Qua nghiên cứu 30 năm lãnh đạo của Đảng, luận án rút ra một số đặc điểm trong quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ: Quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ bị tác động bởi nhiều yếu tố khác biệt; H[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Nguyễn Anh Cường
ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM
VỚI HOA KỲ (1976-2006)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62 22 56 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xanh
Hà Nội – 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 20
QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ 20
CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ (1976-1995) 20
1.1 Những đòi hỏi mới và quá trình cải thiện quan hệ của Việt Nam với Hoa Kz (1976-1986) 20
1.1.1 Khái quát quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trước năm 1976 20
1.1.2 Bối cảnh lịch sử và những đòi hỏi mới trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ 28
1.1.3 Những nấc thang trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ 34
1.2 Thúc đẩy hợp tác tiến tới bình thường hóa quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1986-1995) 47
1.2.1 Những nhân tố đòi hỏi bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ 47
1.2.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam 56
1.2.3 Tiến trình bình thường hóa 71
Tiểu kết chương 1 84
CHƯƠNG 2 87
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 87
QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ (1996-2006) 87
2.1 Chủ chương của Đảng trong phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kz 87
2.1.1 Bối cảnh lịch sử 87
2.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam 101
2.2 Đẩy mạnh quan hệ nhiều mặt với Hoa Kz 112
2.2.1 Quan hệ chính trị, ngoại giao và an ninh, quốc phòng 112
2.2.2 Quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác 127
Tiểu kết chương 2 142
CHƯƠNG 3 145
MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 145
3.1 Nhận xét 145
KẾT LUẬN 174
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 178
TÀI LIỆU THAM KHẢO 179
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới, là một thị trường khổng lồ, và là nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới với những tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khoa học quản lý, khoa học kỹ thuật, giáo dục Việt Nam đang trên con đường phát triển, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức, nên rất cần hợp tác với Mỹ để học tập, tranh thủ và kế thừa những thành tựu tiến bộ của họ
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986, Việt Nam đã thu được nhiều thắng lợi Mỹ là một nước bị ảnh hưởng nặng nề trong quá khứ với Việt Nam, do đó cuộc đấu tranh đi đến bình thường hoá và thúc đẩy quan hệ Việt Nam với Mỹ gặp rất nhiều khó khăn Hơn nữa, sự khác biệt về hệ thống chính trị, về văn hoá và sự hiểu biết lẫn nhau vẫn là những yếu tố bất lợi đối với quan hệ giữa hai nước Mặc dù vậy, với đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Việt Nam đã từng bước phá thế bao vây cấm vận của Mỹ, tích cực chủ động bình thường hóa và mở rộng quan hệ Việt - Mỹ, làm Mỹ từng bước công nhận và hợp tác với Việt Nam Điều này khẳng định tư duy chính trị nhạy bén, sâu sắc, linh hoạt và sáng tạo của Đảng ta
Năm 1978, Mỹ cấm vận toàn diện Việt Nam Năm 1995, Việt Nam đã thành công trong chủ động bình thường hoá quan hệ với Mỹ Năm 2001 hai bên bắt đầu thực hiện Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA) Năm 2006 quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) của Mỹ với Việt Nam có hiệu lực Sự tiến triển liên tục trong quan hệ giữa hai nước đã góp phần khẳng định và nâng cao vị thế cũng như uy tín của nước ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện để Việt Nam giải quyết tốt hơn một bước nữa trong tiến trình hội nhập với thế giới Tuy nhiên những kết quả trên vẫn chưa phản ánh đầy đủ khả năng, triển vọng cũng như tiềm năng của hai nước Có thể coi đó mới chỉ là những thắng lợi bước đầu Khó khăn và trở ngại không chỉ là đặc thù của quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, mà trong bất cứ mối quan hệ nào, sự tồn tại của mâu thuẫn là không thể tránh khỏi, cho dù đấy là quan hệ đồng minh hay quan hệ đối tác
Nghiên cứu một cách hệ thống toàn diện quá trình bình thường hóa, phát triển quan hệ hợp tác hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Qua
đó, làm sáng tỏ những chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng, những khó khăn hạn chế trong quan hệ giữa hai nước, góp phần tiếp tục hoàn thiện phương sách trong quan hệ với Hoa Kỳ; rút ra những kinh nghiệm bước đầu trong việc đẩy mạnh quan hệ với đối tác Mỹ, góp phần thúc đẩy sự hội nhập của Việt Nam vào khu vực và thế giới Chính vì vậy
chúng tôi đã chọn đề tài “Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hoá và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ
(1976 - 2006)” làm luận án tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến vấn đề quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu, chủ yếu tập trung vào những vấn đề sau:
Về quan hệ ngoại giao có các công trình tiêu biểu như: WWS Case Study, Diplomacy of Isolation United States Unilateral Sanctions Policy and Vietnam 1975-1995, (Olivrer Babson, 2002) - Chính sách trừng phạt cô lập đơn
phương về ngoại giao của Mỹ với Việt Nam 1975-1995 - Tác giả công trình này đã trình bày những tính toán của Mỹ khi thi hành chính sách ngoại giao nước lớn nhằm cô lập Việt Nam, cũng như xem Hà Nội như là nơi cân bằng chiến lược với Liên Xô và Trung Quốc Qua đó, luận án có thể khẳng định rõ ràng những tính toán lợi ích của Mỹ đối với Việt Nam là có thật và chính quyền Mỹ đã không thành công trong việc cô lập Việt Nam khi Việt Nam bước vào thời
kỳ đổi mới
Đặc biệt trong vấn đề này có Luận án Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2005) (luận án tiến sĩ lịch sử của Trần
Nam Tiến) đã trình bày và phân tích các sự kiện trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong thời gian từ năm 1995 đến
2005 Luận án này chỉ tập trung phản ánh quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh
tế, nhân đạo xã hội nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và chỉ nghiên cứu
Trang 4trong vòng 10 năm từ 1995 đến 2005 Mặc dù luận án của Trần Nam Tiến phản ánh chi tiết những hoạt động ngoại giao của Nhà nước Việt Nam với chính quyền Mỹ, nhưng đã không trình bày và phân tích được sự phát triển trong tư duy đối ngoại của Đảng nói chung và đối với Mỹ nói riêng
Về quan hệ kinh tế và các lĩnh vực khác có các công trình tiêu biểu như: Cuốn sách Quan hệ kinh tế Việt Nam- Hoa
Kỳ của Đỗ Đức Định (Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành năm 2000) Cuốn sách đã đi sâu tìm hiểu các quan hệ kinh tế
giữa hai nước trong ba thời kỳ chính, đó là Thời kỳ chiến tranh 1954 - 1975, Thời kỳ cấm vận và trừng phạt 1975 -
1995, và Thời kỳ bình thường hóa từ 1995 Trọng tâm nghiên cứu tập trung vào ba lĩnh vực chính là quan hệ thương mại, đầu tư và viện trợ
Cuốn sách Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hướng về phía trước do Nguyễn Mại chủ biên (Nhà xuất bản Tri thức, 2008)
nghiên cứu một số vấn đề lịch sử gắn với cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam đang có tác động đến quan hệ giữa hai nước; thực trạng của mối quan hệ hiện tại và xu hướng phát triển trong thời gian tới; trên cơ sở đó kiến nghị hệ thống các giải pháp cần thực hiện để mở rộng quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ
Cuốn sách Việt Nam - Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư của Nguyễn Thiết Sơn, (Nhà xuất bản Khoa học xã
hội, 2004) trình bày một cách khái quát, có hệ thống tiến trình bình thường hoá quan hệ kinh tế Việt Nam và Mỹ, những kết quả đạt được trong quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước, những vấn đề, những khó khăn bước đầu mà Việt Nam đang vấp phải và triển vọng quan hệ kinh tế Việt- Mỹ Với đúng như tên gọi của cuốn sách, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ mới chỉ tập trung được trên lĩnh vực thương mại và đầu tư
U.S - Việt Nam Relation: Background and Issues for Congress (Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: bối cảnh và những
vấn đề dành cho Quốc hội) của Mark E.Manyin (2008), đây là bản tập hợp thông tin quan hệ nhiều mặt giữa Hoa Kỳ và
Việt Nam cũng như sơ lược lịch sử quan hệ giữa hai nước từ năm 1975 đến 2008 nhằm phục vụ Quốc hội Mỹ Mark E.Manyin có đề cập đến quan hệ quân sự, quan hệ kinh tế và viện trợ kinh tế, tình hình nhân quyền và vấn đề di sản từ cuộc chiến tranh Việt Nam Bản báo cáo cũng cho thấy những đánh giá của người Mỹ về chiến lược và chiến thuật đằng sau những nỗ lực của Việt Nam nhằm nâng cấp quan hệ với Mỹ Bản báo cáo này đã giúp tác giả luận án trả lời cho câu hỏi vì sao người Mỹ lại cố gắng cô lập chính phủ cộng sản Việt Nam sau năm 1975 và tại sao hiện nay, Mỹ lại quan tâm đến mối quan hệ với Việt Nam
Các bài nghiên cứu: Mỹ - Việt Nam và quyền sở hữu trí tuệ của Steven Robinson (Châu Mỹ ngày nay số 3 năm 1998); Một số nét về quan hệ nông nghiệp giữa Mỹ và Việt Nam trong thời gian gần đây của Nguyễn Điền (Châu Mỹ ngày nay, số 5- 1997); Những ghi nhận sau bình thường hoá quan hệ Việt- Mỹ của Nguyễn Hữu Cát (Châu Mỹ ngày nay, số 1 - 1997); Quan hệ thương mại Việt - Mỹ sau 5 năm nhìn lại của Phạm Hồng Tiến (Châu Mỹ ngày nay số 5 - 2000); Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam của Trần Đình Vượng (Châu Mỹ ngày nay số 5 - 2000); Trao đổi khoa
học Việt - Mỹ về các vấn đề song phương và khu vực (Thông tin khoa học xã hội, số 4 năm 1998) đã chỉ ra những hoạt
động của hai nước trên những khía cạnh của kinh tế nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước…
Ngoài ra còn khá nhiều bài viết của các học giả người nước ngoài viết về mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
đăng trên Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam; Cùng với rất nhiều sách và tài liệu khác viết hoặc đề cập liên quan ít nhiều tới chính sách của Mỹ với Việt Nam hoặc của Việt Nam với Mỹ như Chính sách của Hoa Kỳ đối
với Asean trong và sau chiến tranh lạnh của Lê Khương Thùy (Nhà xuất bản khoa học Xã hội, năm 2003), Cuốn sách
này giới thiệu những nội dung chính sau: Chương 1: Mỹ - Đông Nam Á : Những tiền đề lịch sử, Chương 2: Chính sách của Mỹ đối với ASEAN thời kỳ chiến tranh lạnh (1967 - 1991), Chương 3: Chính sách của Mỹ đối với ASEAN thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1991 - 1995) Cuốn sách khái quát và phân tích sâu những dính líu của người Mỹ với các nước khu vực Đông Nam Á Vì thế trong quan hệ của Mỹ với Việt Nam, cuốn sách cũng có những thông tin lịch sử quan
trọng Cuốn Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh của Nguyễn Hoàng Giáp,
Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Thị Lệ (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội 2007), trình bày bối cảnh hình thành, nội
Trang 5dung, những bước điều chỉnh chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ thời sau chiến tranh lạnh Sự triển khai chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ ở Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh và tác động của việc triển khai chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á và Việt Nam Cuốn sách cung cấp cái nhìn tổng quát về chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ
đối với Việt Nam và Đông Nam Á
Các bài nói, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao cũng có rất nhiều giá trị trong việc khẳng
định nhiều quan điểm chủ trương và đường lối của Đảng trong quan hệ với Mỹ như “Tuyên bố của Thủ tướng Võ Văn
Kiệt về việc Tổng thống Hoa Kỳ Bin Cliton quyết định bình thường hóa quan hệ với Việt Nam” hay “Thư của Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương gửi ngài George W.Bush, Tổng thống hợp chủng quốc Hoa Kỳ (ngày 4 tháng 10 năm 2001)”…
Qua các bài viết, các đề tài với nhiều cách tiếp cận khác nhau, trên các lĩnh vực khác nhau đã cho thấy sự phong phú, đa dạng, những khó khăn, thuận lợi của các lĩnh vực, các ngành khác nhau trong những thời điểm lịch sử cụ thể giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, nhưng tất cả các công trình đó đều chưa giải quyết một cách trọn vẹn toàn bộ mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ từ sau năm 1975 đến nay Đặc biệt, chưa có công trình nào công bố và đề cập một cách hệ thống,
cơ bản, toàn diện, trực tiếp về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ trong thời gian từ năm 1976 đến 2006
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ
- Tập trung làm rõ quá trình bình thường hoá và phát triển quan hệ hai nước trong thời gian từ 1976 đến 2006
- Chỉ ra được những thành tựu và hạn chế trong quá trình bình thường hóa cũng như trong thời gian phát triển quan hệ giữa hai nước
- Rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với việc thiết lập và đẩy mạnh quan hệ với Hoa Kỳ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày các diễn biến trong quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ
- Phân tích những nhận thức, chủ trương và đường lối của Đảng trong các thời kỳ đã từng bước tác động đến quá trình bình thường hóa và đẩy mạnh hợp tác giữa hai Việt Nam và Hoa Kỳ như thế nào
- Tổng hợp, thống kê, phân tích những biểu hiện, thành tựu và hạn chế trong quan hệ hai nước để rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bối cảnh quốc tế và trong nước, những xu thế vận động của thời đại, những đòi hỏi của thời cuộc tác động tới quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước
- Chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, động thái và hành động của Mỹ trong từng giai đoạn thiết lập quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
- Những thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm của Đảng trong suốt quá trình bình thường hóa và thiết lập quan hệ giữa hai nước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhằm gỡ bỏ cấm vận, tiến tới bình thường hóa và phát triển quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ trong thời gian từ 1976 đến
2006 Sở dĩ luận án nghiên cứu từ năm 1976 vì đây là thời điểm đánh dấu sự thống nhất về mặt Nhà nước ở Việt Nam,
Trang 6cũng là thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ IV - lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Thời điểm kết thúc nghiên cứu của luận án năm 2006, là thời điểm đánh dấu quan hệ về kinh tế giữa hai nước chính thức hoàn toàn bình thường do Mỹ đã phê chuẩn áp dụng Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam vào tháng 12/2006
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
- Tài liệu liên quan đến đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, bao gồm các văn kiện của Đảng, các bài nói, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước,…
- Các tài liệu liên quan tới chính sách đối ngoại của Mỹ, bao gồm những cuốn sách do Mỹ xuất bản, các bài nghiên cứu của các học giả, các bài phát biểu của quan chức Chính phủ Mỹ,…
- Tài liệu được công bố trong các công trình của các tác giả trong và ngoài nước về quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ đã được in thành sách, được công bố trên các báo, tạp chí, hoặc trong hội thảo quốc tế
- Các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, tài liệu phục vụ cán bộ chủ chốt trong quân đội có liên quan tới đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên thế giới quan, phương pháp luận khoa học theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Sử dụng phương pháp lịch sử và lôgic, ngoài ra có sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh nhằm làm sáng tỏ nội dung của đề tài
6 Đóng góp của luận án
- Luận án làm rõ một cách hệ thống sự phát triển tư duy đối ngoại của Đảng với Hoa Kỳ và với thế giới, cũng như quan điểm của chính quyền Mỹ trong quan hệ với Đông Nam Á và Việt Nam
- Dựng lại quá trình lãnh đạo của Đảng tiến tới bình thường hóa trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1976 đến năm 1995 và thời kỳ phát triển quan hệ giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực từ năm 1996 đến năm 2006 Qua đó thấy được vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, những lợi ích và những khó khăn phải lường trước trong quan
hệ với Mỹ
- Bước đầu, luận án đưa ra một số nhận xét và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng có giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ
- Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu hay phục vụ giảng dạy cho những vấn đề có liên quan đến đề tài
7 Kết cấu của luận án
Đề tài “Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 2006)” gồm có 3 chương:
Chương 1 Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 1995) (67 trang)
Chương 2 Đảng lãnh đạo phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1996 - 2006) (60 trang)
Chương 3 Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử (29 trang)
Ngoài các chương, mục, luận án còn có phần Mở đầu (18 trang), Kết luận (4 trang), Mục lục (3 trang), Danh mục công trình của tác giả liên quan đến đề tài của luận án (1 trang), Tài liệu tham khảo (28 trang), Phụ lục (76 trang)
CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ (1976 - 1995)
Trang 71.1 Những đòi hỏi mới và quá trình cải thiện quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976-1986)
1.1.1 Khái quát quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trước năm 1976
Mốc lịch sử đầu tiên đánh dấu quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ là cuộc gặp gỡ giữa Hoàng tử Cảnh và đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Thomas Jefferson vào đầu năm 1787, tại Pari - Pháp,
Từ những cuộc tiếp xúc cho tới những năm sau dưới Triều Nguyễn, người Mỹ đã không trở lại Việt Nam
Trong thời gian nước Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Mỹ có đặt Lãnh sự quán tại Sài Gòn và Hà Nội Mãi cho đến khi chiến tranh thế giới thứ Hai bùng nổ (1939), Chính phủ Mỹ mới bắt đầu chú ý tới Đông Dương
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với cương vị là Chủ tịch và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã quan hệ với chính phủ Hoa Kỳ bằng những công hàm, thư, điện gửi Tổng thống H Truman và ngoại trưởng G Byrnes Nhưng Chính phủ Mỹ đã dần dần ủng hộ Pháp quay trở lại chiếm đóng Đông Dương Họ đã quyết định chọn con đường giúp Pháp để rồi tự mình lao vào “một cuộc chiến tranh làm mất lòng người và gây chia rẽ nhất trong thế kỷ của lịch sử nước Mỹ”
Từ tháng 4 năm 1975, sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Sài Gòn sụp đổ, chính quyền Mỹ tiếp tục thực hiện chính sách thù địch đối với Việt Nam Mỹ đặt toàn bộ quan hệ kinh tế với Việt Nam vào diện đối tượng của các quy định hạn chế vốn đã áp dụng với miền Bắc Việt Nam Đó là chính sách cấm vận và trừng phạt Việt Nam gần như toàn diện (15-5-1975)
Thế giới sau năm 1975
Từ những năm 1970, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ Nhiều công nghệ mới ra đời như tin học, vật liệu mới, năng lượng mới, tự động hóa… Những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ đã tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội, kể cả các mối quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của các nước
Việt Nam bước vào thời kỳ mới
Sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ mùa xuân 1975, một kỷ nguyên mới đã mở ra trên đất nước Việt Nam: hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước đi vào xây dựng trong hòa bình, quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội
Nước Mỹ sau cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973 đã làm cho Mỹ lâm vào cuộc khủng hoảng và suy thoái kéo dài đến năm 1982 Tuy bị khủng hoảng, song Mỹ vẫn đứng đầu thế giới về sự phát triển kinh tế
Tây Âu và Nhật Bản vươn lên, trở thành các trung tâm kinh tế thế giới, cạnh tranh với Mỹ Mỹ tiến hành điều chỉnh chiến lược: giảm cam kết ở bên ngoài, thúc đẩy hòa hoãn với các đối thủ chính, tập trung ưu tiên giải quyết các vấn đề trong nước để củng cố địa vị của Mỹ trong hệ thống tư bản chủ nghĩa
1.1.3 Những nấc thang trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ năm 1975 đến năm 1978
Tháng 6-1975, Chính phủ Việt Nam đã chủ động thương lượng với Mỹ về việc thiết lập quan hệ ngoại giao và yêu cầu Mỹ phải thực hiện các điều khoản của hiệp định Paris (1-1973) Nhưng chính quyền Ford đã bác bỏ yêu cầu của Việt Nam về vấn đề viện trợ.Trong thời gian 1975-1976 Mỹ đã ba lần phủ quyết đơn xin gia nhập Liên Hợp Quốc của Việt Nam
Đầu năm 1977, khi lên cầm quyền, Tổng thống Carter thi hành một số điều chỉnh trong chính sách đối với Việt Nam, chủ trương bình thường hoá quan hệ với Việt Nam Để thúc đẩy quá trình bình thường hóa, Việt Nam và Mỹ đã tiến hành hai đợt đàm phán tại Pari tháng 5-1977, và tháng 6-1977
Từ năm 1978, Việt Nam không đòi hỏi Hoa Kỳ phải đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng Việt Nam sau chiến tranh Nhưng lúc này, Mỹ quay sang câu kết với một số nước trong khu vực, tập
Trang 8hợp lực lượng bao vây, cấm vận Việt Nam Từ đó đến những năm 1990, Mỹ tiếp tục cùng các nước phương Tây, Trung Quốc và ASEAN bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam
Quan hệ Việt Nam Hoa Kỳ từ năm 1979 đến năm 1986
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, trong thời gian này cho dù Việt Nam đã rất cố gắng trong quan hệ với Mỹ nhưng “riêng với Mỹ, quan hệ chưa được cải thiện được là do chính sách thù địch của Oa-sinh-tơn”
Vin vào lý do Việt Nam “xâm lược” Campuchia và lợi dụng sự lo ngại của các nước ASEAN, Mỹ đã thổi phồng cái gọi là “mối đe dọa của Liên Xô qua bàn tay người thừa hành Việt Nam” Mỹ tiếp tục chính sách gây sức ép về chính trị, ngoại giao, bao vây kinh tế đối với Việt Nam, Campuchia và Lào
Lúc này, Việt Nam tiếp tục vừa đấu tranh chống chính sách thù địch, vừa đề cao cảnh giác với âm mưu diễn biến hòa bình của Mỹ
Nắm bắt xu hướng của chính quyền R Reagan, năm 1985, Việt Nam tuyên bố sẵn sàng đàm phán với Chính phủ
Mỹ để giải quyết vấn đề người Mỹ mất tích trong vòng 2 năm đã được dư luận ủng hộ và Chính phủ Mỹ nhanh chóng đáp ứng
1.2 Thúc đẩy hợp tác tiến tới bình thường hóa quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1986 - 1995)
1.2.1 Những nhân tố đòi hỏi bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Về phía Việt Nam, từ năm 1975 - 1985 Việt Nam gặp nhiều khó khăn chồng chất, vừa phải khôi phục nền kinh tế bị nhiều năm chiến tranh tàn phá nặng nề, vừa phải xây dựng đường lối công nghiệp hoá mới trong bối cảnh viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa có xu hướng giảm đi, trong khi cấm vận của Hoa Kỳ ngày càng tăng lên
Hợp tác với Mỹ Việt Nam hy vọng vốn đầu tư kỹ thuật công nghiệp, kinh nghiệm quản lý của Mỹ và đặc biệt là hy vọng tìm thấy một thị trường xuất khẩu quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam Quan hệ kinh tế Việt Nam Hoa Kỳ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Phía Mỹ có hai quan niệm khác nhau:
Loại quan niệm thứ nhất, cho rằng: Việt Nam không quan trọng đối với Mỹ, Loại quan niệm thứ hai thuộc về số đông, đánh giá Việt Nam có tầm quan trọng xứng đáng ở Đông Dương và Đông Nam Á
Song chính nhờ sự đổi mới toàn diện của Việt Nam và tình hình quốc tế sau chiến tranh lạnh, người Mỹ đã dần thay đổi nhận thức và muốn có quan hệ bình thường với Việt Nam Sự thay đổi này diễn ra từng bước tương ứng với quá trình thực hiện chủ trương đấu tranh của Đảng và nhà nước ta nhằm bình thường hóa quan hệ với Mỹ Nó được thể hiện tương đối rõ nét trong quá trình nới lỏng từng bước chính sách của Mỹ đối với Việt Nam cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX
Ngày 12-6-1986, Bộ Chính trị ra nghị quyết số 32 nhấn mạnh: chủ động tạo ra thế ổn định để tập trung vào xây dựng kinh tế, chủ động chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới dưới hình thức cùng tồn tại hòa bình giữa ba nước Đông Dương với Trung Quốc, với các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), với Mỹ, xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình ổn định và hợp tác
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đã xác định đối với Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt
Nam chủ trương “tiếp tục bàn bạc với Mỹ để giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện
quan hệ với Mỹ vì lợi ích của hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á”
Tháng 5-1988 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI thông qua Nghị quyết 13 nêu phương thức đấu tranh mới: “Chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu hiện nay sang đấu tranh và hợp tác trong cùng
tồn tại hòa bình” với tất cả các đối tác chính Nghị quyết chủ trương từng bước bình thường hoá quan hệ với Mỹ…
Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI (3-1990) chủ trương: “Tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm thêm bạn, bớt thù, giữ vững hòa bình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đẩy lùi từng bước
Trang 9chính sách bao vây, cấm vận đối với nước ta; kiên trì phấn đấu cho một giải pháp chính trị về Campuchia phù hợp với lợi ích cơ bản của cách mạng Campuchia, và hòa bình ổn định trong khu vực”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) trong bối cảnh đất nước và thế giới có nhiều thay đổi Tại
Đại hội này, đối với Mỹ, Đảng chủ trương “thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ”
Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ họp tháng 1-1994 đã kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết đại hội VII, trong đó
đã khẳng định “Đạt một số tiến bộ trong quá trình đấu tranh đòi Mỹ bỏ cấm vận và thực hiện bình thường hóa quan hệ” Báo cáo chính trị tại Hội nghị đã đề ra 8 nhiệm vụ trước mắt, trong đó nhiệm vụ thứ 6 là: Tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại
Từ năm 1986, Việt Nam chủ trương không đối đầu với Mỹ mà bàn bạc với Mỹ để từng bước cải thiện quan hệ với
họ Thực hiện tư duy đối ngoại đổi mới theo nghị quyết 13 Bộ chính trị (8-1988), quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được chú trọng cải thiện
Ngày 29-9-1990, hai bên đi đến nhất trí thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc giải quyết các vấn đề nhân đạo liên quan tới hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam Phía Hoa Kỳ đặc biệt nhấn mạnh sự quan tâm và ưu tiên của mình về vấn
đề MIA
Do thiện chí hợp tác của phía Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề mà Mỹ quan tâm (Campuchia, POW/MIA) nên từ nửa cuối năm 1990, phía Mỹ đã có điều chỉnh chính sách với Việt Nam tạo bước chuyển biến từ đối đầu sang đối thoại, mở đầu cho quá trình bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ
Đối với vấn đề Campuchia, sau khi Việt Nam rút hết quân tình nguyện về nước (9-1989); ký Hiệp định Paris về
Campuchia (10-1991), thì vấn đề Campuchia coi như được giải toả trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Đối với vấn đề POW/MIA, Việt Nam coi MIA là thuần tuý nhân đạo và tích cực hợp tác để giải quyết
Từ năm 1992, Việt Nam kiên trì thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ, phù hợp với nghị quyết đại hội
VII (6-1991) của Đảng “thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ”
Từ những sự tiến triển trong quan hệ, ngày 27-1-1994, Thượng viện Hoa Kỳ đã ủng hộ đề nghị của Tổng thống B Clinton về việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận đối với Việt Nam Trên cơ sở đó, ngày 3-2-1994, Chính phủ Mỹ tuyên
bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam
Vào ngày 11-7-1995 Tổng thống Mỹ ra tuyên bố chính thức bình thường hoá quan hệ với Việt Nam Ngay sau đó (12-7-1995) tại Hà Nội, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng long trọng tuyên bố: “sẵn sàng cùng chính phủ Hoa Kỳ thỏa thuận một khuôn khổ mới cho quan hệ giữa hai nước”
CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ (1996-2006)
2.1 Chủ trương của Đảng trong phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
2.1.1 Bối cảnh lịch sử
Sau khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, tình hình thế giới có nhiều biến đổi Trong khi đó, Việt Nam cũng có những cơ hội và thách thức lớn Lúc này, đối với thế giới, Mỹ chủ trương thực hiện đường lối chiến lược mới phù hợp với tình hình thế giới có nhiều biến đổi:
Vào thời B.Clinton cầm quyền (1993-2001), ông ta điều chỉnh chiến lược toàn cầu tập trung vào 3 hướng chính: 1 Xây dựng nền kinh tế Mỹ vững mạnh, giành lại vị trí lãnh đạo của Mỹ trong nền kinh tế thế giới; 2 Duy trì, củng cố ưu thế quân sự của Mỹ trên thế giới; 3 Thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài, mở rộng kinh tế thị trường tự do, phát huy ưu thế
về chính trị của Mỹ trên thế giới
Trang 10Dưới chính quyền B.Clinton, chiến lược ngoại giao mới của Mỹ được thể hiện trong những nội dung quan trọng sau: 1 Mỹ phải lãnh đạo thế giới; 2 Chính sách ngoại giao mới phải ưu tiên phục vụ chiến lược kinh tế phục hưng nước Mỹ; 3 Tăng cường, củng cố các nền dân chủ thị trường trên thế giới; 4 Ủng hộ lực lượng cải cách ở Nga, các nước SNG và Đông Âu, khuyến khích quá trình dân chủ hoá và tư nhân hoá, thúc đẩy chuyển sang nền kinh tế thanh toán tự do tư bản chủ nghĩa và nền dân chủ kiểu phương Tây, nhằm triệt để ngăn chặn sự phục hồi chủ nghĩa xã hội ở các nước này; 5 Giương cao ngọn cờ dân chủ, nhân quyền và thị trường tự do nhằm tập hợp lực lượng trên thế giới trong giai đoạn mới hiện nay; 6 Chuyển trọng tâm chiến lược an ninh quốc gia và chính sách ngoại giao sang đối phó với tình hình các khu vực, giải quyết các cuộc xung đột khu vực theo hướng có lợi cho sự lãnh đạo của Mỹ; 7 Thiết lập trật tự thế giới mới do Mỹ điều khiển
Năm 2001 G.W.Bush lên nhậm chức Tổng thống thứ 43 của nước Mỹ Chính quyền Mỹ tiếp tục thực hiện những
mục tiêu cơ bản của mình đó là mở rộng bá quyền ra toàn thế giới Nội dung này là sự tiếp nối của Chính sách an ninh
quốc gia - cam kết và mở rộng của Tổng thống Bill Clinton Ngoài ra Chính quyền Bush chuyển trọng tâm chiến lược
toàn cầu từ châu Âu sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam:
Mục tiêu căn bản và lâu dài trong chiến lược toàn cầu của Mỹ là thiết lập trật tự thế giới mới do Mỹ thống trị, áp đặt nền dân chủ và văn hóa Mỹ trên toàn thế giới Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, càng được Mỹ quan tâm nhằm để thực hiện mục tiêu nhất quán là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội
2.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ năm 1996, quan hệ Việt Nam với Mỹ được thực hiện theo chủ trương đối ngoại rộng mở như đối với các nước khác trên thế giới Trong mối quan hệ đặc biệt này, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương ưu tiên vì đây một trong những nước lớn và có ảnh hưởng mạnh mẽ trên thế giới nhằm mục đích chính là thực hiện thúc đẩy phát triển kinh tế có lợi cho cả hai bên nhưng vẫn luôn cảnh giác giữ vững an ninh, quốc phòng, bảo đảm độc lập, chủ quyền, cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hoà bình” Nhận thức rõ Mỹ là một nước phát triển, là một trung tâm kinh tế - chính trị và có ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế và an ninh trên thế giới, nên tại Đại hội VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu quan điểm
“coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới” Rõ ràng, quan điểm này xuất phát từ lợi ích của dân tộc là dành ưu tiên cho phát triển kinh tế Hơn nữa, Mỹ là thành viên đầy đủ và có tiếng nói quan trọng trong các tổ chức như APEC và WTO, vì thế Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VIII chủ trương: “Tiến hành khẩn trương vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC
và WTO… mở rộng thị trường Mỹ…” “Trong khi thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, chúng ta coi trọng việc xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài, nhiều mặt với Hoa Kỳ” Trong mối quan hệ nhiều mặt đó “hai bên thoả thuận trước hết cần thúc đẩy nhanh hơn các quan hệ kinh tế thương mại để đi tới bình thường hoá hoàn toàn mối quan hệ này như đã thoả thuận khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995” Tuy nhiên, Việt Nam cũng biết rằng Mỹ là nước đứng đầu trong các nước đế quốc và Mỹ “bao giờ cũng coi sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội và các nước xã hội chủ nghĩa là sự uy hiếp sống còn đối với chủ nghĩa tư bản… lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa, lật đổ lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, phủ định hình thái ý thức của chủ nghĩa Mác - Lênin, duy trì thế giới thống nhất theo chủ nghĩa tư bản” là mục tiêu lâu dài của mình Do vậy, ngày 27-11-2001 Bộ Chính trị ra nghị quyết số 07-NQ/TW chủ trương “kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh của đất nước, cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hoà bình” đối với nước ta” Cũng như trong quan hệ với các nước lớn phải xác định đúng “đối tác”, “đối tượng” để tạo thế đan xen lợi ích giữa các nước với
ta, tránh bị rơi vào thế đối đầu cô lập hay lệ thuộc Từ đó đối với Mỹ, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định trong nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (7-2003): chủ động đối thoại, khuyến khích xu hướng mong muốn duy trì, phát triển quan