1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC

38 325 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Một Số Mặt Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Cổ Phần Xi Măng Và Vật Liệu Xây Dựng Cầu Đước
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Kinh doanh, Quản trị kinh doanh
Thể loại Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 67,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thì nhà máy còn thua kém hơn về vốn và dây chuyền côngnghệ , vì thế sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh được người tiêu dùng ưa chuộngvà họ đã có một mạng lưới đại lý rộng khắp cả nước,

Trang 1

PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ

PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC

2.1 PHÂN TÍCH CÁC HOẠT ĐỘNG MAKETING

2.1.1 Giới thiệu các loại hàng hoá, dịch vụ kinh doanh của công ty cổ phần ximăng và vật liệu xây dựng Cầu Đước

- Sản phẩm chính của công ty cổ phần ximăng và vật liệu xây dựng Cầu Đước là các sản phẩm sau:

- Xi măng Pooclăng PBC 30 và có các sản phẩm phụ sau:

+ Gạch Terazzo

+ Gạch lát cầu thang

Thị trường tiêu thụ của công ty là địa bàn tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, do quy

mô của dây chuyền còn thấp và khâu Maketing và tiếp thị còn yếu và với sức épcạnh tranh của các công ty ximăng khác trên địa bàn trong và ngoài tỉnh nên thịphần của công ty trên thị tương còn nhỏ

Về số lượng: Công ty sản xuất theo đơn đặt hàng và nhu cầu của thị trường,

do sản xuất ở lĩnh vực có sự ảnh hưởng của thời tiết ví dụ như vào mùa xây dựng ởcác tỉnh miền trung hàng năm vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 7 là chủ yếu, bởi vì

từ tháng 8 trở đi là mùa mưa lũ, nên sản lượng sản xuất có giảm Và công ty là mộtdoanh nghiệp nhà nước, trực thuộc sở xây dựng Nghệ An, do vậy khi nào có tỉnh

có các dự án được nhà nước đầu tư vào càng lớn thì chỉ tiêu về sản lượng đượcnâng cao hơn, ví dụ như ở tỉnh có hai chương trình trọng điểm là bê tông kênhmương và giao thông nông thôn Nhưng nguồn vốn giải ngân của các công trìnhcòn chậm nên công ty bị ảnh hưởng về điều kiện duy trì và ổn định sản xuất

Quá trình sản xuất sản phẩm của công ty luôn tuân theo quy trình nghiêm ngặt của quốc tế như từ quá trình đưa phối liệu cho đến nghiền đều được phòng KCS kiểm tra chặt chẽ

Trang 2

2.1.2 Số liệu về kết quả tiêu thụ sản phẩm mặt hàng ximăng của công ty

Cổ phần và VLXD Cầu Đước

* Bảng số liệu về kết quả tiêu thụ ximăng trong 3 năm từ năm 2001-2003.

( xem bảng 3)

Trang 3

- So với năm 2002 thì doanh thu thuần của năm 2003 giảm 145.667 triệuđồng, tương ứng giảm 0,4%, trong khi tổng chi phí tăng 945.407 triệu đồng, tươngứng giảm 2,95% Nguyên nhân trên chủ yếu là do sở tài chính chưa thanh toán chocông ty ở hai dự án bê tông hoá kênh mương và giao thông nông thôn.

- So với năm 2001 thì năm 2003 doanh thu thuần giảm 2.615.917 triệu đồng,tương ứng giảm 6,69%, nhưng tổng chi phí lại giảm 3.827.815 triệu đồng, tươngứng giảm 10,3%, và lợi nhuận lại tăng 644.772 triệu đồng, tương ứng tăng 33,11%

- Nhìn vào kết quả của công ty trong ba năm qua, ta thấy rằng công ty ngàymột làm ăn có hiệu quả hơn, có tăng, giảm chút ít về mức giá bán, nhưng tổng chiphí của hai năm 2002 và 2003 lại giảm, trong khi lợi nhuận lại tăng Đó là một điềuchứng tỏ rằng bộ máy làm việc của công ty ngày càng làm việc có hiệu quả hơn

2.1.3 Đối thủ cạnh tranh của công ty

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm ximăng của các công tykhác nhau, và được sản xuất từ các dây chuyền công nghệ hiện đại, điều đó đã tạonên sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty nhằm chiếm được thị trường, bằng cáchthông qua các hội chợ, triển lãm, quảng các trên các phương tiện thông tin đạichúng Công ty có các đối thủ cạnh tranh chính như: Trong tỉnh có Nhà máy ximăng 12/ 9 Anh Sơn, nhà máy ximăng Hoàng Mai, ngoài tỉnh có các nhà máy như

Trang 4

nhà máy ximăng Bỉm Sơn, Nghi Sơn Tuy nhiên sản phẩm của công ty đã có mặttrên thị trường của tỉnh đã từ lâu, so với các nhà máy ximăng lớn như Bỉm Sơn hayximăng Hoàng Mai thì nhà máy còn thua kém hơn về vốn và dây chuyền côngnghệ , vì thế sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh được người tiêu dùng ưa chuộng

và họ đã có một mạng lưới đại lý rộng khắp cả nước, nhưng giá bán của sản phẩmcủa công ty như công ty ximăng Hoàng Mai năm 2003 là 590.000 đồng/ tấn.Nhưng sản phẩm của công ty là 575.000 đồng/ tấn, do vậy sản phẩm của công tyvẫn được các nhà thầu xây dựng và khách hàng lưu tâm

Về tầm quy mô của doanh nghiệp và công nghệ của các nhà máy ximăng củabạn có công nghệ hiện đại hơn Nhưng doanh thu của nhà máy hàng năm là rất cao,đời sống của cán bộ công nhân viên được đảm bảo với mức lương bình quân hàngtháng là 1.127.000 Đ/ người, điều đó cho thấy sản phẩm của công ty tuy không cótiếng như sản phẩm ximăng của các công ty ximăng khác, nhưng vẫn được ngườitiêu dùng tín nhiệm đặc biệt là được Sở Xây Dựng Nghệ An ký quyết định cho sảnphẩm ximăng của nhà máy làm vật liệu chính cho hai dự án là Giao thông nôngthôn và bê tông hoá kênh mương

2.1.4 Đặc điểm sản phẩm của công ty

Do nhận thức được một cách đầy đủ các mức độ của sản phẩm và có các biệnpháp hữu hiệu để thực hiện đầy đủ các mức sản phẩm nhằm thoả mãn sự mong đợicủa người tiêu dùng như: Sản phẩm cốt lõi đó là lợi ích mà người mua nhận được,sản phẩm cụ thể như kiểu dáng, nhãn hiệu, bao bì, và các hình thức dịch vụ Dođặc thù của sản phẩm ximăng là không cần chú trọng đến hình thức bên ngoài nhưbao bì, kiểu dáng như các sản phẩm tiêu dùng khác mà chú trọng đến thuộc tínhcủa sản phẩm hơn, do vậy công ty đã có các biện pháp hữu hiệu để thực hiện đầy

đủ các mức sản phẩm đó như công ty đã sản xuất sản phẩm ximăng theo đúng trình

tự quy định và kiểm tra chặt chẽ các nguyên vật liệu đầu vào , bảo dưỡng, trung

tu, đại tu các trang thiết bị của dây chuyền công nghệ theo định kỳ, về bao bì của

Trang 5

sản phẩm , công ty đã mua dây chuyền công nghệ, máy dập và may để sản xuấtngay trong nhà máy chứ không cần đặt hàng của các công ty bao bì, nhưng hiệnnay vỏ bao ximăng được làm hai lớp, bên ngoài là bao tải dứa được in tên và nhãnhiệu của công ty lên trên và bên trong được làm bằng giấy Crap, với loại vỏ baonày không những giúp vẫn chuyển một cách dễ dàng hơn mà nó còn giúp tránhtrường hợp các cá nhân, đại lý rút bớt trọng lượng ximăng Khi nhận được đơn đặthàng thì công ty sẽ có xe vận chuyển tận chân công trình cho khách hàng mà kháchhàng không mất thêm chi phí cho vận chuyển.

2.1.5 Đặc điểm giá cả

Giá bán các sản phẩm trong năm được xác định dựa trên giá bán một đôi giầynăm trước và dự đoán về tình hình biến động của thị trường để đặt giá bán bán cho

kỳ kế hoạch

Theo dõi từ bảng thống kê kết quả tiêu thụ ximăng từ 2001-2003, ta thấy trong

ba năm doanh thu của công ty liên tục giảm, năm 2001 giá bán một tấn ximăngchưa bao gồm cả VAT là 595 147 Đồng, năm 2002 do có sự biến động của thịtrường về một số nguyên vật liệu, nên công ty cho tăng giá lên 595.309 đồng Tuyvậy sản lượng lại giảm 4,167.41 tấn Sang năm 2003 công ty lại giảm giá xuốngchỉ còn 568.970 đồng thấp hơn giá bán của năm 2001 và sản lượng tăng 7628.29tấn so với năm 2002, tăng 3460.88 tấn so với năm 2001, nhưng doanh thu lại giảmsút xuống tới mức thấp nhất trong vòng 3 năm kể từ năm 2001, nguyên nhân gây

ra tình hình này là do lượng ximăng cung ứng cho hai dự án bê tông hoá kênhmương và giao thông nông thôn còn nợ chưa thanh toán

Như vậy tình sản xuất của công ty trong năm 2003 là rất tốt, do tính chất đặcthù của doanh nghiệp là phải tối đa hoá lợi nhuận, ngoài chính sách giảm thiểu chiphí trong sản xuất, và giảm giá để tăng sản lượng thì công ty cần có các biện phápthu hồi nợ, không để tình trạng nợ tồn đọng kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sản xuất

Trang 6

- Kênh một cấp (2): là kênh mà sản phẩm của công ty được giao tới các đại lýcủa công ty, sản phẩm qua đại lý mới tới tay người tiêu dùng Lượng ximăng giaocho các đại lý chiếm vị trí chủ đạo trong mạng lưới phân phối của công ty, lượngximăng giao cho các đại lý năm 2003 là 40.000 tấn/ năm.

- Kênh nhiều cấp (3): là kênh mà hàng hoá của công ty qua nhiều khâu trunggian, tức là hàng hoá của công ty tới tay khách hàng khi đã qua người bán buôn sau

đó tới ngươi bán lẻ, rồi mới tới người tiêu dùng Lượng ximăng được tiêu thụ quakênh này thực sự là không lớn lắm, bởi vì các đại lý, của hàng vật liệu xây dựngnày chủ yếu là do tư nhân làm chủ nên mặt hàng nào bán chạy trên thị trường thì

Người tiêudùng

Trang 7

họ mới bán, nhưng nắm bắt được điều này nên công ty đã phân phối được số lượngkhông phải là nhỏ, năm 2003 theo kênh phân phối này công ty đã phân phối đượckhoảng 10.000 tấn/ năm

Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty chủ yếu phân phối sản qua ba kênhtrên khi có những đơn đặt hàng đột xuất thì công ty sẽ cơ động tìm cách giúp đỡcác đối tác bằng cách cung ứng kịp thời, đúng thời hạn và đúng địa điểm

* Phương thức bán hàng của công ty

Để hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty cũng nhưđáp ứng được tối đa nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, Công ty đã tiếnhành không ngừng mở rộng, đa dạng hoá và hoàn thiện các phương thức bán hàng.Đối với việc tiêu thụ sản phẩm thì khách hàng có thể nhận hàng tại kho củaCông ty, năm 2003 lượng hàng giao tại kho của công ty lên đến 4000 tấn, hoặcCông ty có trách nhiệm giao hàng tại địa điểm thoả thuận trong hợp đồng Khinhận được hàng thì việc thanh toán sẽ dược thực hiện bằng cách chuyển trả qua tàikhoản với thời gian đã thoả thuận trong hợp đồng và công tác này do phòng xuấtnhập khẩu kinh doanh thực hiện, thông thường Công ty áp dụng 3 phương thức bánhàng đó là bán buôn, bán lẻ và bán đại lý Nghiệp vụ bán buôn được thực hiệnthông qua phương thức bán buôn qua kho với chứng từ ban đầu, kiêm phiếu xuấtkho là chứng từ bán hàng duy nhất có giá trị làm căn cứ cho hạch toán nghiệp vụbán buôn Còn hàng hoá bán lẻ được thực hiện tại các cửa hàng, đại lý của công ty

và phòng tiêu thụ sẽ đảm nhận công tác này Phòng tài vụ sẽ theo dõi chung dựatheo các chứng từ do hai phòng trên cung cấp Từng loại sản phẩm được theo dõitrên sổ chi tiết riêng, kế toán tiêu thụ sản phẩm căn cứ vào các hoá đơn phiếu xuấtkho phát sinh trong tháng để lập sổ Công ty cũng thực hiện theo dõi tổng hợp tìnhhình tiêu thụ sản phẩm theo từng tháng, từng quí Cuối mỗi quí, phòng tài vụ lại

Trang 8

tập hợp kết quả tiêu thụ sản phẩm theo các chỉ tiêu số lượng, số tiền chi tiết chotừng loại sản phẩm.

Bên cạnh đó, Công ty đã áp dụng một số biện pháp khác để giúp cho việc tiêuthụ sản phẩm được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn như:

* Trả hoa hồng cho các đại lý: Công ty đã sử dụng đòn bẩy này để kích thíchcác đại lý của mình để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, vì được hưởng hoahồng theo phần trăm của doanh thu nên các đại lý bán được càng nhiều sản phẩmcho công ty thì được hưởng hoa hồng càng cao Theo số liệu của nhà máy thì đại lýnào có doanh thu trên 6 tỷ đồng thì được hưởng hoa hồng là 6%, những đại lý nào

có doanh thu từ 10 tỷ trở lên thì được hưởng hoa hồng là 7%, và doanh thu từ 15 tỷtrở lên thì được hưởng hoa hồng là 8% Còn những đại lý tư nhân và của hàng bán

lẻ được hưởng hoa hồng là 3%

Qua những số liệu trên ta thấy công ty đã có những chính sách hữu hiệu nhằmtăng doanh thu từ việc bán hàng ở các đại lý Do vậy đã thúc đẩy các đại lý ápdụng các phương pháp bán hàng riêng của mình sao cho sản phẩm bán được nhiềunhất Biện pháp này có tính khả thi cao, có lợi cho cả hai bên

2.1.7 Chính sách Quảng Cáo & Xúc Tiến bán hàng của công ty

* Quảng cáo giới thiệu sản phẩm: Việc giới thiệu sản phẩm không chỉ được giớithiệu tại các cửa hàng, đại lý giới thiệu sản phẩm của công ty mà còn được tiếnhành thông qua việc tham dự các hội chợ triển lãm hàng công nghiệp, hàng tiêudùng trong nước Kết hợp với các hình thức quảng cáo phong phú đa dạng thựchiện trên các báo, tạp chí, các đơn chào hàng , công ty không chỉ đưa thông tin vềsản phẩm, về hình ảnh của mình đến với khách hàng mà còn tiếp nhận thông tin từphía khách hàng giúp cho công ty thực hiện tốt công tác sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận của công ty

Trang 9

Năm 2001 chi phí cho quảng cáo lên đến 196.450.744 đồng, năm 2002 chi phícho quảng cáo của công ty là 70.000.000 đồng, nhưng đến năm 2003 chi phí dànhcho quảng cáo là 173.450.000 đồng

Qua bảng tập hợp chi phí quản lý của công ty trong 3 năm từ 2001- 2003, tathấy chi phí mà công ty dành cho quảng cáo có chiều hướng giảm, năm 2001 chiphí quảng cáo của công ty là 196.450.744 đồng, sang năm 2002 chi phí quảng cáogiảm xuống còn 70.000.000 đồng, như vậy so với năm 2001, năm 2002 giảm126.450.744 đồng, tỷ lệ giảm là 64,37% Nhưng sang năm 2003 công ty đã chútrọng hơn trong việc Maketing và quảng cáo sản phẩm của công ty, nên chi phíquảng cáo của công ty là 173.450.000 đồng

Qua số liệu trên ta thấy chi phí dành cho quảng cáo của công ty còn thấp, công

ty còn chưa thực sự chú trọng và thấy được tầm quan trọng của quảng cáo

* Chiết khấu bán hàng: Để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thucông ty đã sử dụng biện pháp chiết khấu bán hàng để khuyến khích khách hàngthanh toán nhanh Điều này góp phần tăng doanh thu tiêu thụ, tăng vòng quay củavốn sản xuất, hạn chế sự chiếm dụng vốn của khách hàng đối với Công ty đồngthời cũng cải thiện tình hình tài chính của công ty áp dụng các biện pháp để thu lạitiền hàng một cách nhanh nhất, năm 2002 và năm 2003 công ty áp dụng mức chiếtkhấu cho khách hàng như sau:

+ Nếu khách hàng thanh toán trước thời hạn thì công ty sẽ cho khách hànghưởng mức chiết khấu ưu đãi là 7%

+ Trường hợp thanh toán đúng hạn, thì công ty sẽ cho hưởng mức chiết khấu

là 5%

+ Trường hợp khách hàng thanh toán muộn so với hạn trả thì công ty sẽ cóbiện pháp bắt khách hàng thanh toán tiền nợ lẫn tiền phạt, tiền phạt được áp dụngtheo lãi suất ngân hàng

Trang 10

* Đa dạng hoá các hình thức thanh toán: Nhằm tạo điều kiện thuận lợi chokhách hàng, công ty vận dụng nhiều các hình thức thanh toán khác nhau như thanhtoán bằng séc, bằng chuyển khoản, bằng ngân phiếu Về thời gian thanh toán tuỳthuộc vào từng đối tượng cụ thể mà công ty yêu cầu khách hàng trả tiền ngay hoặctrả chậm Như vậy, với các phương thức bán hàng linh hoạt, sáng tạo đã giúp công

ty phát huy được thế mạnh trong vấn đề giữ được khách hàng truyền thống vàkhông ngừng tìm kiếm bạn hàng mới thể hiện qua số đơn đặt hàng tăng lên rõ rệt.Đồng thời, cũng nhờ các phương thức bán hàng đó đã tạo điều kiện cho kháchtham quan và tiêu thụ sản phẩm của công ty

* Nhận xét về hoạt động maketing của công ty

Những thành tựu và kết quả thu được của công ty qua 3 năm từ 2001-2003,chúng ta thấy rằng công ty đã biết chú trọng vào các hoạt động Maketinh như:Quảng cáo trên các thông tin đại chúng, giảm giá bán cho khách hàng, tăng hoahồng đại lý để các đại lý lớn, nhỏ đều có sẵn sản phẩm của công ty để bán , tuynhiên công ty cũng cần có nhiều hơn nữa các hình thức khuyến mãi, tham gia vàocác hội chợ hàng tiêu dùng một cách rộng rãi hơn, mở rộng sản xuất và kinh doanh

để doanh thu của công ty hàng năm phải cao hơn nữa và đời sống của cán bộ côngnhân viên trong nhà máy thu nhập ngày càng cao hơn, năng suất làm việc cao hơn

Trang 11

2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG

2.2.1 Cơ cấu lao động của công ty Cổ Phần Ximăng và VLXD Cầu Đước

* Tình hình nhân sự của công ty năm 2003

trực tiếp

Lao động Gián tiếp

Lao động phụ trợ

Tổng Cộng

Trang 12

- Độ tuổi trung bình của công nhân viên công ty là: 38,06 Tuổi/ người, độ tuổicông nhân công ty hiện có rất nhiều người từ độ tuổi từ 31-40 Đó là một lợi thếcủa doanh nghiệp, vì công ty có một lực lượng lao động mạnh, có thế hệ thay kếtiếp để thay thế

- Mặt yếu: Công ty có 16,13% tổng số cán bộ công nhân viên có trình độ tốtnghiệp Đại Học trở lên, vì là một cơ sở sản xuất nên chỉ cấp lãnh đạo mới có trình

độ cao còn công nhân đa số là ở nông thôn nên trình độ phần lớn chỉ tốt nghiệpPTTH trở xuống, do đó ý thức và trình độ của các thành viên trong công ty chưathực sự đồng đều

- Bậc thợ trung bình của công ty là: 3,98 bậc/ người Như vậy ta thấy bậc thợcủa công ty là tương đối thấp Công ty cần có các biện pháp nâng cao trình độ chocông nhân

Với tỷ lệ Nam so với Nữ là chêch lệch rất nhiều, nhưng với đặc thù củanghành là hoạt động trong nghành công nghiệp nặng, nên sự chênh lệch này khôngảnh hưởng đến quá trình sản xuất của công ty

* Phương pháp xây dựng mức thời gian lao động

Việc xây dựng thời gian lao động của công ty cổ phần ximăng và VLXD CầuĐước dựa trên quy định về việc thời gian sử dụng lao động theo luật doanh nghiệpquy định Căn cứ theo quy định, công ty đã có quyết định về việc sử dụng laođộng như sau:

+ Thời gian mỗi ca làm việc của công nhân là: 8h/ Ca

+ Trong tháng làm việc 24 ca/ người

+ Công ty có 350 lao động và công ty đã đảm bảo có việc làm cho 350 lao độngcủa nhà máy hàng năm

Trang 13

+ Đối với sản phẩm ximăng thì sản lượng trung bình cho mỗi cán bộ công viêncủa nhà máy là 171 Tấn/ người/ năm.

2.2.2 Tuyển dụng và đào tạo lao động

- Đối với lao động gián tiếp, Công ty tuyển dụng dựa trên bằng cấp Trước tiên,

người lao động phải thử việc sau đó ký hợp đồng 3 tháng hoặc 1 năm Nếu người

đó có khả năng thì Công ty sẽ giữ lại và ký hợp đồng dài hạn

- Đối với lao động trực tiếp, công ty tuyển dụng người có sức khoẻ sau đó đàotạo họ trong 3 tháng qua thử việc rồi mới đưa họ vào vị trí thích hợp trong dâytruyền sản xuất, còn một số lao động công ty có thể ký hợp đồng theo mùa vụ Nhưvào mùa xây dựng lượng ximăng tiêu thụ là rất lớn, vì vậy công ty đã chủ động kýkết hợp đồng theo thời vụ với số nhân công nhàn rỗi của địa phương

- Đối với các trường hợp đến độ tuổi về hưu và đối với các trường hợp nghỉ mấtsức công ty sẽ giải quyết đúng theo chế độ

* Tổng quỹ lương của Công ty

- Quỹ lương của doanh nghiệp năm 2004 là: 4.733.755.764 Đồng

- Lương tháng bình quân/ người/ tháng: 1.127.000 Đồng

Quỹ lương xây dựng trên cơ sở căn cứ vào sản phẩm sản xuất và tiêu thụ đượctrong tháng

Quỹ lương bao gồm lương chính và lương phụ, việc trả lương được căn cứ vàoquyết định của chính phủ về điều lệ điều chỉnh mức lương tối thiểu từ 01/1/2003,căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất của công ty, và xét yêu cầu về chát lượng vật

tư, nguyên liệu, an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp và yêu cầu chất lượng sảnphẩm để ra quyết định:

Trang 14

- Lương chính: là lương được trả theo chế độ cấp bậc tiền lương do nhà nướcquy định.

* Quỹ lương/ năm tính cho khối lao động trực tiếp của công ty được xác địnhtheo công thức sau:

Lg min là lương tối thiểu của doanh nghiệp

Lgmin= lương tối thiểu nhà nước quy định * k

(k : là hệ số điều chỉnh lương tối thiểu do DN quyết định phụ thuộc vào kếtquả kinh doanh từng thời kỳ k có thể thay đổi từng quý, từng năm);

Si- là số lao động hưởng mức lương giống nhau

Hi- là mức lương tháng của nhóm thứ i

n- số nhóm lao động có hẹ số lương cấp bậc giống nhau

- Lương của lao động trực tiếp thì công ty sẽ trả lương theo mức lương sảnphẩm, kết hợp với đơn giá của từng loại sản phẩm mà công ty quy định

Trang 15

* Quỹ lương cho khối lao động gián tiếp và khối phụ trợ được xác định nhưsau:

Si- là số lao động hưởng mức lương giống nhau;

Li- là mức lương tháng của nhóm thứ i

Ngoài ra công ty còn trả lương theo những khoản phụ được bổ sung do yêu cầucông việc đòi hỏi như:

+ Thêm giờ, thêm ca

+ Phụ cấp kiêm nghiệm Đoàn thể

+ Thưởng từ quỹ lương

2.2.4 Các hình thức trả lương của công ty

- Đối với lao động gián tiếp, và khối phục vụ sản xuất công ty trả lương theothời gian: căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, hệ số quy định, hệ số chức vụ và

và chế độ tiền lương trong một đơn vị thời gian Ví dụ như chức vụ của công ty có

hệ số là 4,98 và được hưởng hệ số cấp bậc là 1,45 nhân với 40% * 577.680 đồng.Như vậy lương mà giám đốc công ty được nhận là 1.988.374,5 đồng

- Đối với lao động trực tiếp sản xuất, công ty trả lương theo sản phẩm và theobậc thợ: căn cứ vào khối lượng sản phẩm thực tế hoàn thành và đơn giá lương cho

1 đơn vị sản phẩm và theo bậc thợ

- Đối với lao động phụ trợ như các lao động làm việc tại xưởng cơ điện, nhà ăn,nhà trẻ của công ty thì lương được trả theo bậc thợ và theo hợp đồng quy định giữacông ty và cá nhân người lao động

Trang 16

- Việc trả lương cho cán bộ công nhân viên trong công ty được thực hiệntheo quyết định của ban lãnh đạo công ty:

+ Đối với lương thêm giờ công ty sẽ trả cho công nhân tính theo sản phẩm vàđược cộng thêm 20% đơn giá của khâu đó Như đơn giá trả cho phân xưởngnguyên liệu là 115.097 đồng/ tấn sản phẩm, như vậy đối với lương thêm giờ thìcông ty sẽ trả thêm cho phân xưởng 23.019,4 đồng/ Tấn sản phẩm

+ Đối với phụ cấp kiêm nghiệm Đoàn thể, công ty sẽ cho hưởng tuỳ theo chứcdanh mà có các mức phụ cấp khác nhau, như đối với Bí thư Đảng uỷ sẽ đượchưởng 100.000 đồng/ tháng, Bí Thư chi Bộ được hưởng 20.000 đồng/tháng, Đảng

uỷ viên công ty được hưởng 50.000 đồng/ tháng

+ Ngoài ra công ty còn trả lương cho công nhân cho những trường hợp như:mất điện, máy hư cần sửa chữa, nghỉ ốm, nghỉ đẻ , công ty sẽ trả bằng 50% đơngiá sản phẩm và căn cứ theo định mức thời gian sản xuất và căn cứ vào bậc thợcủacông nhân ví dụ công nhân ở phân xưởng lò nung có định mức sản phẩm cho mỗigiờ phải làm ra 3.1 tấn/ h, đơn giá cho phân xưởng lò nung là 242.274 đồng/ Tấn.Phân xưởng có 32 công nhân làm việc, bậc thợ trung bình của công nhân là 3.25/người Vậy cứ mỗi một giờ nghỉ công ty phải trả 2.605,075 đồng/ người/h

2.2.5 Hiệu quả sử dụng lao động và chi phí tiền lương

Trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, con người là yếu tố có tínhchất quyết định nhất Do vậy sử dụng tốt nguồn lao động sẽ góp phần quan trọngtrong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty làm tăng khối lượng sảnphẩm, làm giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận choDoanh nghiệp

Sản lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản của hoạt động kinh doanh,góp phần quan trọng vào năng lực kinh doanh của công ty Hiệu quả sử dụng lao

Trang 17

động được biểu hiện ở sản lượng và hiệu suất tiền lương nhằm thâý được hiệu quảkinh doanh, sử dụng của công ty và mức sống của lao động trong Công ty cổ phầnximăng và vật liệu xây dựng Cầu Đước (xem bảng 4).

*Nhận xét

Qua bảng thống kê về tình hình lao động tiền lương, ta thấy tiền lương bìnhquân/ tháng của năm 2002 tăng 0,14 triệu đồng/tháng so với năm 2001, tăng tươngứng 15% Năm 2003 tiền lương bình quân/ tháng so với năm 2002 giảm 0,21 triệuđồng/ tháng, giảm tương ứng 53,9% Do có sự ảnh hưởng gián tiếp tới doanh thu

và lợi nhuận, nên năm 2002 hiệu quả sử dụng chi phí tiền lương (HQSDCPTiềnLương) giảm 7,06 so với năm 2001, tỷ lệ giảm tương ứng là 0,4% Năm 2003 ta cóHQSDCP Tiền Lương giảm 4.16 so với năm 2002, tương ứng giảm 0,4%, so vớinăm 2001 năm 2003 lại tiếp tục giảm tới 7,47, tương ứng giảm 6,69%

Qua đó ta thấy rằng HQSDCP Tiền Lương giảm của năm 2002 và năm 2003 là

do giảm doanh thu vì các khoản phải thu lên đến hơn 21 tỷ đồng, dẫn đến quá trìnhquay vòng vốn giảm, vì vậy quỹ lương của năm 2003 giảm Tình trạng trên do ảnhhưởng của các khoản nợ dài hạn, khó đòi từ hai dự án bê tông hoá kênh mương vàgiao thông nông thôn vì vậy công ty cần có các biện pháp kiến nghị lên Tỉnh uỷ và

sở tài chính nhanh chóng thanh toán số tiền còn nợ công ty để không ảnh hưởngđến sản xuất

2.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VẬT TƯ, TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 2.3.1 Các loại nguyên vật liệu dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh

 Định hướng đặt ra đối với hoạt động mua và dự trữ vật tư của Công ty

Để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu về chất lượng sản phẩm, sản lượng sảnphẩm và giá thành sản phẩm đầu ra, phòng kế hoạch đầu tư đã đề ra phương hướngcho hoạt động mua NVL, máy móc công nghệ, trang thiết bị để phục vụ tốt quá

Trang 18

trình sản xuất kinh doanh của công ty Ý thức được vấn đề đó công ty đã và đang

cố gắng thực hiện tốt công cuộc hiện đại hoá dây chuyền sản xuất, thay thế máymóc cũ bằng máy móc hiện đại đồng thời giữ vững quan hệ với các nhà cung ứng

có uy tín và đạt tốt yêu cầu của công ty, loại bỏ những nhà cung ứng không đápứng được yêu cầu của Công ty, cố gắng tìm ra những tiêu chuẩn cung ứng đối vớicác nhà cung ứng một cách chặt chẽ nhất Cụ thể đặt ra với các vật tư phục vụ choquá trình sản xuất của Công ty như sau:

- Nguyên vật liệu trước khi đưa vào kho và đưa vào quá trình sản xuất phảiđược kiểm tra kỹ lưỡng 100% cả về số lượng, chất lượng, ghi rõ xuất xứ, địa chỉcủa nguồn hàng để khi có sai sót Công ty còn có cơ sở để rà soát lại

- Máy móc, trang thiết bị ở các phân xưởng sản xuất nhà kho, phòng ban củaCông ty phải liên tục được kiểm tra, xem xét nếu có vấn đề còn kịp thời xử lý

- Công nghệ sản xuất thì Công ty thường tham khảo từ các công ty khác ở trongnước và nước ngoài để nhập công nghệ mới đáp ứng nhu cầu của thị trường

- Ngoài các tiêu chuẩn trên, Công ty còn đặt ra các tiêu chuẩn đối với nhà cungứng như sau: thời gian giao hàng, giá cả, địa điểm giao hàng, điều kiện thanh toán

- Xây dựng tốt chương trình, kế hoạch cụ thể để quản lý hoạt động cung ứng cóhiệu quả và góp phần nâng cao khả năng của các bên cung ứng Duy trì tốt côngtác định mức tiêu hao vật tư cho tất cả các loại sản phẩm nhằm thực hiện tốt côngtác lập đơn hàng và tổ chức mua, dự trữ vật tư cho sản xuất của Doanh Nghiệp

 Các nguyên vật liệu dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: Đấtkhô, đá hộc, than cám, phụ gia, đá đen, đá thạch cao, nước

Các nguyên vật liệu sau khi được kiểm tra về chất lượng, số lượng, nguồn gốcxuất xứ thì được đưa vào hệ thống dây chuyền sản xuất

2.3.2 Cách xây dựng mức sử dụng nguyên vật liệu

Trang 19

Cách xây dựng mức sử dụng nguyên vật liệu của công ty được áp dụngtheo tiêu chuẩn của Tổng công ty Ximăng Việt Nam đề ra, tuỳ theo dây chuyềncông nghệ của mỗi nhà máy mà chất lượng sản phẩm có khác nhau

(xem bảng 5)

* Nhận xét

Qua bảng định mức tiêu hao cho một tấn ximăng trong 3 năm từ năm 2001đến năm 2003 của công ty, ta thấy rằng đối với đá hộc là một loại vật liệu chính đểsản xuất ximăng thì cũng có sự giảm về định mức, so với năm 2001 thì năm 2002định mức giảm 0,0261 Tấn, tương ứng tỷ lệ 2,45 %, và năm 2003 so với năm 2001thì định mức giảm tới 1,139 %, tương ứng giảm tới 0,012 Tấn

Nguyên vật liệu khác như đá đen, năm 2002 định mức tiêu hao trên 1 tấnximăng giảm so với năm 2001 là: 0,023 Tấn, tương ứng tỷ lệ giảm 9,274% Vànăm 2003 so với năm 2001 đã giảm 0,018 tấn đá đen/Tấn ximăng, giảm tỷ lệ7,26%

Các loại nguyên vật liệu còn lại như Quặng sắt, Apatít, Thạch cao đều tăng,các loại nguyên liệu này thuộc nhóm phụ gia, do chú trọng hơn trong công táckiểm tra sản phẩm nên lượng phụ gia được tăng thêm, để chất lượng của ximăngngày càng tốt hơn ví dụ như nguyên liệu quặng sắt, năm 2001 công ty định mức0,0179 Tấn/ Tấn ximăng, so với năm 2001 thì năm 2002 tăng 0,001Tấn/ Tấnximăng, tương ứng tăng 5,59% Năm 2003 so với năm 2002 tiếp tục tăng 0,001tấn/tấn ximăng, nhưng năm 2003 so với năm 2001 ta thấy lượng quặng được tăng lên0,002 tấn/ tấn ximăng, tăng tương ứng 11,73%

Tuy vậy các loại vật tư sản xuất như: Bi cầu, bi đạn, tấm lót năm 2002 lạităng so với năm 2001 Nhưng sang năm 2003 công ty đã có sự điều chỉnh nhằmgiảm thiểu chi phí sản xuất Ví dụ như nguyên liệu bi cầu, năm 2002 định mức củacông ty là 1,024 tấn/ tấn ximăng tăng 0,206 tấn so với năm 2001, tăng tương ứng

Ngày đăng: 30/10/2013, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG 2.2.1. Cơ cấu lao động của công ty Cổ Phần Ximăng và VLXD Cầu Đước - PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
2.2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG 2.2.1. Cơ cấu lao động của công ty Cổ Phần Ximăng và VLXD Cầu Đước (Trang 11)
2.5. Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp 2.5.1.   Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp - PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
2.5. Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp 2.5.1. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Trang 26)
2.4.2. Bảng cân đối kế toán của công ty năm 2003 - PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
2.4.2. Bảng cân đối kế toán của công ty năm 2003 (Trang 27)
1 TSCĐ hữu hình 211 1,158,931,109 6,226,368,484 - Nguyên giá21236,028,758,37743,596,195,752 - Giá trị hao mòn luỹ kế213(34,869,827,268) (37,369,827,268) 2Tài sản cố định thuê TC21400 3Tài sản cố định vô hình21700 - PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
1 TSCĐ hữu hình 211 1,158,931,109 6,226,368,484 - Nguyên giá21236,028,758,37743,596,195,752 - Giá trị hao mòn luỹ kế213(34,869,827,268) (37,369,827,268) 2Tài sản cố định thuê TC21400 3Tài sản cố định vô hình21700 (Trang 28)
Ghi chú: Số hiệu các chỉ tiêu có dấu hiệu (*) được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn. - PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
hi chú: Số hiệu các chỉ tiêu có dấu hiệu (*) được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (Trang 29)
*Bảng phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh - PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
Bảng ph ân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (Trang 31)
Qua bảng phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, ta thấy doanh thu năm 2003 giảm so với năm 2002 là 2.470.249.914 đồng, tỷ lệ giảm tương ứng  là   6,32% - PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
ua bảng phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, ta thấy doanh thu năm 2003 giảm so với năm 2002 là 2.470.249.914 đồng, tỷ lệ giảm tương ứng là 6,32% (Trang 31)
*Bảng thống kê tình hình tăng giảm nguồn vốn của công ty năm 2003 - PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẶT HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XIMĂNG VÀ VLXD CẦU ĐƯỚC
Bảng th ống kê tình hình tăng giảm nguồn vốn của công ty năm 2003 (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w