Do được hình thành tại địa phương hoặc được du nhập rồi sau đó được cải thiện để phù hợp với thiên nhiên và tập quán xã hội nên kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiệ[r]
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Kiến thức bản địa trong nông lâm nghiệp là môn học nằm trong chương trình đào tạo kỹ sư của một số ngành học trong Trường Đại học Lâm nghiệp Đồng thời là tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho các ngành học khác có liên quan, cũng như các cán bộ, nhân viên làm công tác phát triển cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng nông thôn miền núi
Trên cơ sở kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy nghiên cứu, công tác phát triển nông thôn, các tài liệu đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đúc kết Cuốn tài liệu này đã kế thừa, tổng hợp để phù hợp với chương trình đào tạo tại Trường Đại học Lâm nghiệp nhằm cung cấp cho sinh viên, độc giả những kiến thức, kỹ năng, phương pháp tiếp cận với người dân, trên quan điểm đó sẽ có thái
độ cũng như cái nhìn đúng đắn từ kiến thức của cộng đồng Đây là nền tảng quan trọng trong phát triển và hỗ trợ cộng đồng góp phần phát triển nông thôn bền vững
Trong quá trình biên soạn cuốn bài giảng này, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để cuốn bài giảng ngày càng được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm tác giả
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KIẾN THỨC BẢN ĐỊA
Kiến thức bản địa là những kinh nghiệm được hình thành và đúc kết qua nhiều thế hệ ở các cộng đồng cư dân, qua thực tiễn sản xuất và đời sống Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng dân cư đã tích góp được lượng lớn các thông tin, kỹ năng, kinh nghiệm và kỹ thuật liên quan đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống như: Trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản và chế biến nông lâm sản, quản lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức cộng đồng làng bản, Sự hình thành và phát triển của nhóm kiến thức này chịu tác động và là kết quả tương tác giữa nhiều yếu tố như: Dân số, dân tộc, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức, thể chế, cơ cấu
xã hội… được xem là kết quả tích lũy lâu dài thông qua quá trình tiếp xúc với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc trong tiến trình tiến hóa của sinh quyển và dần trở thành thói quen, kinh nghiệm truyền thống
Hiện nay, xã hội đã có sự nhận thức đúng đắn về giá trị của kiến thức bản địa, vai trò của nó trong lịch sử và sự cần thiết phải bảo tồn, duy trì trong đời sống cộng đồng như một lợi thế cạnh tranh Đã có những công trình rất thuyết phục về sự thành công trong việc vận dụng các tri thức bản địa vào nỗ lực giảm nghèo, thậm chí là làm giàu Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
đã chứng minh, kiến thức bản địa đóng vai trò quan trọng trong đời sống cư dân, thể hiện "bản sắc" của cộng đồng, tính thích nghi và hòa nhập với tự nhiên là rất cao Những tri thức này là tài sản quốc gia vô giá, có thể giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển, ít tốn kém và có sự tham gia của người dân để đạt tới một
hệ thống bền vững Chính vì vậy, kiến thức bản địa ngày càng nhận được sự quan tâm nghiên cứu không chỉ của các nhà khoa học, mà cả của các nhà quản
lý và những người làm công tác phát triển cộng đồng – điều này càng đặc biệt có
ý nghĩa với một quốc gia có nhiều dân tộc như Việt Nam
Kiến thức bản địa được đưa vào chương trình đào tạo với mục đích tạo ra
một thái độ trân trọng và sử dụng đến mức tối đa; rèn luyện một số kỹ năng tư
liệu hóa và đánh giá kiến thức bản địa trong nỗ lực phát triển Mặc dù có nhiều chuyên gia về phát triển đã nhận thức được tiềm năng của kiến thức bản địa, song vấn đề này vẫn thường bị lãng quên hoặc chưa được nghiên cứu tương xứng với tiềm năng - kể cả trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, vốn là ngành có liên quan nhiều nhất đến các nhóm xã hội mà cuộc sống của họ gắn bó nhiều nhất với các cơ sở tài nguyên thiên nhiên, và ở vị thế bất lợi nhất trong việc tiếp cận
Trang 6các thành quả phát triển Rất cần thiết phải tư liệu hóa những chỉ dẫn về nghiên cứu và áp dụng kiến thức bản địa trong phát triển, bởi khi không có những chỉ dẫn, kiến thức bản địa có nguy cơ trở thành vô nghĩa làm cản trở sự phát triển,
và khi không có một thái độ đúng đối với kiến thức bản địa, cán bộ nông lâm nghiệp, phát triển nông thôn có thể không nhìn nhận phù hợp trước những khó khăn trong phát triển sinh kế của các cộng đồng
1.1 Khái niệm về kiến thức bản địa
Khái niệm kiến thức bản địa hiện đã không còn xa lạ đối với rất nhiều nhà nghiên cứu nhân học, văn hoá, dân tộc học và đặc biệt đối với các chuyên gia phát triển
Thuật ngữ kiến thức bản địa được Robert Chambers dùng đầu tiên trong một ấn phẩm phát hành năm 1979, tiếp theo đó được Brrokernha và D.M.Waren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Đây là những người có rất nhiều đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu kiến thức bản địa ở các nước đang phát triển tại châu Á và châu Phi
Kiến thức bản địa là nhóm kiến thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với nhiên nhiên trong một vùng nhất định Nói một cách khái quát, kiến thức bản địa là những kiến thức được rút ra từ môi trường địa phương, vì vậy nó gắn liền với nhu cầu của con người và điều kiện địa phương (Langil và Landon, 1998)
Kiến thức bản địa là một phần của kiến thức địa phương- dạng kiến thức duy nhất cho một phần nền văn hoá hay một nền xã hội nhất định Đây là kiến thức cơ bản cho việc ra quyết định ở mức địa phương về nông nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, chế biến thức ăn, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên, và các hoạt động chủ yếu của cộng đồng nông thôn Khác với kiến thức bản địa hệ thống kiến thức hàn lâm thường được xây dựng từ các trường Đại học, Viện nghiên cứu… (Warren, 1991)
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, cụm từ “kiến thức/tri thức bản địa” (indigenous knowledge), “tri thức địa phương” (local knowledge), “tri thức dân gian” (folk knowledge) đã được sử dụng trong một số công trình nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau Vấn đề này cũng được nhiều nhà khoa học thuộc cả hai lĩnh vực - khoa học tự nhiên và khoa học xã hội quan tâm - như Lê Trọng Cúc, Đào Trọng Hùng, Phạm Quang Hoan, Ngô Đức Thịnh… Tuỳ theo cách hiểu, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, các tác giả cũng đưa ra nhiều kháí niệm
Trang 7với những nội hàm khác nhau Một số khái niệm đã được các tác giả nghiên cứu
và đưa ra như sau:
Tri thức địa phương có thể được phân biệt làm hai loại chính Một loại có thể được gọi là “tri thức kỹ thuật” Một loại khác liên quan đến các tên gọi như
“luật lệ địa phương” hoặc là “phong tục” hay tục lệ Thuộc về một số tri thức kỹ thuật của người vùng cao có sự hiểu biết chi tiết về chế độ ẩm trong vùng, về tiềm năng của đất đai, về kỹ thuật trồng trọt, về chọn giống, về các loại động vật
và thực vật Thuộc về tục lệ không chỉ giới hạn trong các quy tắc sinh hoạt như cưới xin, thừa kế, ma chay và nếp nhà truyền thống Tục lệ còn đóng vai trò quan trọng hơn trong nhiều hoạt động xã hội có tác động đến quản lý tài nguyên thiên nhiên địa phương Tục lệ cũng có thể quy định quy chế khác nhau như: nguồn nước nào được phân phối cho hệ thống tưới tiêu ở vùng cao, ai được phép hoạt động ở khu rừng nào, bao nhiêu súc vật có thể chăn thả ở những đồng cỏ riêng, kỹ thuật canh tác nào được chấp nhận (John Ambler, 1996)
Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau Tri thức địa phương được hình thành trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành
xã hội Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và thiên nhiên (Lê Trọng Cúc, 2002)
Tri thức địa phương được hiểu ở các cấp độ khác nhau Một là, “tri thức
địa phương” (hay “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri thức tộc người”) là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc người nhất định được tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc người sinh tồn, phát triển và thích nghi trước những biến đổi đã và đang diễn ra Nói cách khác, tri thức địa phương là phương thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc người Cũng có thể coi đó là bản
sắc văn hóa tộc người Hai là, “tri thức địa phương” là tri thức của các cộng
đồng tộc người cùng cộng cư trong một vùng sinh thái hay một vùng văn hóa nhất định Trong trường hợp này, tri thức địa phương cũng phản ánh xu hướng giao lưu và biến đổi văn hóa hay thích nghi văn hóa giữa các tộc người… (Phạm Quang Hoan, 2003)
Tri thức bản địa là hệ thống tri thức, bao gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan
Trang 8đến sản xuất, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, sức khỏe, tổ chức cộng đồng, của một tộc người hoặc một cộng đồng tại một khu vực địa lý cụ thể Nó được hình thành trong quá trình sống và lao động của cả cộng đồng, từ đàn ông, đàn bà, người lớn tuổi đến trẻ em Nó được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền bằng miệng (Trần Công Khánh ‑ Trần Văn Ơn, 2008)
Mặc dù có nhiều cách hiểu, dẫn đến các quan điểm nhìn nhận khác nhau, nhưng trên thực tế, các khái niệm “kiến thức bản địa” , “tri thức địa phương”,
“tri thức truyền thống” và “tri thức dân gian”… được quan niệm gần như đồng nghĩa và thường được sử dụng hoán đổi cho nhau cho phù hợp với từng lĩnh vực được quan tâm mà không gây nên sự hiểu lầm
Kiến thức bản địa (KTBĐ) được diễn tả qua nhiều ngôn ngữ, thuật nghữ khác nhau nhưng thực chất chúng có sự thống nhất cao về nghĩa đó là:
Thứ nhất, KTBĐ là những kinh nghiệm được đúc rút và lưu truyền qua
nhiều thế hệ của một cộng đồng dân cư nhất định của một địa phương nhất định
Nó cũng được hiểu là tập hợp những thông tin làm cơ sở của một hệ thống xã hội Hệ thống thông tin bản địa là động lực và sự tác động liên tục bởi sự sáng tạo từ nội lực, sự thực nghiệm cũng như sự giao diện với hệ thống bên ngoài
Thứ hai, KTBĐ được sáng tạo và sử dụng bởi những người dân địa
phương qua nhiều thế hệ sống và có quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Vì vậy nó gắn liền với nhu cầu của con người và điều kiện địa phương và thường giới hạn về tính địa lý, dân tộc Kiến thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội như: sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ và chế biến thức ăn; thu hái, sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ kiến thức qua các thế hệ trong giáo dục; bảo vệ, quản lý
và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tổ chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội, các luật lệ truyền thống trong làng bản…
Thứ ba, KTBĐ là kiến thức địa phương, dạng kiến thức được tạo bởi một
nền văn hóa hay một xã hội nhất định Kiến thức bản địa không hạn chế ở những người dân nông thôn Trên thực thế, bất kỳ nhóm cộng đồng nào cũng có kiến thức bản địa - nông thôn và thành thị; người định cư và người du cư; người bản địa và người nhập cư Quá trình xáo trộn dân cư cũng sẽ dẫn đến việc hình thành các tri thức bản địa mới, trên cơ sở của quá trình tiếp xúc và biến đổi, đào thải (những gì không còn phù hợp) và tích hợp (tiếp thu những yếu tố tri thức mới,
có ích cho cuộc sống)
Thứ tư, KTBĐ là kiến thức của một cộng đồng nhất định phát triển xuyên
Trang 9thời gian và liên tục phát triển KTBĐ được hình thành dựa vào kinh nghiệm của đời sống, nó thường xuyên được kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng, thích hợp với văn hóa và môi trường địa phương Chính vì vậy nhóm kiến thức này liên tục biến đổi
Thứ năm, đây là nhóm kiến thức rất đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, thể
hiện sự đa dạng thông qua các nhóm người (phụ nữ, nam giới, người già, trẻ em,…) và được đúc kết sinh động thông qua các bài hát, vè, thơ, ca,…
Thứ sáu, đây là nhóm kiến thức thường được lưu giữ bằng cách truyền
miệng, thường không ghi chép bằng văn bản
Vì vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Kiến thức bản địa hay tri thức
truyền thống là hệ thống kiến thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội, được người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường văn hóa, xã hội; được lưu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua
thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội
1.2 Đặc điểm của kiến thức bản địa
Từ việc nghiên cứu về kiến thức bản địa, tìm hiểu và phân tích các khái niệm, cho thấy kiến thức bản địa có những đặc điểm sau (Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc 1998):
1) Kiến thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ trong một cộng đồng địa phương nhất định
Kiến thức bản địa là sản phẩm được tạo ra trong quá trình lao động sản xuất của toàn cộng đồng Theo thời gian các kinh nghiệm truyền thống này được cải biến để ngày càng hoàn thiện hơn, nghĩa là có hiệu quả và thích ứng cao hơn với các thay đổi của môi trường tự nhiên và xã hội
Ví dụ, khi nghiên cứu về kỹ thuật làm nương rẫy của đồng bào H’Mông
và Thái ở Tây Bắc cho thấy, trước đây thường bỏ hóa từ 15 năm đến 20 năm nhưng những năm gần đây do dân số tăng lên chu kỳ bỏ hóa chỉ còn 4-5 năm (Đặng Tùng Hoa, 2000) Trong quá trình giao lưu văn hóa nhiều tập quán sản xuất từ vùng khác đã được du nhập vào Sau đó các kỹ thuật này được biến đổi dần để thích hợp với địa phương và trở thành một phần của kiến thức cũ đã không còn ý nghĩa và mất đi, các kiến thức địa phương được nảy sinh liên tục và kết hợp với kiến thức từ bên ngoài vào và được bổ sung vào hệ thống kiến thức
của cộng đồng
Trang 102) Kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng địa phương
Do được hình thành tại địa phương hoặc được du nhập rồi sau đó được cải thiện để phù hợp với thiên nhiên và tập quán xã hội nên kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện địa phương nơi đang sử dụng Đây là một ưu điểm rất quan trọng của kiến thức bản địa mà các hệ thống kỹ thuật nhập từ bên ngoài không có được Đây là một trong những đặc điểm trong quá trình nghiên cứu và phát triển nông thôn cần thừa kế và phát huy tiềm năng này để đảm bảo thành công và bền vững
3) Kiến thức bản địa do toàn thể cộng đồng sáng tạo ra qua lao động trực tiếp
Kiến thức bản địa được hình thành một cách tự nhiên trong quá trình lao động của cả cộng đồng (gồm người già, trẻ em, nữ hay nam giới) Mỗi nhóm người sẽ có những điểm mạnh riêng trong từng lĩnh vực Ví dụ điều tra kiến thức về kinh nghiệm chọn đất trồng ngô/lúa và dự báo thời tiết gieo trồng thì nên hỏi người già/nam giới Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ có hiểu biết sâu sắc hơn nam giới về thu hái các loài rau rừng, cây thuốc, cây thức ăn chăn nuôi Bên cạnh đó trẻ em cũng góp phần quan trọng trong việc sáng tạo và làm phong phú
hệ thống kiến thức bản địa của cộng đồng, chẳng hạn như trẻ em từ 10 đến 15 tuổi biết rất nhiều cây cỏ mà trâu, bò và dê ưa thích
4) Kiến thức bản địa được lưu giữ bằng trí nhớ và được truyền bá từ thế
hệ này qua thế hệ khác
Kiến thức bản địa truyền miệng thể hiện ở nhiều dạng khác nhau bằng thơ
ca, tế lễ và nhiều hình thức khác nhau Đây là điểm khác biệt so với kiến thức khoa học và khó khăn trong nghiên cứu, nhất là người ngoài cộng đồng không
có cùng ngôn ngữ và văn hóa Đối với nhiều dân tộc ở Tây Nguyên như Ê Đê,
Ba Na, Gia Rai… nhà Rông là nơi quan trọng để truyền thụ kiến thức cho thể hệ trẻ Nam thanh niên Ba Na trước khi lấy vợ thường phải ngủ tập trung ở nhà Rông để nghe già làng kể chuyện và truyền thụ các kinh nghiệm cũng như lễ nghi, đạo đức Như vậy có thể nhận thấy kiến thức bản địa thường không được ghi chép bằng văn bản cụ thể nên dất dễ mai một qua các thế hệ và thời gian
5) Kiến thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa và phong tục địa phương
Kiến thức bản địa có khả năng tiếp thu và ứng dụng kiến thức trong cộng đồng rất dễ dàng Trong thực tế có những tiến bộ khoa học kỹ thuật mang lại
Trang 11hiệu quả cao hơn trong sản xuất nhưng khó được cộng đồng chấp nhận vì nó không phù hợp với phong tục tập quán của địa phương
6) Kiến thức bản địa có tính đa dạng cao
Kiến thức bản địa được hình thành trong những điều kiện tự nhiên khác nhau và được mọi thành viên trong cộng đồng sáng tạo ra, nên sự khác biệt về tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm và kỹ năng đã làm cho hệ thống kiến thức này hết sức phong phú Ví dụ, tại một bản người Thái thuộc huyện Mai Châu, Hòa Bình cộng đồng có hơn 20 công cụ và nhiều phương pháp đánh bắt cá, tôm, cua
và săn bẫy chim thú rừng Mỗi công cụ hay phương pháp chỉ thích nghi cho một nhóm người nhất định trong bản làng (Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc 1998)
7) Kiến thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển nông thôn bền vững
Một số nhà nghiên cứu đã coi kiến thức bản địa là cơ sở đề xuất các quyết định có người dân tham gia tại địa phương trong các lĩnh vực nông nghiệp, y học, giáo dục, quản lý tài nguyên Ví dụ mô hình nông lâm kết hợp về tạo rừng Quế xen canh với lúa nương đã được đưa vào quy trình trồng rừng ở phía Bắc
Mô hình kỹ thuật này đã được bắt nguồn từ phương pháp trồng Quế của người Dao vùng Văn Chấn, Yên Bái Trong thực tế đã có rất nhiều bài học rút ra từ các
dự án phát triển nông thôn cho thấy rằng do không chú ý tới hệ thống kiến thức địa phương đang tồn tại trong cộng đồng nên đã gặp phải sự phản ứng không tích cực của người dân Hoặc khi dự án kết thúc không còn nguồn tài trợ bên ngoài thì mọi kết quả của dự án không được duy trì
8) Kiến thức bản địa ít tốn kém
Kiến thức bản địa không tốn kém hoặc ít tốn kém vì đã có sẵn nên chi phí thấp, có tính khả thi cao, dễ áp dụng vì có sự tham gia của người dân ở địa phương và góp phần vào quản lý tài nguyên bền vững
1.3 Phân loại kiến thức bản địa
Có nhiều cách phân loại tri thức bản địa theo những tiêu chí khác nhau,
tùy thuộc vào từng chuyên ngành khoa học Trong cuốn “Cẩm nang về tri thức bản địa, 2000”, các tác giả đưa ra hệ thống phân loại và xác định các đặc điểm
theo nhận thức và chức năng Trên cơ sở đó, tri thức bản địa có thể được phân loại như sau:
1/ Thông tin
2/ Kỹ thuật và thực hành
Trang 123/ Tín ngưỡng
4/ Các công cụ
5/ Vật liệu
6/ Thực nghiệm
7/ Tri thức về các nguồn tài nguyên sinh học
8/ Sự hiểu biết về nguồn nhân lực
9/ Giáo dục
10/ Giao tiếp
Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, sau khi đồng nhất khái niệm tri thức bản địa với tri thức dân gian cho rằng: “Tri thức dân gian có thể được chia thành 4 loại:
1/ Tri thức về tự nhiên và môi trường
2/ Tri thức về bản thân con người
3/ Tri thức về sản xuất
4/ Tri thức về quản lý xã hội và cộng đồng
(Ngô Đức Thịnh: Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá Việt Nam, 1996)
Theo quan điểm của Viện Quốc tế về tái thiết nông thôn (IIRR,1999) thì kiến thức bản địa có thể phân loại như sau:
1/ Thông tin: hệ thống thông tin về cây cỏ, thực vật có thể được trồng kết
hợp với nhau trên cùng một diện tích canh tác Các thông tin được lưu truyền được viết lại hoặc lưu truyền dân gian qua các dạng trao đổi thông tin truyền thống
2/ Thực tiễn và kỹ thuật: kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, phương pháp
lưu trữ giống, chế biến thức ăn và kỹ năng chữa bệnh cho con người và vật nuôi
3/ Kỹ thuật: kỹ thuật sơ chế, chế biến, bảo quản các sản phẩm truyền
thống như các loại lương thực, thực phẩm, các sản phẩm gỗ và ngoài gỗ
4/ Kinh nghiệm: kinh nghiệm trong lĩnh vực canh tác nông nghiệp, sử
dụng tài nguyên thiên nhiên Người nông dân thường tích lũy kinh nghiệm trong quá trình canh tác và chọn giống các loài cây trồng, vật nuôi
5/ Tài nguyên nhân lực: trong mỗi cộng đồng thường có những chuyên
gia như thợ rèn, thầy lang, già làng là những người đại diện về kiến thức bản địa
6/ Công cụ và vật liệu: thể hiện ở những công cụ lao động trang bị cho
canh tác và thu hoạch mùa màng Vật liệu ở đây tập trung vào vật liệu làm đồ gia dụng, tiểu thủ công truyền thống và vật liệu xây dựng
7/ Tín ngưỡng/ Lòng tin: tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng đối với đời
sống tinh thần của các cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe và quản lý môi
Trang 13trường sống của cộng đồng Những khu rừng thiêng, rừng ma có ý nghĩa về mặt tâm linh và ý nghĩa về mặt bảo tồn Hay những lễ hội là một cơ hội giao tiếp của các thành viên trong cộng đồng càng làm cho họ gắn bó với nhau hơn
8/ Giáo dục: đây là phương pháp truyền thụ kiến thức truyền thống qua
việc truyền nghề cho các thợ kim hoàn, rèn, thầy lang, thợ dệt, thợ thủ công… thông qua việc quan sát và thực hành tại chỗ
Hình 1.1 Các loại hình kiến thức bản địa
Các loại hình kiến thức trên có liên quan đến dân tộc, tuổi tác, trình độ văn hóa, giới tính, nghề nghiệp, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của từng vùng, từng cộng đồng
Nội dung của kiến thức bản địa tập trung vào các lĩnh vực sau đây:
- Kiến thức về trồng trọt: bao gồm các kinh nghiệm chọn giống các cây
trồng bản địa, kinh nghiệm xác định đất nào cây ấy, lịch thời vụ và dự đoán thời tiết, kinh nghiệm tưới tiêu, sử dụng phân bón, cách diệt cỏ, cách thu hoạch và cất
Trang 14giữ lương thực, hạt giống, các kinh nghiệm sản xuất trên đất dốc, làm nương rẫy
- Kiến thức về chăn nuôi: bao gồm kinh nghiệm chọn giống gia súc, gia
cầm… quản lý bãi chăn thả theo mùa, lựa chọn các loài cây thức ăn cho gia súc
ở địa phương, các cây thuốc phòng và chữa bệnh cho vật nuôi
- Kiến thức về quản lý rừng và tài nguyên của cộng đồng: cách khai thác,
chế biến lâm đặc sản, quản lý nguồn nước sinh hoạt và sản xuất, kinh nghiệm săn bắt thú rừng, kinh nghiệm thu hái, sử dụng các sản phẩm từ rừng như gỗ củi, cây thuốc, nấm, măng, rau rừng, hoa quả rừng và các sản phẩm khác
- Kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe con người: bao gồm các kinh
nghiệm lựa chọn, chế biến và bảo quản thức ăn, phòng chữa bệnh cho cá nhân
và cộng đồng, thu hái, chế biến và quản lý cây thuốc thiên nhiên
- Kiến thức về tổ chức cộng đồng và giáo dục: đó là các hình thức tổ chức
của cộng đồng, các quy định, hương ước nhằm đảm bảo các hoạt động sản xuất
và duy trì nền văn hóa truyền thống
Như vậy, từ phân tích trên có thể thấy kiến thức bản địa phản ánh hầu hết các khía cạnh sản xuất và tổ chức cộng đồng của người bản địa Phần lớn các kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường đa dạng của địa phương vùng cao và gắn liền với nền văn hóa riêng của từng cộng đồng dân tộc
1.4 Phân biệt kiến thức bản địa và kiến thức khoa học
Để phân biệt rõ hơn kiến thức bản địa với kiến thức khoa học (hay kiến thức hàn lâm) tác giả Lê Trọng Cúc (1996) cho rằng: kiến thức bản địa được hình thành chủ yếu dựa vào sự tích lũy, kinh nghiệm truyền thống chứ không phải dựa vào những thực nghiệm mang tính khoa học và có hệ thống
Kiến thức bản địa thường được hiểu là đối lập với “Kiến thức chính thống”, kiến thức "Khoa học", "Phương Tây", "Quốc tế" hay "Hiện đại" Thuật ngữ "kiến thức chính thống" (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây -
là những kiến thức được các Trường Đại học, Viện nghiên cứu … sử dụng phương pháp khoa học xây dựng nên Đó là những kiến thức được kiểm chứng trong phòng thí nghiệm, được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật Ngược lại, khái niệm kiến thức bản địa hay kiến thức địa phương dùng để chỉ những thành phần kiến thức được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên Tập hợp những hiểu biết, kiến thức
và ý nghĩa này là một phần của tổng hòa văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi,
Trang 15giá trị tinh thần và thế giới quan Những kiến thức này là nền tảng cơ sở để đưa
ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương (vốn mang tính khép kín, tự cung, tự cấp) như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường Kiến thức bản địa sử dụng nguồn tài
nguyên của địa phương, ít phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài Kiến
thức bản địa hiếm khi được ghi chép lại, chỉ được truyền miệng từ đời này sang đời khác
Song thực tế cho thấy, sau một quá trình giao lưu và biến đổi, đào thải và tích hợp, tiếp thu và cải biến, đã có nhiều điểm chồng chéo giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học; nhiều kiến thức phương Tây đã được bản địa hoá thành kiến thức của người dân nên nhiều khi sẽ rất khó phân biệt giữa hai loại kiến thức này Ở nhiều quốc gia đang phát triển, hệ thống tri thức bản địa luôn tồn tại song song với các hệ thống kiến thức chính thống Điều quan trọng cần
có sự kết hợp và vận dụng linh hoạt giữa 2 nhóm kiến thức để đề ra các giải pháp phát triển nông thôn bền vững
Sự khác nhau giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học được tổng hợp qua bảng sau:
Bảng 1.1 Phân biệt kiến thức bản địa với kiến thức khoa học
Trực tiếp từ lao động người dân
trong cộng đồng, được hoàn thiện
dần dần
Linh thiêng và thế tục cùng đồng
hành, bao gồm cả siêu nhiên
Hội nhập toàn thể, dựa vào hệ
thống
Được lưu giữ thông qua truyền
miệng và trong các thực hành văn
Chỉ tính tới thế tục, loại trừ siêu nhiên
Phân tích hay quy giản, dựa vào các tập hợp nhỏ của cái toàn thể Được lưu giữ thông qua sách vở
và máy tính (2)
Đặc
điểm
Đa dạng, sinh động, có tính bảo
tồn cao
Gắn liền với văn hóa
Bao quát, phổ biến, quy luật, toàn diện, phủ định
Tách biệt về văn hóa (3)
Mức
độ
chân
lý
Được coi là chân lý (chủ quan)
Chân lý được thấy trong tự nhiên
và trong niềm tin
Giải thích dựa vào ví dụ, kinh
Trang 16Đầu vào thấp, tiết kiệm lao động
Trí tuệ lâu dài
Thực tế cuộc sống và tồn tại
Có khả năng dự báo tốt ở địa
phương (có giá trị về sinh thái)
Yếu hơn trong điều kiện ở các
Có khả năng dự báo tốt trong điều kiện tự nhiên (có giá trị về duy lý) Yếu trong việc sử dụng kiến thức địa phương
Dạy thông qua sách giáo khoa Được kiểm nghiệm thông qua các kiểm tra
Có thể có một vài nhận xét về mối quan hệ giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học như sau:
Kiến thức khoa học được sinh ra bởi các nhà khoa học chuyên nghiệp thông qua những thí nghiệm và nghiên cứu khoa học một cách hệ thống trong khi tri thức bản địa được sinh ra bởi kinh nghiệm hàng ngày khi chung sống với
tự nhiên và xã hội Người dân địa phương cũng thực hiện những thí nghiệm và nghiên cứu nhưng khác với các nhà khoa học chuyên nghiệp, họ nghiên cứu như một phần của nỗ lực để tồn tại trong khi làm việc để kiếm sống Các nhà khoa học, mặt khác, thực hiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hay những cánh đồng thử nghiệm trong những điều kiện giả định, nhân tạo, trong khi người dân địa phương thực hiện nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên ở các cánh đồng hay ở nơi nào đó mà họ thường làm việc
Kiến thức khoa học được xuất phát từ các nhà khoa học chuyên nghiệp và thường được ghi chép lại trong khi kiến thức bản địa thường không được ghi chép Bên cạnh đó, tri thức bản địa sinh ra ở những dạng khác nhau như các thực hành văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo và tín ngưỡng, nghi lễ, văn học dân gian, dân ca, truyền thuyết và tục ngữ Không giống tri thức khoa học, tri thức
Trang 17bản địa ngầm ẩn và cần nhiều thời gian người ngoài mới hiểu được Tri thức khoa học được tiêu chuẩn hóa và được thể hiện bằng các thuật ngữ có tính toàn cầu, tri thức bản địa không mang tính tiêu chuẩn hóa và được thể hiện bằng ngôn ngữ địa phương Ở phương diện này, tri thức bản địa nhìn chung không thể
di chuyển được ra khỏi khu vực của mình trong khi tri thức khoa học có khả năng ứng dụng toàn cầu Do vậy, khoa học được xem là một hệ thống tri thức toàn cầu trong khi tri thức bản địa mang tính đặc thù địa phương và được xem là
ít có khả năng ứng dụng ở bên ngoài biên giới lãnh thổ của mình
Tri thức bản địa là kiến thức sinh kế trong khi khoa học là kiến thức của kinh tế thị trường Kiến thức bản địa là các kỹ thuật cho việc sản xuất theo quy
mô nhỏ, đáp ứng nhu cầu của gia đình, trong khi khoa học dựa trên sản xuất quy
mô lớn để cung cấp cho thị trường quốc gia, quốc tế Những người sống trong nền kinh tế sinh kế, tự cung, tự cấp thường sản xuất ra đủ đáp ứng cho nhu cầu của gia đình mình mà không quá cố gắng chế ngự thiên nhiên hay khai thác nó một cách quá đáng Họ phát triển những công nghệ hài hòa với tự nhiên
Các nhà khoa học phương Tây khám phá tự nhiên và xã hội để tìm hiểu quy luật cho các hiện tượng khác nhau và tìm kiếm sự giải thích cho các quan hệ
đã được xác định, kết quả là xây dựng nên những lý thuyết để sử dụng cho những dự đoán và tạo nên những công nghệ ứng dụng thực tiễn của kiến thức Người dân địa phương cũng giống như những nhà khoa học, khám phá tự nhiên
và xã hội trong khung cảnh riêng, nhưng không giống như các nhà khoa học, họ không tìm kiếm những giải thích chi tiết Bởi vậy, trong kiến thức bản địa những mối quan hệ đã được xác định tồn tại dưới dạng các niềm tin, mang tính mô tả
và không thể giải thích một cách duy lý, trong khi khoa học phương Tây là duy
lý và mang tính phân tích
Ngày nay, tri thức bản địa đang được đề cao vì nhiều lý do ở nhiều góc độ khác nhau Tuy vậy, không phải vì thế mà chúng ta quá nghi ngờ những tri thức khoa học mà bao thế hệ các nhà khoa học đã sáng tạo ra cho thế giới Hơn thế, không phải những kiến thức bản địa nào cũng được sử dụng như nhau và phát huy được hiệu quả trong bối cảnh mới Một số tri thức bản địa rất có thể không
có hiệu quả hoặc thậm chí lại có hại và kìm hãm sự phát triển Điều kiện hình thành tri thức bản địa trước kia đã ít nhiều khác với bối cảnh xã hội hiện nay, chính vì vậy, tri thức bản địa được hình thành trong những điều kiện ấy khó thích hợp với điều kiện xã hội bây giờ Do vậy, áp dụng tri thức bản địa không nên thực hiện một cách máy móc
Tri thức bản địa đã được hình thành qua nhiều thế kỷ, nhiều thế hệ Sự sản sinh ấy vẫn còn tiếp diễn trong các xã hội hiện nay ở trong các cộng đồng nhất
Trang 18định và trong một bối cảnh mới Thông qua sự kết hợp với khoa học hiện đại, những tri thức bản địa sẽ ngày càng trở nên có giá trị hơn
Việc so sánh kiến thức bản địa và kiến thức khoa học không nhằm mục đích tìm kiếm kiến thức nào quan trọng và cần thiết hơn Điều quan trọng là chúng ta sẽ đưa ra những quyết định hiệu quả nhất khi sử dụng 2 nhóm kiến thức này, đặc biệt kết hợp 2 kiến thức để tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu tại cộng đồng Ví dụ sau đây cho thấy sự kết hợp giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học
Bảng 1.2 Kết hợp giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học
Kiến thức bản địa Kiến thức khoa học Kết hợp
Mang lá cây khô từ
rừng về đốt trên
cánh đồng
Dùng nhiều cây họ đậu làm phân xanh
Trồng thêm các cây thân gỗ trên cánh đồng để sản xuất thêm sinh khối
Làm rẫy theo chu kỳ
luân phiên đất bỏ
hóa
Sử dụng các loại cây họ đậu
Sử dụng hàng rào xanh cây
họ đậu để giữ ẩm và độ phì cho đất => giảm/không cần
bỏ hóa Xếp đá ở bờ ruộng
bậc thang
Trồng cây làm hàng rào xanh
Trồng các hàng rào xanh trên
bờ ruộng để bảo vệ các nương bậc thang
Hình 1.2 Che tủ đất bằng cơ giới Hình 1.3 Che phủ đất bằng cây họ đậu
1.5 Tầm quan trọng của tri thức bản địa - giá trị lịch sử và hiện đại
Tri thức bản địa chính là nền tảng cơ sở để duy trì cuộc sống của các xã hội truyền thống Hơn thế nữa, trong bối cảnh các xã hội khép kín với nền kinh
tế tự cung tự cấp của đa số dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đó còn là cơ sở duy
Trang 19nhất Sự xuất hiện của các “tri thức chính thống” và văn hoá phương Tây đã tạo nên những cú sốc trong lịch sử Một thời gian dài, tri thức bản địa đã không được đánh giá đúng với những giá trị mà nó chứa đựng Ở nhiều nơi, người ta đã coi đó là biểu hiện của sự trì trệ, lạc hậu và phản khoa học Điều này đã kéo theo hậu quả nặng nề là hệ thống tri thức bản địa của cộng đồng đã dần bị mai một
Ngày nay, trên Thế giới cũng như ở Việt Nam, kiến thức bản địa càng ngày càng được chú ý trong quá trình phát triển Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc, vùng miền ở nước ta có thế mạnh riêng về một số lĩnh vực, điều đó tạo nên sự đa dạng trong kho tàng tri thức bản địa của Việt Nam Hệ thống kiến thức này thực tế đã phát triển bên ngoài và song song với hệ thống tri thức khoa học hiện đại của nhân loại, đã và đang được cụ thể hóa và nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp (kỹ thuật xen canh, chăn nuôi, quản lý sâu bệnh, đa dạng cây trồng, chăm sóc vật nuôi, chọn giống cây trồng); sinh học (thực vật học, kỹ thuật chăn nuôi); chăm sóc sức khoẻ con người (bằng các phương thuốc truyền thống); sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên (bảo vệ đất, thuỷ lợi và các hình thức quản lý nước khác); đảm bảo an ninh lương thực (các giải pháp tình thế
và lâu dài); quản lý cộng đồng (cấp thôn/bản); giáo dục (kiến thức truyền miệng, các ngôn ngữ địa phương) và văn học nghệ thuật dân gian
Sự quan tâm ngày càng lớn đến kiến thức bản địa ở nước ta được thể hiện
rõ trong những báo cáo của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ Các tổ chức này cũng như các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Lao động Thế giới, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) và Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) đều thừa nhận rõ ràng về những đóng góp của kiến thức bản địa trong phát triển bền vững, đặc biệt là trong các chính sách và chương trình phát triển nông nghiệp - nông thôn
và dân tộc (ICRAF-VASH: Kinh nghiệm quản lý đất bỏ hoá sau nương rẫy ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001)
Nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý ngày càng quan tâm nghiên cứu đến kiến thức bản địa, dần thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức bản địa - khoa học và thừa nhận tính hợp lý của kiến thức bản địa đối với hệ thống giáo dục cũng như các vấn đề phát triển Nhờ những nỗ lực đó, tri thức bản địa đã đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt liên quan đến việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông thôn Cụ thể như, đã giúp các nhà khoa học nắm được những vấn đề về đa dạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên; đóng góp vào khoa học những hiểu biết sâu sắc về thuần hoá cây trồng, gây giống, quản lý và
Trang 20giúp các nhà khoa học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc, thói quen đốt nương làm rẫy, nông nghiệp sinh thái, nông lâm kết hợp, luân canh cây trồng, quản lý sâu bệnh hại, đất đai và nhiều kiến thức khác về khoa học nông nghiệp Quan trọng hơn, ý nghĩa của kiến thức bản địa ngày càng khẳng định khi đã có sự vận dụng tri thức này vào trong các dự án về hợp tác phát triển và trong nhiều bối cảnh cụ thể
Về khía cạnh kinh tế, mặc dù cho đến nay chưa có những thống kê đầy
đủ của các ngành liên quan, nhưng với những gì đã được công bố, tính hiệu quả
là không thể phủ nhận Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chỉ tính riêng trong lĩnh vực y học cổ truyền, năm 1999 Trung Quốc đã thu được 6
tỷ USD, Châu Âu thu được 11,9 tỷ USD Ở Việt nam, riêng năm 2003, sản lượng xuất khẩu dược liệu cổ truyền đạt khoảng 10.000 tấn, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 10-20 triệu USD Giá trị thương mại của tri thức truyền thống trên thực tế còn lớn hơn rất nhiều, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, với khoảng 80% dân số thế giới sử dụng thuốc cổ truyền để chăm sóc sức khỏe Các sản phẩm khai thác tri thức truyền thống khác (như các sản phẩm lưu niệm thủ công, các sản phẩm của làng nghề truyền thống, các tác phẩm văn hóa dân gian…) cũng mang lại những lợi ích kinh tế to lớn” (Trần Công Khánh, 2005)
Không chỉ trong lĩnh vực quản lý, sử dụng và bảo vệ các nguồn lực tự nhiên hay sinh kế, các tri thức bản địa còn được nghiên cứu và ứng dụng cả trong lĩnh vực quản lý xã hội Một thời gian dài, với sự hình thành các hợp tác
xã sản xuất nông nghiệp, vai trò của thôn/bản đã bị xem nhẹ, cơ cấu tổ chức thôn/bản gần như bị xoá bỏ hoặc đồng nhất với tổ chức hợp tác xã có quy mô nhỏ Cùng với sự tái xác lập vai trò đơn vị chủ thể kinh tế cơ sở của các hộ gia đình, những kinh nghiệm quản lý cộng đồng đã và đang được xem xét, ứng dụng vào việc quản lý thôn/bản
Trong lịch sử, đa số các tri thức bản địa xuất phát hoàn toàn độc lập, không cạnh tranh với khoa học và nhìn chung là hoàn toàn độc lập với nền văn hoá phương Tây Tri thức bản địa và khoa học hiện đại cần được hiểu là hai hệ thống kiến thức bổ trợ chứ không cạnh tranh với nhau Tuy nhiên, trên thực tế, hiện nay nhiều tri thức khoa học đã được bản địa hoá và biến thành các tri thức bản địa - tri thức truyền thống mới
Vai trò của kiến thức bản địa trong đời sống của người dân đã được khẳng định, vai trò này đặt trong tiến trình quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững được nhấn mạnh bởi các điểm chính sau đây:
Trang 211) Kiến thức bản địa là cơ sở đề xuất các chính sách
Các nghiên cứu ở châu Phi của Attheh (1992) đã coi kiến thức bản địa là chìa khóa cho sự phát triển ở địa phương Một số nhà nghiên cứu thì cho rằng kiến thức bản địa là cơ sở để đề xuất các quyết định tại địa phương trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên (Warren 1991) Theo tác giả Charyulu (1998) thì các hệ thống kiến thức bản địa và các
kỹ thuật đều phù hợp với mong muốn về mặt xã hội và nó có thể đạt được hiệu quả kinh tế, có tính bền vững và ít rủi ro với người dân và những người sản xuất, quan trọng là được cộng đồng tin tưởng rộng rãi và góp phần tích cực bảo vệ tài nguyên Trong nhiều trường hợp khoa học hiện đại không thích hợp và việc sử dụng những kỹ thuật và phương pháp đơn giản hơn mang lại hiệu quả Như vậy kiến thức bản địa đã cung cấp cơ sở để giải quyết vấn đề chiến lược cho cộng đồng địa phương, đặc biệt là những người nghèo Các chính sách nên dựa vào kiến thức bản địa của cộng đồng, rất nhiều tổ chức quốc tế công nhận vai trò của cộng đồng địa phương, nhất là của phụ nữ trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên như chương trình nghị sự thứ 21 của Hội nghị Liên hiệp quốc năm 1992
về vấn đề môi trường và phát triển Các nhà nghiên cứu về nhân chủng học và văn hóa ở Việt nam cũng cho rằng kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên là cơ sở rất quan trọng để đề xuất các chính sách phù hợp với địa phương (Ngô Đức Thịnh, 2001)
2) Kiến thức bản địa góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học
Tầm quan trọng của kiến thức và kinh nghiệm bản địa đã được công nhận bởi rất nhiều các tổ chức bảo tồn và đã được trích như những chương trình
"Chiến lược bảo tồn thế giới", "Công ước quốc tế về đa dạng sinh học" và
"Chiến lược bảo vệ môi trường Bắc cực" Chương trình nghị sự thứ 21 của Hội nghị Liên hiệp quốc năm 1992 về vấn đề môi trường và phát triển đã công nhận vai trò của những người dân bản địa trong việc khôi phục lại môi trường là rất cần thiết và đề nghị sử dụng kiến thức bản địa trong phát triển bền vững Chương trình ngày còn kêu gọi các Chính phủ và các tổ chức quốc tế hướng tới: trao quyền cho các cộng đồng bản địa, cung cấp nhiều và tốt hơn an ninh chống lại những hoạt động có thể ảnh hưởng đến người dân bản địa hoặc đất đai của
họ, áp dụng các biện pháp cải thiện chất lượng sống cho người bản địa
Ở Việt nam rất nhiều cộng đồng có các luật tục liên quan đến quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên Luật tục là một hình thức của kiến
Trang 22thức bản địa được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và ứng xử xã hội Luật tục xác định các quan hệ sở hữu đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, luật tục chứa đựng những tri thức dân gian về quản lý bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Ngô Đức Thịnh, 2001)
3) Kiến thức bản địa góp phần quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa
Kiến thức bản địa luôn gắn với văn hóa của từng cộng đồng, từng vùng địa phương Nhiều cộng đồng như người Thái, Dao, H’mông quan niệm cây cỏ
và đất đai đều có hồn Rừng thiêng, rừng ma được các thành viên trong cộng đồng bảo vệ và tuân theo quy định chung Các lễ hội liên quan đến việc bảo vệ rừng có ý nghĩa giữ gìn văn hóa của cộng đồng như lễ hội thề của người H’Mông ở Tây Bắc
Các cộng đồng người Tày, Nùng, Dao ở Tuyên Quang vẫn tồn tại loại hình quản lý rừng thiêng, những khu rừng này thường ở gần nguồn nước, được bảo vệ nghiêm ngặt Với người Dao quan niệm những cây đa to là nơi trú ngụ của thần linh và họ thường lập miếu thờ ở những gốc cây lớn và thường không chặt phá cây ở khu vực có miếu thờ Còn người Cà Tu quan niệm trong rừng thiêng có những cây Đa là nơi trú ngụ của ma quỷ nên không thể phá bỏ chúng
vì bất cứ lý do gì
Như vậy, nếu kiến thức bản địa được đánh giá đúng và tôn trọng thì sẽ đóng vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân, góp phần vào bảo tồn nền văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững
1.6 Sự xói mòn kiến thức bản địa
Kiến thức bản địa, đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa là ba hệ thống có tương tác và phụ thuộc lẫn nhau Tương tự như vấn đề đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa, hệ thống kiến thức bản địa của các dân tộc cũng đang bị lãng quên và xói mòn nhanh chóng trong tiến trình phát triển và biến đổi mạnh mẽ của xã hội trong những thập kỷ gần đây
Trên thực tế một số kiến thức bị mất mát một cách tự nhiên vì kỹ thuật và công cụ đang bị biến đổi hay không còn được sử dụng, sự mất mát gần đây và hiện nay đang được tăng nhanh vì sự gia tăng dân số nhanh chóng, sự tăng trưởng của các thị trường quốc tế, các hệ thống giáo dục, sự xuống cấp của môi trường, và các tiến trình phát triển Đây đồng thời cũng là các áp lực liên quan đến sự hiện đại hóa nhanh chóng và sự đồng nhất hóa văn hóa Một số nguyên nhân sau đây được coi có tác động mạnh mẽ đến sự xói mòn kiến thức bản địa:
Trang 23Thứ nhất: Sự gia tăng dân số nhanh chóng, thường là do quá trình nhập cư
hay các chương trình tái định cư của chính phủ trong trường hợp có các dự án phát triển lớn (như làm đập thủy điện, các công trình phúc lợi khác) đã làm đời sống của người dân có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt làm xáo trộn trực tiếp đến kho tàng kiến thức bản địa
Thứ hai: Với tình trạng nghèo đói còn phổ biến, nhất là ở những vùng cao
thì các cơ hội có lợi ích trước mắt về kinh tế thường được lựa chọn hơn là duy trì các phương thức địa phương có hiệu quả về mặt môi trường; đồng thời người nông dân cũng có ít thời gian và nguồn lực hơn để duy trì động thái tự nhiên của các hệ thống kiến thức bản địa qua sự thử nghiệm của địa phương
Thứ ba: Nền kinh tế hàng hóa, thị trường cũng là nguyên nhân quan trọng
dẫn đến chế độ chuyên canh một, hai loại cây trồng tạo nên sự du nhập các phương thức sản xuất theo hướng thị trường tập trung vào việc chuyên canh cây trồng nông lâm nghiệp hàng hóa (cây lương thực, cây công nghiệp, cây gỗ rừng trồng mọc nhanh…) Từ đó dẫn đến sự lãng quên các kỹ thuật gây trồng nhiều loài cây bản địa một cách tự nhiên, gắn liền với những sự mất mát kiến thức và các phương thức sản xuất bản địa thông qua những sự mất mát về đa dạng sinh học và xói mòn đa dạng văn hóa Chẳng hạn như, chính sách thúc đẩy sử dụng các giống lúa nước và ngô mới cải thiện năng suất thường đánh giá thấp các loài
đã được thích ứng với điều kiện địa phương, tuy nhiên những giống mới này có chất lượng kém hơn và thường thoái hóa sau một số năm canh tác nhất định Hay nhiều địa phương hiện nay chuyển đổi cây trồng truyền thống sang trồng cây công nghiệp, cây gỗ rừng trồng nguyên liệu công nghiệp,…
Thứ tư: Sự thương mại hóa, với sự hiện diện của nhiều loại thực phẩm
thương mại, một số tài nguyên đa dạng sinh học trở nên ít thích hợp, như hạt giống và các giống hoa màu đã được chọn lọc qua nhiều năm dựa trên các đặc điểm về khả năng dự trữ dài hạn của chúng
Thứ năm: Sự tàn phá thiên nhiên, đặc biệt là việc mất rừng và suy giảm đa
dạng sinh học là nguyên nhân trực tiếp làm xói mòn hệ thống kiến thức bản địa, đặc biệt là hệ thống kiến thức của đồng bào vùng cao liên quan đến các vấn đề như: tập quán canh tác, khai thác gỗ, bài thuốc dân gian, văn hóa, tín ngưỡng,…
Ví dụ, một số loài thực vật làm thuốc đang trở nên khó kiếm (và tri thức hay nền văn hoá liên kết với các loài thực vật này cũng dần mất theo) hoặc sẽ rất khó tồn tại các kiến thức về dệt vải, nhuộm màu các sản phẩm may mặc khi nguồn nguyên liệu ngày càng cạn kiệt Ở miền Bắc nước ta các ngành nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ từ song, mây có nguy cơ bị thu hẹp dần do nguồn nguyên liệu
đã bị khai thác quá mức và đang cạn kiệt
Trang 24Thứ sáu: Sự thay đổi xã hội và gia đình truyền thống cũng làm gián đoạn
việc truyền thụ kiến thức bản địa từ thế hệ này sang thế hệ sau Hiện nay việc truyền thụ kiến thức theo cách truyền thống ngày một bị giới hạn một phần các kiến thức chưa được tài liệu hóa, nhưng điều quan trọng là đa số lớp trẻ thường quá đề cao kiến thức bên ngoài, hiện đại và coi nhẹ giá trị của những kinh nghiệm dân gian
Thứ bảy: Với đặc điểm lưu truyền bằng miệng, ngày càng có nhiều tri
thức bị mất đi do kết quả của sự đổ vỡ của các kênh thông tin truyền thống vốn dựa vào sự truyền khẩu Cả trẻ em cũng như người lớn đều không còn dành nhiều thời gian cho các hoạt động cộng đồng (ví dụ, một số người hằng ngày phải ra các thành phố để đi học, đi tìm kiếm việc làm, hay để bán nông phẩm; nhiều thanh niên không còn quan tâm, hay không còn cơ hội để học hỏi các phương pháp truyền thống) Càng ngày, thế hệ những người lớn tuổi càng cảm thấy khó khăn trong việc truyền đạt tri thức của họ cho thanh niên Việc kiến thức bản địa được truyền đạt chủ yếu bằng lời nói cũng dễ bị ảnh hưởng trước các thay đổi nhanh chóng, nhất là khi người dân bị di chuyển hay khi thanh niên thu nhận các giá trị và lối sống khác biệt với giá trị và lối sống của ông cha họ
Thứ tám: Sự xói mòn kiến thực bản địa gắn liền với sự xói mòn của đa
dạng văn hóa, được nhìn nhận trong mối quan hệ sâu sắc Bên trong những nét đẹp văn hóa của đồng bào các dân tộc của Việt Nam là ẩn chứa kho tàng các kiến thức dân gian Ví dụ, các sản phẩm thổ cẩm nổi tiếng, váy áo, mũ của người vùng cao Tây Bắc, Việt Bắc sẽ rất khó tồn tại được nếu như không còn người biết trồng lanh, chế biến sợi, dệt vải, nhuộm màu, thêu thùa Hoặc, các lễ hội truyền thống cúng cơm mới, mừng mùa mới, xuống đồng,… đang dần mất
đi do sự xói mòn đa dạng văn hóa
Với những phân tích trên, rất cần có những biện pháp thiết thực trong các hoạt động quản lý tài nguyên thiên nhiên để có thể góp phần vào việc giữ gìn những mặt tích cực của kiến thức bản địa
1.7 Quyền sử hữu kiến thức bản địa
Nhận thức về giá trị của kiến thức bản địa, đặc biệt là khả năng đóng góp của nó vào phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo, đang dần được nâng cao Cũng chính vào lúc này, nhiều câu hỏi quan trọng đang được đặt ra: Ai sở hữu những kiến thức bản địa và ai có thể sử dụng chúng? Ai quyết định việc sử dụng những kiến thức đó và sử dụng như thế nào, cho mục đích gì? Những người sở hữu kiến thức bản địa được hưởng những lợi ích gì?
Trang 25Chúng ta đã biết rằng, việc sử dụng tri thức truyền thống đem lại lợi ích đáng kể về kinh tế, văn hóa, xã hội cho mỗi quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Vấn đề quan trọng đang đặt ra hiện nay là cần phải có các công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ các tri thức truyền thống, bởi việc lưu giữ thường gặp phải những khó khăn Nếu chúng ta không tìm được phương pháp lưu giữ phù hợp thì có thể kiến thức sẽ mất đi vĩnh viễn, còn nếu chúng ta lưu giữ không tuân thủ đúng các quy định thì có thể mang đến bất lợi cho người dân địa phương Ví dụ, rất có thể một công ty nào đó sẽ chủ động nghiên cứu, sản xuất và đem bán ra thị trường một loại thuốc nam của một dân tộc thiểu số nào đó nhưng không trả tiền lợi nhuận cho địa phương là nơi tìm ra hoặc có được nguồn thông tin về loại thuốc đó Hiện tượng bán tràn lan các loại thuốc tắm của người Dao Đỏ ở Sa Pa là một ví dụ cụ thể: Trong thực tế, chỉ có cộng đồng người Dao Đỏ biết rõ về các loại thuốc tắm của dân tộc mình, nhưng nhiều cửa hàng kinh doanh vẫn công khai cung cấp các dịch vụ liên quan đến loại thuốc tắm này Như vậy, trong trường hợp này quyền sử hữu trí tuệ của người Dao Đỏ đã bị xâm phạm, thương hiệu của họ bị đánh cắp hay mạo nhận
Để quyền sở hữu trí tuệ của người dân được đảm bảo, khi tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các kiến thức bản địa, chúng ta cần tuân thủ các quy định chính sau đây:
- Ghi tên của người dân dịa phương trong phần tác giả hoặc đề cập đến họ khi lưu giữ những tập quán của họ Luôn luôn dẫn nguồn tên, ngày tháng năm, địa điểm trong bản ghi chép và bất kỳ tài liệu nào khi miêu tả kiến thức bản địa của một người hoặc địa phương cụ thể
- Giúp người dân địa phương lưu giữ thông tin để họ làm tác giả
- Lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa trong điều kiện của những dự án phát triển đã ứng dụng Để lại địa phương những bản sao chép kết quả của nghiên cứu (ví dụ: bản đồ, lịch các mùa vụ, kinh nghiệm sản xuất,…)
- Lưu giữ ở cộng đồng những bản tư liệu hoá kết quả nghiên cứu đã hoàn chỉnh (ví dụ, những báo cáo đã được dịch, băng video, thành lập cơ sở dữ liệu tại địa phương, v.v )
- Giúp các thành viên trong cộng đồng (hay các địa phương) đăng ký bản quyền cho những tài liệu, phương pháp kỹ thuật độc nhất và có giá trị
- Giúp các tổ chức của địa phương tự quyết định câu trả lời trước những câu hỏi của những nhà nghiên cứu và các công ty thương mại Họ có thể thương lượng với những người ngoài để đảm bảo rằng họ cũng thu được lợi nhuận trong việc chia sẻ những kiến thức của mình
- Hiểu và tuân thủ những quy tắc, luật lệ của địa phương
Trang 26Chương 2 NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN
2.1 Nghiên cứu kiến thức bản địa
2.1.1 Cách tiếp cận trong nghiên cứu kiến thức bản địa
Cho đến nay chưa có một phương pháp nghiên cứu về kiến thức bản địa một cách toàn diện và hoàn chỉnh Các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn để thu thập và phân tích kiến thức bản địa (Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc 1998) Sau đây là một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng phương pháp:
+ Đối tượng nghiên cứu:
Cần chú ý đến vai trò của già làng, trưởng bản, có tầm hiểu biết rộng, họ thường có tiếng nói quan trọng trong cộng đồng, những người này có thể là đại diện cho cả phụ nữ và nam giới
Theo Mundy và Compton (1992) thì có 5 dạng người đóng vai trò truyền thông và lưu trữ tri thức trong cộng đồng đó là: các nhà chuyên gia địa phương (nhà thông thái có tiếng nói), các nhà chuyên nghiệp (thầy lang, thầy bói, thợ rèn ), nhà cải cách (giới thiệu ý tưởng từ bên ngoài vào), người trung gian (giới thiệu ý tưởng từ nơi này sang nơi khác, được cộng đồng thử nghiệm và điều chỉnh), người dễ tiếp nhận (những người chấp nhận kiến thức từ bên ngoài hoặc
tự nghiên cứu thử nghiệm)
Trong điều kiện ở Việt Nam nghiên cứu kiến thức bản địa ở vùng cao, nơi
có nhiều các cộng đồng dân tộc sinh sống thì việc tìm hiểu phong tục tập quán trước và trong khi nghiên cứu là rất cần thiết Ngoài ra ngôn ngữ khác nhau cũng
là một rào cản khi nghiên cứu
+ Thời gian nghiên cứu:
Khác với những lĩnh vực khác nghiên cứu kiến thức bản địa đòi hỏi mất nhiều thời gian hơn Có thể áp dụng phương pháp nghiên cứu thực địa của các nhà nghiên cứu dân tộc học, đòi hỏi người nghiên cứu đầu tư một thời gian dài ở địa phương để tìm hiểu và hòa nhập vào cộng đồng Chỉ khi thực sự hòa nhập cộng đồng qua "ba cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) thì người nghiên cứu mới thu thập được thông tin dễ dàng và chính xác Thời gian nghiên cứu phụ thuộc vào mục tiêu của từng nghiên cứu Nếu mục đích thu thập thông tin chung cho
Trang 27dự án thì một nhóm PRA có thể là vài ngày, nghiên cứu để phục vụ học tập thì thời gian có thể là vài tháng và phải cùng với mùa vụ
+ Phương pháp nghiên cứu:
Trong nghiên cứu kiến thức bản địa có thể áp dụng các công cụ của PRA, trong đó phỏng vấn sâu là công cụ chủ đạo Những thông tin thu thập được chủ yếu là những thông tin định tính Đây cũng là một điểm khó khăn trong khi xử
lý số liệu Tuy nhiên phương pháp áp dụng cần phải linh hoạt đối với từng cộng đồng nhằm khai thác, tổng hợp thông tin, nắm bắt một cách đầy đủ các thông tin
từ cộng đồng, các thuận lợi khó khăn cũng như mong muốn của họ
+ Tình hình nghiên cứu và sử dụng kiến thức bản địa:
Kiến thức bản địa thực sự mới được các nhà khoa học và quản lý quan
tâm đến trong vòng vài thập kỷ qua, khi mà nhiều quốc gia và các dự án phải nỗ lực tìm ra phương sách để bảo đảm cho sự phát triển bền vững ở các nước nghèo
và các nước giàu (Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc 1998) Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về kiến thức bản địa và ngày càng có vai trò quan trọng trong các dự án phát triển nông thôn Các tác giả O.D.Atteh (1992), Chambers (1979), Warren (1999) có nhiều đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu
kiến thức bản địa ở các nước đang phát triển tại châu Á và châu Phi, đã coi kiến thức bản địa là chìa khóa cho sự phát triển ở cấp địa phương
Nhiều tổ chức quốc tế quan tâm đến nghiên cứu kiến thức bản địa như Ngân hàng thế giới, FAO, Quỹ Ford, Quỹ Toyota Hiện nay có trên 3000 chuyên gia tại 124 nước đang hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và sử dụng kiến thức bản địa đã được thành lập năm 1987 thông qua Trung tâm nghiên cứu kiến thức bản địa phục vụ phát triển nông nghiệp (CIKARD) ở Trường Đại học thuộc bang Iowa, Hoa Kỳ (Hoàng Xuân Tý, 1998)
Ở Việt Nam, trên thực tế không phải chờ cho đến khi diễn ra quá trình
“Tái nhận thức bản thân” thì mới có những nghiên cứu về tri thức bản địa Sự bảo tồn, duy trì và phát triển của một loạt các lĩnh vực truyền thống (y học, sản xuất nông lâm nghiệp, kỹ thuật canh tác trên đất dốc, các nghề thủ công, sản xuất, văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng đồng,…) đã chứng tỏ rằng chưa bao giờ các tri thức bản địa bị coi nhẹ Chính các nhà khoa học trong các lĩnh vực này cũng đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa hệ thống tri thức bản địa với việc duy trì cuộc sống của các dân tộc thiểu số trong bối cảnh hoà nhập với tự nhiên, với nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, với bản lĩnh - bản sắc văn hoá tộc
Trang 28người, cho dù đã có rất nhiều biến cố xảy ra trong suốt thời gian dài ảnh hưởng của văn hoá phương Tây
Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận một thực tế chỉ cho đến sau những năm 1980, việc nghiên cứu gắn liền với vận dụng các tri thức bản địa mới thực
sự được đề cao ở nước ta Tri thức bản địa không chỉ đơn thuần được coi là căn
cứ để xây dựng chính sách mà cao hơn nữa nó còn được coi là lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế thị trường và mục tiêu phát triển bền vững Các giá trị của tri thức bản địa ngày càng được quan tâm nhiều hơn, toàn diện hơn và với mục đích phát triển sát thực hơn Các cơ quan/tổ chức đã có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này phải kể đến như: Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường (CRES), Viện Dân tộc học, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, các nhà khoa học Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc… và tập trung vào hai mảng chính là: (1) Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sinh kế và (2) Nghiên cứu và vận dụng kiến thức bản địa trọng quản lý xã hội Như vậy rõ ràng kiến thức bản địa đã và đang được quan tâm của nhiều nhà khoa học và các tổ chức phát triển cộng đồng trong nước và quốc tế
2.1.2 Kiến thức bản địa trong quá trình phát triển lấy sự tham gia của người dân làm trung tâm
Việc nghiên cứu kiến thức bản địa được nhấn mạnh cần có sự tham gia của người dân Bảng dưới đây chỉ ra sự vận dụng kiến thức bản địa trong các giai đoạn của một chu trình dự án
Bảng 2.1 Kiến thức bản địa trong quá trình phát triển lấy người dân làm
trung tâm
Chu trình dự án Đưa KTBĐ vào hoạt động của dự án
Xác định vấn đề Hiểu biết về KTBĐ là một phần không thể thiếu của
một dự án thực sự có sự tham gia của người dân Lập kế hoạch Hiểu KTBĐ và có chủ động vận dụng vào chươgn trình
dự án Thực hiện Áp dụng linh hoạt thông qua 4 bước:
Bước 1: Tìm hiểu sự tồn tại của KTBĐ Bước 2: Đánh giá hiệu quả và tính bền vững của KTBĐ Bước 3: Kiểm tra, liệu KTBĐ có thể cải tiến được không?
Bước 4: Áp dụng và phát triển KTBĐ Kiểm tra và đánh
giá KTBĐ
Kiểm tra và đánh giá hiệu quả của KTBĐ
Sử dụng KTBĐ để kiểm tra và đánh giá các hoạt động của dự án
Trang 292.2 Phương pháp và công cụ nghiên cứu kiến thức bản địa
2.2.1 Phương pháp tiếp cận
Theo Farrington and Martin (1998), Waters – Bayer; Mttrick (1993), kiến thức bản địa đang nhận được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu khoa học cũng như các dự án và tổ chức quốc tế Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây
về KTBĐ chủ yếu dừng lại ở mức độ đánh giá định tính và thử nghiệm trong diện hẹp Đến những năm gần đây, các phương pháp thực nghiệm nghiên cứu trong nông lâm nghiệp ở các môi trường phức tạp, đa dạng và nhiều rủi ro đã được quan tâm một cách đáng kể Các hạn chế của việc thử nghiệm trong phòng được nhận biết một cách rõ ràng Vấn đề chính là chúng không phản ánh đầy đủ được các điều kiện của người sử dụng
Theo Mc.Cracken, Pretty and Conway (1988) một loạt các công cụ không chính thức (PRA, RRA) đã được phát triển để tạo ra sự phân tích nhanh và chính xác hơn về sự phức tạp của các hệ canh tác
Hai phương pháp điều tra chính mà các nhà khoa học Việt Nam cũng như quốc tế thường áp dụng khi tiến hành điều tra về KTBĐ là PRA và RRA Về cơ bản đó là quá trình tìm hiểu nhanh các điều kiện nông thôn dựa vào các nhóm liên ngành, đặc biệt chú trọng vào các KTBĐ kết hợp với kiến thức khoa học hiện đại
Khi nghiên cứu KTBĐ của đồng bào vùng cao, theo Lê Trọng Cúc (1996), đối với miền núi việc áp dụng PRA và RRA có những hạn chế nhất định Phần lớn các đoàn điều tra đều gặp khó khăn về ngôn ngữ và hạn chế về trình độ hiểu biết cũng như khả năng trao đổi của đồng bào dân tộc ít người Phương pháp điều tra cơ bản áp dụng là PRA và RRA, tuy nhiên cần phải tăng cường quan sát nhiều hơn khi tiến hành phỏng vấn
1, Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)
a, Khái niệm về RRA
James Beebe (1985) đã đưa ra định nghĩa: RRA là quá trình nghiên cứu được coi như là điểm bắt đầu cho sự hiểu biết tình hình địa phương Sự nghiên cứu đó được thực hiện do một nhóm đa ngành làm việc trên hiện trường ít nhất 4 ngày nhưng không quá 3 tuần, sự nghiên cứu đó còn được dựa trên thông tin thu thập được, quan sát trực tiếp và phỏng vấn mà ở đó giả định rằng tất cả các câu hỏi liên quan không được xác định trước
Theo định nghĩa trên, RRA được hiểu một cách đơn giản là quá trình
Trang 30điều tra nhanh bằng một tổ đa ngành, ở đó các nhà chuyên môn ở các lĩnh vực khác nhau thu thập và phân tích thông tin
Vào cuối thập kỷ 80 RRA được sử dụng rộng rãi và được coi như công
cụ phát triển nông thôn Năm 1993, Terry B Grandstaff và Donald A.Messersohmidt cho rằng RRA là một phương pháp luận đầy sức mạnh cho nghiên cứu, là quá trình đánh giá theo nhóm liên ngành theo một dạng sử dụng kỹ thuật đa ngành để thu thập số liệu và phân tích, RRA được sử dụng để thu thập thông tin một cách nhanh nhất, chi phí thấp, thận trọng và chính xác, rõ ràng RRA là cơ sở hữu ích cho lập kế hoạch và hành động
Năm 1995, Bill Jackson và Andrew Ingles đã cho rằng: RRA đề cập đến một phương pháp tiếp cận nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc học hỏi nhanh, trực tiếp từ người dân địa phương RRA cho phép thu thập kiến thức địa phương, thông tin và sự hiểu biết của người dân địa phương bằng việc sử dụng các công cụ và phương pháp kết hợp RRA là sự tiếp cận có sự tham gia ở đó các cán bộ hiện trường cùng bàn bạc với người dân địa phương trong khi thu thập số liệu
b, Đặc điểm của RRA
Cho dù RRA được mô tả như thế nào cũng đều cho thấy RRA khác hẳn với các phương pháp điều tra truyền thống ở các điểm sau:
- Phương pháp tiếp cận nhanh
- Phương pháp tiếp cận đa ngành
- Phương pháp sử dụng tổng hợp hệ thống các công cụ đánh giá xã hội có quan hệ lẫn nhau
- Cho phép một số nhà chuyên môn giới thiệu các khía cạnh khác nhau trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể
- Cho phép nhìn nhận lại các ưu tiên về nghiên cứu trên cơ sở các thông tin thu thập từ các hiện tượng khác nhau
- Các phương pháp RRA thường cần thời gian ngắn để hiểu biết nhanh và
có chất lượng các vấn đề cụ thể Chất lượng RRA phụ thuộc vào khả năng phân
tích của nhóm các nhà chuyên môn
- Phương pháp tạo điều kiện đối thoại giữa các nhà phát triển nông thôn
và người dân
- Phương pháp nhằm mục đích thu thập thông tin để xác định vấn đề và lập chương trình, kế hoạch phát triển
Trang 31Xét về mặt cấu trúc tiếp cận RRA nằm giữa phương pháp điều tra chính quy và các phương pháp điều tra bằng phương pháp phỏng vấn bán định hướng Không như các phương pháp điều tra truyền thống khác, RRA tạo nên sự đối thoại giữa các nhà điều tra với nông dân, cho phép nông dân tham gia vào quá trình phân tích
c, Nguyên tắc của RRA
RRA đặt ra các nguyên tắc chủ yếu sau:
- Sử dụng phép kiểm tra chéo nhằm kiểm tra tính xác thực của thông tin
- Đòi hỏi quá trình học hỏi nhanh đảm bảo cho quá trình thực thi các chương trình dự án
- Có tính thăm dò làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
- Sử dụng kiến thức liên ngành để giải quyết các vấn đề toàn diện và thực tiễn
- Sử dụng nhiều kiến thức bản địa để phát huy năng lực tự quản của cộng đồng
- Được thực hiện trong tổ công tác đa ngành tạo ra quá trình học hỏi
- Là quá trình học hỏi theo tiến trình
- Tính lặp lại cao trong quá trình thực hiện RRA
2, Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
a Khái niệm về PRA
Theo Robert Chambers (1992) PRA được hiểu như là “một phương pháp tiếp cận và cũng là những phương pháp học hỏi cùng với người dân, từ người dân và bằng người dân về đời sống và điều kiện nông thôn”
Cũng theo Robert Chambers (1994) khái niệm PRA được mở rộng như
sau: “Một loạt các phương pháp tiếp cận và phương pháp cho phép người dân nông thôn cùng chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để lập kế hoạch và hành động” Như vậy, PRA cho phép
cán bộ phát triển nông thôn học hỏi từ người dân, cùng người dân và bằng người dân, là người thúc đẩy để giúp người dân địa phương tự phân tích, lập kế hoạch
và thực hiện
b Thành phần của PRA
Cơ sở của PRA là mối quan hệ của 3 thành phần được mô tả trong sơ đồ:
Trang 32Hình 2.1 Thành phần của PRA
- Phẩm chất là một trong những nền tảng của PRA Phẩm chất thể hiện đạo đức, hành vi, thái độ, cách ứng xử và là yêu cầu tiên quyết đối với cán bộ phát triển nông thôn
- Phương pháp gồm các kiến thức, kỹ năng chuyên môn đòi hỏi cán bộ phát triển nông thôn cần phải có
Các kiến thức về các lĩnh vực liên quan như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, phát triển cộng đồng… cần được trang bị đầy đủ
Các kỹ năng làm việc, thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn, giao tiếp và thúc đẩy cộng đồng cần được hoàn thiện
- Chia sẻ với cộng đồng thể hiện khả năng hoà nhập và đồng cảm là yêu cầu cần phải có đối với mỗi cán bộ khi làm việc tại hiện trường Chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm là cơ sở cho quá trình học hỏi và được mô tả như là nền tảng của cách tiếp cận cùng tham gia
Để thu thập và đánh giá kiến thức bản địa nên dùng cả hai phương pháp nói trên, trong đó PRA có nhiều ưu điểm nổi trội Khi sử dụng 2 phương pháp này
cần nhấn mạnh các nguyên tắc sau: (1) Sử dụng linh hoạt, (2) Kiểm tra nhanh kết quả, (3) Kết hợp đa ngành
2.2.2 Các công cụ sử dụng khi nghiên cứu kiến thức bản địa
Công cụ 1: Xác định chuyên gia về kiến thức bản địa
a, Khái niệm: Đây là phương pháp dùng câu hỏi không chính thức và sơ
đồ để xác định các cá nhân có hiểu biết sâu sắc về kiến thức đặc biệt
b, Mục đích: Xác định được thành viên trong cộng đồng có những hiểu
biết, kỹ năng đặc biệt về một hoặc nhiều lĩnh vực chuyên môn
Phẩm chất
Chia sẻ Phương
pháp
Trang 33c, Dụng cụ: Giấy, bút
d, Phương pháp tiến hành: Phương pháp tiến hành công cụ này được thực
hiện theo các bước chính sau đây:
Bước 1: Xác định chủ đề nghiên cứu: cần được xác định rõ ràng, cụ thể, trong đó có giới hạn phạm vi
Bước 2: Xác định/dự kiến nhóm người có thể trợ giúp để thực hiện được mục tiêu Lưu ý, trong quá trình thực hiện nên bắt đầu từ những người đang tham gia vào hoạt động có liên quan đến mục tiêu
Bước 3: Chọn mẫu: gồm những người trợ giúp (nhiều nhất 20 người)
Bước 4: Lập danh sách những người có hiểu biết về chủ đề nghiên cứu và ghi rõ tên, địa chỉ thông qua việc phỏng vấn nhóm người trợ giúp
Bước 5: Đến thăm và phỏng vấn tìm hiểu thông tin những thành viên vừa được giới thiệu, đồng thời bổ sung danh sách nếu cần thiết)
Bước 6: Sơ đồ hóa để xác định chính xác chuyên gia về lĩnh vực đang nghiên cứu
Sơ đồ hóa được thể hiện như ví dụ sau:
Trang 34e, Ý nghĩa
- Phương pháp này nhanh chóng tìm ra được danh sách những cá nhân có
am hiểu sâu sắc hoặc kỹ năng đặc biệt về một lĩnh vực cụ thể
- Là cơ sở để thu thập được các thông tin có giá trị về lĩnh vực đặc biệt mà
họ là chuyên gia
Một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình thực hiện phương pháp:
- Nên lặp lại quá trình đối với các chủ đề khác, để tìm chính xác được các chuyên gia ở từng lĩnh vực
- Không dựa vào chuyên gia để khai thác thông tin nằm ngoài am hiểu của họ
- Cần đảm bảo lấy được nhiều ý kiến khi chọn mẫu, lưu ý vấn đề giới tính, hộ giàu nghèo
Công cụ 2: Phỏng vấn
Phỏng vấn được xem là công cụ chủ yếu trong “tay” các cán bộ chuyên ngành hay đa ngành để giao tiếp với người dân và địa phương nhằm thu thập thông tin cần thiết từ họ, phục vụ cho các mục đích khác nhau trong phát triển nông thôn
Kỹ thuật phỏng vấn có thể phân làm hai loại: Phỏng vấn định hướng và phỏng vấn bán định hướng
Trang 35a, Mục đích:
Để tìm câu trả lời chi tiết cho những câu hỏi như: “Ai?”, “cái gì?”, “Ở đâu?”,
“khi nào?”, “Như thế nào?”, “Tại sao?” trong những tập quán, biện pháp, kỹ thuật, tín ngưỡng và công cụ của người dân
b, Yêu cầu: cần chuẩn bị:
- Sổ ghi chép, Bút
- Danh sách những người được lựa chọn phỏng vấn và danh mục khởi xướng những chủ đề cần phỏng vấn
- Máy ghi âm (nếu có)
c Các loại câu hỏi
- Câu hỏi gián tiếp
- Cần có sự chuẩn bị để nắm chắc chủ đề và đưa ra được những câu hỏi
mở hoặc bảng câu hỏi định hướng thích hợp theo yêu cầu của chủ đề cần phỏng vấn để thu thập thông tin từ những đối tượng cụ thể
- Thiết lập một đề cương sơ bộ cho cuộc phỏng vấn
- Chọn người dân và nhóm người thích hợp cho nội dung phỏng vấn
- Tạo điều kiện cho sự tiếp xúc đối tượng phỏng vấn và điều kiện tiến hành phỏng vấn với phương châm đơn giản, thuận lợi, phù hợp để tăng hiệu quả của cuộc phỏng vấn
- Phải nắm được phong tục tập quán, lịch thời gian hoạt động của người dân và cộng đồng để chọn thời điểm thích hợp gặp gỡ đối tượng phỏng vấn
Trang 36(2) Trong khi phỏng vấn
- Cần có thái độ cầu thị, cởi mở, thân thiện, kính trọng đối tượng
- Sử dụng ngôn ngữ phổ thông đơn giản, dễ hiểu (nếu có thể dùng ngôn ngữ địa phương – thông qua người phiên dịch)
- Cần có sự quan sát để nhìn nhận đúng, kịp thời thái độ, sự phản ứng của người được phỏng vấn để có sự thay đổi phương pháp phù hợp, đưa kết quả phỏng vấn tốt hơn hoặc không bị bỏ dở
Khi phỏng vấn ngoài việc đưa ra những câu hỏi mở, cần phải tận dụng các tài liệu có sẵn như bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, các vật dụng cần thiết: cây con, lá, sỏi, hạt sẵn có để tạo ra sự thảo luận, trao đổi, hỏi, trả lời dễ dàng hơn, phong phú hơn, dễ hiểu hơn; để cuối cùng có thể làm rõ: Ai? Ở đâu? Cái gì? Khi nào? Thế nào?
- Tránh các câu hỏi mà thông tin nhận được rất nghèo nàn, đóng kín “Có”,
“Không”, chỉ trừ những phỏng vấn bằng các câu hỏi đã định sẵn và người được phỏng vấn chỉ cần trả lời “Có” hoặc “Không”
- Không nên hỏi nhiều câu hỏi cùng một lúc, không nên dùng nhiều câu hỏi “Tại sao” Tránh gợi ý trả lời theo ý mình, hỏi các câu hỏi tối nghĩa, hoặc quá nhiều câu hỏi định lượng cũng sẽ tạo nên bị động, khó trả lời hoặc lúng túng cho người được phỏng vấn
- Tránh thái độ khuyên răn trong quá trình phỏng vấn
- Vận dụng các câu hỏi có tính chất: “kiểm tra chéo thông tin”
- Cần ghi chép đầy đủ, rõ ràng, chi tiết Phân công, phân nhiệm vụ cụ thể cho người ghi chép (trong nhóm ai là người phỏng vấn, ai là người ghi chép?)
- Không quá kéo dài thời gian phỏng vấn Cần kết thúc đúng lúc, theo cách lịch sự, cảm ơn người được phỏng vấn
e, Ý nghĩa:
- Phương pháp nhằm rút ra những quan điểm, kinh nghiệm của các cá nhân, được diễn đạt bởi chính ngôn ngữ của họ
- Cung cấp những thông tin hữu ích trong quá trình thu thập thông tin chi tiết
về một khía cạnh kiến thức bản địa cụ thể
Công cụ 3: Quan sát hiện trường
a, Khái niệm: Đây là phương pháp nhằm thu thập thông tin bằng cách quan
sát người dân địa phương đang làm gì và có những gì
b, Mục đích: để thu thập thêm dữ liệu, xác định lại thông tin đã có được từ
các phương pháp khác (như phỏng vấn, thảo luận,…) Đồng thời qua phương pháp này giúp người nghiên cứu học hỏi chính xác và tỉ mỉ các kiến thức của người dân để lưu giữ chính xác
Trang 37c, Dụng cụ: Sổ ghi chép, giấy bút, máy ảnh, ghi âm (nếu cần thiết)
d, Phương pháp tiến hành:
- Trong những lần làm việc tại hiện trường, quan sát chi tiết các thao tác mà người dân thực hiện kinh nghiệm bản địa: cách làm, làm như thế nào, sử dụng vật dụng gì, các vấn đề cần lưu ý,…
- Ghi chép những gì đã quan sát được, càng chi tiết càng tốt (có thể hãy quay phim hoặc chụp ảnh lại)
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn để làm rõ các thông tin đang thắc mắc,
có thể kết hợp với việc làm trực tiếp và thu thập các mẫu vật để lưu giữ
- Luôn luôn có kế hoạch hệ thống hóa những gì đã ghi chép và học hỏi được, kết hợp với việc làm sáng tỏ hơn các thông tin cần được bổ sung
- Phân tích chi tiết những gì đã ghi chép được
e, Ý nghĩa:
- Quan sát tại hiện trường giúp khám phá những kiến thức mới, kiểm tra lại thông tin và có được nhìn nhận hoàn chỉnh về lĩnh vực đang nghiên cứu Tuy nhiên, cần có sự kết hợp với các phương pháp khác để đạt hiệu quả cao nhất
Công cụ 4: Thảo luận nhóm
a, Giới thiệu
Thảo luận nhóm là công cụ quan trọng tiếp theo cần được thực hiện nhằm tìm hiểu, trao đổi với các nhóm đối tượng khác nhau để xác định những vấn đề quan trọng, nguyên nhân, giải pháp, xác định các hoạt động để giải quyết vấn đề… Việc thực hiện được tiến hành với nhóm từ 5 – 15 người, có hiểu biết và có kiến thức về một hoặc nhiều chủ đề
b, Mục đích: Nhằm tạo ra thông tin, sự nhất trí và xác nhận thông tin đã thu thập
Trang 38được từ các phương pháp khác, hoặc để làm sáng tỏ những thông tin còn thiếu trong các tài liệu
c, Dụng cụ: Giấy, bút dạ, băng dính, bảng, phấn,…
d, Phương pháp tiến hành:
- Kiểm tra lại toàn bộ các thông tin đã thu thập từ cộng đồng, những thông tin nào là cần thiết làm rõ để đi đến thống nhất chung Có thể nhờ sự trợ giúp của trưởng thôn/bản, già làng
- Lựa chọn nhóm, xác định rõ tiêu chí để chọn nhóm dưới sự hỗ trợ của cán bộ địa phương Lý tưởng nhất trong việc lựa chọn các thành viên trong nhóm là có nguồn gốc xã hội, kinh tế khác nhau, đại diện cho các tổ chức/nhóm người trong cộng đồng Cơ cấu của nhóm sẽ phụ thuộc vào chủ đề thảo luận
- Chuẩn bị cho cuộc thảo luận:
+ Xác định địa điểm, thời gian thực hiện
+ Chuẩn bị câu hỏi hướng dẫn
+ Người ghi biên bản, kết quả thảo luận
+ Thông báo cho các thành viên trong nhóm
- Trong cuộc thảo luận:
Trưởng nhóm hướng dẫn các thành viên thảo luận theo chủ đề theo quan điểm của các thành viên bằng cách đưa ra câu hỏi mở Thành viên nhóm suy nghĩ trả lời theo quan điểm cá nhân, sau đó quan điểm cá nhân sẽ được cả nhóm thảo luận Ý kiến thống nhất của nhóm sẽ được nhóm trưởng tổng hợp vào hàng hoặc cột tương ứng
- Sau khi tổng hợp ý kiến thảo luận, trưởng nhóm hỏi các thành viên nhóm lần cuối cùng để bổ sung hoặc bỏ bớt ý kiến, đồng thời thống nhất lần cuối nội dung đã thảo luận
- Kết quả thảo luận đã thống nhất được ghi chép lại vào giấy A4
Chú ý: Không áp đặt ý kiến thảo luận, tạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ,
người nghèo tham gia thảo luận, phân tích khó khăn, thuận lợi và đề xuất các hoạt động
Trang 39thu thập và đánh giá thông tin
Tạo điều kiện để người dân nêu được nhiều thông tin ngoài những điều thu thập được từ các phương pháp khác Thông qua phương pháp này giúp người nghiên cứu có thể học hỏi các kinh nghiệm tại địa phương, thông tin thu thập được sẽ có chất lượng tốt
Công cụ 5: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (phân tích SWOT)
a, Mục đích: Đây là công cụ dùng để phân tích các điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội, thách thức của một kiến thức bản địa nhằm cung cấp thông tin cho việc
đề ra các giải pháp cải thiện kiến thức, tập quán nào đó
Phân tích SWOT được sử dụng để đánh giá các thông tin được thu thập theo nhóm:
Nhóm 1: các thông tin phản ánh về điểm mạnh, điểm yếu trong hiện tại Nhóm 2: các thông tin phản ánh về cơ hội, thách thức trong tương lai Phân tích SWOT được áp dụng qua sơ đồ SWOT
Đây là sự kết hợp của sơ đồ 2 mảng, một sơ đồ 2 mảng thể hiện điểm mạnh (+), điểm yếu (-) của thời hiện tại, và một sơ đồ 2 mảng thể hiện phần hiện tại và tương lai
Bảng 2.2 Sơ đồ phân tích SWOT
Phân tích ưu điểm Phân tích nhược điểm
Phân tích
hiện tại
Phân tích chủ quan
Phân tích
tương lai
Phân tích khách quan
b, Chuẩn bị địa điểm và vật liệu
- Địa điểm: thuận tiện đi lại, rộng rãi, thu hút sự tham gia của người dân
Trang 40- Vật liệu: phấn viết, giấy A0, bút dạ, giấy A4, bút bi,
- Cán bộ tạo điều kiện để người dân thảo luận, cán bộ phỏng vấn, ghi chép
- Phân tích sự liên quan giữa các điểm của 4 phần trong sơ đồ, đánh dấu mối quan hệ Cán bộ cần phải hỏi các thành viên tham gia xem điểm nào còn chưa đồng ý, giải thích, nguyên nhân tại sao?
- Người dân thảo luận để xác định các giải pháp: phát huy điểm mạnh, tận dụng thời cơ, khắc phục khó khăn, phòng tránh các nguy cơ, thách thức
- Có giá trị trong việc đánh giá các kiến thức bản địa
- Đây là phương pháp có ỹ nghĩa trong việc lập kế hoạch và xác định những hoạt động tiếp theo, tìm ra những phương thức để tăng cường vận dụng các kiến thức có giá trị
2.3 Đánh giá kiến thức bản địa
Đánh giá kiến thức bản địa là cơ sở quan trọng để người dân đưa ra lựa chọn có áp dụng và phát triển kiến thức trong thực tiễn sinh hoạt và sản xuất hay không, đồng thời nó còn giúp các nhà nghiên cứu đưa ra quyết định vận dụng vào một dự án phát triển tại cộng đồng Chính vì vậy, cần hết sức lưu ý đến các chỉ tiêu, chỉ số áp dụng trong đánh giá, lựa chọn được các phương pháp đánh giá phù hợp với trình độ, năng lực và cách nhìn của cộng đồng