Dù các nghiên cứu đều nhấn mạnh ảnh hưởng của thể thao đối với kết quả học tập, tự trọng, sức khỏe thể chất và tâm lý của học sinh và yêu cầu về thể thao trong nhà trường đều đươc phổ[r]
Trang 1MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG THỂ CHẤT VÀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở HỌC SINH: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
PGS.TS Đặng Hoàng Minh 1
Tóm tắt: Hoạt động thể chất có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe thể chất,
sức khỏe tâm thần và tự trọng ở học sinh Bài viết này tổng quan các nghiên cứu đa phân tích trên thế giới về mối quan hệ giữa hoạt động thể chất và sức khỏe tâm thần Bài viết cũng tổng hợp các chiến lược tăng cường hoạt động thể chất cho học sinh trong nhà trường ngoài khuôn khổ của môn giáo dục thể chất đã được chứng minh có hiệu quả và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Từ khóa: Hoạt động thể chất, sức khỏe tâm thần, học sinh, can thiệp
1 Đặt vấn đề
1.1 Tầm quan trọng của hoạt động thể chất đối sức khỏe của học sinh
Các hoạt động thể chất đều đặn đem lại nhiều lợi ích cho trẻ em và vị thành niên, bao gồm tăng cường hệ tim mạch, trao đổi chất, xương cơ, sự lành mạnh về tâm lý và kết quả học tập (Strong et al., 2005) Hoạt động thể chất đều đặn đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa các bệnh mạn tính khi trưởng thành, bao gồm tim mạch, ung thư, đột quỵ- ba bệnh dẫn đầu tử vong ở người trưởng thành trên 18 tuổi Thiếu hoạt động ở người trẻ tuổi có thể tăng nguy cơ suy hại sức khỏe như béo phì, tiểu đường, tim mạch, loãng xương (Janssen & LeBlanc, 2010) Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, trẻ em từ 5-17 tuổi cần có hoạt động thể chất ở mức
độ vừa và mạnh ít nhất 60 phút mỗi ngày Các hoạt động thể chất hàng ngày cần dưới dạng tiêu hao nhiều oxy và tăng nhịp tim (như đi bộ, bơi, đạp xe, chạy, leo núi, nhảy thể thao, v.v) Các hoạt động cường độ mạnh cần được kết hợp, bao gồm những hoạt động tăng sức mạnh của cơ và xương ít nhất 3 lần tuần (WHO, 2010)
1 Đặng Hoàng Minh, minhdh@vnu.edu.vn; ĐT: 01696941115;
Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Trang 21.2 Mối quan hệ giữa hoạt động thể chất và sức khỏe tâm thần ở học sinh
Các minh chứng cho thấy hoạt động thể chất không những tốt cho sức khỏe thể chất của mỗi cá nhân nói chung và trẻ em nói riêng, mà còn tốt cho sức khỏe tâm thần và sự lành mạnh về cảm xúc Chẳng hạn, hoạt động thể chất cải thiện tâm trạng và giảm các triệu chứng trầm cảm và lo âu (dẫn từ Penedo & Dahn, 2005) Những cá nhân được chẩn đoán trầm cảm tham gia vào các can thiệp liên quan đến vận động tăng nhịp tin có sự cải thiện đáng kể so với những bệnh nhận được trị liệu thuốc (Babyak et al., 2000) Hoạt động thể chất đều đặn có thể phòng ngừa khởi phát trầm cảm Hơn thế nữa, chức năng cuộc sống cũng cải thiện nhờ hoạt động thể chất do tăng cường cơ hội trải nghiệm khỏe mạnh và sức khỏe thể chất (CDC, 2001) Tuy nhiên, hầu như các nghiên cứu về quan hệ giữa hoạt động thể chất và sức khỏe tâm thần lại tập trung vào đối tượng người lớn Bài viết này tổng quan các nghiên cứu liên quan đến hoạt động thể chất và sức khỏe tâm thần ở đối tượng trẻ em/học sinh, và tập trung đến các vấn đề trầm cảm, lo âu, tự trọng
2 Phương pháp
Các bài báo khoa học tiếng Anh từ năm 2010 liên quan đến hoạt động thể chất (physical activity, exercise, sport) và sức khỏe tâm thần ở trẻ em (học sinh, trẻ
em tuổi đến trường), tập trung đến trầm cảm, lo âu và tự trọng trên cơ sở dữ liệu PsychINFO, Web of Science, Medline Các bài báo tiếng Việt với từ khóa giáo dục thể chất, hoạt động thể chất được tìm trên Google Scholar Các tiêu chí lựa chọn là (a) bài báo khoa học có phản biện; (b) nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động thể chất đến các biểu hiện của có vấn đề về sức khỏe tâm thần (trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi, tự trọng, v.v; (c) trẻ em, hoặc học sinh từ 3-18 tuổi; (d) loại trừ các trẻ em
có suy giảm chức năng thể chất hoặc mắc bệnh mạn tính
3 Kết quả
Trầm cảm
Nghiên cứu đa phân tích (meta-analysis) đầu tiên tổng hợp mối quan hệ giữa hoạt động thể chất và trầm cảm báo cáo cỡ tác động (ES) -0.53 với 5 nghiên cứu ở những người trẻ tuổi dưới 24 Tuy nhiên, trong 5 nghiên cứu này bao gồm các các nghiên cứu không can thiệp (theo Biddle & Asare, 2011) Nghiên cứu đa phân tích tiếp theo với nhóm vị thành niên và thanh niên từ 11-21 tuổi, chỉ dùng các nghiên cứu thực nghiệm, báo cáo cỡ tác động -0.38 khẳng định hiệu quả của hoạt động thể chất ở nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng
Cradt & Landers (1992) tiến hành đa phân tích về hoạt động thể chất và trầm cảm với nhóm bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng trầm cảm Có 3 nghiên cứu ở
Trang 3nhóm trẻ 12-18 tuổi, cho thấy mức độ tác động nhỏ không có ý nghĩa -0.15, nhỏ hơn rất nhiều so với các nghiên cứu ở người lớn -0.72 Larun và cs (2006) tổng quan hệ thống các can thiệp liên quan đến hoạt động thể chất và trầm cảm ở vị thành niên và thiếu niên dưới 20 tuổi Có 5 nghiên cứu chỉ ra hoạt động thể chất mạnh như luyện tập gym, thể dục giảm cân, có hiệu quả hơn nhóm chứng không hoạt động gì với cỡ tác động ở mức trung bình là -0.66 Khi so sánh giữa nhóm hoạt động mạnh và nhóm hoạt động cường độ thấp, và hoạt động mạnh và can thiệp tâm lý, không có sự khác biệt giữa các nhóm Kết quả này gợi ý là hiệu quả của hoạt động thể chất, kể cả cường
độ yếu có hiệu quả tương đương với can thiệp tâm lý đối với trầm cảm
Nhìn chung, hoạt đông thể chất có hiệu quả để giảm trầm cảm so với không hoạt động và không có can thiệp gì ở nhóm trẻ em Tuy nhiên, cỡ tác động không cao, nhiều nghiên cứu cắt ngang cho thấy quan hệ tương quan, không cho biết quan
hệ nhân quả giữa hai yếu tố này Hơn nữa, các can thiệp liên quan đến hoạt động không chỉ rõ được về cường độ hoạt động, mức độ thường xuyên, thời lượng và các dạng hoạt động thể chất cụ thể
Lo âu
Số lượng các nghiên cứu về hoạt động thể chất và giảm lo âu ở trẻ em là rất nhỏ Petruzzello và cs (1991) báo cáo cỡ tác động từ trung bình -0.47 với các can thiệp hoạt động thể chất với lo âu trên đối dượng trẻ dưới 18 tuổi Cũng nghiên cứu của Larun và cs chỉ ra cỡ tác động -0.48 giữa nhóm hoạt động thể chất mạnh và nhóm không có can thiệp So sánh giữa nhóm hoạt động thể chất mạnh với nhóm hoạt động cường độ thấp, và với nhóm can thiệp tâm lý, không có sự khác biệt
Tự trọng
Đa phân tích của Ekeland và cs, (2005) xem xét liệu các chương trình can thiệp về hoạt động thể chất có tăng tự trọng ở trẻ từ 3-20 tuổi Kết quả cho thấy với
8 nghiên cứu thực nghiệm giữa can thiệp và không can thiệp, cỡ tác động ở mức trung bình 0.49 với nhóm can thiệp và nhóm chứng Tuy nhiên các nghiên cứu mà Ekeland tổng hợp đều không có kết quả theo dõi (follow-up) và là can thiệp ngắn Cũng trong tổng quan tổng hợp của Ekeland và cs, có 4 nghiên cứu khác so sánh hoạt động thể chất như một cấu phần của chương trình can thiệp tổng thể nhiều thành phần với nhóm đối chứng không tham gia vào can thiệp gì Cỡ tác động là 0.51 với tự trọng cho nhóm có can thiệp Nhìn chung, hoạt động thể chất có thể tăng tự trọng, ít nhất trong thời gian ngắn
Gần đây nhất, nghiên cứu đa phân tích của Ahn & Fedewa (2011) tổng hợp 73 nghiên cứu trên thế giới từ 1974-2009 về tác động của hoạt động thể chất và các biến đầu ra về sức khỏe tâm thần ở trẻ em, bao gồm các nghiên cứu thực nghiệm ngẫu
Trang 4nhiên (randomized controlled trials), nghiên cứu bán thực nghiệm và nghiên cứu cắt ngang Các hoạt động thể chất được miêu tả trong các nghiên cứu thuộc nhiều dạng,
từ luyện tập aerobic (tăng nhịp tim, cần nhiều oxy), luyện tập sức bền/sức mạnh, các luyện tập linh hoạt, chương trình giáo dục thể chất học đường, thể thao, luyện tập vận động, yoga và thiền, hỗn hợp Biến đầu ra về sức khỏe tâm thần bao gồm trầm cảm, lo âu, tự trọng, quan niệm về bản thân, stress, các biểu hiện stress sau sang chấn, rối loạn dạng cơ thể, suy nghĩ tự sát, các vấn đề về hành vi, loạn thần, các vấn đề về chức năng xã hội Kết quả cho thấy tăng mức độ hoạt động thể chất có tác động có ý nghĩa đến việc giảm trầm cảm, lo âu, stress, các vấn đề cảm xúc ở trẻ
em Cả nghiên cứu thực nghiệm ngẫu nhiên và phi thực nghiệm đều cho thấy hoạt động thể chất tăng mức độ tự trọng Cỡ tác động khoảng 0.3 với các nghiên cứu thực nghiệm và 0.57 với nghiên cứu phi thực nghiệm Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của Larun và cs, (2006) Các dạng hoạt động thể chất khác nhau cũng có tác động khác nhau đến sức khỏe tâm thần ở trẻ Các hoạt động thể chất liên quan đến luyện tập sức mạnh/độ bền và các hoạt động hỗn hợp dẫn đến tăng nhịp tim là hiệu quả nhất Cơ chế lý giải có thể là do các hoạt động này làm tăng lượng serotonin và các chất dẫn truyền thần kinh khác, giúp giảm đi các cảm xúc âm tính Cường độ luyện tập có giá trị điều hòa Trong khi mức độ luyện tập cao có tác động lớn nhất đến sức khỏe tâm thần trẻ em trong các nghiên cứu thực nghiệm thì mức độ luyện tập trung bình có hiệu quả cao nhất trong các nghiên cứu phi thực nghiệm Một kết quả có ý nghĩa quan trọng trong đa phân tích của Ann và Fedewa là các can thiệp nhóm hoặc cá nhân đều có tác động tích cực với sức khỏe tâm thần của trẻ em Các chương trình này có thể hướng dẫn bởi bất cứ người lớn nào, giáo viên, nghiên cứu viên, giáo viên thể dục, v.v Điều này gợi ý rằng các can thiệp hoạt động thể chất có thể được đưa vào nhà trường vì thời gian trẻ em ở trường rất nhiều Khi trẻ không
có điều kiện đến bệnh viện, cơ sở y tế hoặc cơ sở chăm sóc chuyên biệt về sức khỏe tâm thần, nhà trường là nơi lý tưởng để thực hiện các hoạt động hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho học sinh, thông qua chính các chương trình hoạt động thể chất
4 Đề xuất về tăng cường hoạt động thể chất ở học sinh ngoài giáo dục thể chất trong trường học
Hoạt động thể chất ở trẻ em và vị thành niên phụ thuộc vào nhiều lĩnh vực
xã hội như gia đình, cộng đồng, nhà trường, các cơ quan chính phủ, truyền thông, công nghiệp giải trí Mỗi lĩnh vực này có vai trò độc lập và khác nhau trong việc khuyến khích và cải thiện hoạt động thể chất ở trẻ em Nhà trường có vai trò then chốt trong việc thiết lập môi trường an toàn và hỗ trợ với các chính sách và thực tiễn để khuyến khích và hỗ trợ hoạt động thể chất Trường học cũng là nơi lý tưởng tạo ra các cơ hội cho học sinh học và triển khai việc rèn luyện các hoạt động thể
Trang 5chất Lý do vì học sinh dành nhiều thời gian ở trường và nhà trường có sẵn nguồn lực, nhân lực, thiết bị, không gian để tổ chức các hoạt động thể chất cho học sinh Các hoạt động thể chất trong nhà trường dưới hình thức sơ đẳng nhất là giáo dục thể chất (GDTC), các câu lạc bổ thể thao dành cho những học sinh quan tâm Mặc dù GDTC
là bắt buộc với học sinh ở tất cả các cấp ở tất cả các nước trên thế giới, các giờ học này thường diễn ra thiếu hứng thú, không thường xuyên và học sinh thường hoạt động thể chất ở mức thấp (Simons-Morton et al., 1994) Theo Tudor-Locke và cộng sự (2006), chương trình GDTC ở trường chỉ đáp ứng 8-11% các hoạt động thể chất cần thiết cho học sinh Thêm nữa, trường học cũng bị áp lực càng tăng về thành tích, kết quả học tập của học sinh Điều này dẫn đến nhà trường ưu tiên thời gian dạy, và các hoạt động sư phạm,
ít thời gian cho hoạt động thể chất như GDTC hoặc các giờ nghỉ, giải lao giữa giờ Bên cạnh đó, công nghệ hiện đại như chơi game, xem TV, lướt web, v.v và giao thông hiện đại (ví dụ như đi bus đến trường, bố mẹ đưa đến trường thay vì trẻ tự đi bộ hay đạp xe đến trường như trước kia) khiến trẻ ít tham gia vào các hoạt động hơn (Stevens et al., 2008)
Ở Việt Nam, tổ chức học tập và rèn luyện thể chất được nhìn nhận là hai nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của giáo dục toàn diện học sinh Việt Nam ban hành nghị định 11/2015/CP quy định về giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường Nghị quyết 29-NQ/TƯ đề ra nhiệm vụ “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ” Quyết định số 1076/QĐ-TTg ngày 17-6-2016 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025 cũng nêu định hướng chiến lược tổng thể về phát triển GDTC và thể thao trường học giai đoạn 2016-2020, đồng thời khẳng định vai trò của công tác GDTC đối với thế hệ trẻ Tuy nhiên, một số nghiên cứu ở Việt nam chỉ
ra rằng từ trước đến nay GDTC ở các trường phổ thông thường hoạt động kém hiệu quả: thiếu giáo viên dạy GDTC, cơ sở vật chất hạn chế, thiếu dụng cụ, việc thực hiện đào tạo môn học GDTC cũng chỉ dừng lại ở phần chính khóa của chương trình khung của Bộ GD-ĐT và không thực hiện phần ngoại khóa (Vũ Quỳnh Anh & Lê Đức Thiện, 2017)
Võ Văn Vũ đánh giá thực trạng công tác GDTC và hoạt động thể thao ở các trường THPT
ở Đà Nẵng thông qua ý kiến của các giáo viên GDTC và cán bộ quản lý cho thấy đa số giáo viên cho rằng chương trình môn GDTC ít phù hợp với học sinh, chương trình nặng, khô cứng, không thu hút học sinh, cơ sở vật chất không đáp ứng yêu cầu dạy học nội dung, phương pháp dạy truyền thống không phát huy được tính tích cực hoạt động của học sinh, và học sinh không hứng thú với môn học Các hoạt động thể thao ngoại khóa đơn điệu, số lượng ít (Võ Văn Vũ, 2014) Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, giáo dục thể chất là môn học bắt buộc từ lớp 1-12, và được đánh giá vai trò quan trọng, đảm nhiệm giáo dục Đức-Trí Thể-Mỹ cho học sinh Nội dung môn học được thiết kế theo cấu trúc “vừa đồng tâm, vừa tuyến tính” phù hợp với tâm - sinh lý lứa tuổi và quy luật phát triển thể lực của học sinh, đồng thời chương trình môn học mang tính mở, tạo điều
Trang 6kiện để học sinh được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể lực, nguyện vọng của bản thân và điều kiện của nhà trường (Bộ GD-ĐT, 2018)
Để tăng hoạt động thể chất của học sinh, cần tăng cơ hội học sinh hoạt động và chủ động (Mahar, 2011) Nhà trường có thể cải thiện các hoạt động thể chất và hạn chế thời lượng tĩnh của học sinh thông qua nhiều hình thức khác nhau, không chỉ trong khuôn khổ của môn học giáo dục thể chất Sau đây là những giải pháp đã được nghiên cứu trên thế giới để tăng cường hoạt động thể chất ở học sinh dưới các hình thức khác
4.1 Nghỉ ngắn giữa giờ trên lớp
Một chiến lược tăng hoạt động thể chất hàng ngày cho học sinh ở trường là thực hiện nghỉ ngắn giữa giờ học trong lớp để dành cho hoạt động thể chất Hoạt động thể chất trong lớp học có thể là tất cả các hoạt động, bất kể cường độ, được thực hiện trong lớp học trong giờ lên lớp, bao gồm trong giờ học cũng như nghỉ giữa các môn học, giờ học các môn đặt biệt như nhạc, họa Nó không bao gồm giờ giáo dục thể chất, hoặc thể dục sau giờ ra chơi, hay sau giờ ăn trưa Nghỉ giữa giờ trên lớp này có thể thiết kế 10-15 phút hoạt động thể chất ở mức độ mạnh hoặc trung bình Các hình thức hoạt động thể chất có thể đa dạng, nhảy, tập thể dục tại chỗ, v.v Cách thức này được chứng minh là
có hiệu quả tăng cường hoạt động thể chất, giảm chỉ số cơ thể (BMI) ở học sinh (Mahar
et al., 2006) Giáo viên bộ môn cần được tập huấn để hiểu rõ vai trò của giáo dục thể chất và được khuyến khích thiết kế những khoảng thời gian dành cho hoạt động thể chất trong giờ học của mình (toán, văn, khoa học, v.v.) và trong thời gian nghỉ giữa các môn học Khó khăn khi áp dụng cách thức này là sức ép về tiến độ nội dung chương trình và thành tích học tập mà giáo viên và nhà trường đều thực hiện Tuy vậy, các nghiên cứu đều chứng minh là nghỉ giữa giờ dành cho hoạt động thể chất không chỉ khuyến khích sức khỏe thể chất cho trẻ em, mà còn có thể dễ dàng thực hiện trong lớp học mà không cần giảm nhẹ việc dạy học, đồng thời cải thiện việc học cũng như các hành vi trên lớp của học sinh (Donnelly et al., 2009) Nghỉ giữa giờ trên lớp thuận lợi và khả thi do không quá đòi hỏi về kế hoạch tổ chức, không cần dụng cụ, thời gian ngắn Cách thức này đặc biệt hiệu quả đối với học sinh tiểu học (Koll & Cook, 2013)
Thiếu không gian cũng là một khó khăn để thực hiện cách thức này Bàn và không gian lớp học nên được sắp xếp lại để có không gian mở cho học sinh vận động trong thời gian nghỉ giữa giờ
4.2 Giờ giải lao
Giờ giải lao là quãng thời gian mà học sinh có thể vận động nhiều nhất Học sinh có thể thực hiện được 40% yêu cầu về hoạt động thể chất trong giờ giải lao Học sinh có thể chơi với bạn, tham gia các hoạt động có cấu trúc hoặc không có cấu trúc Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ khuyến cáo giờ giải lao như một phần cơ bản đóng góp
Trang 7vào sự phát triển của trẻ em, trong đó nhấn mạnh giờ giải lao là phần bổ sung chứ không phải thay thế cho giáo dục thể chất, góp phần vào 60 phút hoạt động thể chất cho trẻ em Trong giờ giải lao, tương tác với bạn đồng lừa có ý nghĩa quan trọng
mà ở đó, trẻ có thể học được các kĩ năng xã hội như giao tiếp, thương thuyết, hợp tác, giải quyết vấn đề, v.v (Council on School Health, 2013)
Nhà trường nên đảm bảo 15-20 phút/ngày học giờ giải lao cho học sinh Không gian trong nhà trường cần mở, có nhiều chỗ chơi, hoặc thiết bị chơi, thể dục để khuyến khích hoạt động thể chất của học sinh Nhà trường cũng cần bố trí giám thị giờ giải lao
và tập huấn họ để không những đảm bảo an toàn cho học sinh mà còn tương tác với học sinh trong giờ giải lao để gợi ý, hướng dẫn và khuyến khích hoạt động thể chất
4.3 Hoạt động thể thao trong nhà trường và ngoài nhà trường
Thể thao là một hoạt động không thể thiếu trong trường học Các hoạt động này có thể dưới hình thức trong nhà trường và ngoài nhà trường-thi đấu, diễn tập với các đội ở trường khác Nhà trường cần tổ chức các câu lạc bộ thể thao với nhiều môn đa dạng bao gồm cả các môn theo đội như bóng đá, bóng rổ, môn cá nhân như bóng bàn, thể dục dụng cụ, chạy, v.v và các giải đấu trong và ngoài trường Dù các nghiên cứu đều nhấn mạnh ảnh hưởng của thể thao đối với kết quả học tập, tự trọng, sức khỏe thể chất và tâm lý của học sinh và yêu cầu về thể thao trong nhà trường đều đươc phổ biến ở tất cả các nước kể cả Việt Nam, thực tế cho thấy ngân sách cho hoạt động này thường bị cắt Điều đó bao gồm cả việc thiếu thiết bị, dụng
cụ, thiếu huấn luyện viên, thiếu các giải thi đấu khiến cơ hội để học sinh tăng cường hoạt động thể chất giảm đi Ngoài ra, nhà trường cũng cần xây dựng các hoạt động thể thao cho các học sinh khuyết tật, đảm bảo quyền bình đẳng cho các em
4.4 Các chương trình sau giờ học
Các chương trình sau giờ học là cơ hội tốt để khuyến khích hoạt động thể chất cho học sinh trong trường học Trong bối cảnh các cha mẹ đều đi làm toàn thời gian, và tan sở muộn hơn giờ tan học chính thức của trẻ em, các chương trình sau giờ học là một giải pháp giúp học sinh được vui chơi ở môi trường an toàn, có giám sát Trong 15 năm qua, số chương trình sau giờ học tăng lên ở các trường ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp (Koll & Cook, 2013) Hiện nay, các trường học ở Việt nam thường có chương trình sau giờ học Các nội dung về hoạt động thể chất cần được bổ sung vào chương trình sau giờ học này
4.5 Một số nghiên cứu thử nghiệm chương trình khuyến khích hoạt động thể chất trong trường học trên thế giới
Một số chương trình thực nghiệm khuyến khích hoạt động thế chất trong trường
Trang 8học đã được nghiên cứu và chứng minh có hiệu quả đối với chỉ số cơ thể, khả năng chú ý, hứng thú và học tập của học sinh Chương trình Take10! (http://take10.net/) là chương trình nghỉ giữa giờ trên lớp dành cho hoạt động thể chất Kibbe and colleagues (2011) đã đánh giá hiệu quả của chương trình và cho thấy mức độ hoạt động thể chất của học sinh mẫu giáo đến lớp 5 tăng thêm Các hành vi tuân thủ, chỉ số cơ thể, các thói quen về sức khỏe và kết quả học tập cũng được cải thiện Một chương trình khác
là chương trình “Energizers” (http://www.nchealthyschools.org/energizers/) Với 10 phút hoạt động thể chất trong giờ học cùng với trung bình 782 bước/ngày sẽ giúp học sinh tăng các hành vi tuân thủ trên lớp học Chương trình Jammin› Minute cũng là một chương trình hiệu quả để tăng cường hoạt động thể chất cho học sinh trong khi nhà trường chưa có đủ nguồn lực để cung cấp chương trình giáo dục thể chất tổng thể cho học sinh (Mahar et al., 2006) Chương trình Texas I-CAN (Bartholomew and Jowers, 2011) tập huấn cho giáo viên tiểu học cách thay đổi kế hoạch dạy học để tích hợp hoạt động thể chất trong giờ lên lớp các môn cơ bản như toán, văn, khoa học, v.v Học sinh được khuyến khích đi 1000 bước/ngày Các nghiên cứu này đều chỉ ra việc giáo viên bộ môn dành thời gian hoạt động thể chất cho học sinh trong giờ học của mình không làm tốn thời gian dạy học, không cản trở thành tích học tập của học sinh,
mà có hiệu quả tích cực đối với học tập của học sinh (Erwin et al., 2012)
5 Kết luận
Hoạt động thể chất có vai trò quan trọng không chỉ đối với sức khỏe thể chất
mà còn với sức khỏe tâm thần và sự lành mạnh, tự trọng ở học sinh Hiệu quả tác động của hoạt động thể chất đối với tự trọng là cao hơn so với các vấn đề sức khỏe tâm thần Các hoạt động thể chất hiệu quả có thể được thiết kế dưới nhiều hình thức, nhóm hoặc cá nhân, kết hợp các vận động tăng nhịp tim và sức bền, do bất
cứ người lớn nào hướng dẫn Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của nhà trường Chính việc quan tâm đến hoạt động thể chất của học sinh đã là một cách để ngăn ngừa và can thiệp hiệu quả các vấn đề sức khỏe tâm thần và tăng cường sự phát triển lành mạnh ở học sinh Ngoài môn học giáo dục thể chất, nhà trường có thể tạo ra nhiều cơ hội khác nhau để học sinh có thể hoạt động thể chất trên lớp, giờ
ra chơi, ngoài giờ lên lớp và ngoại khóa Điều quan trọng là nhà trường tạo ra một môi trường luôn vận động và kích thích hoạt động cho học sinh Những khó khăn
về kinh phí, thiếu nhân sự, thiếu dụng cụ có thể cản trở việc triển khai hoạt động thể chất trong nhà trường Ở Việt nam, khó khăn còn có thể do hiểu biết và nhận thức của nhà trường, phụ huynh và học sinh về vai trò của hoạt động thể chất Giáo dục thể chất luôn được coi là môn “phụ” và không được nhà trường, học sinh ưu tiên
Để khắc phụ các rào cản này, việc nâng cao hiểu biết của nhà quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh, cộng đồng về tầm quan trọng của hoạt động thể chất đối với học
Trang 9tập, sức khỏe, xã hội cần được triển khai Nhà trường cũng cần có tiếp cận tổng thể đối với việc khuyến khích hoạt động thể chất cho học sinh
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công
nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 501.02-2016.03
Tài liệu tham khảo
Ahn, S., & Fedewa, A L (2011) A meta-analysis of the relationship
between children’s physical activity and mental health Journal of pediatric
psychology, 36(4), 385-397.
Babyak, M., Blumenthal, J A., Herman, S., Khatri, P., Doraiswamy, M., Moore, K., & Krishnan, K R (2000) Exercise treatment for major depression:
maintenance of therapeutic benefit at 10 months Psychosomatic medicine, 62(5),
633-638
Biddle, S J., & Asare, M (2011) Physical activity and mental health in
children and adolescents: a review of reviews British journal of sports medicine,
bjsports90185
Centers for Disease Control and Prevention (2001) Effects of physical activity
on health and disease: A report from the Surgeon General Retrieved March, 14, 2007.
Craft, L L., & Landers, D M (1998) The effect of exercise on clinical
depression and depression resulting from mental illness: A meta-analysis Journal
of Sport and Exercise Psychology, 20(4), 339-357.
Donnelly, J E., Greene, J L., Gibson, C A., Smith, B K., Washburn, R A., Sullivan, D K., & Jacobsen, D J (2009) Physical Activity Across the Curriculum (PAAC): a randomized controlled trial to promote physical activity
and diminish overweight and obesity in elementary school children Preventive
medicine, 49(4), 336-341.
Ekeland, E., Heian, F., & Hagen, K B (2005) Can exercise improve self esteem in children and young people? A systematic review of randomised controlled
trials British journal of sports medicine, 39(11), 792-798.
Erwin, H., Fedewa, A., Beighle, A., & Ahn, S (2012) A quantitative review
of physical activity, health, and learning outcomes associated with classroom-based
physical activity interventions Journal of Applied School Psychology, 28(1), 14-36
Janssen, I., & LeBlanc, A G (2010) Systematic review of the health benefits
of physical activity and fitness in school-aged children and youth International
journal of behavioral nutrition and physical activity, 7(1), 40.
Trang 10Kohl III, H W., & Cook, H D (2013) Approaches to physical education in schools, Washington, D.C: National Academies Press
Larun, L., Nordheim, L V., Ekeland, E., Hagen, K B., & Heian, F (2006) Exercise in prevention and treatment of anxiety and depression among children
and young people Cochrane database of systematic reviews, (3)
Mahar, M T (2011) Impact of short bouts of physical activity on
attention-to-task in elementary school children Preventive medicine, 52, S60-S64.
Murray, R., Ramstetter, C., Devore, C., Allison, M., Ancona, R., Barnett, S &
Okamoto, J (2013) The crucial role of recess in school Pediatrics, 131(1), 183-188.
Penedo, F J., & Dahn, J R (2005) Exercise and well-being: a review of
mental and physical health benefits associated with physical activity Current
opinion in psychiatry, 18(2), 189-193.
Petruzzello, S J., Landers, D M., Hatfield, B D., Kubitz, K A., & Salazar,
W (1991) A meta-analysis on the anxiety-reducing effects of acute and chronic
exercise Sports medicine, 11(3), 143-182.
Simons-Morton, B.G., Taylor, W.C., Snider, S.A., et al., (1994) Observed levels of elementary and middle school children’s physical activity during physical
education classes Preventive Medicine, 23(4):437–441
Stevens, T A., To, Y., Stevenson, S J., & Lochbaum, M R (2008) The importance of physical activity and physical education in the prediction of academic
achievement Journal of Sport Behavior, 31(4), 368.
Strong, W B., Malina, R M., Blimkie, C J., Daniels, S R., Dishman, R K., Gutin, B., & Rowland, T (2005) Evidence based physical activity for
school-age youth The Journal of pediatrics, 146(6), 732-737.
Tudor-Locke, C., Lee, S M., Morgan, C F., Beighle, A., & Pangrazi, R P (2006) Children’s pedometer-determined physical activity during the segmented
school day Medicine and science in sports and exercise, 38(10), 1732-1738.
WHO (2010) Global recommendations on physical activity for health, Genève,
WHO ISBN: 9789241599979
Vũ Quỳnh Anh & Lê Đức Thiện (2017) Thực trạng và biện pháp nâng cao
hiệu quả công tác Giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên, Tạp chí thể thao, 2017
Võ Văn Vũ (2014) Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo
dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường Trung học phổ thông ở Đà Nẵng, Luận án Tiến sĩ, Viện Khoa học TDTT