Là một trung tâm lớn về kinh tế hiện nay trên địabàn hà Nội có 61 Tổng công ty, 914 doanh nghiệp Nhà nước không kể doanhnghiệp của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an gần 4000 doanh nghiệp được
Trang 1THỰC TRẠNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC SỬ DỤNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI HÀ NỘI TRONG
THỜI GIAN QUA
2.1 Đặc điểm phát triển kinh tế xã hội của Hà nội.
2.1.1 Vị trí vai trò của Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội là Trung tâm văn hoá chính trị , khoa học kỹ thuật đồng thời là mộttrung tâm lớn về kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước Thủ đô Hà nội tập trungnhiều cơ quan của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, có nhiều tổ chức Quốc tế, cácvăn phòng đại diện nước ngoài, nhiều trung tâm nghiên cứu khoa học, là nơi tậptrung trí tuệ của một đội ngũ đông đảo các nhà trí thức , các cán bộ khoa học kỹthuật có trình độ cao và giàu kinh nghiệm thuộc nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau
ở cả Trung ương và địa phương Là một trung tâm lớn về kinh tế hiện nay trên địabàn hà Nội có 61 Tổng công ty, 914 doanh nghiệp Nhà nước (không kể doanhnghiệp của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an) gần 4000 doanh nghiệp được thành lậptheo hai luật Công ty và luật doanh nghiệp tư nhân , có 182 chi nhánh của tỉnh bạn,
324 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và gần 90.000 hộ cá thể sản xuất kinh doanhtrong các ngành kinh tế Với vị trí ấy Hà Nội đã và đang là trung tâm có tác độngtrực tiếp đối với phát triển kinh tế xã hội của vùng cũng như của cả nước
Trang 22.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội.
Hà Nội ngày nay gồm 07 quận nội thành và 05 huyện ngoại thành trên diệntích 927,39km2 trong đó khu vực nội thành: 82,78km2 với gần 2,7 triệu dân chiếm3,5% dân số cả nước Đây cũng là nơi có mật độ dân số cao nhất nước ta khoảng
2900 người/km2
Do tốc độ đô thị hoá cao trong những năm vừa qua nên tỷ lệ tăng trưởngdân số toàn thành phố trong giai đoạn 1992 - 1997 dao động trong khoảng 2,1% -2,8%/ năm Tuy nhiên phải nói rằng hiện nay Hà Nội là một trong những tỉnhthành phố có tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thấp nhất toàn quốc (1,27%)
Lực lượng lao động Hà Nội rất dồi dào, dân số trong độ tuổi lao động chiếm60% so với tổng dân số, nguồn lao động nhìn chung có trình độ văn hoá, trình độKHKT cao, tay nghề vững vàng, cần cù, siêng năng Cơ cấu lao động làm việctrong các ngành kinh tế khu vực nội thành như sau:
- Khu vực I ( Nông nghiệp + Ngư nghiệp ) 6,5%
- Khu vực II ( Công nghiệp, TTCN, Xây dựng ) 39,8%
- Khu vực III ( Thương mại, dịch vụ ) 53,7%
- Tăng trưởng GDP: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Hà Nội thời kỳ1991- 2000 đạt 12,5%, thời kỳ 1996 - 2000 là 10,38% Hà Nội là một trong sốnhững địa phương có tốc độ tăng trưởng cao (tốc độ tăng GDP trung bình giai đoạn
1990 - 1999 cao hơn cả nước từ 2 - 3%) Năm 2000, GDP của Hà Nội chiếm7,22% cả nước, 41% toàn vùng đồng bằng sông Hồng và 65,47% vùng kinh tếtrọng điểm phía Bắc
- GDP bình quân đầu người tăng từ 470 USD ( năm 1991 ) lên 915USD
Trang 3( năm 1999) và gần 990 USD vào năm 2000, gấp khoảng 2,29% lần vùng đồngbằng sông Hồng và 2,07 lần cả nước.
- Cơ cấu kinh tế và sự phát triển của các ngành kinh tế
Cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp trong nền kinh tế Hà Nội có sựchuyển đổi , từ 29,1%; 61,9% và 9% trong năm 1990 sang 38%, 58,25 và 3,8 trongnăm 2000
Công nghiệp: giá trị sản xuất công nghiệp thời kỳ 1991 - 1995 tăng trungbình 13,7%; thời kỳ 1996 - 2000 tăng 15,16% Năm 2000, tỷ trọng trong giá trị sảnxuất của 5 nhóm ngành công nghiệp trọng điểm của thành phố bao gồm cơ - kimkhí; điện - điện tử; dệt - may - giày; chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựngchiếm 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp
Thành phố đã có 09 cụm công nghiệp cũ, 05 khu công nghiệp tập trung mớiđược xây dựng Nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống và nhiều làngnghề cũng đang được phục hồi và phát triển
Dịch vụ: Trong 10 năm qua, giá trị sản xuất của ngành dịch vụ tăng bìnhquân 10,14%/ năm Năm 1990, tỷ lệ sử dụng điện thoại tại Hà nội mới đạt -0,82máy/100 dân , đến nay bình quân đạt 17 máy/100 dân 100% các xã ngoại thànhcũng đều có điện thoại
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường xã hội tăng bình quân24,2%/năm
Nông nghiệp : Trong 5 năm (1996 - 2000), sản xuất nông - lâm nghiệp vàthuỷ sản đạt mức tăng trưởng bình quân 4,89%/năm Đời sống vật chất tinh thầncủa người dân ở nông thôn ngoại thành được nâng cao, mức thu nhập hiện nay tăng2,4 lần so với năm 1990, tỷ lệ hộ giàu ở nông thôn đạt 24%
Trang 4Về thu hút các nguồn vốn : Tổng đầu tư xã hội bình quân hàng năm giaiđoạn 1996 - 2000 đạt 12.830 tỷ đồng Đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài trongnhững năm 1992- 1996 chiếm tới 54% với tổng đầu tư xã hội thì tới năm 1999 (dokhủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực) chỉ còn chiếm 23 - 24% Ngược lại,
tỷ trọng đầu tư từ nguồn vốn trong nước tăng mạnh và tăng ở tất cả các nguồn: vốnNhà nước từ 11,1% năm 1996 tăng lên 21,5% năm 2000; vốn tín dụng Nhà nước từ1,8% lên 3,2% vốn doanh nghiệp tự đầu tư từ 17,8% tăng lên 20,3%; vốn đầu tưcủa các thành phần kinh tế ngoài nhà nước từ 15,4% lên 26%; vốn nông dân tự đầu
tư từ 1,3% lên 7,1%
Xuất nhập khẩu : Mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 1999
-1999 là 16,17%, đưa kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn từ 755 triệu USD (năm1995) lên 1.525 triệu USD (năm 2000)
Kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 1999 -2000 tăng bình quân 18%/năm, đưakim ngạch nhập khẩu tăng từ 99 triệu USD (năm 1995) lên 420 triệu USD (năm2000) Năm 1991, tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụsản xuất chỉ chiếm 42,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, đến năm 2000 chiếm94,74%
Xây dựng và quản lý đô thị : Đầu những năm 1990, địa giới hành chính Thủ
đô đã được điều chỉnh từ 2.139 km2 xuống còn 918,46km2 tháng 6/1998, Chínhphủ đã phê duyệt quy hoạch điều chỉnh chung của Hà Nội, tạo điều kiện cho thànhphố tập trung xây dựng và phát triển
Một số khu đô thị mới đã được xây dựng , nhiều tuyến đường , trục đườnglớn , nút giao thông như Liễu Giải - Nguyễn Chí Thanh , Láng - Hoà Lạc, Láng
hạ , Trần Khát Chân , Đại Cổ Việt , đường Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng QuốcViệt được mở rộng Nhà ở đã được cải thiện , mức nhà ở bình quân hiện nay là6m2/ người so với 4,5m2/ người năm1990 Tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải tăng từ
Trang 540% ( năm 1990 ) lên 80% Khối lượng cung cấp nước sạch tăng 2,5 lần Diện tíchcây xanh tăng từ 1,8m2/ người ( năm 1990 ) lên 3,5 m2/ người
Văn hoá - xã hội: Hà Nội là địa phương luôn đi đầu cả nước trong lĩnh vựcvăn hoá, xã hội , thể hiện ở các mặt phổ cập trung học cơ sở (năm 1999), xoá bỏviệc học 3 ca, tiêm chủng cho 99% trẻ em , tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ37% năm 1994 xuống còn 18,7% năm 2000 Tỷ lệ tăng dân số năm 1989 là 1,51%giảm xuống còn 1,08% vào năm 1999
2 1.3 Những lợi thế của Hà Nội trong việc thu hút đầu tư.
2.1.3.1 Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật của cả nước,
Hà Nội có điều kiện thuận lợi để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá,Đây cũng là một tiền đề hết sức quan trọng cho việc hình thành và phát triển nềnkinh tế tri thức trong những thập kỷ tới
2.1.3.2 Là thị trường lớn thứ hai trong cả nước
Với số dân đứng thứ hai trên cả nước, hà Nội cũng là thị trường lớn thứ 2sau TPHCM Yếu tố này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tại Hà Nội có cơhội tiếp cận với thị trường thuận lợi hơn, có nguồn thông tin thị trường đầy đủ vànhanh chóng hơn và vì thế dễ dàng có những phản ứng thích hợp và kịp thời khixuất hiện những biến động trên thị trường
2.1.3.3 Nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghiệp
Khoa học và công nghệ ngày nay đã trở thành nhân tố quyết định cho sựnghiệp phát triển kinh tế Là một Trung tâm Khoa học của cả nước, Hà Nội có số
Trang 6lượng các cơ sở nghiên cứu, đào tạo nhiều nhất trên cả nước Đây là một yếu tốquan trọng để Hà Nội có thể nhanh chóng nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộkhoa học công nghệ vào trong đời sống sản xuất kinh doanh.
2.1.3.4 Là đầu mối giao thông
Với vị trí đầu mối giao thông của cả đường bộ, đường sắt, đường thuỷ vàđường không, các doanh nghiệp tại Hà Nội có thuận lợi rất lớn trong việc cung ứng
và tiêu thụ các sản phẩm cuả mình Ngày nay, trong môi trường Internet, sự giaotiếp hầu như không còn khoảng cách về không gian, tuy vậy vị trí địa lý vẫn còngiữ vai trò quan trọng Ngoài ra, với cơ sở hạ tầng về điện và viễn thông chất lượngcao, các doanh nghiệp Hà Nội cũng có lợi thế hơn ở các địa phương khác tronggiao dịch và kinh doanh
2.1.3.5 Nguồn lao động dồi dào, đặc biệt lao động có tay nghề cao
Nguồn lao động Việt nam dồi dào về số lượng nhưng còn non kém về chấtlượng Tuy vậy, Hà Nội lại có ưu thế hơn hẳn so với những địa phương khác bởi tỷ
lệ tương đối cao về lao động có tay nghề Bên cạnh đó, với số lượng lớn các cơ sởnghiên cứu và đào tạo tại Hà Nội, Hà Nội có khả năng cung cấp nhiều lao động cótay nghề cao trong thời gian tới
2.2 Thực trạng xây dựng và khai thác sử dụng các KCN tại Hà Nội.
2.2.1 Tình hình tổ chức và quản lý.
Trang 7Ban Quản lý các Khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội được Thủ tướngChính phủ quyết định thành lập để quản lý các KCN và KCX trên địa bàn Cơ cấu
tổ chức của Ban Quản lý các Khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội hiện nay gồm :
01 Trưởng ban
02 Phó trưởng ban
06 Bộ phận chức năng :
- Văn phòng ban
- Phòng quản lý doanh nghiệp
- Phòng quản lý xuất nhập khẩu
- Phòng quản lý đầu tư
- Phòng quy hoạch môi trường
- Trung tâm dịch vụ việc làm
Số biên chế chính thức tại Ban Quản lý các KCN và CX Hà Nội hiện nay là
25, số lao động hợp đồng là 7
Trang 8Ban Quản lý các Khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội đã có nhiều cố gắng
để hoạt động theo cơ chế "1 cửa, tại chỗ", giải quyết nhanh các thủ tục hành chínhcho các nhà đầu tư vào KCN Ban quản lý được Bộ kế hoạch và Đầu tư uỷ quyềncấp GPĐT cho các loại dự án sau đây:
+ Phù hợp với qui hoạch KCN
+ Doanh nghiệp chế xuất có qui mô vốn đến 40 triệu USD
+ các dự án sản xuất có qui mô vốn đến 10 triệu USD
+ Các sự án dịch vụ công nghiệp có qui mô vốn đến 5 triệu USD
+ Không thuộc danh mục dự án có tiềm năng ảnh hưởng lớn đến môi trường
Trưởng ban
Phó ban 1
Phó ban 2
Văn
phòng
ban
Phòng quản lý doanh nghiệp
Phòng quản
lý xuất nhập khẩu
Phòng quy hoạch môi trường
Phòng quản
lý đầu tư
Trung tâm dịch
vụ việc làm
Trang 9Thời gian cấp GPĐT là 15 ngày kể từ ngày cơ quan cấp GPĐT nhận được
hồ sơ hợp lệ
Ngoài ra, Ban quản lý được Bộ Thương mại uỷ quyền cấp giấy phép xuấtnhập khẩu, cấp chứng chỉ xuất xứ hàng hoá vào các nước ASEAN, Ban quản lý tổchức đào tạo và cung ứng lao động cho các doanh nghiệp
2.2.2 Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp cũ
Các KCN cũ ( Cụm công nghiệp được hình thành từ những năm 60 -70).Trên thực tế ở Hà Nội đã hình thành những cụm công nghiệp từ những năm
1960 đến năm 1970 Đó là những cụm công nghiệp cũ, hình thành không theo quihoạch như : Vĩnh Tuy, Văn Điển, Cầu Bươu, Chèm, Đức Giang, Đông Anh Nhữngcụm công nghiệp này do thiếu quy hoạch nên không được xây dựng đầy đủ , khôngđồng bộ về cơ sở hạ tầng , lại nằm lộn xộn xen kẽ lẫn trong các khu dân cư, bệnh xá,
cơ sở dịch vụ Vì vậy đã gây nên nhiều khó khăn trong việc phát triển đô thị và thực
sự đang trở thành gánh nặng củaThành phố Có thể nói sự ra đời tự nhiên của tổ hợpmột số nhà máy, xí nghiệp là do sự đòi hỏi cần thiết trong việc phát triển kinh tếcông nghiệp của thành phố, do đó chưa tính hết những khả năng phát triển của thànhphố trong tương lại, đặc biệt là vấn đề môi sinh
Bảng 3
CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP CHÍNH, HIỆN CÓ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TT Các cụm công nghiệp Số Doanh
nghiệp
Diện tích đất (ha)
Nhân công
Trang 103 Văn Điển - Pháp Vân 14 39 59.000
Điểm yếu cơ bản của các cụm công nghiệp này là thiếu quy hoạch, xây dựng
thiếu đồng bộ, nhất là các cơ sở hạ tầng Theo kết quả kiểm tra gần đây thì không
một nhà máy xí nghiệp nào có phương án xử lý bảo vệ môi trường, đặc biệt làkhông có cơ chế quản lý hành chính nhà nước của chính quyền trên địa bàn cóKCN Điều đó dẫn đến hiện tượng quy hoạch lộn xộn, trong khu vực nhà máy, xínghiệp có đủ cả các công trình phục vụ sinh hoạt như: nhà ở, trại trẻ, bệnh xá, cơ
sở dịch vụ vv Chính điều này giờ đây đã trở thành gánh nặng của thành phố vàbản thân các Công ty, doanh nghiệp trong quá trình giải toả để đảm bảo tính chất
thuần nhất của KCN : KCN phải là nơi chỉ dành cho sản xuất kinh doanh và được
quản lý chặt chẽ về mọi mặt.
Mặt khác, các cụm công nghiệp được hình thành từ những năm trước đây đã,đang và sẽ nằm trong khu phát triển dân dụng của Thành phố Hà Nội, vì thế chúng
sẽ gây ảnh hưởng rất lớn về vấn đề môi trường và giao thông đô thị
Do vậy, những KCN này bộc lộ nhiều thiết sót mà cho đến nay vẫn chưahoàn toàn giải quyết được , nhất là trong điều kiện hiện nay các cụm công nghiệp
cũ không thể đáp ứng được đòi hỏi yêu cầu của việc phát triển kinh tế trong quátrình công nghiệp hoá , hiện đại hoá Để đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách trên
Hà nội cần phải nhanh chóng hình thành các KCN tập trung có đầy đủ cơ sở hạ
Trang 11tầng, được quy hoạch đầy đủ nằm xa khu dân cư vừa có tác dụng thúc đẩy pháttriển kinh tế xã hội vừa góp phần khắc phục những hậu quả tiêu cục của các cụmcông nghiệp trước đây để lại, đó chính là một giải pháp lâu dài cho Công nghiệp
Hà Nội trong những năm phát triển sau này
2.2.3 Quá trình xây dựng và hình thành các KCN của Hà Nội.
Ngoài các KCN cũ đã có, Thành phố đang sắp xếp củng cố để nâng cao hiệuquả và đi đúng quĩ đạo KCN theo định hướng chung của Chính phủ 5 Khu Côngnghiệp trên địa bàn Hà Nội đã được Nhà nước cấp giấy phép hoạt động theo quichế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997, đólà: KCN Sài đồng B, KCN Nội Bài, KCN Hà Nội - Đài Tư, KCN Daewoo - Hanel
và KCN Thăng Long
KCN Sài đồng B.
Chủ đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật là công ty Điện tử Hanel bằng nguồnvốn trong nước - Năm cấp giấy phép 1996
Tổng diện tích : 97 ha, trong đó đất xây dựng KCN: 79ha.
Giai đoạn I: 30 ha đã được lấp đầy diện tích 100% Với sự hoạt động của 8doanh nghiệp trong đó có một doanh nghiệp chế xuất 100% vốn nước ngoài , 7doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài với Việt nam
Giai đoạn II: 18ha, đã triển khai xây dựng Cơ sở hạ tầng 9,1 ha , đến tháng6/2000 đã lấp đầy diện tích và đang giải phóng mặt bằng 9 ha còn lại để phấn đấucuối năm 2001 sẽ lấp đầy và phủ kín 100% diện tích KCN này đang phấn đấu để
"nhà tư không phải chờ đất và có đất để đầu tư xây dựng xí nghiệp trong KCN"
Trang 12Hướng ưu tiên cho đầu tư vào KCN này là các sản phẩm điện tử và các sản
phẩm không có chất thải gây ô nhiễm môi trường
Cho đến hết năm 2000 đã có 23 dự án đầu tư được cấp giấy phép đầu tư vơitổng số vốn đăng ký đầu tư là 289 triệu USD
KCN Hà Nội - Đài Tư:
100% là vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật của phía Đài Loan - Năm được cấp giấyphép 1995
Tổng diện tích :40 ha.
Đang tích cực hoàn thiện nhanh toàn bộ Cơ sở hạ tầng 40 ha, vào tháng4/2000 Cơ sở hạ tầng đã cơ bản được xây dựng Tính đến tháng 6 năm 2000 vừaqua đã có 04 trong tổng số 17 xí nghiệp của các nhà đầu tư Đài Loan được cấp giấyphép đầu tư triển khai xây dựng nhà máy, trong năm 2001 KCN cũng sẽ được lấpđầy diện tích , đó là quyết tâm của các nhà đầu tư Đài Loan đã đăng ký đầu tư vàoKCN này
Hướng ưu tiên đầu tư vào KCN này là các sản phẩm điện tử, chế biến nông
sản thực phẩm, may mặc và sản xuất các đồ dùng gia đình
Cho đến hết năm 2000 đã có 04 dự án đầu tư được cấp giấy phép đầu tư vớitổng số vốn đăng ký đầu tư là 6,21 triệu USD
Trang 13Đây là liên doanh giữa tập đoàn SUMITOMO và Công ty Cơ khí Đông Anh,bằng phương pháp xây dựng tạo lập mặt bằng tiên tiến thông qua sáng kiến của cácchuyên gia Việt nam và Nhật Bản; hút cát ướt trực tiếp từ sông Hồng vừa chắc nềnmóng vừa tiết kiệm chi phí san lấp, tạo dựng mặt bằng KCN này và tháng 6/2000
đã hoàn thành, khai trương và ngay từ bây giờ đã có nhiều các nhà đầu tư trong vàngoài nước đặt vấn đề thuê đất với diện tích lớn và ngay trong năm 2000 đã có ba
xí nghiệp được cấp giấy phép hoạt động mở đầu cho hàng loạt các xí nghiệp khácvào đầu tư tại KCN này
Hướng ưu tiên đầu tư vào KCN là các sản phẩm điện tử, viễn thông và các
sản phẩm công nghiệp tiêu dùng khác
Cho đến hết năm 2000 đã có 02 dự án đầu tư được cấp giấy phép đầu tư vơitổng số vốn đăng ký đầu tư là 9,4 triệu USD
KCN Nội Bài - Sóc Sơn:
Xây dựng hạ tầng kỹ thuật là Công ty liên doanh giữa Công ty RenongMalaysia và Công ty Xây dựng Công nghiệp của Việt nam
Năm cấp giấy phếp 1994
Tổng diện tích : 100ha, trong đó đất xây dựng KCN: 100ha.
Đã hoàn thành Cơ sở hạ tầng giai đoạn I với 50 ha đất, đã có 03 nhà máyhoạt động trong ngành nội địa hoá sản xuất phụ tùng xe máy, ô tô, sản xuất khungnhà thép tiền chế với khẩu độ lớn theo tiêu chuẩn quốc tế phục vụ cho sản xuấtkhẩu và tiêu thụ nội địa Cuối năm 1999, Thành phố Hà Nội đã chính thức bàn giao
sử dụng con đường 131 nối trực tiếp từ quốc lộ 2 trên đường cao tốc Thăng Longđến KCN tạo nên một ưu thế để KCN này phát huy tối đa lợi thế về đi lại (so với điđường cũ tiết kiệm từ 15 đến 25 phút) Mặt khác, KCN này nằm trong vùng kinh tế
Trang 14được hưởng chế độ miễn phí giảm thuế lợi tức theo Nghị định 24/2000/NĐ-CPngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Đầu tư nước ngoài tại Việtnam Đây cũng là một địa chỉ hấp dẫn của nhà đầu tư Đầu năm 2000 đã có nhiềunhà đầu tư, tập đoàn công nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy, điện đến làm việcvới KCN Nội Bài - Sóc Sơn đặt vấn đề thuê đất.
Hướng ưu tiên cho đầu tư vào KCN này là các sản phẩm cơ khí, máy móc,
KCN nằm trên địa bàn khuyến khích đầu tư, được hưởng ưu đãi của nhà nước Việtnam
Cho đến hết năm 2000 đã có 04dự án đầu tư được cấp giấy phép đầu tư vơitổng số vốn đăng ký đầu tư là 40,4 triệu USD
KCN Sài Đồng A.
Xây dựng hạ tầng kỹ thuật là công ty liên doanh giữa tập đoàn Daewoo vàCông ty Điện tử Hanel - Năm cấp giấy phép 1996
Tổng diện tích : Diện tích 407 ha được quy hoạch làm 3 chức năng: KCN
197 ha, khu nhà ở 100 ha và 110 ha làm công viên, vườn hoa Trong đó KCN sẽđược xây dựng và phát triển vào năm 2001
Đây là liên doanh giữa tập đoàn DAEWOO Hàn Quốc với Công ty Điện tử
Hà Nội (HANEL) Do sự hồi phục của nền kinh tế Hàn Quốc sau cuộc khủnghoảng tài chính - tiền tệ khu vực và sự tiến triển tốt của môi trường đầu tư củanước ta nói chung và Hà Nội nói riêng hi vọng rằng tập đoàn này sẽ cùng với phíaViệt nam nhanh chóng triển khai dự án trong năm 2001
2.2.4 Tình hình khai thác , sử dụng và những kết quả đã đạt được
2.2.4.1 Tình hình sử dụng đất và giá thuế đất
Trang 15Tổng diện tích 5 khu công nghiệp tập trung của Hà nội hiên nay khoảng 765
ha Trong đó đất để xây dựng KCN là 597 ha, còn lại để xây dựng khu thương mại,nhà ở, khu công viên cây xanh (khu đô thị mới liền kề phục vụ KCN)
Tính đến nay đã có hơn 80 ha đất thuộc 2 KCN được xây dựng xong hạ tầng
kỹ thuật giai đoạn I, trong đó: KCN Nội Bài 50 ha, Sài Đồng B 39 ha, chiếm 15%trên tổng số đất dành xây dựng khu công nghiệp Các khu Thương mại, nhà ở, khucông viên cây xanh kề bên các KCN hiện nay còn chưa được phê duyệt dự án (dựtính để hoàn thành hạ tầng 5 KCN này cần 250 triệu USD và 170 tỷ đồng (VNĐ)vốn đầu tư)
Giá thuê đất hiện nay tuỳ thuộc vào diện tích thuê, thời gian thuê, có thể trảtừng năm hoặc cả đời dự án Mức giá cụ thể kể cả phí hạ tầng không quá 2,5 USD/
m2/ năm Doanh nghiệp có thể thoả thuận mức giá thấp hơn với Công ty kinhdoanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp
2.2.4.2 Tình hình đầu tư , sản xuất trong các KCN của Hà nội
Cho đến 2000 đã có 4/5 KCN tiếp nhận các dự án đầu tư vào sản xuất côngnghiệp, đó là: KCN Sài Đồng B Nội Bài, Thăng Long, Hà Nội - Đài Tư Đến hếtnăm 2000, đã có 33 dự án được cấp GPĐT vào trong KCN với tổng số vốn đăng
ký đầu tư trên 345 triệu USD: trong đó: KCN Sài Đồng B có 23 dự án với tổng sốvốn đăng ký đầu tư là 289 triệu USD; KCN Bội Bài có 4 dự án với tổng số vốnđăng ký đầu tư là: 40,4 triệu USD; KCN Hà Nội - Đài tư có 4 dự án với tổng sốvốn đăng ký đầu tư: 6,21 triệu USD; KCN Thăng Long có 2 dự án với tổng số vốnđăng ký đầu tư là 9,4 triệu USD
Có 14 dự án đã hoạt động với tổng số vốn đăng ký gần 313 triệu USD, trong
đó vốn thực hiện 292 triệu USD (chiếm 93,2%)
Trang 162.2.4.3 Những kết quả bước đầu.
"5 năm là một thời gian không dài, song với sự quan tâm chỉ đạo của Lãnhđạo Thành phố, với sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ cán bộ và sự năng động sáng tạocủa bộ máy lãnh đạo Ban Quản lý các KCN và CX Hà Nội đã thu được những kếtquả bước đầu Góp phần thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thủ
đô trong thời gian qua"
KCN đầu tiên tại Hà Nội (Khu Sài đồng B) đã được Chính phủ cấp giấy phépvào năm 1997 với 5 doanh nghiệp có sẵn cụm công nghiệp Gia lâm trước đây có tổng
số vốn đăng ký 265,4 triệu USD, chiếm diện tích 23 ha Từ đó đến nay, 4 KCN nữa đãđược hình thành tại Hà Nội với tổng diện tích quy hoạch là 765 ha, đã cấp giấy phépcho 33 dự án đầu tư vói tổng số vốn đầu tư 345,8 triệu USD Sự ra đời 5 Khu Côngnghiệp trên đã được lãnh đạo Thành phố đánh giá là nhân tố quan trọng thúc đẩy tốc độtăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm, hỗ trợ mạnh mẽ cho quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thủ đô
Bảng 4 : Tình hình cấp giấy phép đầu tư và vốn đăng ký (1997 - 2000)
Trang 17Biểu đồ 2 : Số dự án đầu tư được cấp phép
Trang 18Sè dù ¸n 0
Trang 19Thành tựu của các KCN Hà Nội có thể được khái quát theo một số khía cạnhsau:
a Góp phần tăng trưởng kinh tế.
Mặc dù chỉ có 14 doanh nghiệp hoạt động trong các KCN nhưng doanh thu củacác doanh nghiệp này trong 11 tháng đầu năm 2000 đã đạt 138.2 triệu USD (chủ yếu
là xuất khẩu), chiếm hơn 30% giá trị sản xuất của khu vực có vốn đầu tư nước ngoàitrên địa bàn Hà Nội Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN
đã tạo điều kiện hình thành một loạt các doanh nghiệp vệ tinh trên địa bàn thành phốcung cấp các sản phẩm đầu vào và các dịch vụ cho các KCN Như vậy, hoạt động củacác doanh nghiệp trong KCN không những những góp phần trực tiếp mà cả gián tiếptới sự tăng trưởng kinh tế của Thủ đô, giúp cho kinh tế Thủ đô vượt qua được nhữngthử thách, khó khăn trong thời gian qua
b Hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu, tạo việc làm:
Biểu đồ 3 : Tổng số lao động và lao động do trung tâm dịch vụ
việc làm tuyển dụng
Trang 20Các KCN được hình thành tại những vùng sản xuất nông nghiệp ở một sốhuyện ngoại ô thành phố Sự xuất hiện các KCN tại những huyện này có tác độngthay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế của những huyện đó, đồng thời cũng góp phần tíchcực thúc đẩy quá trình chuyển đổi cấu kinh tế của Thủ đô nói chung.Với việc cải thiện cơ sở hạ tầng thông qua việc hình thành các KCN không nhữnglàm thay đổi bộ mặt và trình độ dân trí nông thôn ngoại thành mà còn tạo điều kiệnthuận lợi cho người dân phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn,nâng cao đời sống của người dân.
Từ nội dung trên có thể nhận định rằng: bên cạnh việc thúc đẩy chuyểnđổi cơ cấu kinh tế, các KCN còn có tác động thu hẹp khoảng cách phát triểngiữa các vùng nông thôn và thành thị Quan trọng hơn, ngoài việc thu hút hơn
3800 lao động ( năm 2000 ) , hoạt động của các KCN còn tạo điều kiện chonhiều người nông dân tự tạo ra việc làm, cung cấp sản phẩm và dịch vụ cácdoanh nghiệp trong KCN
Trang 21c Thúc đẩy phát triển ngoại thương.
Sự phát triển của các doanh nghiệp trong KCN không chỉ góp phần cho Thủ
đô tăng trưởng mang tính số lượng mà còn nâng cao cả chất lượng tăng trưởng.Hầu hết sản phẩm từ các doanh nghiệp này đều có khả năng cạnh tranh không chỉtrên thị trường trong nước mà trên cả thị trường thế giới Trong khi chỉ có 14doanh nghiệp hoạt động tại các KCN (so với 3361 doanh nghiệp trong toàn Thànhphố) thì kim ngạch xuất khẩu từ các doanh nghiệp này đã chiếm tới 35,7% tỷ trọngkim ngạch xuất khẩu toàn thành phố và chỉ chiếm 29,2% tỷ trọng kim ngạch nhậpkhẩu Những số liệu này chứng tỏ các doanh nghiệp đã có năng lực cạnh tranh, sửdụng nguồn lực trong nước tốt hơn các doanh nghiệp khác và quan trọng hơn, sựphát triển này hoàn toàn phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế của nước ta
Biểu đồ 4 : Tổng doanh thu và xuất khẩu