiệp bởi khi đã có rất nhiều các doanh nghiệp cùng tham gia vào một thị trường thì cạnh tranh là qui luật tất yếu của kinh tế thị trường sẽ xẩy ra Đối với các doanh nghiệp lớn có nhiều ưu thế trong hoạt động sản xuất kinh doanh thường được ưu tiên cấp tín dụng, thậm chí có những ưu đãi hơn hẳn các doanh nghiệp nhỏ kém ưu thế Do đó với nguồn vốn tín dụng rồi rào tạo điều kiện thuận cho các doanh nghiệp lớn mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại nên càng đứng vững trong cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Các doanh nghiệp vì phải cạnh tranh nhau nên sẽ tạo ra những sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hợp thị hiếu mọi người và cuối cùng là tạo cho người tiêu dùng tâm lý yên tâm, tin tưởng vào chất lượng hàng hoá tạo ra sự công bằng giữa người tiêu dùng và người sản xuất
2.3 Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy củng cố chế độ hạch toán kinh tế:
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức (gốc + lãi) hoạt động của doanh nghiệp tuần hoàn vốn theo chu kỳ sản suất Khi đi vào sản xuất hoặc mua hàng hoá dự trữ thì cần nhiều vốn Khi tiêu thụ lại
d-ư vốn trên tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thd-ương mại Ngân hàng thd-ương mại sử dụng vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn sản xuất kinh doanh Nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng ngân hàng đã kích thích các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu qủa
Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trên hợp động tín dụng trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi Bằng các hoạt động như vậy đã kích thích doanh nghiệp quan tâm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn , giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp Ngoài đặc điểm cơ bản nêu trên thông qua cho vay vốn tín dụng
đư-ợc cung cấp kịp thời tạo điều kiện thuận lợi chi sản xuất kinh doanh và người cho vay còn kiểm soát hoạt động kinh tế đối với các doanh nghiệp vay vốn làm cho người vay vốn có ý thức ngày một hoàn thiện hơn việc quản lý hợp đồng vốn thông
Trang 6qua quá trình hạch toán kinh tế, góp phần củng cố chế độ hạch toán kinh tế thêm vững chắc
II Nhiệm vụ của kế toán trong việc cấp tín dụng.
Kế toán là công việc tính toán, ghi chép bằng con số biểu hiện bằng giá trị tiền tệ tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các cơ quan, xí nghiệp
Hạch toán kế toán là khoa học quản lý, nghiên cứu quá trình tái sản xuất xã hội Để quản lý tốt nền kinh tế đưa đất nước phát triển đúng mục tiêu của Đảng nhà nước đề ra sao cho phù hợp với qui luật kinh tế trong bất kỳ hoàn cảnh nào chúng
ta đều phải thực hiện tốt Về góc độ kinh tế mọi hoạt động phải dựa trên cơ sở thực hiện chế độ hạch toán kinh tế Một doanh nghiệp phát triển tốt sản xuất kinh doanh đơn vị phải duy trì hình thức tiền tệ để hạch toán các hoạt động kinh doanh của mình Có như vậy doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, đứng vững trong cơ chế thị trường
Điều này được khẳng định thông qua “Điều lệ tổ chức kế toán nhà nước”
ban hành kèm theo Nghị định số 25/HĐBT ngày 18-03-1989 của Hội đồng Bộ
tr-ưởng đã nêu rõ: “ Kế toán là công cụ quan trong để tính toán xây dựng kiểm tra việc chấp hành ngân sách nhà nước để điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân Đối với các tổ chức xí nghiệp kế toán là công cụ quan trọng để điều hành quản lý các hoạt động tính toán kinh tế và kiểm tra bảo vệ sử dụng tài sản , vật tư tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và tự chủ tài chính của doanh nghiệp”
Nghiên cứu các hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của kế toán ngân hàng nói chung và kế toán cho vay nói riêng trong các mặt hoạt động đó
1 Nhiệm vụ của kế toán ngân hàng :
Kế toán ngân hàng ghi nhận, phản ánh chính xác, đầy đủ kịp thời các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh theo đúng pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nước và các thể
lệ chế độ kế toán ngân hàng Trên cơ sở đó để bảo vệ an toàn tài sản của bản thân ngân hàng cũng như tài sản của toàn xã hội bảo quản tại ngân hàng
Trang 7Phân loại nghiệp vụ tổng hợp số liệu theo đúng phương pháp kế toán và theo những chỉ tiêu nhất định nhằm cung cấp thông tin một cách đầy đủ , chính sách kịp thời phục vụ quá trình lãnh đạo , thực thi chính sách quản lý và chỉ đạo hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Giám sát quá trình sử dụng tài sản (vốn) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các loại tài sản thông qua kiểm soát trước (tiền kiểm) các nghiệp vụ bên nợ và bên
có ở từng đơn vị ngân hàng cũng như toàn bộ hệ thống góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, củng cố chế độ hạch toán kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Tổ chức giao dịch phục vụ khách hàng một cách khoa học văn minh, giúp đỡ khách hàng nắm được những nội dung cơ bản của kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng nói chung và kỹ thuật nghiệp vụ kế toán nói riêng góp phần thực hiện chiến lược khách hàng của ngân hàng
2 Nhiệm vụ của kế toán cho vay trong việc cấp tín dụng:
Kế toán cho vay là công việc tính toán ghi chép bằng con số tất cả các khoản vay, thu nợ thuộc nghiệp vụ tín dụng ngân hàng Cùng với nghiệp vụ kế toán ngân hàng kế toán cho vay tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động nguồn vốn và sử dụng vốn nhằm giúp các hoạt động đó thực hiện chính xác kịp thời, đầy đủ Nội dung đó đặt ra cho kế toán cho vay có những nhiệm vụ cơ bản sau:
Kế toán cho vay thực hiện việc ghi chép đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình cho vay thu nợ của ngân hàng Bảo vệ an toàn vốn ngân hàng đầu tư vào các ngành kinh tế
Tính và thu lãi cho vay đầu tư, chính xác để đảm bảo thu nhập
Quản lý toàn bộ hồ sơ cho vay, hợp đồng tín dụng quản lý các khoản vay đem lại hiệu quả cao của mỗi món vay Từ đó tạo hình ảnh đẹp cho ngân hàng nói riêng, toàn bộ nền kinh tế nói chung.Kế toán cho vay đã tạo cho ngân hàng những nguồn thu nhập lớn trên cở đó ngân hàng thực hiện được chức năng kinh doanh và cung ứng vốn cho nền kinh tế
Với vai trò quan trọng, hệ thống ngân hàng phải hoàn thiện hơn nũa để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế
Trang 8III Các phương thức và tài khoản kế toán cho vay:
1 Phương thức cho vay:
Hiện nay các tổ chức tín dụng áp dụng các phương thức cho vay theo quyết định số 284/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng của từng khoản vốn vay của khách hàng và khả năng kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng về việc lựa chọn phương án cho vay theo một trong các phương thức cho vay sau:
1.1 Cho vay từng lần: Mỗi lần vay khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
1.2 Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh
1.3 Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống
1.4 Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng ; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dần xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác
1.5 Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo kỳ hạn nợ trong thời hạn cho vay
1.6 Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng : Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
1.7 Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn
Trang 9mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của chính phủ và Ngân hàng nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế, tư nhân cá thể bao gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, tín dụng dài hạn
Tín dụng ngắn hạn nhằm bổ xung vốn lưu động cho các đợn vị, cá nhân có
đủ vốn để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh Tín dụng trung hạn, dài hạn nhằm cung cấp vốn đầu tư cơ bản hoặc cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất của các tổ chức kinh doanh Mỗi loại tín dụng có một nội dung kinh tế và yêu cầu nghiệp vụ kỹ thuật riêng, theo đó việc tổ chức hạch toán kế toán cho vay cũng đòi hỏi phải có kỹ thuật nghiệp vụ thích hợp
Trong đề tài này chỉ nghiên cứu về kế toán cho vay ngắn hạn (cho vay bổ xung vốn lưu động) đối với các tổ chức kinh tế và cá thể có nhiều phương thức cho vay nhưng hiện nay các ngân hàng thương mại chủ yếu áp dụng hai phương thức cho vay Phương thức cho vay từng lần (cho vay theo món) và phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng
Phương thức cho vay là một nội dung quan trọng thuộc kỹ thuật cung ứng vốn tín dụng đối với các tổ chức kinh tế, khi xác định được phương thức cho vay thích hợp với một tổ chức kinh tế sẽ tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện các nghiệp
vụ tín dụng, gắn sự vận động của tín dụng với sự vận động của đối tượng vay vốn Tuỳ mỗi phương thức cho vay mà người ta có cách áp dụng từng loại tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay riêng để theo dõi các món vay Tài khoản này thuộc tài sản có của ngân hàng, nó dùng để ghi chép, phản ánh toàn bộ số tiền mà ngân hàng đã cho vay đối với người đi vay đồng thời cũng ghi chép, phản ánh số tiền mà người đi vay đã trả nợ ngân hàng theo những kỳ hạn nhất định
Việc bố trí các tài khoản cho vay trong hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng như thế nào là tuỳ thuộc vào yêu cầu của việc chỉ đạo hoạt động tín dụng của ngân
Trang 10hàng phục vụ nền kinh tế từng thời kỳ và yêu cầu bảo vệ an toàn tài sản của ngân hàng
Khi các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp cá nhân có đủ điều kiện vay vốn ngân hàng và được ngân hàng cho vay thì kế toán ngân hàng sẽ mở cho mỗi ngời vay một tài khoản vay thích hợp ứng với hai phương thức cho vay, sử dụng hai loại tài khoản cho vay
a) Phương thức cho vay từng lần (cho vay theo món):
Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay để bổ xung nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt trong sản xuất được áp dụng đối với những khách hàng sản xuất kinh doanh không ổn định, nhu cầu vay trả không thường xuyên (sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ) có nhu cầu đề nghị vay vốn từng lần, không có tín nhiệm cao với Ngân hàng trong quan hệ tín dụng để từ đó Ngân hàng căn cứ vào từng đề án, từng kế hoạch, từng hoạt động king doanh cụ thể của người vay mà cho vay Tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm luân chuyển vốn của từng khách hàng mà Ngân hàng có thể cho vay theo kế hoạch hoặc không theo kế hoạch
Đối với những khách hàng được Ngân hàng cho vay theo kế hoạch là những khách hàng có nhu cầu vay vốn tương đối thường xuyên, có tín nhiệm tương đối với Ngân hàng và đặc biệt có thể lập được kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch vay vốn
Quy trình xét duyệt cho vay
Thông thường trước duyệt kế hoạch (quý, mùa, vụ,năm…) khoảng 15 ngày khách hàng phải lập kế hoạch vay vốn gửi tới ngân hàng, đồng thời phải gửi cho Ngân hàng các tài liệu:
Đối với khách hàng là doanh nghiệp: Những tài liệu liên quan đến việc thuyết minh về tình hình tài chính của doanh nghiệp (bảng tổng kết tài sản, báo cáo chi tiết về lãi, về lỗ, công nợ ) những tài liệu liên quan đến việc thuyết minh về
kế hoach vay vốn, hợp đồng mua sắm tài sản Những tài liệu liên quan đến tài sản tín dụng