Căn cứ các tài liệu được cung cấp, ĐTTĐGR tiến hành đánh giá thực trạng tình hình quản lý rừng, tình hình sản xuất kinh doanh của chủ rừng, đối chiếu với các nguyên tắc, tiêu chí, chỉ [r]
Trang 2GS.TS TRẦN HỮU VIÊN (Chủ biên)
LÊ TUẤN ANH, VI VIỆT ĐỨC
Trang 4MỤC LỤC
Mục lục 3
Lời nói đầu 7
Danh mục các ký hiệu viết tắt 9
Phần thứ 1 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH VÀ QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP 1.1 Nhận thức chung về quy hoạch và các khái niệm có liên quan 15
1.1.1 Khái niệm về sự phát triển và phát triển bền vững 15
1.1.2 Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển 15
1.2 Quy hoạch lâm nghiệp - điều chế rừng 19
1.2.1 Những đặc điểm và mâu thuẫn đặc thù của sản xuất lâm nghiệp 19
1.2.2 Quy hoạch lâm nghiệp (QHLN) 23
1.2.3 Điều chế rừng (ĐCR) 25
1.2.4 Vị trí, tính chất và mối quan hệ của quy hoạch lâm nghiệp - điều chế rừng với các môn khoa học khác 27
1.2.5 Lịch sử phát triển của quy hoạch lâm nghiệp - điều chế rừng 28
Phần thứ 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP Chương 2 CƠ SỞ KINH TẾ - PHÁP LÝ CỦA QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP 2.1 Hệ thống các văn bản pháp luật của quốc gia 35
2.2 Thể chế, chính sách lâm nghiệp 35
2.2.1 Nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp 35
2.2.2 Chính sách của nhà nước về lâm nghiệp 37
2.2.3 Phân loại rừng 38
2.2.4 Phân định ranh giới rừng 39
2.2.5 Chủ rừng 39
2.2.6 Chế độ sở hữu tài nguyên rừng 39
2.2.7 Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động lâm nghiệp 40
Trang 52.2.8 Các chính sách, quy định của nhà nước trong
các lĩnh vực hoạt động lâm nghiệp 41
2.3 Một số chế độ chính sách khác có liên quan đến lâm nghiệp 44
2.4 Mối quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp và quy hoạch tổng thể, quy hoạch các ngành 45
2.5 Thực trạng tài nguyên rừng và định hướng phát triển lâm nghiệp 46
2.5.1 Tài nguyên rừng Việt Nam 46
2.5.2 Quá trình phát triển của ngành Lâm nghiệp 48
2.5.3 Định hướng phát triển lâm nghiệp 50
Chương 3 TỔ CHỨC KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN RỪNG 3.1 Tổ chức thời gian rừng 58
3.1.1 Ý nghĩa của tổ chức thời gian rừng 58
3.1.2 Tuổi của cây rừng và lâm phần 58
3.1.3 Thành thục rừng 60
3.1.4 Chu kỳ kinh doanh rừng 76
3.2 Tổ chức không gian rừng 84
3.2.1 Ý nghĩa của tổ chức không gian rừng 84
3.2.2 Phân chia rừng 85
3.2.3 Tổ chức đơn vị kinh doanh rừng 97
3.2.4 Các nguyên tắc kinh doanh lợi dụng rừng 104
Chương 4 ĐIỀU CHỈNH SẢN LƢỢNG RỪNG 4.1 Khái niệm, mục đích và nhiệm vụ của điều chỉnh sản lượng rừng 109
4.1.1 Khái niệm, mục đích của điều chỉnh sản lượng rừng 109
4.1.2 Nhiệm vụ của điều chỉnh sản lượng rừng 110
4.2 Các phương pháp điều chỉnh sản lượng rừng 110
4.2.1 Tổng quan về các phương pháp điều chỉnh sản lượng rừng 110
4.2.2 Các phương pháp điều chỉnh sản lượng theo phương pháp diễn giải 113
4.2.3 Các phương pháp điều chỉnh sản lượng theo phương pháp quy nạp 124
4.2.4 Lý luận rừng tiêu chuẩn và mô hình rừng định hướng 127
4.3 Phương pháp tính và xác định lượng khai thác rừng ở Việt Nam 133
4.3.1 Cơ sở ứng dụng các phương pháp tính lượng khai thác 133
4.3.2 Các phương pháp tính lượng khai thác rừng ở Việt Nam 134
4.3.3 Xác định lượng khai thác cho đối tượng quy hoạch 138
4.3.4 Ví dụ xác định lượng khai thác cho một đối tượng cụ thể (tham khảo) 139
Trang 6Chương 5
QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG
VÀ CHỨNG CHỈ RỪNG
5.1 Ổn định sản lượng và điều kiện đảm bảo ổn định sản lượng 145
5.1.1 Khái niệm về ổn định sản lượng 145
5.1.2 Điều kiện đảm bảo ổn định sản lượng rừng 146
5.2 Tổng quan về quản lý rừng bền vững 154
5.2.1 Khái niệm về quản lý rừng bền vững 154
5.2.2 Các yếu tố của quản lý rừng bền vững 157
5.2.3 Tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững 159
5.2.4 Lập kế hoạch quản lý rừng bền vững 159
5.2.5 Thực hiện quản lý rừng bền vững 163
5.2.6 Giám sát đánh giá 163
5.3 Tổng quan về chứng chỉ rừng 164
5.3.1 Khái niệm về chứng chỉ rừng (CCR) 164
5.3.2 Tại sao lại phải chứng chỉ rừng và lợi ích của chứng chỉ rừng 165
5.3.3 Lịch sử hình thành chứng chỉ rừng 166
5.3.4 Các loại chứng chỉ rừng 167
5.3.5 Các hệ thống chứng chỉ rừng 168
5.4 Tiến trình đánh giá rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững 169
5.4.1 Các thành phần liên quan đến đánh giá rừng, cấp chứng chỉ rừng 169
5.4.2 Tóm tắt tiến trình đánh giá rừng và trách nhiệm của Đoàn Thanh tra đánh giá rừng 170
5.4.3 Chuẩn bị của Đoàn Thanh tra đánh giá rừng trước khi ra hiện trường 171
5.4.4 Thanh tra đánh giá rừng tại hiện trường 172
5.4.5 Các hoạt động sau khi khảo sát ngoài hiện trường 176
5.5 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam 177
5.5.1 Các hoạt động về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 177
5.5.2 Các hệ thống chứng chỉ rừng ở Việt nam 179
5.5.3 Quy định về cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững 179
5.5.4 Kết quả cấp chứng chỉ rừng 180
Phần thứ 3 NỘI DUNG CÔNG TÁC QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP Chương 6 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP 6.1 Điều tra điều kiện cơ bản của đối tượng quy hoạch 185
6.1.1 Điều tra điều kiện sản xuất lâm nghiệp 185
6.1.2 Điều tra thống kê, mô tả tài nguyên rừng 187
Trang 76.1.3 Điều tra thu thập các tài liệu chuyên đề 198
6.2 Quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp 203
6.2.1 Xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của đối tượng quy hoạch 203
6.2.2 Quy hoạch sử dụng đất đai, phân chia rừng theo mục đích sử dụng 204
6.2.3 Tổ chức đơn vị kinh doanh và xác định các nguyên tắc kinh doanh lợi dụng rừng 205
6.2.4 Quy hoạch các biện pháp kinh doanh rừng 207
6.2.5 Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất lâm nghiệp 214
6.2.6 Quy hoạch vận chuyển mở mang tài nguyên rừng 215
6.2.7 Phân kỳ quy hoạch, kế hoạch thực hiện 219
6.2.8 Dự tính vốn đầu tư và hiệu quả 220
6.2.9 Đề xuất giải pháp thực hiện 221
6.3 Tổ chức thực hiện công tác quy hoạch lâm nghiệp 222
6.3.1 Cơ quan, tổ chức lập quy hoạch lâm nghiệp 222
6.3.2 Các bước công việc thực hiện công tác quy hoạch lâm nghiệp 223
6.3.3 Thành quả của công tác quy hoạch lâm nghiệp 225
6.3.4 Chế độ hội nghị trong công tác quy hoạch lâm nghiệp 226
6.3.5 Kiểm tra thực hiện phương án quy hoạch lâm nghiệp 228
Chương 7 CÔNG TÁC QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP Ở VIỆT NAM 7.1 Quy hoạch lâm nghiệp trong hệ thống quy hoạch quốc gia 229
7.1.1 Hệ thống quy hoạch quốc gia Việt Nam 229
7.1.2 Mối quan hệ giữa các loại quy hoạch trong hệ thống quy hoạch quốc gia 229
7.1.3 Đối tượng nhiệm vụ công tác quy hoạch lâm nghiệp 230
7.2 Quy hoạch lâm nghiệp cho các đơn vị quản lý lãnh thổ 231
7.2.1 Quy hoạc lâm nghiệp cấp quốc gia 231
7.2.2 Phương án lâm nghiệp (phần lâm nghiêp) các cấp quản lý lãnh thổ 234
7.3 Xây dựng Phương án quản lý rừng bền vững (kế hoạch quản lý rừng bền vững) cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, các khu rừng phòng hộ, đặc dụng 236
Câu hỏi ôn tập 237
Định hướng bài tập 240
Tài liệu tham khảo 243
Trang 8ời nói đầu
Giáo trình Quy hoạch Lâm nghiệp được biên soạn trên cơ sở mục tiêu và chương trình đào tạo cử nhân ngành Lâm nghiệp của Trường Đại học Lâm nghiệp đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt
Nội dung của giáo trình có 3 phần, bao gồm 7 chương:
Phần I Tổng quan về quy hoạch lâm nghiệp:
Chương 1 Tổng quan về quy hoạch và quy hoạch lâm nghiệp;
Phần II Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch lâm nghiệp:
Chương 2 Cơ sở kinh tế - pháp lý của quy hoạch lâm nghiệp;
Chương 3 Tổ chức không gian và thời gian rừng;
Chương 4 Điều chỉnh sản lượng rừng;
Chương 5 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng;
Phần III Nội dung công tác quy hoạch lâm nghiệp:
Chương 6 Nội dung cơ bản của công tác quy hoạch lâm nghiệp;
Chương 7 Công tác quy hoạch lâm nghiệp ở Việt Nam
Giáo trình do GS TS Trần Hữu Viên chủ biên, trực tiếp viết 5 chương (chương 1, 2,
5, 6, 7) và tham gia viết hai chương 3, 4; Thạc sĩ Vi Việt Đức viết chương 3 và tham gia viết chương 6; Thạc sĩ Lê Tuấn Anh viết chương 4 Khi biên soạn giáo trình này, các tác giả đã cố gắng tham khảo các tài liệu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, các văn bản pháp luật và chính sách có liên quan Chúng tôi cũng đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của nhiều nhà khoa học, của các đồng nghiệp trong và ngoài ngành
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các đồng nghiệp nói trên
Trong quá trình biên soạn các tác giả đã hết sức cố gắng bám sát mục tiêu chương trình đào tạo để giáo trình đảm bảo tính khoa học, hiện đại và phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của độc giả để giáo trình được hoàn thiện hơn ở lần xuất bản sau
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm tác giả
L
Trang 10DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 ASI Tổ chức công nhận dịch vụ quốc tế
2 BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
3 BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
9 CIFOR Tổ chức Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế
10 CITES Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật
17 EVFTA Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam
Trang 11TT Từ viết tắt Giải nghĩa
23 HCV Rừng có giá trị bảo tồn cao
24 HCVF Tuần tra/giám sát rừng có giá trị bảo tồn cao
25 IAF Diễn đàn công nhận quốc tế
26 IEC Ủy ban Kỹ thuật Điện Quốc tế
27 ISO Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
28 ITTO Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế
32 NWG Tổ công tác quốc gia
33 PCI VN Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững Việt Nam
34 PEFC Chương trình công nhận các hệ thống chứng chỉ rừng
39 REDD Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng
40 REDD+ Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng
Trang 12TT Từ viết tắt Giải nghĩa
49 TTĐGR Thanh tra đánh giá rừng
51 UNCCD Công ước Chống Sa mạc hóa của Liên Hiệp Quốc
52 UNCED Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển
53 UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
54 UNFCCC Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu
56 VAFS Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
57 VIFA Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt nam
58 VNTLAS Hiệp định cam kết xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo
gỗ hợp pháp Việt Nam
59 VPA/FLEGT Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Luật Lâm nghiệp,
quản trị rừng và thương mại lâm sản
60 WWF Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
Trang 14PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH
LÂM NGHIỆP
Trang 16Chương 1
TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH
VÀ QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP 1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUY HOẠCH VÀ CÁC KHÁI NIỆM
CÓ LIÊN QUAN
1.1.1 Khái niệm về sự phát triển và phát triển bền vững
Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, cái mới
ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu
Với khái niệm tổng quát trên, trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, Raanan Weitz (1995) đã
đưa ra khái niệm cụ thể hơn là: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”
“Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai”
1.1.2 Chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển
1.1.2.1 Khái niệm về chiến lược
Có nhiều quan điểm đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược phát triển kinh
tế xã hội, nhưng về bản chất thì cơ bản là thống nhất với nhau, có thể đưa ra khái niệm về chiến lược phát triển như sau:
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được hiểu đầy đủ là một hệ thống các phân
tích, đánh giá và lựa chọn thể hiện những quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu của một quá trình phát triển mong muốn và sự nhất quán về con đường và các giải pháp cơ bản để thực hiện Như vậy, chức năng chính của chiến lược phát triển là sự lựa chọn định hướng và cách đi tối ưu mang tính tổng thể trong một lộ trình phát triển dài hạn
1.1.2.2 Khái niệm về quy hoạch
a Khái niệm
Khái niệm về quy hoạch nói chung có thể được hiểu là những tư duy hiện tại về các hoạt động trong tương lai, mà những hoạt động này mang tính logic, hệ thống, có liên quan đến nhau, thiết lập nên một trật tự các hoạt động trong một không gian và thời gian nhất định, dựa trên việc huy động các nguồn lực nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu xác
Trang 17định, tạo nên sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực, hoặc phát triển tổng thể kinh tế -
xã hội của một phạm vi, đơn vị lãnh thổ
Luật Quy hoạch được Quốc hội thông qua năm 2017 đã đưa ra khái niệm về quy
hoạch và hoạt động quy hoạch như sau:
- Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu
phát triển bền vững cho thời kỳ xác định;
- Hoạt động quy hoạch bao gồm việc tổ chức lập, thẩm định, quyết định hoặc phê
duyệt, công bố, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh quy hoạch
b Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch
Từ khái niệm về quy hoạch và các hoạt động quy hoạch, Luật Quy hoạch năm 2017 đưa ra các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch như sau:
1 Tuân theo quy định của Luật Quy hoạch, quy định khác của pháp luật có liên quan
và Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
2 Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa quy hoạch với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm kết hợp quản lý ngành với quản lý lãnh thổ; Bảo đảm quốc phòng, an ninh; Bảo vệ môi trường;
3 Bảo đảm sự tuân thủ, tính liên tục, kế thừa, ổn định, thứ bậc trong hệ thống quy hoạch quốc gia;
4 Bảo đảm tính nhân dân, sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân; Bảo đảm hài hòa lợi ích của quốc gia, các vùng, các địa phương và lợi ích của người dân, trong đó lợi ích quốc gia là cao nhất; Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới;
5 Bảo đảm tính khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại, kết nối liên thông, dự báo, khả thi, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn lực của đất nước; Bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch, tính bảo tồn;
6 Bảo đảm tính độc lập giữa cơ quan lập quy hoạch với Hội đồng thẩm định quy hoạch;
7 Bảo đảm nguồn lực để thực hiện quy hoạch;
8 Bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước về quy hoạch, phân cấp, phân quyền hợp lý giữa các cơ quan nhà nước
c Căn cứ lập quy hoạch
Luật Quy hoạch năm 2017 quy định căn cứ lập quy hoạch bao gồm:
1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực trong cùng giai đoạn phát triển;
Trang 182 Quy hoạch cao hơn;
3 Quy hoạch thời kỳ trước
1.1.2.3 Khái niệm về kế hoạch
a Khái niệm
Theo quan niệm chung kế hoạch là cụ thể hóa tới từng không gian, từng thời gian cụ thể các nội dung, các hoạt động trong các giai đoạn tiếp theo của cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đã có nhiều khái niệm về kế hoạch được đưa ra, có thể đưa ra ở đây một khái niệm được thừa nhận phổ biến là:
Kế hoạch là một công cụ quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội, nó xác định một cách hệ thống những hoạt động nhằm phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu, chỉ tiêu và các cơ chế chính sách sử dụng trong một thời kỳ nhất định
Với khái niệm nêu trên, rõ ràng rằng trong bốn chức năng của công tác quản lý là lập
kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra thì việc lập kế hoạch là chức năng khởi đầu hết sức
quan trọng đối với công tác quản lý
b Phân biệt các khái niệm về chiến lược, quy hoạch và kế hoạch
Như vậy, Các khái niệm chiến lược, quy hoạch và kế hoạch đều nhằm thể hiện sự
hoạch định các hoạt động trong tương lai của con người, nhằm duy trì các hoạt động đảm bảo sự tồn tại và mục tiêu phát triển của một đơn vị, tổ chức, một phạm vi lãnh thổ, một ngành, một lĩnh vực, song ở tầm bao quát, mức độ chi tiết, cụ thể và thời hạn là khác nhau, tính pháp lý khác nhau:
- Chiến lược là sự lựa chọn định hướng và cách đi tối ưu mang tính tổng thể trong một
lộ trình phát triển dài hạn;
- Quy hoạch và kế hoạch là việc xác định và xắp xếp, tổ chức các nội dung hoạt động
trong không gian và thời gian trong quá trình phát triển của đơn vị, phạm vi lãnh thổ, của ngành, lĩnh vực, nhưng ở các mức độ cụ thể và thời hạn, tính pháp lý khác nhau
Sự khác biệt cơ bản giữa quy hoạch và kế hoạch thể hiện ở 3 điểm sau:
- Khác biệt ở cấp độ thời gian: Quy hoạch thường tính đến một thời gian dài hạn hơn,
thường từ 10 năm trở lên, thậm chí có một số quốc gia từ 15 năm trở lên, còn kế hoạch thì ngắn hạn hơn, có thể là hàng năm, thậm chí từng quý, từng tháng, từng tuần…;
- Khác biệt ở mức độ chi tiết: Kế hoạch được thể hiện chi tiết, cụ thể hơn quy hoạch và
mang tính hành động nhiều hơn, trong khi quy hoạch chứa đựng tính định hướng nhiều hơn do bao hàm một khoảng thời gian dài hơn, bối cảnh có thể dễ thay đổi hơn;
- Khác biệt ở tính pháp lý: Mặc dù quy hoạch được dùng làm căn cứ cho kế hoạch
triển khai, nhưng kế hoạch thường có tính pháp lý cao hơn, chặt chẽ, bắt buộc hơn so với quy hoạch
Trang 191.1.2.4 Khái niệm về chương trình, dự án
a Khái niệm về dự án
- Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau, nhằm đạt được một hoặc
một số mục tiêu xác định, được thực hiện trong một không gian, thời gian nhất định, dựa trên những nguồn lực xác định
- Chu trình dự án: Mỗi dự án có thời điểm khởi đầu và điểm kết thúc dự án, hình
thành nên một chu trình của dự án, trong đó các hoạt động của dự án được tổ chức thực hiện và giám sát kiểm tra có sự quản lý điều hành độc lập riêng nhằm hoàn thành các mục tiêu xác định của dự án Đó chính là sự khác biệt của dự án so với các hoạt động bình thường, theo kế hoạch thường kỳ của tổ chức, đơn vị Mỗi một chu trình dự án từ điểm khởi đầu tới điểm kết thúc dự án đều trải qua 5 giai đoạn chính sau:
Giai đoạn 1: Xác định dự án (Phát hiện dự án):
Phát hiện vấn đề cần giải quyết, xác định các mục tiêu cần phải đạt được, từ đó hình thành ý tưởng xây dựng dự án nhằm huy động các nguồn lực, tổ chức các hoạt động để đạt các mục tiêu đó Ý tưởng về dự án cần được cấp có thẩm quyền (chủ quản đầu tư dự án) xem xét nhất trí chủ trương đầu tư;
Giai đoạn 2: Xây dựng dự án:
Sau khi đã xác định được dự án, căn cứ mục tiêu dự án, các nguồn lực có thể huy động, tiến hành thiết kế các hoạt động của dự án cần thực hiện để đạt được các mục tiêu của dự án, xây dựng thuyết minh dự án và các văn kiện thiết kế dự án theo yêu cầu quy định của chủ đầu tư dự án;
Giai đoạn 4: Thực thi và giám sát thực hiện dự án:
Khi dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được triển khai thực hiện Tùy theo
dự án có thể thành lập Ban quản lý dự án hoặc không (kiêm nhiệm) Quá trình thực hiện các hoạt động của dự án luôn có sự giám sát, kiểm tra (giám sát định kỳ, theo từng công đoạn hoặc kiểm tra đột xuất) nhằm đảm bảo các hoạt động của dự án theo đúng thiết kế đã được duyệt, đồng thời kịp thời phát hiện những hạn chế, bất hợp lý để có giải pháp khắc phục, nếu cần thiết thì điều chỉnh, bổ sung;
Giai đoạn 5: Kết thúc, nghiệm thu dự án:
Đây là giai đoạn cuối cùng của dự án, được tiến hành khi kết thúc các hoạt động của
dự án nhằm đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của dự án, làm rõ những thành công,
Trang 20thất bại và mức độ hoàn thành các mục tiêu của dự án, rút ra bài học kinh nghiệm để quản
lý các dự án khác trong tương lai
- Phân loại dự án: Trong thực tế hiện nay, có rất nhiều dự án khác nhau, tùy theo
quan điểm phân loại, quy mô dự án, lĩnh vực hoạt động mà người ta phân chia thành các
dự án với tên gọi khác nhau:
+ Theo quy mô dự án: Dự án mức A (dự án lớn); dự án mức B (dự án vừa, dự án
b Khái niệm về chương trình
- Chương trình là một tập hợp các hoạt động, các dự án có liên quan đến nhau và có
thể liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau, được thực hiện thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành, có thời gian thực hiện tương đối dài hoặc theo nhiều giai đoạn và nguồn lực để thực hiện có thể được huy động từ
nhiều nguồn khác nhau, theo nhiều phương thức khác nhau
Như vậy, chương trình có tầm bao quát trong phạm vi lãnh thổ rộng hoặc nhiều vùng lãnh thổ, bao gồm nhiều hoạt động, nhiều dự án Chương trình được hình thành nhằm thực hiện những nhiệm vụ lớn, trọng tâm, những nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển quốc gia, hoặc trong chiến lược phát triển của ngành, lĩnh vực quan trọng, vùng lãnh thổ rộng lớn
Chú ý: Các khái niệm về chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch, được đề
cập trên đây là với ý nghĩa liên quan tới sự phát triển (của đơn vị, vùng lãnh thổ, ngành, lĩnh vực ) Trong một số trường hợp một số khái niệm như quy hoạch, chương trình, kế hoạch còn được sử dụng trong phạm vi quy mô nhỏ hơn với ý nghĩa hẹp hơn nhiều như: Quy hoạch mặt bằng, chương trình công tác, chương trình hội nghị, chương trình đào tạo, chương trình môn học, kế hoạch bài giảng, kế hoạch công tác, kế hoạch thực tập
1.2 QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP - ĐIỀU CHẾ RỪNG
1.2.1 Những đặc điểm và mâu thuẫn đặc thù của sản xuất lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm toàn bộ các hoạt động và dịch vụ có liên quan tới tài nguyên rừng và đất rừng: Bảo vệ, phục hồi,
Trang 21nuôi dưỡng và phát triển vốn rừng, khai thác, chế biến và thương mại lâm sản, phát huy các tính năng có lợi của rừng trong phòng hộ, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, danh lam thắng cảnh… nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Với phạm vi hoạt động rộng như trên, sản xuất lâm nghiệp có những đặc điểm và mâu thuẫn đặc thù khác với các ngành sản xuất khác
1.2.1.1 Những đặc điểm đặc thù của sản xuất lâm nghiệp
1 Đối tượng của sản xuất lâm nghiệp là rừng và đất rừng, phân bố trên địa bàn rộng và phân tán, điều kiện tự nhiên và địa hình phức tạp, ở những vùng xa xôi hẻo lánh,
kinh tế xã hội còn kém phát triển, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, đặc biệt khó khăn về giao thông, ảnh hưởng rất lớn tới tổ chức sản xuất và gây nhiều khó khăn, cản trở cho các hoạt động trong quá trình sản xuất
2 Tài nguyên rừng rất đa dạng, phong phú, có thể tái tạo lại và phát triển: Có rất
nhiều trạng thái rừng, rất nhiều loài cây với các đặc điểm sinh thái khác nhau, quá trình sinh trưởng phát triển với các quy luật khác nhau đòi hỏi phải nghiên cứu nắm vững các quy luật sinh trưởng, phát triển của từng bộ phận tài nguyên rừng, áp dụng các biện pháp tác động thích hợp với từng loại rừng trong từng giai đoạn của quá trình sản xuất thì mới mang lại hiệu quả tích cực
3 Sản xuất lâm nghiệp vừa mang tính chất của sản xuất nông nghiệp, vừa mang tính chất của sản xuất công nghiệp, dịch vụ: Giai đoạn tái sinh, phục hồi và chăm sóc nuôi
dưỡng, phát triển vốn rừng mang tính chất của sản xuất nông nghiệp; Giai đoạn khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản và cung cấp, thương mại lâm sản, các dịch vụ nghỉ dưỡng, dịch vụ du lịch sinh thái, dịch vụ môi trường liên quan đến rừng mang tính chất của sản xuất công nghiệp và dịch vụ Cần chú ý tới đặc điểm của từng giai đoạn, từng khâu trong quá trình sản xuất để có những giải pháp tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả
4 Chu kỳ sản xuất lâm nghiệp dài: Do cây rừng sống lâu năm, quá trình sinh trưởng
dài hàng chục, có khi hàng trăm năm Vì vậy, chu kỳ sản xuất lâm nghiệp thường dài, với những loài cây mọc nhanh, sản phẩm gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu (cho giấy, sợi, cho ván dăm) thì ít ra cũng phải 5 - 7 năm mới cho thu hoạch, còn kinh doanh gỗ lớn (kể cả rừng trồng
và rừng tự nhiên) thì chu kỳ phải lâu hơn nhiều, thường phải hàng chục năm, thậm chí 30 -
40 năm hoặc có thể lâu hơn Đây là đặc điểm rất quan trọng vì chu kỳ sản xuất càng dài, thời gian thu hồi vốn đầu tư càng chậm, vốn quay vòng chậm, hiệu quả thấp Hơn nữa thời gian càng dài thì khả năng biến động của hoàn cảnh và thị trường càng lớn, rủi ro nhiều, đặc biệt rất khó có thể điều chỉnh, thay đổi kịp với sự thay đổi của thị trường khi nhu cầu thị trường thay đổi nhanh như hiện nay (cơ cấu cây nông nghiệp có thể thay đổi hàng năm hoặc chỉ trong vài ba tháng nhưng thay đổi cơ cấu cây lâm nghiệp ít ra cũng phải 5 - 7 năm hoặc lâu hơn - vì phụ thuộc chu kỳ kinh doanh của loài cây lâm nghiệp) Vì vậy, nhiệm vụ
Trang 22của ngành Lâm nghiệp cần có tầm nhìn xa, lường trước các biến động của thị trường để có định hướng phát triển đúng đắn, đồng thời phải tìm ra các giải pháp rút ngắn được chu kỳ kinh doanh, rút ngắn được càng nhiều càng tốt để hạn chế được các rủi ro, thuận lợi hơn trong điều chỉnh cơ cấu cây trồng, cơ cấu sản phẩm
5 Sản xuất lâm nghiệp có tác dụng nhiều mặt, vừa mang mục tiêu kinh tế, vừa mang mục tiêu về môi trường, mục tiêu về xã hội:
- Tài nguyên rừng rất đa dạng, phong phú nên giá trị và tác dụng cũng rất khác nhau, rừng cung cấp cho con người rất nhiều loại lâm sản như gỗ, tre, nứa và rất nhiều loại lâm sản ngoài gỗ khác như: Song mây, nhựa thông, sơn, các loại dược liệu… với rất nhiều giá trị, công dụng khác nhau, mang lại giá trị kinh tế lớn, đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống của người dân;
- Rừng có vai trò hết sức quan trọng trong phòng hộ, bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện môi sinh, bảo tồn bảo tàng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, đáp ứng các nhu cầu du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng…;
- Rừng gắn liền với địa bàn nông thôn, trung du và miền núi, địa bàn sinh sống chủ yếu của các dân tộc ít người, điều kiện sống về mọi mặt nhìn chung còn rất khó khăn Sản xuất lâm nghiệp phải góp phần tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, đặc biệt là việc huy động người dân tham gia vào sản xuất lâm nghiệp, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập về kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân, đồng thời nâng cao nhận thức và ý thức của người dân tham gia tích cực vào việc bảo vệ rừng, phát triển sản xuất lâm nghiệp
Cần phải cân nhắc tính toán kinh doanh sử dụng rừng sao cho hợp lý nhất, hiệu quả nhất, đảm bảo khai thác được nhiều lâm sản, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thời phát huy cao nhất tất cả các tính năng có lợi khác của rừng và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, đáp ứng cao nhất tất cả các mục tiêu: Kinh tế, xã hội và môi trường
- Quá trình tái sản xuất tự nhiên xen kẽ quá trình tái sản xuất kinh tế, trong đó tái sản xuất kinh tế là quan trọng và giữ vai trò quyết định
Các đặc điểm này cũng cần rất được chú ý trong quá trình tổ chức sản xuất lâm nghiệp
Trang 231.2.1.2 Các mâu thuẫn trong sản xuất lâm nghiệp
a) Mâu thuẫn giữa sản xuất lâm nghiệp với các ngành khác và với nhu cầu của con người về cung và cầu: Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội và nhu cầu ngày càng
cao về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhu cầu về lâm sản của các ngành kinh tế và phục vụ đời sống con người cũng như các nhu cầu về phòng hộ, bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, nhu cầu về du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng ngày càng lớn nhưng khả năng đáp ứng của tài nguyên rừng thì
có hạn Cần nghiên cứu giải quyết mâu thuẫn này, tổ chức sản xuất, phát triển lâm nghiệp phải dung hòa giữa cung và cầu các loại lâm sản và các nhu cầu khác đối với tài nguyên rừng một cách hợp lý nhất, tối ưu nhất
b) Mâu thuẫn giữa sử dụng hiện tại với phát triển sản xuất lâu dài: Do diện tích, trữ
lượng và lượng tăng trưởng của rừng có hạn, nhu cầu lâm sản thì lớn, trong quá trình sản xuất kinh doanh cần giữ được một diện tích và trữ lượng đủ lớn để có thể duy trì, phát triển vốn rừng, đảm bảo sản xuất được bền vững Nếu hiện tại khai thác quá mức, lạm vào vốn rừng thì sẽ ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất tự nhiên, tới quá trình sinh trưởng phát triển của rừng do đó ảnh hưởng tới sản xuất trong tương lai Đây là điều mà các nhà lâm nghiệp cần căn cứ vào vốn rừng, căn cứ vào khả năng sinh trưởng phát triển của rừng để tính toán, cân nhắc cho hợp lý, đảm bảo vừa lợi dụng đáp ứng tối đa nhu cầu lâm sản cho hiện tại, vừa duy trì vốn rừng đảm bảo lợi dụng được lâu dài, bền vững
c) Mâu thuẫn giữa khai thác lâm sản với phát huy các tính năng có lợi khác của rừng: Như trên đã trình bày, cùng với cung cấp các loại lâm sản đáp ứng mục tiêu kinh tế
và phục vụ đời sống người dân, rừng còn có chức năng rất quan trọng là phòng hộ, bảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi, giữ nước, phòng chống bão lũ, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh… phục vụ các nhu cầu du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng… Để phát huy được những tính năng có lợi trên, tùy theo điều kiện cụ thể cần phải có một diện tích rừng đủ lớn, đảm bảo một tỷ lệ che phủ của rừng hợp lý, đồng thời phải đảm bảo chất lượng của rừng với cấu trúc thích ứng với các tính năng theo yêu cầu về tổ thành, mật độ, tầng thứ, tỷ lệ số cây theo đường kính, trữ lượng… Tuy nhiên, trên thực tế do nhu cầu về lâm sản ngày càng lớn và các nhu cầu khác về đất đai, con người cho đến nay ở nhiều quốc gia đã khai thác quá mức tài nguyên rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang làm việc khác… Tình trạng trên đã dẫn tới diện tích rừng ngày một bị thu hẹp, chất lượng rừng ngày một suy giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường của rừng gây nên những thảm họa thiên tai, hạn hán, bão lụt, sa mạc hóa, biến đổi khí hậu trên toàn cầu mà con người đã và đang phải gánh chịu Đây là mâu thuẫn, thách thức sẽ ngày càng gay gắt đòi hỏi ngành Lâm nghiệp và nhân loại phải đối mặt và giải quyết trên phạm vi từng vùng lãnh thổ, trong từng quốc gia, từng khu vực và trên toàn thế giới
Trang 24d) Mâu thuẫn giữa từng khâu cá biệt với các khâu khác trong quá trình sản xuất:
Sản xuất lâm nghiệp bao gồm nhiều công đoạn, nhiều khâu sản xuất, từng khâu là những mắt xích riêng, trong đó về cơ bản các khâu có mối quan hệ hỗ trợ, phụ thuộc lẫn nhau, phối hợp thống nhất với nhau tạo nên quá trình sản xuất Tuy nhiên có những khâu cá biệt
có thể có mâu thuẫn, hạn chế với khâu khác của quá trình, cần tìm ra các giải pháp giải quyết các mâu thuẫn này để sản xuất phát triển, đạt hiệu quả cao nhất, trong đó nổi bật nhất
là mâu thuẫn giữa khai thác với tái sinh rừng
1.2.2 Quy hoạch lâm nghiệp (QHLN)
1.2.2.1 Khái niệm
Với những đặc điểm và mâu thuẫn đặc thù nêu trên, để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng các mục tiêu phát triển của ngành Lâm nghiệp, cần phải nắm vững các đặc điểm về điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn, điều tra nắm chắc điều kiện tài nguyên rừng, căn cứ vào yêu cầu phát triển chung và trình độ phát triển khoa học và công nghệ lâm nghiệp để định ra phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp, giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn đặt ra, lập ra phương án sản xuất, kinh doanh khai thác rừng hợp lý, toàn diện, lâu dài, bền vững, đạt hiệu quả cao nhất Toàn bộ các hoạt động có tính chất nghiệp vụ trên đều do công tác quy hoạch lâm nghiệp đảm nhiệm Từ đó có thể hiểu khái niệm chung về quy hoạch lâm nghiệp như sau:
Quy hoạch lâm nghiệp là nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng, bố
trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và quản lý sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho việc định hướng, lập kế hoạch sản xuất lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế, phát huy các tính năng có lợi khác của rừng, đảm bảo kinh doanh sử dụng rừng toàn diện, hợp lý, hiệu quả và bền vững
1.2.2.2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng của quy hoạch lâm nghiệp
a Mục đích
Mục đích của quy hoạch lâm nghiệp là tổ chức kinh doanh rừng toàn diện và hợp lý nhằm khai thác tài nguyên rừng và phát huy những tính năng có lợi khác của rừng một cách bền vững (lâu dài liên tục), hiệu quả, đáp ứng các nhu cầu về lâm sản của nền kinh tế quốc dân, đời sống nhân dân, xuất khẩu cũng như duy trì và phát huy các tính năng tác dụng có lợi khác của rừng như phòng hộ, giữ đất, giữ nước, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học…
b Nhiệm vụ
Với chức năng là một môn khoa học về tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch lâm nghiệp có các nhiệm vụ sau đây:
(1) Điều tra, phân tích điều kiện cơ bản của đối tượng quy hoạch
Để có cơ sở xây dựng phương án quy hoạch lâm nghiệp hợp lý nhằm phát huy tác dụng của nó trong chỉ đạo sản xuất, cần tiến hành điều tra đầy đủ, chính xác các nguồn tài liệu sau:
Trang 25- Số, chất lượng và đặc điểm phân bố các loại đất đai, tài nguyên rừng;
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình sản xuất kinh doanh của đối tượng quy hoạch;
- Hiện trạng sử dụng đất đai của đối tượng quy hoạch;
- Các quy luật cơ bản của tài nguyên rừng trong đối tượng quy hoạch
Những số liệu thống kê sau khi tổng hợp và phân tích một cách toàn diện sẽ là căn cứ
để lập phương án quy hoạch lâm nghiệp
(2) Xác định phương hướng, nhiệm vụ quản lý sử dụng đất đai tài nguyên rừng và lập phương án QHLN
Trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của cấp quản lý lãnh thổ, định hướng phát triển của ngành Lâm nghiệp, cùng với những tài liệu thu thập được tiến hành tổng hợp, phân tích, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng, trên cơ sở đó tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, quy hoạch các biện pháp kinh doanh, sử dụng rừng và lập ra bản phương
án quy hoạch lâm nghiệp hợp lý, toàn diện và hiệu quả cho đối tượng quy hoạch
(3) Kiểm tra việc thực hiện phương án
Sau khi phương án quy hoạch được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt thì được
tổ chức triển khai thực hiện Trong quá trình thực thi phương án, cần tổ chức theo dõi, giám sát, kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động, các hạng mục sản xuất kinh doanh đã được đề xuất trong phương án Kết quả giám sát, kiểm tra cần được phân tích, tổng hợp để tìm ra nguyên nhân những thành công, thất bại và đề xuất các giải pháp điều chỉnh, kịp thời khắc phục những bất cập trong quá trình thực thi Song song với công tác theo dõi giám sát thường xuyên cần có đánh giá theo định kỳ và khi kết thúc thời kỳ quy hoạch cần có đánh giá toàn diện kết quả thực hiện phương án nhằm tiếp tục xây dựng
phương án quy hoạch ở giai đoạn tiếp theo
Quy hoạch lâm nghiệp là một công tác phức tạp, phạm vi và quy mô rất rộng, thời hạn lâu dài Vì vậy, muốn tiến hành công tác này có kết quả ngoài việc hiểu biết nghiệp
vụ, cần nắm vững các chủ trương, chính sách, luật pháp và các văn bản pháp lý của nhà nước có liên quan tới sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn, phải có sự chỉ đạo thống nhất và có
kế hoạch
c Đối tượng của QHLN
Về nguyên tắc, đối tượng của quy hoạch lâm nghiệp bao gồm tất cả các phạm vi lãnh thổ, các tổ chức, đơn vị có quản lý đất đai tài nguyên rừng
Tuy nhiên tùy theo phạm vi quy mô của đối tượng, tùy theo chính sách, luật pháp ở các quốc gia khác nhau, ở các giai đoạn phát triển khác nhau với những quy định cụ thể khác nhau về hệ thống quy hoạch mà đối tượng quy hoạch có thể có những sự phân loại và tên gọi khác nhau, song nhìn chung có thể phân chia theo hai hệ thống là:
Trang 26(1) QHLN cho các cấp quản lý lãnh thổ
Đối tượng quy hoạch theo các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm phạm vi diện tích quản
lý theo các đơn vị quản lý lãnh thổ, ở Việt Nam hiện nay là các đơn vị hành chính từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã Đối với những đối tượng quy hoạch rộng lớn (toàn quốc, vùng
nhiều tỉnh, tỉnh) thường còn có thể xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp Nội dung
chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ chủ yếu phát triển từ toàn bộ, chú ý mọi mặt phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi lãnh thổ, từ
đó căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm tài nguyên rừng để đề ra phương hướng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, phát triển lâm nghiệp có tính nguyên tắc cho phạm vi lãnh thổ đó
Theo Luật Quy hoạch 2017 và Luật Lâm nghiệp 2017, thuộc các đối tượng này ở Việt nam hiện nay có:
- Quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia;
- Phương án lâm nghiệp trong quy hoạch tỉnh, quy hoạch vùng, quy hoạch đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
Ngoài ra còn có thể có các phương án lâm nghiệp huyện (phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và phương án lâm nghiệp tỉnh), phương án lâm nghiệp xã (phù hợp với phương án lâm nghiệp huyện và kế hoạch sử dụng đất của xã)
(2) QHLN cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh bao gồm các đối tượng trực tiếp quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng, tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp: Các Công ty lâm nghiệp (các lâm trường), các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các chủ quản lý sử dụng đất đai tài nguyên rừng khác Trong quá trình chuyển đổi từ nền lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp xã hội, một bộ phận lớn rừng và đất rừng được giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng… quản lý sử dụng nên đối tượng quy hoạch lâm nghiệp, lập kế hoạch sản xuất lâm nghiệp còn bao hàm diện tích đất đai, tài nguyên rừng của các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức, tập thể, hộ gia đình, cộng đồng…
Theo Luật Lâm nghiệp 2017, các đối tượng này cần phải xây dựng các phương án quản lý rừng bền vững (trước đây vẫn gọi chung là phương án quy hoạch lâm nghiệp)
1.2.3 Điều chế rừng (ĐCR)
1.2.3.1 Khái niệm
- Điều chế rừng là môn khoa học mang tính thực tiễn sâu sắc của việc tổ chức rừng,
nhằm giúp cho việc quản lý rừng được chặt chẽ, khoa học, cụ thể và hiệu quả;
- Điều chế rừng là khoa học và thực tiễn về tổ chức rừng phù hợp với nhiệm vụ quản
lý kinh doanh rừng
Trang 271.2.3.2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng của điều chế rừng
a Mục đích
Căn cứ vào quy luật sinh trưởng phát triển của rừng, đề xuất các biện pháp kinh doanh tác động vào các bộ phận tài nguyên rừng nhằm tổ chức sản xuất ổn định, lâu dài theo chu kỳ, luân kỳ: Tái sinh - nuôi dưỡng - khai thác - tái sinh , xây dựng cơ sở lý luận cho các giải pháp kỹ thuật lâm sinh, đảm bảo cơ sở hiện thực vững chắc cho việc xây dựng
kế hoạch sản xuất, làm căn cứ cho việc đưa tiến bộ kỹ thuật lâm nghiệp vào sản xuất, góp phần quản lý rừng một cách khoa học, hiệu quả, bền vững
b Nhiệm vụ
- Điều tra nắm vững đặc điểm số và chất lượng tài nguyên rừng, các quy luật cấu trúc, sinh trưởng và phát triển của tài nguyên rừng
- Đề xuất được các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp tối ưu tác động vào từng bộ
phận tài nguyên rừng trong từng phạm vi không gian và thời gian cụ thể, phù hợp với định hướng phát triển, làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch sản xuất liên tục, ổn định theo chu kỳ, luân kỳ
- Đảm bảo cung cấp các loại lâm sản theo mục tiêu kinh doanh, không ngừng nâng cao năng suất sinh học và giá trị kinh tế của rừng Duy trì và phát huy vai trò phòng hộ bảo vệ môi trường và các tính năng có lợi khác của rừng
c Đối tượng của ĐCR
Đối tượng của ĐCR là toàn bộ diện tích đất đai tài nguyên rừng trong các đối tượng sản xuất, kinh doanh nghề rừng đủ lớn, đảm bảo cho việc sản xuất kinh doanh lâu dài, liên tục và ổn định
1.2.3.3 Mối quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng
Với khái niệm như đã nêu trên, nếu phân biệt một cách rạch ròi thì giữa quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng tuy có sự khác nhau nhất định trong khái niệm, mục đích, nhiệm vụ và đối tượng, nhưng có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau:
- Quy hoạch lâm nghiệp xác định phương hướng phát triển, các nội dung chủ yếu trong toàn bộ các hoạt động của sản xuất lâm nghiệp và tiến trình thực hiện các nội dung hoạt động trong không gian và thời gian của đối tượng quy hoạch;
- Điều chế rừng dựa trên phương hướng mục đích kinh doanh rừng đã được xác định trong QHLN, căn cứ các quy luật sinh trưởng phát triển của rừng để đề xuất các biện pháp tác động vào từng bộ phân tài nguyên rừng làm cơ sở cho việc lập kế hoạch tổ chức kinh doanh rừng đạt hiệu quả, ổn định, phát triển
Như vậy, Điều chế rừng chính là việc cụ thể hóa, chi tiết hóa nội dung “quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, quy hoạch các biện pháp kinh doanh, khai thác rừng” trong nội dung
Trang 28nhiệm vụ thứ 2 của quy hoạch lâm nghiệp (xác định phương hướng, nhiệm vụ quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và lập phương án quy hoạch lâm nghiệp) Rõ ràng rằng, QHLN và ĐCR đều nhằm quản lý rừng bền vững theo phương thức quản lý rừng tiến bộ, khoa học, trong đó QHLN có vai trò định hướng, toàn cục, liên quan đến toàn bộ các hoạt động của sản xuất lâm nghiệp, còn điều chế rừng tập trung vào các biện pháp tác động vào từng bộ phận tài nguyên rừng trên cơ sở khoa học, phù hợp với các quy luật sinh trưởng của tài nguyên rừng, đảm bảo phát huy hiệu quả cao nhất và bền vững
Như vậy có thể thấy ĐCR giải quyết về cơ bản các vấn đề trọng tâm của QHLN là tổ chức các biện pháp tác động vào tài nguyên rừng, nhưng chi tiết cụ thể hơn Cũng chính vì vậy đã có những quan điểm đồng nhất giữa QHLN với ĐCR, coi QHLN cũng chính là ĐCR (khi xây dựng phương án QHLN một cách chi tiết) Đặc biệt nếu như đơn vị chưa có phương án QHLN thì với yêu cầu phải xây dựng phương án ĐCR, thường phải thực hiện đồng thời các nội dung nhiệm vụ cả QHLN và ĐCR, khó có sự phân biệt được rõ ràng
Trên thực tế hiện nay cũng có những trường hợp tương tự như vậy (xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, xây dựng kế hoạch quản lý rừng bền vững )
Nếu phân biệt rạch ròi ra thì QHLN mang tính định hướng, tổng quát, toàn diện các nội dung liên quan tới toàn bộ quá trình sản xuất lâm nghiệp của đối tượng quy hoạch, còn ĐCR tập trung đi sâu vào tổ chức các biện pháp tác động vào các bộ phận tài nguyên rừng đảm bảo đúng quy luật, hiệu quả, làm căn cứ cho việc lập kế hoạch sản xuất trong các khâu bảo vệ rừng, tái sinh phục hồi, chăm sóc nuôi dưỡng xây dựng vốn rừng, khai thác lâm sản
và phát huy các tính năng có lợi của rừng
1.2.4 Vị trí, tính chất và mối quan hệ của quy hoạch lâm nghiệp - điều chế rừng
với các môn khoa học khác
1.2.4.1 Vị trí, tính chất của quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng
Quy hoạch lâm nghiệp là môn khoa học chuyên môn về tổ chức kinh doanh rừng, nó
có tính chất tổng hợp các môn khoa học khác có liên quan và tính kinh tế, pháp lý
Phạm vi đề cập đến của quy hoạch lâm nghiệp rộng, sau khi điều tra được đầy đủ các yếu tố về tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên rừng, quy hoạch lâm nghiệp tiến hành xác định phương hướng mục tiêu nhiệm vụ quản lý sử dụng tài nguyên rừng, xây dựng các giải pháp kinh tế, kỹ thuật và tổ chức để thực hiện được đầy đủ các hoạt động trong khuôn khổ pháp lý, luật pháp, chế độ chính sách của nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu của ngành Lâm nghiệp về kinh tế, xã hội, môi trường, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên
địa bàn
Trong chương trình giảng dạy ở trường đại học, quy hoạch lâm nghiệp là một trong những môn khoa học chuyên môn chủ yếu trong chương trình đào tạo của chuyên ngành Lâm học, Lâm nghiệp và các chuyên ngành khác có liên quan, thường được bố trí giảng dạy vào giai đoạn cuối trong quá trình đào tạo ở bậc đại học và sau đại học Ngược lại,
Trang 29trong thực tiễn sản xuất, quy hoạch lâm nghiệp là công việc luôn phải đi trước một bước nhằm xây dựng phương án sản xuất làm căn cứ lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện toàn bộ quá trình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn đối tượng quy hoạch
1.2.4.2 Mối quan hệ của quy hoạch lâm nghiệp với các môn học khác
Quy hoạch lâm nghiệp là môn khoa học có tính tổng hợp, kế thừa các kiến thức đã được trang bị ở các môn kỹ thuật và kinh tế, xã hội Các môn Kinh tế lâm nghiệp, Quản lý doanh nghiệp lâm nghiệp, Luật và hành chính lâm nghiệp, Lâm nghiệp xã hội, Phổ cập và phát triển kinh tế nông thôn miền núi… cung cấp cho quy hoạch lâm nghiệp những kiến thức cơ bản về phương pháp điều tra và phân tích kinh tế xã hội, những kiến thức về luật
pháp, chính sách cần vận dụng vào nghiệp vụ tổ chức sản xuất của quy hoạch rừng
Môn Lâm sinh học và môn Điều tra rừng là các môn cơ sở kỹ thuật chủ yếu của quy hoạch lâm nghiệp Quy hoạch lâm nghiệp vận dụng lý luận và phương pháp của môn Lâm sinh và môn Điều tra rừng để điều tra, thu thập thông tin, giải quyết các vấn đề thực tế của
tổ chức kinh doanh rừng, tổ chức rừng Môn Lâm sinh học và Điều tra rừng trình bày những quy luật sinh trưởng phát triển rừng, diễn thế rừng, các kỹ thuật xử lý lâm sinh, các quy luật kết cấu lâm phần, các phương pháp điều tra, thống kê mô tả tài nguyên rừng, đánh giá số và chất lượng tài nguyên rừng Đây chính là những cơ sở kỹ thuật quan trọng để quy hoạch lâm nghiệp xây dựng những biện pháp tổ chức kinh doanh rừng, các phương
thức điều chế rừng, quản lý rừng bền vững
Các môn học khác như Khí tượng thủy văn rừng, Sinh thái rừng, Bảo vệ môi trường, Đất lâm nghiệp, Động vật rừng, Thực vật rừng, Đặc sản rừng, Quản lý bảo vệ rừng, Nông lâm kết hợp, Khai thác vận chuyển, Công trình lâm nghiệp, Công nghệ chế biến lâm sản… cũng được quy hoạch lâm nghiệp vận dụng các kiến thức chuyên sâu trong việc xây dựng các biện pháp kinh doanh, lợi dụng rừng
Tổng quát những vấn đề trên cho thấy rằng trong công tác thực tế hay trong nghiên cứu, quy hoạch lâm nghiệp luôn phải gắn giữa kinh tế - xã hội và kỹ thuật, phải quan niệm hữu cơ giữa lâm nghiệp với các ngành kinh tế khác, phải kết hợp giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ với toàn bộ, giữa lợi dụng gỗ và lâm sản với phát huy các tính năng có lợi khác của rừng một cách hợp lý, toàn diện và hiệu quả nhất Xuất phát
từ thực tế phân tích cụ thể mọi tình hình, đề xuất cụ thể thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa quy luật khách quan với tính năng động chủ quan để quản lý và sử dụng tài nguyên rừng được bền vững, hiệu quả Đây cũng là quan điểm và phương pháp giảng dạy, học tập của môn Quy hoạch lâm nghiệp
1.2.5 Lịch sử phát triển của quy hoạch lâm nghiệp - điều chế rừng
1.2.5.1 Trên thế giới
Công tác quy hoạch lâm nghiệp: Sự phát sinh của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với
sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển nên
Trang 30khối lượng gỗ yêu cầu ngày càng tăng, sản xuất gỗ tách khỏi nền kinh tế địa phương của phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy
Đầu thế kỷ thứ 18 phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc theo diện tích Phương pháp này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng
chồi, chu kỳ khai thác ngắn
Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ thứ 19 phương thức kinh doanh rừng chồi được thay thế bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài Phương pháp “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương pháp “Chia đều” của Hartig Hartig đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều kỳ sử dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816 xuất hiện phương pháp “Phân kỳ lợi dụng” của H Cotta Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 kỳ khai thác và căn cứ vào đó để khống chế lượng chặt hàng năm Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời Quan điểm của phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Đến cuối thế kỷ 19 xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Juedeich, phương pháp này khác phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch”
và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh rừng khác nhau
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là yêu cầu rừng phải có kết cấu chuẩn về
tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này đang được sử dụng phổ biến ở các nước có
tài nguyên rừng phong phú Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm
phần để tiến hành phân tích xác định sản lượng rừng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng thích hợp với quan điểm coi trọng chăm sóc nuôi dưỡng làm giàu rừng
Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra”, “Phương pháp mô hình rừng định hướng”
Trang 31Môn học Quy hoạch lâm nghiệp: Quy hoạch lâm nghiệp hình thành môn học đầu tiên
ở các nước Đức, Áo và vào thế kỷ 18 trở thành môn học hoàn chỉnh và độc lập Thời kỳ đầu môn học Quy hoạch lâm nghiệp lấy việc xác định sản lượng rừng làm nhiệm vụ duy nhất nên gọi là môn “Tính thu hoạch rừng” Sau đó nội dung quy hoạch lâm nghiệp chuyển sang bàn về lợi dụng rừng lâu dài liên tục và ổn định nên được gọi là môn học “Quy ước thu hoạch rừng” Sau này nội dung môn học chuyển sang nghiên cứu về điều kiện sản xuất
và tổ chức kinh doanh rừng, tổ chức rừng với sự chi phối về giá cả, lợi nhuận và môn học
có tên là “Quy ước kinh doanh rừng” Hiện nay tùy theo mục đích, nhiệm vụ của quy hoạch lâm nghiệp phải đảm nhiệm trong từng quốc gia, từng địa phương và trong từng điều kiện cụ thể mà môn học có nội dung và tên gọi khác nhau Ở Liên Xô cũ và Trung quốc thường có tên gọi là “Quy hoạch rừng”, các nước có trình độ kinh doanh rừng cao và công tác quy hoạch yêu cầu tỉ mỉ hơn (Đức, Áo, Thụy Điển) có tên gọi là “Thiết kế rừng” Các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Canada… gọi tên môn học là “Điều chế rừng” (Forest management)…
1.2.5.2 Trong nước
Công tác quy hoạch lâm nghiệp: Được áp dụng ở nước ta ngay từ thời Pháp thuộc,
như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, hạt sản xuất củi, điều chế rừng thông
theo phương pháp hạt đều
Đến năm 1955 - 1957 tiến hành sơ thám và mô tả để ước lượng tài nguyên rừng, năm
1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Từ những năm 1960 - 1964 công tác quy hoạch lâm nghiệp áp dụng từng bước phát triển tại miền Bắc
Từ năm 1975 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường
mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các sở lâm nghiệp, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp tiên tiến của các nước vận dụng phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng Việt Nam
Từ năm 1976 sau khi thống nhất đất nước sang những năm 80 của thế kỷ XX, công tác quy hoạch cho các đơn vị lãnh thổ được coi trọng và triển khai thực hiện, đặc biệt quy hoạch cấp huyện trong đó quy hoạch lâm nghiệp ở các huyện có rừng cũng hết sức được quan tâm triển khai thực hiện
Trong những năm 1990, ngành Lâm nghiệp đã chỉ đạo đẩy mạnh triển khai xây dựng
và thực hiện phương án điều chế rừng (hoặc phương án điều chế rừng đơn giản) cho các lâm trường trong toàn quốc
Trang 32Trong quá trình phát triển, toàn ngành đã xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp các giai đoạn: Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn năm
1991 - 2000 do Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp Việt Nam phê duyệt, chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn năm 2001 - 2010 do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn năm 2006 - 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Bước sang đầu thế kỷ 21 và đặc biệt trong những năm gần đây, phát triển bền vững nói chung trong đó có quản lý rừng bền vững ngày càng được toàn nhân loại quan tâm Việt Nam đã và đang tích cực hưởng ứng việc xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, tiêu chí quản lý rừng bền vững Các công ty, doanh nghiệp lâm nghiệp đang tích cực xây dựng
và thực thi các phương án quản lý rừng bền vững, kế hoạch quản lý rừng bền vững để có được chứng chỉ quản lý rừng bền vững, đảm bảo sản xuất kinh doanh rừng hiệu quả, bền vững
Môn học quy hoạch lâm nghiệp: Song song với việc tiến hành thực hiện công tác quy
hoạch lâm nghiệp trong thực tiễn sản xuất, môn học Quy hoạch lâm nghiệp cũng được đưa vào giảng dạy ở các trường và nội dung môn học cũng luôn từng bước được cập nhật những kiến thức mới, phù hợp và đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển của ngành Lâm nghiệp trong từng giai đoạn phát triển
Trước năm 1975 bài giảng của môn học này ở miền Bắc chủ yếu dựa vào giáo trình
Quy hoạch rừng và giáo trình Điều tra thiết kế kinh doanh rừng, còn ở miền Nam là giáo trình Điều chế rừng Các giáo trình này chủ yếu dịch của nước ngoài, không hoàn toàn phù
hợp với điều kiện tài nguyên rừng và thực tiễn lâm nghiệp nước ta, đồng thời về nội dung cũng mới chỉ tập trung ở việc tổ chức kinh doanh rừng mà chưa giải quyết sâu sắc vấn đề
tổ chức rừng
Năm 1992, Trường Đại học Lâm nghiệp xuất bản và giảng dạy môn học này theo Học phần III - Quy hoạch rừng của giáo trình môn học Điều tra - Quy hoạch - Điều chế rừng Từ năm 1999 đến nay giảng dạy theo giáo trình môn học Quy hoạch lâm nghiệp Hai giáo trình trên đã từng bước nghiên cứu cải tiến, cập nhật kiến thức mới, phù hợp với thực
tế Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển song đến nay, các giáo trình này đã quá lạc hậu
Trong những năm gần đây, thế giới đã và đang có những biến đổi nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu ngày một gia tăng, vần đề phát triển bền vững được đặt ra đối với toàn nhân loại Trong bối cảnh đó, lĩnh vực lâm nghiệp
đã có những bước tiến và đóng góp tích cực, vấn đề quản lý rừng bền vững được hết sức quan tâm từ tầm quốc tế, quốc gia tới từng tổ chức, đơn vị sản xuất, xu thế hội nhập quốc
Trang 33tế ngày càng đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả thiết thực Vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người hiện tại được đánh giá và được thiết kế trong rất nhiều chương trình, hiệp ước, công ước quốc tế (CITES - 1973, RAMSA - 1998, UNCED - 1992, CBD -
1994, UNFCCC - 1994, UNCCD - 1995) Tại Việt Nam, hàng loạt các bộ luật và chính sách mới ra đời liên quan mật thiết với phát triển lâm nghiệp như: Luật Đất đai, Luật Quy hoạch, Luật Lâm nghiệp, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang tham gia nhiều công ước, hiệp ước, chương trình quốc tế nói trên có liên quan tới bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển lâm nghiệp, quản lý rừng bền vững…
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, tái cơ cấu trong thực tiễn tổ chức sản xuất lâm nghiệp phù hợp với luật pháp chính sách hiện hành của nhà nước và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, nội dung môn học Quy hoạch lâm nghiệp cũng cần được thay đổi phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ Việc biên soạn lại giáo trình môn Quy hoạch lâm nghiệp thay thế
cho giáo trình xuất bản năm 1992 và 1999 là rất cần thiết
Trang 34PHẦN THỨ HAI
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP
Trang 36Chương 2
CƠ SỞ KINH TẾ - PHÁP LÝ CỦA QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP
2.1 HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA QUỐC GIA
Hệ thống các văn bản pháp luật quốc gia bao gồm:
- Hiến pháp là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập
kiến trúc, thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền, quy định các quyền và nghĩa vụ của công dân
Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân tồn tại ở trong hoặc ngoài nhà nước đó, nhưng vẫn là nhân dân thuộc nhà nước đó
- Các bộ luật: cụ thể hóa các quy định trong hiến pháp vào từng ngành, từng lĩnh vực
hoạt động cụ thể của quốc gia
- Các văn bản dưới luật: Các văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện các bộ luật, ở
Việt Nam bao gồm:
+ Các nghị định của chính phủ;
+ Các thông tư hướng dẫn của các bộ ngành;
+ Các nghị quyết, quyết định, chỉ thị… của các cấp, các ngành được ban hành theo thẩm quyền (Quốc hội, chính phủ, các bộ ngành, UBND tỉnh, UBND huyện );
+ Các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức, cơ quan, đoàn thể, lĩnh vực hoạt động, cộng đồng địa phương như: điều lệ, quy chế, quy định, nội quy, quy ước…
- Các văn bản luật pháp quốc tế: Ngoài các văn bản pháp luật nêu trên còn có các loại
văn bản như: Các công ước, điều ước, hiệp ước và các văn bản luật pháp quốc tế khác mà quốc gia tham gia, đòi hỏi các cấp các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc các lĩnh vực hoạt động có liên quan trong nước phải chấp hành, tuân theo
2.2 THỂ CHẾ, CHÍNH SÁCH LÂM NGHIỆP
2.2.1 Nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp
Hoạt động lâm nghiệp bao gồm các hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản Các nguyên tắc trong hoạt động lâm nghiệp là những cơ sở, căn cứ quan trọng trong công tác quy hoạch lâm nghiệp, bao gồm các nguyên tắc sau:
Trang 371 Rừng được quản lý bền vững về diện tích và chất lượng, bảo đảm hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao tỷ
lệ che phủ rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng và ứng phó với biến đổi khí hậu;
2 Xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của chủ rừng, tổ chức, cá nhân hoạt động lâm nghiệp;
3 Bảo đảm tổ chức liên kết theo chuỗi từ bảo vệ rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản để nâng cao giá trị rừng;
4 Bảo đảm công khai, minh bạch, sự tham gia của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư liên quan trong hoạt động lâm nghiệp;
5 Tuân thủ điều ước quốc tế liên quan đến lâm nghiệp mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này hoặc văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam chưa có quy định thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó;
6 Các nguyên tắc kinh tế lâm nghiệp: Cùng với các nguyên tắc chung trong hoạt động lâm nghiệp nêu trên, cần đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc kinh tế lâm nghiệp sau:
a Tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng
Một đặc điểm quan trọng nổi bật của sản xuất lâm nghiệp là tài nguyên rừng có thể tái tạo và nâng cao chất lượng, tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng là nguyên tắc tất yếu, quan trọng đảm bảo phát triển sản xuất và quản lý rừng bền vững
Nội dung của tái sản xuất bao gồm phục hồi và phát triển vốn rừng bằng các giải pháp:
- Mở rộng diện tích rừng, điều chỉnh lại cấu trúc vốn rừng;
- Nâng cao số lượng, chất lượng tài nguyên rừng (trữ lượng rừng, chất lượng lâm sản…)
b Sử dụng hợp lý tài nguyên rừng
Do đặc điểm tài nguyên rừng đa dạng, phong phú, có nhiều tác dụng với những giá trị khác nhau, vì vậy cần sử dụng rừng sao cho hợp lý và hiệu quả, phát huy cao nhất các giá trị, tác dụng của từng bộ phận tài nguyên rừng là hết sức cần thiết
Để sử dụng hợp lý tài nguyên rừng cần điều tra nắm chắc đặc điểm kết cấu tài nguyên rừng, các quy luật sinh trưởng phát triển và vai trò, tác dụng tài nguyên rừng, trên
cở đó căn cứ phương hướng mục tiêu kinh doanh của đối tượng, quy hoạch xác định mục đích kinh doanh và hệ thống biện pháp kỹ thuật kinh doanh phù hợp và hiệu quả với từng
bộ phận tài nguyên rừng
c Nâng cao năng suất lao động
Đây là nguyên tắc quan trọng đối với bất kỳ một ngành, một đối tượng đơn vị nào Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm của từng ngành, từng đơn vị đối tượng mà nội dung, giải pháp khác nhau
Trang 38Ngành Lâm nghiệp với đặc điểm địa bàn sản xuất rộng và phân tán, chu kỳ sản xuất dài, quá trình sản xuất qua nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau, công việc nặng nhọc… Nâng cao năng suất lao động càng có ý nghĩa quan trọng
Nâng cao năng suất lao động trong lâm nghiệp cần chú ý tập trung vào các giải pháp: Rút ngắn chu kỳ sản xuất, tổ chức lao động với quy trình, kế hoạch vận trù hợp lý, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, vật tư, thiết bị…
d Tăng thu nhập lâm nghiệp
Tăng thu nhập lâm nghiệp là kết quả tất yếu của lợi dụng hợp lý tài nguyên rừng và tăng năng suất lao động
Lâm nghiệp là ngành Kinh tế - Kỹ thuật đa mục tiêu: kinh tế - xã hội - môi trường, thu nhập lâm nghiệp cần được tính đến và phát huy giá trị trên cả 3 mục tiêu đó
Cần căn cứ vào điều kiện kinh kinh tế, điều kiện tự nhiên của từng đối tượng quy hoạch, xác định phương hướng mục tiêu kinh doanh và tổ chức kinh doanh, lợi dụng toàn diện, tổng hợp tài nguyên rừng đảm bảo thu được nhiều sản phẩm với chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đồng thời phát huy cao nhất các giá trị, tác dụng khác của rừng: phòng hộ, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan, nghỉ dưỡng, dịch vụ môi trường rừng, chứng chỉ carbon, du lịch sinh thái…
2.2.2 Chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp
Các chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp là cơ sở căn cứ pháp lý quan trọng trong công tác quy hoạch lâm nghiệp, sự quan tâm của nhà nước đối với phát triển lâm nghiệp thể hiện trong các chính sách cụ thể như sau:
1 Nhà nước có chính sách đầu tư và huy động nguồn lực xã hội cho hoạt động lâm nghiệp gắn liền, đồng bộ với chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;
2 Nhà nước bảo đảm nguồn lực cho hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ;
3 Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoạt động lâm nghiệp;
4 Nhà nước tổ chức, hỗ trợ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng sản xuất; giống cây trồng lâm nghiệp, phục hồi rừng, trồng rừng mới; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới; đào tạo nguồn nhân lực; thực hiện dịch vụ môi trường rừng; trồng rừng gỗ lớn, chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn; kết cấu hạ tầng; quản lý rừng bền vững; chế biến và thương mại lâm sản; hợp tác quốc tế
về lâm nghiệp;
5 Nhà nước khuyến khích sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; sản xuất lâm nghiệp hữu cơ; bảo hiểm rừng sản xuất là rừng trồng;
Trang 396 Nhà nước bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; được hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng; được thực hành văn hóa, tín ngưỡng gắn với rừng theo quy định của Chính phủ
Ở Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cách phân loại rừng khác nhau Hiện nay, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng tự nhiên và rừng trồng theo Luật Lâm nghiệp 2017 được phân chia thành 03 loại như sau:
b Rừng phòng hộ
Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng; được phân theo mức độ xung yếu bao gồm:
1 Rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư; rừng phòng hộ biên giới;
2 Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển
c Rừng đặc dụng
Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, tín ngưỡng, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; cung ứng dịch vụ môi trường rừng bao gồm:
Trang 401 Vườn quốc gia;
2 Khu dự trữ thiên nhiên;
3 Khu bảo tồn loài - sinh cảnh;
4 Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao;
5 Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; vườn thực vật quốc gia; rừng giống quốc gia
2.2.4 Phân định ranh giới rừng
Rừng được phân định ranh giới cụ thể trên thực địa, trên bản đồ và lập hồ sơ quản lý rừng Hệ thống phân định ranh giới rừng thống nhất trên phạm vi cả nước theo tiểu khu, khoảnh, lô rừng
Các nội dung chi tiết, cụ thể về phân định ranh giới rừng sẽ được nghiên cứu kỹ tại
mục 3.2.2 Phân chia rừng (chương III)
2.2.5 Chủ rừng
Luật Lâm nghiệp 2017 quy định có các chủ rừng bao gồm:
1 Ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ;
2 Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;
3 Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao rừng;
4 Tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp;
5 Hộ gia đình, cá nhân trong nước;
6 Cộng đồng dân cư;
7 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng sản xuất
2.2.6 Chế độ sở hữu tài nguyên rừng
2.2.6.1 Chế độ sở hữu tài nguyên rừng
Chế độ sở hữu tài nguyên rừng là một trong những cơ sở kinh tế pháp lý quan trọng trong quy hoạch lâm nghiệp Đối tượng của sản xuất lâm nghiệp là tài nguyên rừng bao gồm rừng và đất rừng, trong đó: