1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 12

“Một số vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

74 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 746,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa các quan niệm của các nhà tư tưởng Khai sáng Anh và Pháp, Immanuel Kant (1724-1804) đã đưa ra luận chứng triết học cho lý luận về nhà nước pháp quyền. Theo ông, quyền tối t[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THANH TRÀ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH TRIẾT HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2015-X

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THANH TRÀ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong suốt thời gian em học tập tại khoa, tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Trần Thị Điểu

đã giúp đỡ và hướng dẫn em rất tận tình trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô, cùng toàn thể các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2019 Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Trà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 7

1.1 Tư tưởng và học thuyết về nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại 7

1.1.1 Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kì cổ đại 7

1.1.2 Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kì trung cổ và thời kì Phục hưng 12

1.1.3.Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kì cận – hiện đại 15

1.2 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền 20

1.2.1 Khái niệm 20

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền 22

1.3 Quá trình nhận thức và đặc trưng cơ bản Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 23

1.3.1 Quá trình nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 23

1.3.2 Đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 37

2.1 Các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 37

2.2 Những thành tựu đã đạt được và những khó khăn trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 41

2.2.1 Những thành tựu đã đạt được trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 42

2.2.2 Những khó khăn trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 48

Trang 5

2.3 Một số giải pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 54 KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngay từ thời cổ đại, mầm mống của tư tưởng về Nhà nước pháp quyền

đã xuất hiện ở cả phương Đông và phương Tây với tư cách là một phương pháp giữ gìn trật tự xã hội, chống lại việc lạm dụng quyền lực trong xã hội Hiện nay, mô hình Nhà nước pháp quyền được coi là một cách thức tổ chức quyền lực nhà nước tối ưu dựa trên nguyên tắc công bằng, nhân văn và được nhiều quốc gia lựa chọn làm mô hình hoạt động của mình Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ lại có những điều kiện cụ thể khác nhau nên việc xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền ở từng nước cũng có những đặc điểm riêng biệt khác nhau Ở mỗi quốc gia, chế độ pháp quyền đều có sự điều chỉnh nhất định cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền đã hình thành từ rất lâu đời từ trong lịch sử nhân loại (cả phương Đông

và phương Tây) tuy nhiên hiện nay để phân định và đánh giá rạch ròi các tư tưởng này thì rất khó khăn với nhiều luồng ý kiến khác nhau

Thực tiễn xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền trên thế giới hiện nay đang đặt ra vấn đề cần có những khái quát chung về đặc trưng bản chất cũng nhờ tính quy luật cho sự phát triển của mô hình nhà nước này từ phương diện triết học Tùy theo đặc điểm kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa, lập trường giai cấp, quan điểm nhận thức với những nét đặc thù riêng đã tạo nên các mô hình nhà nước pháp quyền khác nhau Điều đó thể hiện tính đa dạng muôn vẻ của các quốc gia trong quá trình tồn tại và phát triển

Điều 2 Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) “Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức” Đó là cơ sở pháp lý và cũng là văn bản pháp luật quan trọng nhất để xây dựng đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội

Trang 7

chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời cũng thể chế hoá đường lối của Đảng đề ra trong “cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “chiến lược ổn định phát triển kinh tế - xã hội” Theo đó, Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước của giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tôn trọng và thực

sự bảo vệ quyền con người Do vậy việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trở thành một nguyên tắc bắt buộc trong hoạt động của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam để tạo cơ sở thực thi nền dân chủ

xã hội chủ nghĩa, đảm bảo vai trò của nhân dân trong công cuộc xây dựng và quản lí đất nước và là giải pháp cho các vấn đề về tổ chức quyền lực Nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân Xây dựng nhà nước pháp quyền vừa tạo nên thiết chế phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước toàn diện vừa tạo ra các cơ cấu tổ chức, pháp luật phù hợp, cơ chế tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các quyền, lợi ích của công dân, tổ chức và xã hội; đảm bảo cho các cơ quan nhà nước trở về với xã hội công dân, chấm dứt tình trạng Nhà nước đứng trên xã hội Như vậy, việc xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã trở thành nhiệm vụ cấp thiết của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nói chung cũng như đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nói riêng

Tuy nhiên cho đến nay, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn là một vấn đề có nội dung lớn, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu toàn diện cả về lý luận và thực tiễn Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” nhằm góp phần vào quá trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền hiện nay ở nước ta Nghiên cứu vấn đề này trong thời điểm hiện nay không chỉ có ý nghĩavề mặt lý luận

Trang 8

mà còn có ý nghĩa lớn lao trong thực tế để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề nhà nước nói chung và nhà nước pháp quyền nói riêng luôn được các học giả trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm nghiên cứu Nhà nước pháp quyền là một vấn đề không hề mới trong nhiều nghiên cứu khoa học bởi tính cấp thiết của nó trong việc đáp ứng nhu cầu cả về lý luận và thực tiễn đối với các lĩnh vực quan trọng trong đời sống như luật học, chính trị học… thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tôi xin phép được điểm qua một số các công trình ở các mảng nghiên cứu sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm nhà nước pháp quyền

Ở mảng nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình: Tư tưởng pháp trị của pháp gia với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhóm tác giả Doãn Chính, Nguyễn Văn Trịnh; bài viết Tư tưởng đề cao pháp luật trong quản lý xã hội theo học thuyết pháp trị 3 của Hàn Phi Tử của Đỗ

Đây là những công trình đi sâu nghiên cứu những tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở phương Đông, thông qua một số tư tưởng của các nhà triết học Trung Quốc thời cổ, trung đại từ đó chỉ ra ý nghĩa, giá trị của những tư tương này trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Trong công trình Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, ngoài phần giới thiệu về Montesquieu với triết học chính trị phương Tây, tác giả Lê Tuấn Huy đặt ra vấn đề nhà nước pháp quyền, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và học thuyết phân quyền của Montesquieu Trong đó, tác giả chú ý đến sự chuyển hóa nhận thức trong tiến trình đổi mới

và vấn đề phân quyền xã hội chủ nghĩa Trong cuốn sách chuyên khảo Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tác giả đã dùng

Trang 9

một dung lượng tương đối lớn để nghiên cứu quan niệm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tương ở cả phương Đông và phương Tây, phân tích sự thay đổi nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền trong lịch sử để từ đó xác lập nên nội dung chủ yếu của khái niệm nhà nước pháp quyền Công trình

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Trần Hậu Thành cũng phân tích quá trình hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền trong tiến trình lịch sử nhân loại, một số quan điểm và thực tiễn tổ chức nhà nước pháp quyền hiện nay trên thế giới, cũng như việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Bài viết Khái quát về tư pháp của mốt số nước trên thế giới của Nguyễn Đức Minh thiên về việc điểm qua những tư tưởng nhà nước pháp quyền ở phương Tây trong lịch sử, đặc biệt là quan niệm về quyền tư pháp Nhìn chung, các nghiên cứu thuộc nhóm này đã khảo cứu lịch

sử quan niệm về nhà nước pháp quyền, các tư tưởng chi phối quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền….Các tác giả khẳng định, trải qua quá trình phát triển nhà nước pháp quyền với các mô hình trên thế giới đã thể hiện tính hiệu quả và những giá trị ưu việt mà nhân loại hướng tới

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Những năm qua, các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại các diễn đàn đã đề cập nhiều đến vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Đây là định hướng cơ bản và quan trọng nhằm hoàn thiện nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đây là mảng nghiên cứu nhận được sự quan tâm nghiên cứu đông đảo của giới học thuật Việt Nam Có thể nêu tên một số công trình tiêu biểu sau: Công trình: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Văn Niên; sách chuyên khảo Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân của Nguyễn Trọng Thóc; Nguyễn Thúy Vân, “Nhận thức triết học về nhà nước pháp quyền và sự vận dụng nó

Trang 10

trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt nam hiện nay”; công trình Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Đoàn Trọng Truyến là những công trình nêu ra nội dung lý luận và thực tiễn quan trọng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Công trình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân – Lý luận và thực tiễn do Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn chủ biên khái quát lịch sử hình thành và phát triển của học thuyết nhà nước pháp quyền; chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và nhà nước pháp quyền Các tác giả nêu khái niệm, những đặc trưng cơ bản và chức năng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các yếu

tố quy định, chi phối quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Về cơ bản, phần lớn các vấn đề về nhà nước nói chung và về nhà nước pháp quyền nói riêng đã được các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước nghiên cứu rất khoa học và chi tiết, do đó, khóa luận tốt nghiệp xin được tổng hợp các nghiên cứu của các học giả đi trước và đưa ra một số ý kiến mới cho công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích của khóa luận và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Nghiên cứu một số vấn đề về nhà nước pháp quyền, từ đó tìm ra những phương hướng để xây dựng và ngày càng hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Với mục đích đó, nhiệm vụ chính của khóa luận là:

Thứ nhất, làm rõ một số nội dung cơ bản về nhà nước pháp quyền Thứ hai, khái quát về thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay; từ đó đưa ra một số giải pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp nhận thức cụ thể sau: Phương pháp văn bản học, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống nhất lịch sử và logic…

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu về một số vấn đề lý luận

cơ bản về nhà nước pháp quyền và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở

Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận chỉ nghiên cứu trong phạm vi các vấn

đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền và thực tiễn xây dựng nhà nước

pháp quyền ở Việt Nam từ khi đổi mới (năm 1986) cho đến nay

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo nội dung của khóa luận gồm có 2 chương, 6 tiết

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1.1 Tư tưởng và học thuyết về nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại

1.1.1 Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kì cổ đại

Ngay từ thời cổ đại, mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã xuất hiện ở cả phương Đông và phương Tây

Tư tưởng nhà nước pháp quyền ở phương Đông thời kì cổ đại

Trong lịch sử tư tưởng chính trị - pháp luật ở phương Đông thời kì cổ đại đã xuất hiện tư tưởng nhà nước pháp quyền tập trung chủ yếu ở Trung Quốc, được thể hiện trong quan điểm của một số nhà tư tưởng ở thời kì này

Đầu tiên không thể không nhắc đến Mạnh Tử (372 –289 TCN) Mạnh

Tử cho rằng, vua vâng mệnh trời để trị dân, nhưng mệnh trời phải hợp với lòng dân, vai trò chủ chốt là của dân và sự phụ thuộc của nhà cầm quyền vào nhân dân Nhà cầm quyền nếu có đạo đức sẽ cảm hóa được người dân Giải pháp chính trị của Mạnh Tử có thể gọi là một nhà nước nhân nghĩa Nền chính trị nhân nghĩa yêu cầu nhà cầm quyền phải coi trọng dân “Nhà nước cầm quyền phải thực thi điều nghĩa đối với người dân: phải coi dân làm trọng, lấy dân làm gốc, làm cho dân đủ ăn đủ mặc, có đời sống vật chất đầy đủ sung túc, giáo hóa đạo đức cho dân Một nhà nước nhân nghĩa đã gợi mở những tư tưởng về một nhà nước do dân và vì dân”[4,101]

Học thuyết thứ hai có thể kể đến trong hệ tự tưởng về nhà nước pháp quyền ở phương Đông thời kì cổ đại đó là học thuyết của Mặc Tử (479-

381TCN) Tư tưởng chính trị của Mặc gia mang tính nhân bản cao, và đã tiềm

ẩn những quan điểm về bình đẳng và dân chủ Kiêm ái có thể hiểu là vì hạnh phúc chung của mọi người Thuyết kiêm ái muốn hướng tới một trật tự

xã hội công bằng, mọi người yêu thương nhau không phân biệt đẳng cấp hay

Trang 13

bất cứ một lí do gì và cùng nhau xây dựng cuộc sống tốt đẹp, và xã hội đó cũng không có những cuộc chiến tranh Mục đích của chính sách kiêm ái là

vì người dân, có ý nghĩa xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc phục

vụ những lợi ích cho nhân dân Nhân dân được đặt vào trung tâm của những chính sách của nhà nước Có thể nói rằng đó chính là những tư tưởng

dân chủ sơ khai

Lão Tử (nhiều học giả hiện đại cho rằng ông sống vào thế kỉ IV TCN) nổi tiếng với thuyết vô vi về nhà nước và pháp luật Những quan điểm của Lão Tử về nhà nước vô vi có một mức độ trừu tượng hóa rất cao, không đơn thuần chỉ là những tư tưởng chính trị - pháp lý đơn thuần mà đã được nâng lên đến tầm triết học Lý thuyết vô vi của ông thực chất là muốn đặt vấn đề rằng nhà nước và pháp luật phải tôn trọng bản tính tự nhiên của con người, tự

do của con người Đây là một tư tưởng có nhiều nét gần gũi với lý thuyết tự nhiên của triết học phương Tây Học thuyết pháp lý tự nhiên chủ trương cũng giống như lý thuyết vô vi của Lão Tử rằng các đạo luật do nhà nước ban hành phải phù hợp với sự tự nhiên vốn có của con người, tôn trọng tự do của con người Lý thuyết vô vi, cũng như lý thuyết pháp lí tự nhiên có ý chống lại sự chuyên chế của nhà nước, nó vạch ra những giới hạn là những sự tự nhiên của con người, tự do của con người mà nhà nước và pháp luật của nhà nước phải tôn trọng, không được vi phạm, và chỉ có những tác động phù hợp Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý phương Tây có nội dung nhằm giới hạn sự lộng quyền của nhà nước,

sự can thiệp quá mức của quyền lực công vào khu vực tư nhân Nhà nước pháp quyền được chỉ ra nhiều dấu hiệu đặc trưng Nhưng suy cho cùng, thì những dấu hiệu đặc trưng của nhà nước pháp quyền đều hướng đến mục đích hạn chế sự lạm quyền của nhà nước, chống lại sự can thiệp quá mức của quyền lực nhà nước và xã hội dân sự, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của con người Nhà nước pháp quyền là một nhà nước thừa nhận và có nghĩa vụ bảo đảm tự do của con người, không được can thiệp vào đời sống cá nhân của con người Tư tưởng này rất gần với tư tưởng vô vi của Lão Tử Lý thuyết vô

Trang 14

vi của Lão Tử có sự gặp gỡ với học thuyết nhà nước pháp quyền Nếu như có

tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở phương Đông thì có lẽ đầu tiên phải kể đến tư tưởng của Lão Tử [4, 144 -145] Đối lập với thuyết đức trị của Khổng

Tử là thuyết pháp trị của các học giả phái pháp gia, sản sinh cùng thời với đạo Khổng Tử do Quản Trọng, Tử Sản, Thương Ưởng, Thân Bất Hại, Thận Đáo

đề xướng Sau này Hàn Phi Tử phát triển và hoàn chỉnh Nội dung cơ bản và quan điểm cai trị của phái này là: pháp trị là phương pháp duy nhất dùng để cai trị Vì vậy, học thuyết này không thừa nhận Nho giáo Theo thuyết pháp trị thì Vua trị nước phải có ba yếu tố: pháp, thế, thuật Nghĩa là: pháp luật, mệnh lệnh, chiếu chỉ của Vua là khuôn mẫu của thiên hạ; nhằm trừng trị, răn

đe, dân phải sợ, phải tuân thủ Vua phải có thế, phải tạo ra uy quyền tuyệt đối của mình Vua phải có thuật dùng người và chế độ thưởng phạt Một khi Vua

đã có đủ ba yếu tố pháp, thế, thuật thì vua phải chuyên quyền, độc đoán, thẳng tay dùng nghiêm hình phạt để cai trị Quản Trọng và Tử Sản chủ trương dùng pháp luật làm công cụ cơ bản để cai trị đất nước và đề ra nguyên tắc

“pháp bất vị thân”[19, 25], bất cứ ai đều phải tuân thủ pháp luật Pháp luật ban ra phải cẩn trọng và ít thay đổi, pháp luật của Vua phải rành mạch về luật

- hình - chính Đây là luận điểm của phái pháp trị chống lại phái đức trị là phái chủ trương “hình phạt chỉ dành cho hạng thứ dân mà bậc trương phu không phải chịu hình phạt”[1,17] Đến Hàn Phi Tử (280 -233TCN) là người phát triển tư tưởng pháp trị lên đỉnh cao, nội dung chủ yếu của tư tưởng này là lấy pháp luật thay cho lễ làm công cụ trị nước, an dân Theo Hàn Phi Tử, hình phạt không trừ bậc đại phu “pháp luật không thể a dua người sang cũng như dây mực không thể uốn theo gỗ cong (cho nên) trị tội thì không chừa các quan lớn, thưởng công thì không bỏ sót dân thường”[4, 165]

Mô hình pháp luật Trung Quốc đã ảnh hưởng lớn đến các quốc gia phương Đông thời cổ đại, trung đại, cận đại và cả đến ngày nay

Tóm lại, tư tưởng về nhà nước ở phương Đông thời kì cổ đại do có các quan điểm khác nhau, cách đánh giá xã hội khác nhau, chính vì vậy mà có nhiều luận giải khác nhau Nếu Nho gia chủ trương dùng Nhân trị hay “Đức

Trang 15

trị” để lấy “nhân nghĩa làm gốc” để cải tạo xã hội, để xoá bỏ tình trạng loạn lạc; Mặc gia lấy “Kiên ái”, “Thượng đồng”, “Thượng hiền” để xoả bỏ tình trạng đó; Đạo gia thì lại chủ trương “Vô vi nhi trị”, “thuận theo tự nhiên”,… Còn riêng đối với pháp gia, để trị nước họ đã dùng các căn cứ, thực tiễn lịch

sử xã hội và những tiền đề lý luận của mình và có chủ trương dùng pháp luật của Nhà nước làm công cụ quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của đời sống

xã hội và củng cố, cải tạo trật tự xã hội phong kiến Trung Hoa lúc bấy giờ Có thể nói, những tư tưởng này có để lại những giá trị nhất định về vấn đề xây dựng nhà nước ở Trung Hoa lúc bấy giờ và các nước phong kiến chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, song, phần lớn những tư tưởng trên vẫn có những hạn chế về thời đại, về văn hóa

Tư tưởng nhà nước pháp quyền ở phương Tây thời kì cổ đại

Arixtot (384 - 322 TCN) - nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại cho rằng pháp luật cần thống trị trên tất cả Theo ông thì yếu tố cấu thành cơ bản của phẩm chất chính trị trong luật pháp là sự phù hợp của tính đúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền; không thể có pháp luật nếu như việc cầm quyền không tuân theo pháp luật, chà đạp lên pháp luật, mưu toan thống trị bằng bạo lực

Pôlybi (Polybe, 201-120 tr CN) là người La Mã đầu tiên nêu lên những

tư tưởng quan trọng về Nhà nước pháp quyền Theo ông, ''không phải lý trí

mà kinh nghiệm đã dạy chúng ta rằng hình thức chính phủ hoàn hảo nhất là hình thức được tạo nên từ ba chính thể quân chủ, quý tộc và cộng hoà" Trong đó cơ quan chấp chính tối cao thuộc về vua, nguyên lão viện (nghị viện) thuộc

về quý tộc và các cơ quan dân biểu (hội đồng) thuộc về nhân dân (chủ nô) Phân bố và giám sát quyền lực hợp lý, chặt chẽ là hai yếu tố cơ bản bảo đảm một Nhà nước vững mạnh và phát triển quốc gia La Mã thành một đế quốc hùng mạnh

Xixêrôn (Ceceron, 106 - 43 TCN) cho rằng, Nhà nước là ''một cộng đồng pháp lý'' Nhà nước là của chung nhân dân và là trật tự chung Nhà nước

Trang 16

chỉ có ở nơi nào không có bạo lực và chuyên quyền Sự cần thiết của Nhà nước bắt nguồn từ bản chất trốn chạy sự cô đơn và khao khát đời sống cộng đồng của con người Công bằng là mệnh lệnh từ lý trí của con người mà Nhà nước phải tuân theo Pháp luật là ''lẽ phải chính trực phù hợp với bản chất có trong tất cả mọi sinh vật'' Pháp luật là công pháp giữ vai trò điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ''Phục tùng pháp luật là bắt buộc đối với tất cả mọi người” Xixêrôn đã xác định được pháp quyền tự nhiên, nhưng pháp quyền đó chưa tìm thấy điểm tựa trong hiện thực

Như vậy có thể thấy, ngay từ thời cổ đại đã có những tư tưởng đề cao vấn đề dân chủ như một hình thức Nhà nước Theo đó, Nhà nước chỉ là sự thể hiện quyền lợi chung của công dân và lấy việc phục vụ con người cá nhân và

xã hội làm mục đích ý tưởng về sự kết hợp giữa Nhà nước và pháp luật là cách tốt nhất để khách quan hoá Nhà nước, hạn chế ý muốn chủ quan của nhà cầm quyền Nhà nước tuân theo pháp luật là tuân theo ý chí chung của xã hội Xuất hiện yêu cầu về Nhà nước pháp quyền nhằm bảo đảm sự phát triển của kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm sự tồn tại của bản thân Nhà nước Bên cạnh đó, quyền lực Nhà nước dù của vua, của quý tộc hay của dân đều thông qua các

cá nhân cầm quyền và có xu hướng bị lạm dụng Quyền lực Nhà nước luôn luôn cũng có xu hướng bành trướng và hạn chế quyền tự do của con người

Để khắc phục tình trạng này cần phân biệt quyền lực Nhà nước thành các quyền khác nhau theo chức năng, nhiệm vụ của nó Cùng với tư tưởng quản lý

xã hội bằng pháp luật, tư tưởng phân chia, kiểm soát quyền lực trong một Nhà nước đã bắt đầu có những mầm mống xuất hiện

Socrates, Platon, Democritus, Arixtot, Polibius và Ciciro là những người đã đưa ra quan niệm về sự liên hệ tương tác giữa pháp luật và quyền lực nhà nước và về nhà nước như một tổ chức thực hiện hoạt động của mình trên cơ sở luật Theo họ, quyền lực nhà nước được xem là công bằng, khi nó thừa nhận luật pháp và đồng thời bị hạn chế bởi luật pháp Socrates, Polibius

và Ciciro thì đưa ra các luận điểm về vị thế quyền lực của luật như là sự kết

Trang 17

hợp giữa sức mạnh và luật pháp, về việc phân biệt giữa các hình thức cẩm quyền đúng đắn và không đúng đắn Democritus và các nhà ngụy biện thì đưa

ra các luận điểm về vai trò của luật pháp trong các loại hình nhà nước, về môì quan hệ giữa các quyền tự nhiên và quyền do ý chí xác lập Một số nhà ngụy biện đưa ra tư tưởng khởi đầu vềs ự bình đẳng của các cá nhân, về quyền tự nhiên Đặc biệt, Polybius (200-118 TCN), một sử gia Hy Lạp cổ đại đã đưa ra

tư tường phân quyền mà sau này được Montesquieu kế thừa trong tác phẩm

“Tinh thần pháp luật“ Ciciro (106 TCN – 43 TCN), một nhà tư tưởng chính trị nổi tiếng trong thời kỳ La Mã cổ đại, coi nhà nước là “công việc của nhân dân”, như là sự liên kết về mặt luật và như là “trật tự luật pháp chung”

Tư tưởng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ Hy Lạp, La Mã cổ đại có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và phát triển các quan niệmvề nhà nước pháp quyền sau này

1.1.2 Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kì trung cổ và thời kì Phục hưng

Trong suốt hơn một nghìn năm thời kỳ Trung cổ ở Tây Âu, mô hình nhà nước thần quyền ngự trị trong đó có sự thống trị công khai, toàn bộ của thần học và học thuyết nhà thờ Trong bổi cảnh đó, chưa xuất hiện lý thuyết chính trị tự do có khả năng phản ánh một cách rõ ràng sự xung đột giữa cá nhân và nhà nước Tuy nhiên, ngay trong lòng xã hội phong kiến, đã xuất hiện những lực lượng mới đề cao quốc gia có chủ quyền và quyền tự trị của cá nhân, gắn liền với sự hình thành đạo Tin lành và các tư tưởng nhân văn của thời kỳ Phục hưng

Trong thời kỳ Phục hưng ở Tây Âu, khi chủ nghĩa tư bản đang được hình thành để thay thế cho chế độ phong kiến đang dần suy tàn, xuất hiện các

tư tưởng và quan niệm mới hướng đến việc xây dựng lý thuyết về nhà nước pháp quyền, được khởi xướng bởi các nhà tư tưởng chính trị tiên phong đại diện cho thế giới quan của giai cấp tư sản thời kỳ đó như N B Machiavelli ở

Ý, Lev Sapega ở Lithuania và Jean Bodin ở Pháp

Trang 18

Trên cơ sở khái quát các kinh nghiệm hình thành và phát triển của các nhà nước qua nhiều thế kỷ, cố gắng lý giải nguyên tắc của chính trị, N.B.Machiavelli (1469-1527) xem xét nhà nước trong mối quan hệ giữa chính phủ và thần dân dựa vào nỗi sợ hãi và tình yêu của các thần dân Nhà nước trở nên vững chắc, khi chính phủ không tạo ra lý do đưa đến sự phẫn uất và các

âm mưu lật đổ, khi nỗi sợ hãi của các thần dân không chuyển thành lòng hận thù, và khi tình yêu không chuyển thành sự khinh bỉ Là người đầu tiên chú ý đến vai trò của vĩ nhân trong lịch sử, Machiavelli đề cao năng lực thực tế của chính phủ trong việc điều khiển các thần dân Trong tác phẩm nổi tiêng

“Quân vương” (hoàn thành năm 1513 và xuất bản năm 1532), Machiavelli đã

hệ thống hóa các tri thức về nhà nước và quản lý nhà nước, đưa ra các nguyên tắc giành quyền lực và duy trì chế độ quân chủ và nền cộng hòa[11] Cơ sở cho sự bền vững của nhà nước, theo ông, là việc bảo đảm an toàn cho cá nhân

và tính bất di bất dịch của sở hữu tư nhân Ông cho rằng, điều nguy hiểm nhất đối với nhà cầm quyền là động chạm đến tài sản của các thần dân, bởi vì đây

là yếu tố đưa đến sự hận thù Kế thừa tư tưởng của Polybius về sự xuất hiện của nhà nước và vòng tuần hoàn của các hình thức cai trị, Machiavelli ủng hộ hình thức nhà nước hỗn hợp (giữa chế độ quân chủ, chế độ quý tộc và chế độ dân chủ) Tuy vậy, ông vẫn coi nền chế độ quân chủ tuyệt đối là hình thức quản lý tốt nhất Trong các hình thức nhà nước, Machiavelli đề cao nền cộng hòa, vì nền cộng hòa có khả năng tốt nhất trong việc thực hiện quyền tự do và bình đẳng của công dân.Với việc tách chính trị khỏi thần học, đưa ra cách giải thích duy lý về nhà nước và pháp quyền, và chủ trương gắn nhà nước và pháp quyền với các lợi ích của các thần dân, quan niệm của Machiavelli về nhà nước đã có ảnh hường đáng kể đến các quan niệm sau này

Trong khi đó, các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền như phân chia quyền lực hay ưu thế của luật có thể thấy rất sớm ở Quy chế của Lithuania năm 1529, một trong những bộ luật được hệ thống hóa đầu tiên ở châu Âu được Lev Sapega (1557-1633), một nhà tư tưởng chính trị Lithuania soạn

Trang 19

thảo Theo Sapega, không phải con người, mà các luật thống trị trong quốc gia Trong quy chế này, ông chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Quyền lập pháp thuộc nghị viện, quyết hành pháp thuộc quốc vương hay quận vương, quyền tư pháp thuộc các tòa án trung ương và các địa phương

Trong tác phẩm “Sáu cuốn sách về nhà nước” xuất bản năm 1586, Jean Bodin (1530-1596) cho rằng, nhà nước là sự quản lý về mặt pháp luật được thực hiện bởi quyền lực tối cao đối với tập hợp các hộ gia đình và đối với các tài sản chung Theo ông, quyền lực tự chủ của nhà nước là quyền lực thường xuyên và tuyệt đối, không bị hạn chế bởi bất cứ điều kiện nào Chủ thể của quyền lực đó có thể chuyển nó cho người khác Quyển lực tự chủ của nhà nước có tính thống nhất, tức là nó không thể bị phân chia, không thể đồng thời thuộc về quốc vương, tầng lớp quý tộc và dân chúng Bodin chống lại quan niệm về hình thức nhà nước hỗn hợp được đưa ra bởi Polybius, Ciciro,

và Machiavelli Đưa ra ba kiểu nhà nước: dân chủ, quý tộc và quân chủ, Bodin cho rằng hạn chế chung của nhà nước dân chủ và nhà nước quý tộc là ở chỗ trong các kiểu nhà nước này, các phiếu bầu được kiểm, nhưng không được cân theo trọng lượng của phẩm hạnh Theo Bodin, chế độ quân chủ là kiểu nhà nước tốt nhất có thể giúp khắc phục cuộc khủng hoảng về chính trị

và tôn giáo, vì chế độ đó phù hợp với bản chất của quyền lực tự chủ, vói tính thống nhất và tính không thể bị phân chia của quyền lực đó Ông chỉ ra ba hạn chế có thể đối với quyền lực tuyệt đối, liên quan đến: (1) các luật do Thượng

Đế xác lập; (2) Các quy luật do giới tự nhiên xác lập và (3) các luật của con người, được xác lập bởi quyền lực tự chủ, bởi thỏa thuận chung và bởi các dân tộc [11]

Theo Bodin, mục đích của nhà nước không phải là mang đến hạnh phúc cho con người, mà là đảm bảo hòa bình bên trong, công bằng và sự hài hòa xã hội, đặc biệt là bảo vệ khỏi kẻ thù bên ngoài Kế thừa tư tưởng của Machiavelli, Bodin cho rằng, nguyên nhân của các xung đột xã hội là do sự

Trang 20

phân chia tài sản không đều, do cuộc đấu tranh của các đảng phái và do sự thiêu kiên nhẫn về tôn giáo

1.1.3.Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kì cận – hiện đại

Trong thời kỳ cận đại thế kỷ XVII – XVIII, xuất hiện một loạt quan niệm có tính cách mạng của các nhà Khai sáng Tây Âu về nhà nước pháp quyển Hugo Grotius (1583-1645) và Benedictus de Spinoza (1583-1645) ở

Hà Lan, Thomas Hobbes (1588 -1679), John Locke (1632-1704) ở Anh, B Montesquieu (1588-1679), Denis Diderot (1713-1784), Jean Jacques Rousseau (1712-1778) ở Pháp, Thomas Jefferson (1743-1826) ở Mỹ, v.v… Đây là các quan niệm nền tảng cho các cuộc cách mạng tư sản ở các nước phương Tây

Được coi là nhà lý luận đầu tiên của trường phái về quyền tự nhiên, xem thể chế pháp luật phong kiến là trái với bản chất con người, Hugo Grotius (1583-1645) đòi hỏi thể chế pháp quyền mới phải đáp ứng được các quy luật của lý tính Theo ông, mục đích của nhà nước là duy trì sở hữu tư nhân thông qua các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cho mỗi người quyền sử dụng các tài sản của mình phù hợp với tất cả mọi người Grotius coi khế ước xã hội là nguồn gốc của bất kỳ hình thức nhà nước nào, vì khi xây dựng nhà nước, nhân dân có thể lựa chọn một hình thức nhà nước nào đó, nhưng một khi đã chọn, nhân dân không thể không tuân thủ các nhà cầm quyền

Mặc dù là người bảo vệ chế độ quân chủ tuyệt đối ở Anh, phát triển quan niệm về nhà nước pháp quyền, Thomas Hobbes (1588 -1679) đã đưa ra những luận điểm tiến bộ về sự thông trị của pháp quyền trong đời sống xã hội, trong đó có luận điểm về bình đẳng hình thức trước pháp luật và luận điểm về tính bất di bất dịch của các khế ước Đặc biệt, theo Hobbes, quyền tự ảo của con người là quyền làm tất cả những gì mà luật không cấm [11] Với luận điểm này, Hobbes đã đóng góp vào việc hoàn thành cơ sở lý luận cho một nguyên tắc điều tiết về mặt pháp quyền các mối quan hệ xã hội

Trang 21

Chia sẻ quan niệm của Hobbes, John Locke (1632-1704) đã đưa ra tư tưởng về sự thống trị của pháp quyền, theo đó luật pháp được coi là có tính tối thượng, một khi nó phù hợp với các quyền tự nhiên, thừa nhận các quyền tự nhiên và các quyền tự do của cá nhân Các quyền tự nhiên của con người được Locke luận chứng, bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu Chúng được coi như những nguyên tắc cơ bản Nhiệm vụ của nhà nước là ở chỗ bảo vệ các nguyên tắc này Còn quyền tự do cá nhân của con người được Locke xem là quyền tự do theo đuổi mong muốn của mình mà luật không cấm

và không phụ thuộc vào ý chí độc đoán thường xuyên nào đó của người khác Mặt khác, John Locke đã đặt cơ sở cho học thuyết về phân chia quyền lực Để loại bỏ các khả năng lạm dụng quyền lực, theo ông, quyền lực nhà nước phải được phân chia thành một số quyền lực độc lập và việc tập trung toàn bộ quyền lực vào tay một số người là không được phép Một nhà nước dựa vào

sự thống trị của pháp quyền như vậy, là hoàn toàn đối lập với chế độ chuyên chế Theo đánh giá của Marx, John Locke là người thể hiện kinh điển các quan niệm pháp quyền của xã hội tư bản đối lập với xã hội phong kiến [11]

Liên quan đến đóng góp cho lịch sử tư tưởng phương Tây về nhà nước pháp quyền, phải kể đến tên tuổi của nhà triết học Hà Lan B.Spinoza (1632- 1677), một trong những người đầu tiên đưa ra luận chứng về nhà nước dân chủ Ông cho rằng, bị ràng buộc bởi các đạo luật, nhà nước phải đảm bảo các quyền và tự do thực tế của con người Theo ông, nhà nước chỉ hùng mạnh, khi nhà nước đảm bảo việc duy trì cuộc sống và việc thỏa mãn các lợi ích của mỗi công dân, và khi những người cầm quyền không xâm phạm đến sở hữu, an ninh, danh dự, tự do và các lợi ích khác của các thần dân

Các tư tưởng về nhà nước pháp quyền đạt được bước ngoặt đặc biệt ở các nhà Khai sáng Pháp, đặc biệt là B Montesquieu, Denis Diderot, Jean Jacques Rousseau

B Montesquieu (1588-1679) có thể coi là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử các học thuyết về nhà nước pháp quyền Công

Trang 22

lao của Montesquieu trước hết là ở chỗ đã hệ thống hóa các quan niệm mới về phân chia quyền lực Ông cho rằng, để ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng quyền lực, cần phải phân chia các quyền lực nhà nước trong mỗi quốc gia thành ba loại: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, rằng các quyền lực này có thể kìm chế lẫn nhau Theo ông, chính sự phân chia quyền lực, sự kiềm chế và đối trọng lẫn nhau của ba loại quyền lực này là điều kiện cơ bản cho việc đảm bảo các quyền và tự do chính trị của công dân trong mối quan

hệ với bộ máy nhà nước Sự phân chia quyền lực được ông coi là nguyên tắc pháp quyền mà bản chất của nó là không cho phép tập trung toàn bộ quyền lực nhà nước vào một trong ba loại quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền [11] Sau này, nguyên tắc này được xem là dâu hiệu quan trọng của một nhà nước dân chủ Quan niệm “tam quyền -phân lập” này của Montesquieu có ảnh hưởng rõ nét không chỉ đến các lý thuyết sau này về chế độ nhà nước pháp quyền, mà còn đến quá trình lập hiến và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở các nước phương Tây cho đến ngày nay Montesquieu đã được coi là người sáng lập của quan niệm phân quyền, mặc dù trước ông, những tư tưởng như vậy đã được J Locke ở Anh, và xa hơn nữa Polybius ở La Mã cổ đại đưa ra

Denis Diderot (1713-1784) là một nhà tư tưởng Khai sáng Pháp đưa ra những tư tưởng quan trọng về nhà nước pháp quyền Ông cho rằng, quyền lực nhà nước là sản phẩm của khế ước xã hội Để bảo đảm các quyền lợi và sự thông nhất ý chí và sức mạnh của tất cả mọi người, các cá nhân chuyển giao cho nhà nước phần nào sự phụ thuộc tự nhiên của mình Như vậy, quyền lực nhà nước phải dựa trên ý chí của nhân dân với tính cách là người có chủ quyền Ông viết: “Chỉ dân tộc mới là người có chủ chân chính; chi có nhân dân mới là người lập pháp chân chính, chỉ có ý chí của nhân dân mới là nguồn gốc của quyền lực chính trị” [11] Theo quan điểm của Diderot, mục đích chủ yêu của nhà nước là ở chỗ đảm bảo những quyền không thể tách rời và hạnh

Trang 23

phúc của các công dân Tư tưởng này sau đó được I Kant phát triển trong quan niệm của ông về nhà nước pháp quyền

Jean Jacques Rousseau (1712-1778) đã phát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền trên co sở kế thừa những nhà tư tưởng trước đó theo cách riêng của mình Quan niệm của Rousseau về nhà nước pháp quyển Rousseau đã dựa vào các quan niệm về quyền tự nhiên của con người, về quyền tự do và bình đẳng, về nguồn gốc của sự bất bình đẳng, đặc biệt là về khế ước xã hội, về ý chí chung và về quyền lực tối cao Theo Rousseau, con người, tạo hóa sinh ra có quyền tự do và bình đẳng, và những quyền đó về thực chất, trong bản chất con người là không thể tách rời, không thể chuyển nhượng [11] Ông coi tự

do và bình đẳng là hai mục tiêu cao nhất của các hệ thống lập pháp, hoàn toàn phù hợp với quyền tự nhiên bẩm sinh của con người Theo ông, với tính cách

là hiện thân của ý chí chung của toàn thể nhân dân, khế ước xã hội là một trong những giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng bất bình đẳng trong

xã hội Rousseau luôn đặt quyền lực nhân dân với tính cách là quyền lực tối cao ở vị trí cao nhất, chi phối các quyền lực khác Theo Rousseau, quyền lực tối cao là thống nhất và không thể phân chia được Tuy nhiên, để quyền lực tối cao có thể được thực thi một cách hữu hiệu và thống nhất, cần được phân định thông qua ba bộ phận hợp thành và không thể tách rời của nó Đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Rousseau viết: “Nhà lập pháp là kỹ sư sáng chế ra máy; ông vua chỉ là người thợ dựng máy lên và vận hành máy… Người lập pháp quyết không phải là một vị pháp quan hay một quốc vương” [11]

Đề cập đến khả năng lạm dụng quyền lực, Rousseau cho rằng, chính phủ cũng thường hay có xu hướng làm trái với quyền lực tối cao và ý chí chung của toàn thể dân chúng, không chịu cai trị theo pháp luật, thậm chỉ lấn át

cơ quan quyền lực tối cao Theo ông, để tránh nguy cơ này, tất yếu phải có sự phân định rạch ròi giữa các quyền lực chính trị trong một quốc gia: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp như những quyền lực độc lập không

Trang 24

thể để trong tay một người, một tổ chức Tư tưởng này của Rousseau sau này được áp dụng trong việc xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền và được phổ biến một cách hiệu quả trong thực tiễn chính trị ở nhiều nước phương Tây chống lại các nguy cơ độc tài về chính trị và tham nhũng về kinh tế

Kế thừa các quan niệm của các nhà tư tưởng Khai sáng Anh và Pháp, Immanuel Kant (1724-1804) đã đưa ra luận chứng triết học cho lý luận về nhà nước pháp quyền Đặt con người, cá nhân và quyền tự do ở vị trí trung tâm của nhà nước, Kant cho rằng, nguyên tắc quan trọng nhất của pháp quyền là ở chỗ nhân dân có đặc quyền đòi sự tham gia của mình vào việc xác lập trật tự pháp luật bằng quyền phúc quyết, thông qua hiến pháp thể hiện ý chí của mình [11] Theo ông, quyền tối thượng của nhân dân xác định quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền độc lập của tất cả các công dân trong quốc gia với tính cách là sự liên kết của tập hợp các cá nhắn tuân thủ các bộ luật của pháp quyền Đây là luận điểm thể hiện đóng góp của Kant cho việc phát triển học thuyết về nhà nước pháp quyền Nhà nưóc pháp quyền, theo Kant, chỉ có ở nơi mà bộ máy nhà nước được vận hành trên cơ sở quyền hiến định, phù hợp với ý chí chung của nhân dân, nơi mà không có việc hạn chế các quyền công dân như quyền tự do cá nhân, tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, tự do hoạt động kinh tế Theo quan niệm của Kant, công dân trong nhà nước pháp quyền phải có khả năng buộc những người cầm quyển phải thực thi luật một cách chính xác Cũng như Locke và các nhà tư tưởng Khai sáng Pháp, Kant gắn cơ cấu pháp quyển với việc phân chia quyền lực thành quyền lập pháp thuộc nghị viện, quyền hành pháp thuộc chính phủ và quyền tư pháp được thực thi qua xét xử của các hội thẩm được nhân dân bầu ra Theo Kant, cách thực tổ chức quyền lực như vậy cần bảo đảm không chỉ sự phân chia quyền lực, mà còn sự cân bằng quyền lực

Có thể nói, quan niệm của I Kant về nhà nước pháp quyền có ảnh hưởng đáng kể đến sự phất triển của tư tưởng chính trị – pháp quyền và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở nhiều nước phương Tây

Trang 25

Ở George VVilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) có thể thấy rõ ảnh hưởng của quan niệm Kant về nhà nước pháp quyền Hegel coi nhà nước cũng chính là pháp quyền, bởi vì nhà nước thừa nhận “tất cả các quyển còn lại của cá nhân, gia đình và xã hội” [12,185] Đề cao nhà nước thành cái tuyệt đối vượt lên trên cá nhân và xã hội, Hegel cho rằng, nhà nước đó có trước xã hội công dẫn, là tổ chức hoàn thiện nhất của đời sống xã hội, trong đó tất cả đều được xây dựng trên cơ sở luật Coi đây là hạn chế chủ yếu của quan niệm của Hegel về nhà nước, Karl Marx cho rằng, xã hội là có trước nhà nước, rằng nhà nước chi là sản phẩm và kết quả của sự phát triển xã hội Mặt tích cực của quan niệm của Hegel về nhà nước là ở chỗ chống lại tình trạng tùy tiện vô luật trong việc sử dụng bạo lực dưới mọi hình thức từ phía các cá nhân, các phe phái chính trị và quyền lực nhà nước, và ở chỗ cho rằng, chức năng trấn

áp và bạo lực của nhà nước là không phải là quan trọng Mô hình hiện thực về nhà nước pháp quyền được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia phương Tây hiện nay là thành quả vĩ đại, là sự kết tinh các giá trị mang tính phổ quát mà nhân loại đã chắt lọc được từ thực tiễn lịch sử xây dựng các thể chế nhà nước qua hàng ngàn năm và từ các quan niệm về nhà nước pháp quyền trong lịch

sử tư tưởng phương Tây kể từ thời kỳ cổ đại đến nay

1.2 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

1.2.1 Khái niệm

Trong những thập kỷ gần đây, nhà nước pháp quyền là một trong các chủ đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau như triết học, chính trị học, luật học, sử học, xã hội học, hành chính công, v.v Đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, nhà nước pháp quyền được xem vừa là một cứu cánh, vừa là một mô hình nhà nước hữu hiệu nhất, dân chủ nhất và phù hợp nhất trong thời đại hiện nay như một phương tiện có khả năng khắc phục hoặc hạn chế tình trạng bất bình đẳng xã hội, bất công xã hội, tình trạng tham nhũng lãng phí, tình trạng lạm quyền lực của các

cơ quan quyền lực nhà nước như quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền

Trang 26

tư pháp, đặc biệt tình trạng chính phủ lạm quyền hoặc cướp quyền để mưu đồ cho lợi ích nhóm và lợi ích cá nhân Ở các quốc gia này, xây dựng nhà nước pháp quyền với tính cách là một nhà nước đảm bảo tốt nhất các quyền và tự

do con người, là một nhiệm vụ khó khăn, một sứ mạng lớn lao hướng đến một

xã hội phồn vinh, dân chủ, công bằng và văn minh, thể hiện tính nhân văn cao

cả của nhân loại trong thế giới hội nhập toàn cầu

Khái niệm “nhà nước pháp quyền” trong tiếng Việt, “Rule of law”,

“state of law” trong tiếng Anh lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1797 bởi nhà triết học Đức Immanuel Kant trong tác phẩm “Siêu hình học đạo đức”, và sau đó được sử dụng và phổ biến bởi Robert von Mohl trong cuốn sách “Khoa học cảnh sát Đức theo các nguyên lý của nhà nước pháp quyền xuất bản năm 1832

Vậy nhà nước pháp quyền là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng các quan điểm đó đều thừa nhận tư tưởng cơ bản sau đây: Nhà nước pháp quyền là nhà nước 1) tuyệt đối tuân thủ vào tính tối thượng của pháp luật nhân bản và công bằng, thể hiện ý chí chung, khế ước xã hội và chủ quyền tối cao của toàn thể nhân dân, 2) thực thi các hoạt động của mình trong giới hạn được xác định bởi pháp luật và có trách nhiệm bảo vệ các quyền con người cho các công dân của mình Tính tối thượng của pháp luật được hiểu là: không một tổ chức xã hội hay cá nhân nào được đứng trên pháp luật, hay ngoài pháp luật, được miễn trừ việc tuân thủ và thực thi luật Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền

là 1) có sự phân chia rạch ròi, kiểm soát quyền lực giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 2) Có quyền tư pháp hoàn toàn độc lập

Tuy nhiên, quan niệm về nhà nước pháp quyền đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại từ các tư tưởng ban đầu từ thời cổ đại

Nhà nước pháp quyền là nhà nước tạo ra được các điều kiện đảm bảo đầy đủ nhất các quyền và tự do của con người, là hình thức tối ưu của mối quan hệ tương tác giữa cá nhân, nhà nước và xã hội Với tính cách là cơ sở

Trang 27

cho các mô hình nhà nước pháp quyền tiên tiến trên thế giới, các quan niệm hiện nay về nhà nước pháp quyền chủ yếu dựa vào tư tưởng của C Montesquieu (1689-1755) và I Kant (1724-1804), đồng thời ở mức độ nào đó còn dựa vào tư tưởng của các triết gia khác thời kỳ cận đại như Hugo Grotius (1583-1645), Baruch Spinoza (1632-1677), John Locke (1632-1704), Denis Didro (1713-1784), Ịean Ịacques Rousseau (1712- 1778), v.v… Cho đến nay

kể hơn hai thế kỷ qua, những quan niệm ấy đã biên thành lý luận chặt chẽ về nhà nước pháp quyền và được hiện thực hóa ở hàng loạt nước trên thế giới

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

Qua nghiên cứu các quan niệm của các nhà triết học, có thể thấy rằng

tư tưởng về nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung có tính chất phổ biến của nhân loại Những giá trị phổ biến này thể hiện những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền và đánh dấu sự phát triển không ngừng trong nhận thức và thực tiễn tổ chức nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu vận động khách quan của xã hội Bằng việc tổng kết lịch sử về nội dung phạm trù khái niệm nhà nước pháp quyền, có thể chỉ ra một số đặc trưng cơ bản của

nhà nước pháp quyền như sau Thứ nhất, nhân dân là chủ thể quyền lực trong

nhà nước pháp quyền Thứ hai, nhà nước pháp quyền bảo vệ những quyền tự nhiên, căn bản của con người như quyền được sống, quyền tự do, bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc Thứ ba, pháp luật giữ vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và xã hội Nhà nước không những hành động theo pháp luật

mà còn phải đặt dưới pháp luật Sự hạn chế quyền lực của nhà nước có thể được đảm bảo theo cách thức tổ chức quyền lực nhà nước thành các cơ quan có năng lưc kiểm soát, hạn chế lẫn nhau Thứ tư, tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực, dùng quyền lực để kiểm tra và giám sát quyền lực Thứ năm, nhà nước pháp quyền kết hợp với xã hội dân sự thành một chỉnh thể thống nhất

Trang 28

1.3 Quá trình nhận thức và đặc trưng cơ bản Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.3.1 Quá trình nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trong chủ nghĩa xã hội hiện thực trước đây, chưa có nhà nước nào thể hiện đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà nước pháp quyền Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó chính là do nhận thức không đúng về nhà nước pháp quyền, coi nhà nước pháp quyền là nhà nước của giai cấp tư sản mà không thấy được tính hợp lý và tiến bộ của hệ thống cơ chế, thiết chế tổ chức

và vận hành bộ máy của nó Chúng ta có những sự rút kinh nghiệm, kế thừa

và phát huy từ quan niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiêu biểu là

tư tưởng ở Liên Xô và Trung Quốc

Cũng như nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác, việc nhận thức về nhà nước pháp quyền ở Liên Xô cũng bắt đầu khá muộn Cho tới những năm 70 –

80 của thế kỷ XX, “sự hiểu biết có tính lý luận về quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội và quan niệm về nhà nước pháp quyền còn là một vấn đề mới của nền khoa học” [28, 10] Những thông tin đầu tiên về quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền được Đảng Cộng sản Liên Xô công bố tại Hội nghị toàn liên bang lần thứ XIX (họp từ 28-6 đến 1-7-1988), trong đó nêu rõ quan niệm nhà nước pháp quyền gắn bó chặt chẽ với việc mở rộng tự do dân chủ Tuy nhiên,việc xây dựng nhà nước pháp quyền để thay thế cho chế độ quan liêu mệnh lệnh được triển khai ở Liên Xô một cách nóng vội, chủ quan, duy ý chí

đã đẩy xã hội vào cuộc khủng hoảng trầm trọng không thể cứu vãn được vào cuối những năm 80 – đầu những năm 90 của thế kỷ trước Thất bại của Liên

Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cho thấy tầm quan trọng to lớn của việc nghiên cứu, vận dụng những yếu tố hợp lý và tiến bộ của nhà nước pháp quyền vào quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

Qua việc nhân thức một cách nghiêm túc nguyên nhân sụp đổ của Liên

Xô và các nước Đông Âu, các nước còn lại trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây đã tập trung nghiên cứu về vấn đề nhà nước và cải cách bộ máy nhà

Trang 29

nước theo hướng pháp quyền Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc lần đầu tiên chính thức được đặt ra tại Đại hội XV của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1997, trong đó nêu rõ: “Quản lý đất nước bằng pháp luật, chính là quảng đại quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, dựa vào các quy định của Hiến pháp và pháp luật, thông qua các con đường và hình thức thực hiện quản lý các công việc của Nhà nước, quản lý sự nghiệp kinh tế văn hóa, quản lý công việc xã hội, bảo đảm các công tác của Nhà nước đều được tiến hành theo pháp luật, từng bước thực hiện chế độ hóa, pháp luật hóa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, làm cho chế độ

và pháp luật không vì sự thay đổi người lãnh đạo mà thay đổi theo, không vì

sự thay đổi quan điểm và sự chú ý của người lãnh đạo mà thay đổi theo”[24, 24] Quan điểm về một nhà nước pháp trị “dĩ pháp trị quốc” truyền thống đã tồn tại lâu đời trong xã hội Trung Quốc cũng đang dần được thay thế bởi quan điểm về nhà nước pháp quyền “y pháp trị quốc” hiện đại với các đặc trưng cơ bản là: pháp luật là tối thượng; hoạt động lập pháp phải đảm bảo tính dân chủ;

hệ thống pháp luật phải hoàn thiện; tư pháp phải đảm bảo công bằng; quyền lực nhà nước phải được chế ước; pháp luật phải giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ [24, 41-51] Tuy nhiên, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một quá trình hoàn thiện lâu dài, đòi hỏi các nhà lãnh đạo Đảng, nhà nước cũng như các nhà nghiên cứu Trung Quốc phải vừa tìm hiểu, vừa tổng kết và rút kinh nghiệm

Ở Việt Nam, có hình thành rất nhiều những quan niệm về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhưng trong khóa luận, tôi xin phép chỉ nêu ra hai quan niệm tiêu biểu nhất

Thứ nhất, quan niệm của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số quan niệm về

nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin Tuy nhiên, các hướng tiếp cận với khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hết sức đa dạng, phức tạp với nhiều các cách tiếp cận khác

Trang 30

nhau, do đó chưa đạt tới sự thống nhất về khái niệm “Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa” Có rất ít các công trình nghiên cứu đưa ra được một khái niệm cụ thể về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chủ yếu đưa ra các đặc trưng cơ bản thuộc nội hàm khái niệm này Có quan điểm cho rằng: nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước vì nó có cách tổ chức đối nghịch với các nhà nước độc tài, chuyên chế; đối nghịch với hình thức nhà nước được tổ chức theo phương pháp nhân trị và cũng đối nghịch với hình thức nhà nước được tổ chức theo pháp trị [4, 32-33] Nhà nước pháp quyền nói chung

và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng là hình thức tổ chức nhà

nước có nhiều khả năng nhất trong việc chế ước quyền lực nhà nước [2, 121]

Ngoài chịu sự ảnh hưởng của các quan niệm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta còn chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi tư tưởng của các nhà chính trị học Việt Nam như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trường Tộ, mà trực tiếp nhất chính là tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và sự thay đổi về mặt nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - người cộng sản Việt Nam đầu tiên – mặc dù Người chưa đề cập trực tiếp tới thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” nhưng đã tiếp thu giá trị phổ biến, tiến bộ trong tư tưởng của các nhà triết học

về nhà nước pháp quyền và vận dụng vào thực tiễn đất nước ta.Tư tưởng về nhà nước của Hồ Chí Minh có hạt nhân là quan điểm về quyền lực và chủ thể quyền lực nhà nước Nhà nước Việt Nam mới, theo Người, là nhà nước dân chủ, trong đó "nhân dân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy” [10, 218 –219] Đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, được nhân dân lập nên, hoạt động vì lợi ích của nhân dân và đặt dưới quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân

Trang 31

Luôn có ý thức và quan điểm rõ ràng về việc thiết lập quyền lực của nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằng, việc sớm xây dựng Hiến phápvà pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là đặc biệt cần thiết và quan trọng Ngay từ năm 1919, trong “Việt Nam yêu cầu ca”, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi phải ban hành Hiến pháp và khẳng định “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Điều này cho thấy Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã sớm chú ý đến Hiến pháp

và pháp luật,coi đó là công cụ bảo vệ công lý và quyền con người cũng như nhằm bảo đảm quyền tự do dân chủ cho các tầng lớp nhân dân, trên cơ sở công nông liên minh và do giai cấp công nhân lãnh đạo

Người khẳng định, "Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa

số nhân dân" [10,453] Vì vậy, để có một "chính quyền trong sạch", Chủ tịch

Hồ Chí Minh đòi hỏi pháp luật phải nghiêm minh, cần phải thẳng tay trừng trị những ai làm hại đến tính mệnh và lợi ích của dân, làm tổn hại đến thanh danh, uy tín của Đảng và Nhà nước Đồng thời, “pháp trị” phải nâng đỡ, phát huy cái tốt, cái thiện trong mỗi con người bằng cách kết hợp với “đức trị”, thể hiện ở nguyên tắc “có tình, có lý” trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, không vì công mà quên lỗi, không vì lỗi mà quên công

Về vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước, Hiến pháp năm 1946 được soạn thảo và ban hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng của Người về cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó nêu lên quan điểm về ba bộ phận cấu thành quan trọng của nhà nước là Nghị viện nhân dân (cơ quan lập pháp), chính phủ (cơ quan hành pháp) và toà án (cơ quan tư pháp) Người đặc biệt quan tâm tới vai trò, vị trí của Chính phủ trong

bộ máy Nhà nước, khẳng định “chế độ của ta là chế độ dân chủ Nhân dân là chủ Chính phủ là đày tớ của nhân dân Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ

Trang 32

lợi ích của nhân dân Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho" [10,368] Người cũng khẳng định tư tưởng về một Chính phủ toàn dân, liêm khiết, biết làm việc, một Chính phủ của toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái, coi trọng tính hiệu quả và thiết thực: "Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi" [10, 572-574]

Thứ hai là quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Có thể thấy, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt

Nam là một tất yếu khách quan trên con đường tạo lập một xã hội mới, đạt được các mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nhưng tính tất yếu đó chỉ có thể được thực hiện thông qua hoạt động chủ quan của con người, mà trước hết chính là sự nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam – đảng duy nhất cầm quyền, đại diện cho lợi ích của giai cấp

công nhân và nhân dân lao động cũng như toàn dân tộc Việt Nam

Tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, Đảng ta đã ý thức được nhiệm vụ của cuộc cách mạng do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là chuyển giao quyền lực cho nhân dân chứ không phải cho thiểu số thống trị Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, do hoàn cảnh chiến tranh, vấn đề nhà nước và pháp quyền đề cập nhiều trong văn kiện Đại hội I (3/1935), Đại hội II (2/1951), Đại hội III (9/1960) của Đảng ta Tuy nhiên, từ Đại hội II, trong Báo cáo chính trị của Đại hội II (tháng 2/1951), Đảng ta vẫn đề cập tới vấn đề “xây dựng Việt Nam dân chủ mới”, khẳng định: “Hình thức của nhà nước Việt Nam hiện nay là cộng hoà dân chủ nhân dân Nội dung của nó là nhân dân dân chủ chuyên chính” [5, 93 –94]

Từ đây, quan điểm về Nhà nước chuyên chính vô sản trở thành quan điểm chủ đạo về Nhà nước của Đảng ta trong suốt thời kỳ trước đổi mới, được thể hiện tiếp tục qua các Đại hội IV (12/1976), Đại hội V (3/1982), trong đó đặc biệt

Trang 33

nhấn mạnh:“tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, khẩn trương cụ thể hóa Hiến pháp mới bằng hệ thống pháp luật, các cơ quan quản lý nhà nước phải cải tiến phương pháp hoạt động, đổi mới phong cách làm việc, làm cho hoạt động quản lý có tính chiến đấu, sắc bén, dứt khoát và thiết thực” [6,115 –116]

Đại hội VI (12/1986) là Đại hội đổi mới về chất của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mọi mặt, trong đó có cả quan điểm về Nhà nước xã hội chủ nghĩa Báo cáo chính trị của Đại hội khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa Trong thời kì quá độ, đó là Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chức năng của Nhà nước là thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lí kinh tế, xã hội theo pháp luật” [13, 799] Tại Đại hội VI cũng đã nêu ra phương châm "lấy dân làm gốc" và cơ chế "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" nhằm bảo đảm chế độ nhân dân lao động tự quản lí Nhà nước của mình, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Có thể nói tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Đảng ta chỉ mới bắt đầu định hình từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 –1991) với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó không đề cập tới khái niệm Nhà nước chuyên chính vô sản nữa,

mà thay vào đó là khái niệm “Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân" và nền "dân chủ xã hội chủ nghĩa " Nhà nước chính là “tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức quản lí mọi mặt đời sống xã hội bằng luật pháp Sửa đổi

hệ thống tổ chức Nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lí Nhà nước" [7, 151]

Do đó, cần “tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo phương hướng nhà nước

Trang 34

thực sự là của dân, do dân, vì dân Nhà nước quản lý xã hội bẳng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch” [7, 152-153] Đảng cũng khẳng định: "Nhà nước Việt Nam thống nhất

ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với sự phân công rành mạch ba quyền đó" [7, 153] Đây là lần đầu tiên các chức năng lập pháp, hành pháp và

tư pháp được định danh “các quyền” trong văn kiện của Đảng, cũng là một trong những dấu hiệu đầu tiên trong việc nhận thức về nhà nước pháp quyền của Đảng ta

Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII (năm 1994) đã chính thức đưa vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vào văn kiện của Đảng Trong văn kiện của Đảng tại Hội nghị này đã nêu ra nhiệm vụ: "Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo” [8, 230] Đây là lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng chính thức nêu cụ thể những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ đây, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành một chủ trương có tầm chiến lược, bao trùm toàn bộ tổ chức, hoạt động của Nhà nước trong cho tới nay

Đại hội VIII (tháng 6 –1996) đã khẳng định quan điểm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước; quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đông thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức; tǎng

Trang 35

cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Đồng thời, để xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước vững mạnh, trong sạch, có hiệu lực và hiệu quả, Đảng ta đề ra 4 nhiệm vụ chính là: đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, cải cách hành chính Nhà nước, cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp, đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng Khái niệm “nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện Đại hội Đảng VIII đã khẳng định:

“nhà nước pháp quyền từ những ý tưởng ban đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rất ngắn ngủi trong những năm 1945 -1946, qua giai đoạn bước lùi do hoàn cảnh của hai cuộc kháng chiến, đến chỗ là những thể hiện lí luận

tự phát có yếu tố pháp quyền, rồi trở thành một quan điểm chưa gọi tên, nay chính thức được định danh Nhận thức về nhà nước pháp quyền đã đạt đến trình độ tự giác trong quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam" [17, 171-172]

Đại hội IX (tháng 4 –2001) đã thể hiện rõ sự tự giác trong nhận thức về nhà nước pháp quyền của Đảng ta khi khẳng định tính chất của nhà nước Việt Nam là “ công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật” [9, 131–132] Đồng thời, Đảng đề ra nhiệm vụ điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tách chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng

Trang 36

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006) của Đảng tiếp tục khẳng định mạnh mẽ đường lối xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Về phương hướng, Đảng ta nêu rõ: xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến

và hợp pháp trong các hoạt độngvà quyết định của các cơ quan công quyền

Theo phương hướng đó, Đại hội X nêu lên mục tiêu trước mắt là; đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên cả bốn mặt: chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ và phương thức hoạt động; định rõ những việc Nhà nước phải làm và bảo đảm đủ các điều kiện để làm tốt; mối quan hệ giữa các cơ quan của Đảng và cơ quan nhà nước; hiện đại hoá nền hành chính nhà nướcvới các nhiệm vụ cụ thể như: tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, của các cơ quan tư pháp; đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp; tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp

Ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên Quốc hội khóa XII, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh có bài phát biểu quan trọng, trong đó chủ yếu đề cập đến quan điểm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Dẫn Nghị quyết Đại hội X, Tổng

Bí thư khẳng định: mấu chốt của đổi mới phương thức lãnh đạo là Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, các nghị quyết, nguyên tắc giải quyết các vấn đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng

Trang 37

Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị Đề phòng và khắc phục khuynh hướng tổ chức Đảng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc làm thay, cũng như khuynh hướng các cơ quan Nhà nước thụ động, né tránh trách nhiệm, việc gì cũng xin ý kiến cấp ủy Đảng nhằm thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Như vậy, quan điểm về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự tổng kết những tinh hoa của lịch sử tư tưởng nhân loại, tiếp thu học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp quyền Đó là một quá trình đi từ nhận thức về vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội tới thừa nhận nhà nước pháp quyền, từ nhận thức được những yếu kém, khuyết điểm trong quá trình xây dựng mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tới thừa nhận tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội truyền thống Việt Nam Từ đó, những đặc trưng cơ bản của mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo xây dựng đã hình thành

1.3.2 Đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định trên

cơ sở kinh tế là tiền đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ sở chính trị là một chế độ dân chủ nhất nguyên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cơ sở xã hội là khối đại đoàn kết dân tộc - những tiền đề mang đặc thù Việt Nam Trên nền thực tiễn đó, sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta vào sự nghiệp xây dựng nhà nước theo hướng pháp quyền đã khẳng định nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và cũng chính nhờ có bản chất này mà thật sự có được tính nhân dân và tính dân tộc, phản ánh sự thống nhất giữa tính chính trị và tính nhân văn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đó là Nhà nước của dân,

Ngày đăng: 29/01/2021, 04:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tổng hợp (2001), “Xây dưng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”, Chương trình KHXH 05, Đề tài KHXH. 05.05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dưng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”, "Chương trình KHXH 05
Tác giả: Báo cáo tổng hợp
Năm: 2001
2. Nguyễn Đăng Dung (2008), Chế ước quyền lực nhà nước, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế ước quyền lực nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2008
3. Nguyễn Đăng Dung (2001), “Nhà nước pháp quyền, một hình thức tổ chứcnhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền, một hình thức tổ chứcnhà nước”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2001
4. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2009), Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2009
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2001
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 43, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2007
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 53, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2007
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
11. Nguyễn Vũ Hảo (2018), Giáo trình triết học phương tây hiện đại, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học phương tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Vũ Hảo
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2018
12. Nguyễn Vũ Hảo, Quan niệm về nhà nước pháp quyền 13. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 7, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Vũ Hảo, Quan niệm về nhà nước pháp quyền 13. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1996
14. Lê Tuấn Huy (2006), Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyềnViệt Nam, Nxb.Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyềnViệt Nam
Tác giả: Lê Tuấn Huy
Nhà XB: Nxb.Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
15. Trần Ngọc Liêu (2009), “Khái niệm nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Triết học, số 11/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm nhà nước pháp quyền”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Trần Ngọc Liêu
Năm: 2009
16. Nông Đức Mạnh (2004), “Ba mươi năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ”, Tạp chí Cộng sản, số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba mươi năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nông Đức Mạnh
Năm: 2004
17. Lê Hữu Nghĩa - Nguyễn Văn Mạnh (2001), 55 năm xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 55 năm xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Hữu Nghĩa - Nguyễn Văn Mạnh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
18. Nguyễn Văn Niên (1996), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Niên
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1996
19. P.S. Taranop (2006), 106 nhà thông thái, Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 106 nhà thông thái
Tác giả: P.S. Taranop
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
20. Trần Hậu Thành (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nxb. Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân, vì nhân dân
Tác giả: Trần Hậu Thành
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2005
21. Đào Trí Úc (1992), Tìm hiểu về nhà nước pháp quyền, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về nhà nước pháp quyền
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w