Do vậy mà đến đây, người Việt đâ tích hợp, chuyển hóa một cách phù hợp, lài tình hình ảnh Ông và Bà, xóa nhòa lằn ranh bất tương đồng có nguy cơ gây sốc rất lớn khi dung hợ[r]
Trang 1HÌNH ẢNH BÀ MẸ x ú SỞ VÀ NGUYÊN TẤC THIÊNG HÓA, CÁ THẺ HÓA TRONG
ĐỜI SỚNG LẺ HỘI LÀNG VIỆT MIÈN TRUNG
Trần Đình H ằng*
1 Đăt vấn đề
Vượt qua dãy Hoành Sơn, đi về vùng đất mới phương Nam, người Việt đã phải tiếp xúc với một xứ sờ mà về đại thể, có thể bắt gặp nhiều yếu tố văn hóa dị biệt Sẽ là một cú sốc văn hóa rất lớn nếu người Việt không có sự chuẩn bị để tiếp xúc, chuyển hóa Nếu như ở làng xã vùng châu thổ Bắc Bộ có sự hiện diện phổ biến và chi phối mạnh mẽ của ỎNG THÀNH HOÀNG thì trên vùng đất mới, BÀ MẸ x ứ SỞ có mặt khắp nơi Quá trình dung hợp văn hóa ở đây trở thành chất xúc tác
có khả năng giảm thiểu mọi xung dột có thế xảy ra, đem lại nghị lực phi thường cho lớp lớp tân dân, dần tạo nên thế ứng xử đặc trưng của người Việt miền Trung
Bài viết này muốn nhấn mạnh đến hiện tượng Bà Mẹ Xứ Sở ở miền Trung được Việt hóa dưới nhiều lớp áo, mang nhiều màu sắc, danh xưng khác nhau; được thể hiện qua truyền thuyết, giai thoại, lễ nghi, phẩm vật cúng tế , tùy thuộc vào hành trang mang theo từ cố hương, thế ứng xử của từng cộng đồng làng xã
2 Người Việt vói tín nguõng thò' nữ thần và hình ảnh Bà Mẹ
Xứ Sỏ' trên vùng đất phía nam Hoành Son
Dải đất hẹp nằm giữa Hoành Sơn và Hải Vân sơn đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nút thắt định mệnh mở ra cửa ngõ cho sinh lộ độc đạo trên hành trình đi về phương Nam của người Việt Nếu như Đại Việt chịu ảnh hưởng Hán hóa và tương tự là Án hóa suốt lãnh thổ vương
* TS Phó phân viện trướng Phân viện Văn hóa Nehộ thuật Việt Nam tại Huế.
Trang 2quốc Champa, thì mảnh đất Bình Trị Thiên hiện nay là vùng đệm của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa đó, trở thành cái bản lề trong vùng đất đóng vai trò bản lề đó Từ đây, người Việt di cư từ miền Bắc mới có
đủ điều kiện để tiếp nhận, dung hòa và chuyển hóa những yếu tố văn hóa dị biệt, biến cái “của Người” thành cái “của Ta”, sau đó mới có thể cùng cố, nâng cấp những giá trị “của Ta” đặc thù lên, trở thành nhũng giá trị đặc trưng1
Victor Goloubevv trong Lời tựu cho Dần nhập nghiên cứu Annam
và Champa (1934) đã mô tả miền Trung là một dải đất hẹp, nối liền hai
châu thổ Bắc Bộ và Nam Bộ: “Dải đất hẹp này hình như cứ xô ra biển,
có vô số dòng sông rạch ngang dải đất này , là xứ có nhiều bãi cát trắng và nhiều vách đá tầng bậc, đây là xứ sở của truyện cổ tích và vô số
vị thần linh huyền bí ”2 Và trong số các vị thần linh huyền bí đó, trước tiên, đáng chú ý chính là các vị nữ thần Do vậy mà đến đây, người Việt
đâ tích hợp, chuyển hóa một cách phù hợp, lài tình hình ảnh Ông và Bà, xóa nhòa lằn ranh bất tương đồng có nguy cơ gây sốc rất lớn khi dung
hợp hai yếu tố chính yếu là Bốn thổ của Bà Mẹ Xứ Sở và Thành hoàng của Ông thành hoàng để làm nên Bổn thổ thành hoàng đầy phiếm xưng
Một chất xúc tác và cũng là phông nền căn bản trong bối cảnh đó, chính
là hình ảnh của các vị nữ thần phương Nam, đặc biệt, và đứng đầu là Bà
Mẹ Xứ Sở Poh lư Nagar, tiếp đến là các vị nữ thần địa phương, hay cũng có thể chính là hóa thân của Bà Mẹ Xứ Sở trên từng địa bàn làng
xã cụ thể
Từ buổi đầu của công cuộc Nam tiến, người Việt đã sớm tịch
nhập một vị nữ thần có nguồn gốc Chiêm Thành, như Việt điện u linh
tập (được biên soạn năm 1329) cho biết sau sự kiện Nam chinh của vua
Lý Thánh Tông năm 1069, mà về sau, đến đời Trùng Hưng nguyên
niên (Ất Dậu, 1285), được sắc phong H ậu Thổ Địa Kỳ N guyên Quân',
1 Trần Đình Hằng (2009), “Của Người, Cùa Ta: Thần điện làng Việt miện Trung”,
trong Văn hóa nghệ thuật miền Trung - Hành trình 10 năm tiếp cận (Kỳ yếu hội thào khoa học), Huế, Phân Viện Văn hóa N ghệ thuật V iệt Nam tại Huế.
2 Claeys, Jean Yves., “Hành trình vào sự nghiên cứu nước An-Nam và nước Chămpa”,
trong Những người bạn c ố đô Huế (B.A V.H), tập XXI (1934), Huế: Nxb Thuận Hóa,
2007, tr 9.
Trang 34 năm sau gia phong hai chữ Nguyên Trung; năm Hưng Long thứ 21 (Quí Sửu, 1313), gia phong bốn mỹ tự ử n g Thiên Hóa D ụ c1.
Hậu Thô phu nhân được tác giả xếp vào mục hạo khí anh linh, khi
đã hội nhập vào hệ thống thần linh của người Việt, với danh hiệu đầy đủ
ứ n g Thiên Hoủ Dục Nguyên Trung Hậu Thồ Địa Kỳ Nguyên Quân Ở
đây, có thể nhận ra dấu ấn “kín đáo” qua danh hiệu Hậu Thổ Địa Kỳ
Nguyên Quân ( Jp ± iẾ ij? TÊ © ) khá tương khớp về ý nghĩa của Poh Inư Nagar Còn ứ n g Thiên Hoủ Dục, là chữ phong tặng thêm thể hiện
đức tính của Địa (Đất), được khái quát trong khái niệm “Khôn” của
“Dịch” mà một cách biểu hiện đó là hình tượng “Mầu” 2
1 Chuyện kể rằng: “Xưa kia, Lý Thánh Tông nam chinh Chiêm Thành, đến cửa biến
Hoàn Hải thoắt bị gió to mưa lớn, sóng cuộn ầm ằm, long thuyền dao động cơ hồ muốn chuyển; nguy cấp không ngờ, vua rất lo sợ.
Giữa lúc đang bàng hoàng, vua bỗng thấy một người con gái ước độ hai mươi tuổi, mặt tựa hoa đào, mày đậm màu dương liễu, mắt sáng như sao, miệng cười như hoa nở; nàng mặt áo trăng, quần lục, lưng m ang đai, dị dàng bước đến bạch với vua rằng: Thiếp là tinh của đại địa Nam quốc thác cư ở làng Thuý Vân đã lâu lắm, xem thời
mà ra nếu gặp được lúc tốt Bây g iờ gặp được Long nhan, chí nguyện bình sinh được thỏa, cúi xin bệ hạ đi chuyến này hết sức mẫn cán, toàn thu hoạch thắng lợi Thiếp tuy
là bô liễu m ong manh cũng nguyền đem sức mọn mặc nhiên phù tá Bệ hạ; ngày khải hoàn, thiếp xin chực ở đây để bái yết
Sau khi tinh giấc, tăng thống Huệ Lâm Sinh giải ma, cho rằng thần nói thác sinh
trên cây, ở làng Thủy Vân nên cho người tìm thấy được một cái cây, đầu giống hình người, hình như cỏ dấu sơn cũ như đã thấy trong mộng Vua mới lập hiệu là Hậu Thô
chuyền Không chỉ có thế mà suốt hành trình, lúc lâm trận, lại “như có Thần giúp, quả được đại thắng” Tuy nhiên, sau ngày khải hoàn, “ngự thuyền đậu tại chỗ cũ, sắc lệnh lập đền, gió mưa lại nổi lên như xưa” nên ngay sau khi về kinh, vua phải cho lập đền thờ ở làng An Lãng, “rất có linh ứng, hễ có người nào phỉ báng nguyền rủa, lập tức mắc phải tai họa K hồng chỉ có vậy, đến đời vua Lý Anh Tông, nhân trời đại hạn, quần thần xin đắp một cái đàn hình tròn ở Nam G iao đề tế trời, “thỉnh N guyên Quân làm đàn chủ” Đ en đây, thần N guyên Quân lại tiếp tục báo m ộng khi cho biết
“bản bộ có thần Câu M ang làm m ưa rất g iỏ i” nên mới có chuyện vua cho rước thần Hậu Tắc phối thờ với trời, thần Hậu Thồ phối với đất, lập đàn ở Nam G iao mà đảo,
“quả nhiên đư ợc mưa to xối xả” Vua sắc Hậu Thồ Phu Nhân có Câu M ang Thằn Quân là chủ về v iệ c mùa xuân, từ nay về sau phàm đến lễ lập xuân, có con trâu đất phải đem v ề nạp ở đền thờ (Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh tập, Lê Hữu Mục dịch,
1959, bản điện tử [ttp://w w w lichsuvietnam info], 110 trang, tr 71-72).
2 Lê Đình Hùng, ‘T iế p biến văn hóa Việt - Chiêm trên vùng Thuận Hóa qua dấu ấn
danh xưng của một vị nữ thần”, trong Văn hỏa Nghệ thuật miền Trung: Hành trình 10 năm tiếp cận (K ý yếu hội thảo khoa học) Huế, Phân Viện Văn hóa N ghệ thuật Việt Nam tại Huế, 2009.
Trang 4Sử sách ghi nhận đền Chế Thắng phu nhân ớ Hà Tĩnh là nơi thờ
bà phi Nguyễn Thị Bích Châu, tự nguyện hiến sinh đế cầu mong cho đợt Nam chinh năm 1377 của vua Trần Duệ Tôn thắng lợi Sự kiện
này không thấy được đề cập đến trong Toàn thư, phần nói về Trần
Duệ Tôn
Tương tự là Lê Lợi năm 1425 từng hiến tế bà vợ thứ ba (mẹ vua Lê Thái Tông) cho thần Phổ Hộ ở sông Lam, cũng với ý nghTa trấn an quân tình và cầu mong cho một trận thắng có ý nghĩa bản lề trong chiến cuộc \ Một ý đồ tương tự cũng đã được áp dụng sau đó hơn trăm năm ở vùng phên dậu phương Nam, với một nhân vật lịch sử đặc biệt quan trọng cho
xứ Đàng Trong: Tiên chúa Nguyễn Hoàng, mà phần sau, chúng tôi sẽ
4 À ạ
đe cập
Đền Hà Lồ ở sông ô Lâu vẫn tồn tại tục hiến tế người chưa xa theo
ghi nhận của Ô châu cận lụ c 3
Như vậy, trên vùng đất mới phương Nam, tiếp xúc với những tập tục, lễ nghi xa lạ, người Việt vẫn tiếp nhận và từng bước thực hành, nhưng đã mang một lớp áo Việt
1 Toàn thư, bản dịch của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, H: Nxb Khoa học xã hội,
1998, t II, tr 156 - 163 Xem thêm Nguyễn Thư Hiền, Chế thắng Phu nhân, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh xb, 2006.
2 Sự kiện này cũng không thấy Toàn thư đề cập nhưng Lam Sơn thực lục lại nói rất rồ: Tới thành cửa sồng Hưng N guyên, chỗ ấy có đền thờ thần (tục gọi là thần Quả) Nhà vua đêm chiêm bao thấy thần nhân nói với nhà vua rằng: Xin một người vợ lẽ của tướng quân sẽ xin phù hộ tướng quân, đánh được giặc N gô, để gây nên nghiệp Đe Ngày mai nhà vua vời các vợ lẽ đến hỏi rằng: - Ai chịu làm vợ lẽ cho Thần? Ta được thiên hạ sẽ truyền cho con làm thiên tử! Khi ấy mẹ vua Thái Tồng húy là Trần Thị
N gọc Trần, quỳ xuống nói với nhà vua rằng: - Túc hạ giữ đúng lời giao ước, thiếp xin chịu nhận việc ấy N gày sau chớ phụ con thiếp Nhà vua giao ước với các quan văn, võ,
y như lời ấy N gày 24 tháng ba, nhà vua giao N gọc Trần cho thần Phổ Hộ bắt lấy, chết ngay trước mắt! Đến khi bình giặc N gồ, nhà vua lên ngôi, nói rằng: "Ta là chúa Bách Thần!" Sai người động Nhân trầm là Lê c ố đem hài cốt về đến xã Thịnh Mỹ Chiều đến chưa kịp qua sông, ngủ ở nơi chợ! Một đêm mối đùn thành đống đất, lấp lên huyệt thành mộ Sứ già thấv điềm lạ về tâu Nhà vua nói: - Thần nhân đã y lời hẹn! Liền truyền ở lại nơi ấy, lập điện hiển nhân đề phụng thờ Áy là đức cung từ Hoàng Thái Hậu (Nguyễn Trãi, 1956, Lam Sơn thực lục, bản dịch Bảo Thần, Nxb Tân Việt, in lần thứ ba,lr 14).
3 V ô danh thị, Ỏ châu cận lục, Dương Văn An nhuận sắc tập thành, Bùi Lương phiên dịch, Văn hóa Á châu xb, 1961, tr 76.
Trang 5Sự tiêp xúc văn hóa giữa người Việt di cư từ miên Băc và các cộng đông tộc người bản địa tiền trú trên vùng đất này diễn ra suốt một quá trình lịch sử dài lâu, mà buối đầu, người Việt vẫn còn là thiểu số
Thủy thiên ban cho thấy điều đó qua nỗi lo của ông Phạm Quán: “Ở đây
người Chiêm Thành đông, người mình ít, sợ sau này sinh hạ con cháu, người Sở kẻ Tề nhuốm theo phong tục họ Cứ như chồ ngài đang ở, người mình nhiều, người Chiêm Thành ít, ngày sau họ sẽ hóa theo ta, có nên thuần phong mỹ tục Vậy ta xin được đến đày ở nhập với ông, ông
có đồng ý không?” 1
Chính thức thì năm 1499, nhà Lê còn ban hành chiếu chi cấm người Việt kết hôn với phụ nữ bản địa: “Tháng 8, ngày 9 (Kỷ Mùi - 1499), có chiếu rằng: Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu”2 Trước đó, tháng 10 năm Giáp Dần (1374), đã có chiếu cấm quân dân không được mặc áo, chải đầu theo người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm, Lào3
Sẽ có nhiều cách lý giải nguyên nhân chọn Ải Tử làm điểm đứng chân đầu tiên của chúa Nguyễn Hoàng nhưng chúng tôi cho rằng, ngoài vị thế của cảng Cửa Việt đương thời trong vai trò đầu cầu thông thương của một huyết mạch giao thông thủy bộ sang tận Ai Lao (qua ải Ai Lao, tức Lao Bảo và con đường 9 ngày nay), vẩn đề văn hóa và tín ngưỡng phong tục phải cần được chú ý trước tiên bởi trên một vùng đất hoàn toàn lạ lẫm, tất yếu buộc ông phải hành xử vô cùng thận trọng Ngay từ lúc mới đến Ái Tử, chúa Nguyễn Hoàng đă
rất bối rối trước hiện tượng người dàn bản địa mang 7 chum nước đến
vẩy mừng tân trấn thủ, nếu không có lời giải thích rất có ý nghĩa của vị
1 Đây là một tư liệu đặc biệt quí hiếm, chứa đựng nhiều thông tin tư liệu rất giá trị về
bối cảnh giao lưu văn hoá buổi đầu trên vùng đất Thuận Hóa, hiện lưu giữ tại nhà thờ
họ Bùi làng Câu Nhi (Hải Lăng, Quáng Trị), khởi viết nãm Thuận Thiên 2 (14 2 9 ) bởi
vị thúy tố Bùi Trành, qua sáu lần sao lục, bản gần đây thời Tự Đức, Khải Định (Bùi Trành, Thuý thiên bán, lưu giữ tại Nhà thờ họ Bùi làng Câu N hi, Hải Lăng, Quảng Trị, bàn dịch cùa Bùi Hoành).
2 Toàn thư, bàn dịch cùa Viện Khoa học xã hội Việt Nam, H: Nxb Khoa học xã hội,
1998, t Ill.tr 17.
3 Toàn thư, t II, tr 158.
Trang 6Sử sách ghi nhận đền Chế Thắng phu nhân ở Hà Tĩnh là nơi thờ
bà phi Nguyễn Thị Bích Châu, tự nguyện hiến sinh đê cầu mong cho đợt Nam chinh năm 1377 của vua Trần Duệ Tôn thắng lợi Sự kiện
này không thấy được đề cập đến trong Toàn thư, phần nói về Trần
Duệ Tôn '
Tương tự là Lê Lợi năm 1425 từng hiến tế bà vợ thứ ba (mẹ vua Lê Thái Tông) cho thần Phổ Hộ ở sông Lam, cũng với ý nghĩa trấn an quân
tình và cầu mong cho một trận thắng có ý nghĩa bản lề trong chiến cuộc 2
Một ý đồ tương tự cũng đã được áp dụng sau đó hơn trăm năm ở vùng phên dậu phương Nam, với một nhân vật lịch sử đặc biệt quan trọng cho
xứ Đàng Trong: Tiên chúa Nguyễn Hoàng, mà phần sau, chúng tôi sẽ
_ ị Ã A
đe cập
Đền Hà Lồ ở sông Ô Lâu vẫn tồn tại tục hiến tế người chưa xa theo
ghi nhận của Ô châu cận lục 3
Như vậy, trên vùng đất mới phương Nam, tiếp xúc với những tập tục, lễ nghi xa lạ, người Việt vẫn tiếp nhận và từng bước thực hành, nhưng đã mang một lớp áo Việt
1 Toàn thư, bản dịch cùa Viện Khoa hục xà hội Việt Nam , H: Nxb Khoa hục xã hội,
1998, t II, tr 156 - 163 Xem thêm Nguyễn Thư Hiền, Chế thắng Phu nhân, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh xb, 2006.
2 Sự kiện này cũng không thấy Toàn thư đề cập nhưng Lam Sơn thực lục lại nói rât rõ: Tới thành cửa sông Hưng N guyên, chỗ ấy có đền thờ thần (tục gọi là thần Quả) Nhà vua đêm chiêm bao thấy thần nhân nói với nhà vua rằng: Xin một người vợ lẽ của tướng quân sẽ xin phù hộ tướng quân, đánh được giặc N gô, để gây nên nghiệp Đe Ngày mai nhà vua vời các vợ lẽ đến hỏi ràng: - Ai chịu làm vợ lẽ cho Thần? Ta được thiên hạ sẽ truyền cho con làm thiên tử! Khi ấy mẹ vua Thái Tông húy là Trần Thị
N gọc Trần, quỳ xuống nói với nhà vua rằng: - Túc hạ giữ đúng lời giao ước, thiếp xin chịu nhận việc ấy N gày sau chớ phụ con thiếp Nhà vua giao ước với các quan văn, võ,
y như lời ấy N gày 24 tháng ba, nhà vua giao N gọc Trần cho thần Phô Hộ bắt lấy, chết ngay trước mắt! Đến khi bình giặc Ngô, nhà vua lên ngôi, nói rằng: "Ta là chúa Bách Thần!” Sai người động Nhân trầm là Lê c ố đem hài cốt về đến xã Thịnh Mỹ Chiều đến chưa kịp qua sông, ngủ ở nơi chợ! Một đêm mối đùn thành đống đất, lấp lên huyệt thành mộ Sứ giả thấy điềm lạ về tâu Nhà vua nói: - Thần nhân đã y lời hẹn! Liền truyền ở lại nơi ấy, lập điện hiển nhân đề phụng thờ Áy là đức cung từ Hoàng Thái Hậu (Nguyễn Trãi, 1956, Lam Sơn thực lục, bản dịch Bảo Thần, Nxb Tân Việt, in lần thứ
ba, tr 14).
3 Vô danh thị, Ỏ châu cận lục, Dương Văn An nhuận sắc tập thành, Bùi Lương phiên dịch, Văn hóa Á châu xb, 1961, tr 76.
Trang 7Sự tiếp xúc văn hóa giữa người Việt di cư từ miền Bắc và các cộng đồng tộc người bản địa tiền trú trên vùng đất này diễn ra suốt một quá trình lịch sử dài lâu, mà buổi đầu, người Việt vẫn còn là thiểu số
Thủy thiên bản cho thấy điều đó qua nồi lo của ông Phạm Quán: “Ở đây
người Chiêm Thành đông, người mình ít, sợ sau này sinh hạ con cháu, người Sở kẻ Te nhuốm theo phong tục họ Cứ như chồ ngài đang ở, người mình nhiều, người Chiêm Thành ít ngày sau họ sẽ hóa theo ta, có nên thuần phong mỹ tục Vậy ta xin được đến đây ở nhập với ông, ông
có đồng ý không?” 1
Chính thức thì năm 1499 nhà Lê còn ban hành chiếu chỉ cấm người Việt kết hôn với phụ nữ bản địa: “Tháng 8, ngày 9 (Kỷ Mùi - 1499), có chiêu rằng: Ke từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu”2 Trước đó, tháng 10 năm Giáp Dần (1374), đã có chiếu cấm quân dân không được mặc áo, chải đầu theo người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm, Lào3
Sẽ có nhiều cách lý giải nguyên nhân chọn Ái Tử làm điểm đứng chân đầu tiên của chúa Nguyễn Hoàng nhưng chúng tôi cho rằng, ngoài vị thế của cảng Cửa Việt đương thời trong vai trò đầu cầu thông thương của một huyết mạch giao thông thủy bộ sang tận Ai Lao (qua ải Ai Lao, tức Lao Bảo và con đường 9 ngày nay), vấn đề văn hóa và tín ngưỡng phong tục phải cần được chú ý trước tiên bởi trên một vùng đất hoàn toàn lạ lẫm, tất yếu buộc ông phải hành xử vô cùng thận trọng Ngay từ lúc mới đến Ái Tử, chúa Nguyễn Hoàng đã
rất bối rối trước hiện tượng người dân bản địa mang 7 chum nước đến
vẩy mừng tân trấn thủ, nếu không có lời giải thích rất có ý nghĩa của vị
1 Đây là một tư liệu đặc biệt quí hiếm, chứa đựng nhiều thông tin tư liệu rất giá trị về
bối cảnh giao lưu văn hoá buối đầu trên vùng đất Thuận Hóa, hiện lưu giữ tại nhà thờ
họ Bùi làng Câu Nhi (Hải Lăng, Quáng Trị), khởi viết năm Thuận Thiên 2 (1429) bởi
vị thuy tổ Bùi Trành, qua sáu lần sao lục, bản gần đây thời Tự Đức, Khải Định (Bùi Trành, Thuỷ thiên ban, lưu giữ tại Nhà thờ họ Bùi làng Câu Nhi, Hài Lăng, Quàng Trị, bản dịch của Bùi Hoành).
2 Toàn thư, bàn dịch cùa Viện Khoa học xã hội Việt Nam, H: Nxb Khoa học xã hội,
1998, t lil,tr 17.
3 Toàn thư, t II, tr 158.
Trang 8Tuy nhiên, điều đáng nói là từ chỗ trấn an quân tình, Nguyễn Hoàng đã từng bước tiến đến bình ổn dân tình, chính thức kể từ khi
nhận được sự trợ giúp của Bà Thiên Mụ năm Tân Sửu (1601), cũng thông qua truyền thuyết về một Bà Trời Áo Đỏ xuất hiện để loan báo cho sự có mặt của một vị chân chúa Cho nên, chùa Thiên Mụ ra đời, hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên: "Bấy giờ chúa dạo xem hình thế núi sông, thấy trên đồng bằng xã Hà Khê (thuộc huyện Hương Trà), giữa đồng bàng nổi lên một gò cao, như hình đầu rồng quay lại, phía trước nhìn ra sông lớn, phía sau có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp Nhân thế hỏi chuyện ngư ời địa phương, họ đều nói rằng gò này rất thiêng, tục truyền ràng: Xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh gò nói ràng: "Sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch" Nói xong bà già biến mất Bấy giờ nhân đấy mới gọi là núi Thiên Mụ Chúa cho nơi ấy có linh khí mới dựng chùa, gọi là chùa Thiên M ụ"1
Có lẽ hiện tượng/sự kiện Đức Mẹ hiện ra ở La Vang (Quảng Trị) hồi cuối thế kỷ XVIII, cũng là một phương thức tiếp nhận, tiếp cận tín ngưỡng thờ nữ thần vốn phổ biến đương thời và vận dụng quá trình thiêng hóa dưới góc độ tôn giáo Vượt qua Hải Vân sơn, lại có một hiện tượng tương tự, đó chính là trường hợp Thánh Mầu Trà Kiệu, rất gần
Mỹ Sơn và các nữ thần có tầm ảnh hường rộng lớn khác, như Bà Thu Bồn, Bà Chiêm Sơn v.v
chúa Năm Canh Tý (1600), mùa hạ, Thải tổ vượt biển về nam, thuyền đến cửa biên Thần Phù, dán nhiều người đi theo Nghe nói quân Trịnh đuôi riết, LJ D ĩ sai quàn bơi thuyền đi nhanh Dày thừng bị đứt Có người huyện Yên Mô là Phạm Thị Công dâng một sọt tơ sống đ ế làm thừng kẻo thuyền, thuyền bèn đi nhanh (Phạm Thị Công theo
sử quán triều Nguyễn, 1997, Đ ại Nam liệt truyện, tập I, Tiền biên, Huê.: Nxb Thuận Hóa, tr 83 - 84).
Xem thêm:
- Chapuis A (1932), “ Les lieux de culte du village de B ac-V ong-D ong”, Bulỉetỉn des Amỉs du Vỉeux Hue, N°4: 3 7 1 - 4 1 0
- Trằn Đình Hằng (2004), "Sự tích miếu Bà Tơ và lễ hội cầu ngư ở làng Bác V ọng Đông", trong Thông bảo văn hóa dàn gian, Viện Nghiên cứu Văn hóa: Nxb Khoa học
Xã hội In lại trong tạp chí Khoa học và Phát triên, Huế: Sở Khoa học công nghệ Thừa Thiên Huế, số xuân Ất Dậu 2005.
1 Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập I, bán dịch Viện Sừ học, H.: Nxb Giáo dục, tr 35.
Trang 9Chúng tôi đã từng chứng minh sự tiệm tiến tiếp thu một di sản tín ngưỡng tâm linh bản địa cùa người Việt trước ngôi đền thờ Bà Mẹ Xứ Sở: từ Poh Inư Nagar trờ thành Thiên Y A Na tích hợp các yếu tố Thiên thần, Nữ thần, Sơn thần, Thủy thần trong Ngọc Trản sơn từ, nâng cấp trờ thành vị Thánh Mầu của Thiên Tiên Thánh giáo thời Nguyễn mạt Điểm đáng chú ý là trước thời điểm 1601, người Việt di cư đã “Việt hóa” vị nữ thần Bà Mẹ Xứ Sở này bằng cách phiên âm, chuyến hóa làm cho Bà trở thành bà Thiên Mụ tạo cơ hội chín muồi cho truyền thuyết
Bà Trời Áo Đỏ càng bội phần ảnh hưởng, mà Nguyễn Hoàng đã kịp thời nắm bắt, khuyếch trương, từ đó chính thức chọn Phật giáo làm hệ tư tưởng chính thống cho vùng đất mới Nam Hà Quá trình chuyển hóa,
“cung thỉnh” Bà Mẹ Xử Sở Poh lư Nagar của các cộng đồng cư dân Champa bán dịa từ ngôi đền Y Na (tức Hòn Chén sau này), về sát cạnh vùng thủ phú Kim Long để tái thiết chùa Thiên Mụ, có thể được phân định thành các bước:
1 Poh Inư Nagar (giải thích ý nghĩa theo từ Hán Việt)
2 Thiên Y A N a ộ Bà Mẹ Trời Đất/Xứ Sở (giải thích theo lối chiết tự)
3 Bà Mẹ Trời Đất/Xứ Sở Thiên Mầu (rút gọn)
4 Thiên Mầu Thiên Mụ (sử dụng phương ngữ)1
Sự hiện diện hầu khắp tận làng xã của các vị nữ thần buộc cộng đồng Việt di cư phải có phương cách tiếp cận phù hợp, từ thái độ “kính nhi viễn chi”, dần dần đến “kính như tại” Những điểm thiêng, nơi trú
1 - Nguyễn Hữu Thông, N guyễn Phước Bào Đàn, Trần Đình H ằn g , Hai Cát: Đ ất và
- Trần Đình Hằng, "Sự tác động qua lại giữa làng xã và nhà nước: nghiên cứu trường họp Hài Cát" (Hương Thọ, Hương Trà, Thừa Thiên - Huế), trong Thông báo Văn hoá Dán gian, 2006, H: N xb Khoa học xã hội, 2007, tr 93 - 103.
v ề vấn đề này, có liên quan trực tiếp đến vùng nam Trung Bộ, có thể tham khảo Nguyễn Thế Anh, “The Vietnamization o f the Cham Deity Po Nagar”, in Essạys into Vietnamese Pasts, K.W Taylor and John K VVhitmore, Editors, Ithaca (N ew York): Cornell University Press, 1995 Bài lược dịch tiếng Việt “Thiên Y A Na hay sự tiếp nhận nữ thần Po Nagar cùa các triều đại Nho giáo Việt Nam ”, Xưa và Nay, số 4 (233)72005, tr 29-33.
Trang 10ngụ của các Yang, trước tiên, thường được tiếp cận, cụ thể hóa thành những điểm thờ Bà, cụ thể là Bà Dàng, có khi lại được chuyển hóa theo cấp độ Hán Việt cao hơn thành Bà Dương, gắn liền với những thạch tượng, đương nhiên trở thành Bà Thai Dương, chuyển hóa một cách trọn vẹn thành Thai Dương phu nhân theo đúng phẩm trật, điển lệ
phong kiến Xuất lộ đầy bí hiểm từ mặt đất, hoặc từ những lùm bụi rậm
rạp, danh từ/tính từ Lồi cũng thường được dùng để chỉ những đối tượng
thờ phụng vốn xa lạ với người Việt; hoặc định danh Hời theo lối chỉ dẫn những đối tượng “phi Việt” ở phương Nam, tựa như Nam man theo quan điểm phân biệt của một khu trung tâm, phát xuất từ chủ nghĩa Đại Hán Điểm đặc biệt cần chú ý ở đây chính là phương thức tiếp cận rất đặc thù của từng cộng dồng làng xã, để rồi có sự định danh rất phong phú và đa dạng nhưng chung qui, đa phần đều là những hiện thân của chính Bà Mẹ Xứ Sở
Quá trình này cũng có thể được phân định thành các bước cụ thể:
1 Yang (thần) <=> Bà Dàng
2 Bà Dàng Bà Dương
3 Bà Dương Dương Phu nhân (với những thạch tượng, sẽ thành Thai Dương Phu nhân)
Ngôi miếu Quảng Tế ở làng Phước Tích (Thừa Thiên Huế) thực ra chinh là miếu thờ Thiên Y A Na, nhưng người Việt như cố quên đi lớp áo bản địa tiền Việt để khoác lên bên trên lóp áo Việt khi dùng một mỹ tự
trong tước vị của Bà được triều đình phong kiến sắc phong là Quàng Te
(ân đức ban phát rộng rãi), để định danh ngôi cổ tự này
L Cadière đã có chuyên khảo về những công trình và kỷ vật Chàm rất công phu ở nhiều làng xã Trị - Thiên, từ vấn đề địa danh học quá trình định cư của các dòng họ khai canh sát tại di tích Chàm, thuận lợi cho việc
trồng lúa nước v.v 1 Người Việt nhanh chóng tiếp cận rồi Việt hóa
những địa danh, hiện tượng bằng các giai thoại, truyền thuyết mới, chỉ giữ
1 Cadière, L (1905), "Monuments et souvenirs chams du Quàng Trị et du Thừa
Thiên", B.E.F.E.O, Tom e V, N°1 - 2 : 185 - 195.