1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng pháp luật lâm nghiệp và môi trường

219 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp chặt phá các loại thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IA, IIA không xác định thiệt hại bằng diện tích theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục về hậu quả nghiêm trọng (do[r]

Trang 2

2

LỜI NÓI ĐẦU

Bảo vệ môi trường đang là vấn đề bức thiết quyết định đến sự tồn tại và phát triển của con người Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên đang được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt Tại Việt Nam, từ sau khi có Nghị quyết Trung ương lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam thì vấn đề bảo vệ môi trường mới chính thức được luật hóa Vì vậy, đến những năm 90 của thế kỷ 20 trong số các biện pháp bảo vệ môi trường, biện pháp pháp lý được coi là biện pháp quan trọng hàng đầu Việc giảng dạy môn học Luật môi trường được các trường đào tạo về luật quan tâm từ năm 1994 Để đáp ứng yêu cầu đào tạo của sinh viên một số chuyên ngành của trường Đại học Lâm Nghiệp chúng tôi tiến hành biên soạn Bài giảng Pháp luật về lâm nghiệp và tài nguyên môi trường

Bài giảng môn học được thiết kế bao gồm 6 chương trong đó trình bày những vấn đề cơ bản về pháp luật lâm nghiệp và môi trường; những nội dung chủ yếu của pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; những nội dung chủ yếu của pháp luật trong đánh giá môi trường; về kiểm soát và bảo

vệ các thành phần cơ bản của môi trường; trong vấn đề giải quyết tranh chấp và

xử lý các vi phạm pháp luật trong bảo vệ môi trường và bảo vệ rừng Mặc dù đã hết sức cố gắng xong không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô, các nhà khoa học, các bạn sinh viên

Trang 3

3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

4

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT LÂM NGHIỆP

VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1 Những vấn đề chung về pháp luật lâm nghiệp

1.1.1 Các khái niệm

* Khái niệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp

Việc xác định các khái niệm trong đó có khái niệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp là một việc làm quan trọng Quản lý nhà nước về lâm nghiệp giúp cho nhà nước có thể quản lý một cách có hiệu quả tài nguyên rừng Trên thực tế, rừng được coi là một loại tài nguyên thuộc quyền sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, vì vậy việc quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng có ý nghĩa đặc biệt cần thiết

Thuật ngữ "quản lý" có nhiều nghĩa khác nhau Theo “Từ điển tiếng

Việt”, quản lý được hiểu dưới hai khía cạnh: "1 Trông coi và gìn giữ theo

những yêu cầu nhất định"; "2 Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" Còn theo sách gốc và nghĩa từ Việt thông dụng, quản lý

được hiểu là "trông nom, sửa sang, sắp đặt công việc" Như vậy, có thể thấy

rằng, thuật ngữ quản lý có nhiều cách diễn đạt khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận Tuy nhiên, quan điểm chung nhất về quản lý do các nhà điều khiển học đưa

ra thì quản lý được hiểu là "sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào

đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định" Trong khái niệm này, "sự tác động có định hướng" được hiểu là sự tác

động có tính kế hoạch của người quản lý vào bất kỳ một thời điểm nào đó, hướng đến đối tượng là "một hệ thống nào đó" Hệ thống này được xác định là

"tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất" Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đã đề ra

Quản lý nhà nước là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, do các cơ quan trong

bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Trang 5

5

Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của các

cơ quan hành chính nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu mà nhà nước đã đặt ra trong lĩnh vực hành pháp

Quản lý nhà nước về lâm nghiệp là sự tác động của các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền trong lĩnh vực lâm nghiệp tới các đối tượng quản lý bằng các phương pháp cụ thể để đạt được mục đích mà nhà nước đã đặt ra trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng và đất rừng, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững

* Khái niệm rừng

Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt nam có nhiều định nghĩa khác nhau về rừng nhưng đều dễ thống nhất rừng là một hệ sinh thái với những đặc trưng chủ yếu: Rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong hệ thống đó; Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng; Rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao; Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời

nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các

hệ sinh thái khác; Sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương

hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng

Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây gỗ, có

mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý”

Năm 1952, M.E Tcachenco phát biểu: “Rừng là một bộ phận của cảnh

quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật

và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài”

Năm 1974, I.S Mê lê khôp cho rằng: “Rừng là sự hình thành phức tạp của

tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu”

Ở Việt Nam, khái niệm về rừng mang ý nghĩa pháp lý xuất hiện đầu tiên trong Pháp lệnh Bảo vệ rừng của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm

1972 nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra nguồn gốc của rừng Năm 1991, lần

Trang 6

6

đầu tiên Luật BV&PTR được ban hành trong đó nêu đầy đủ các yếu tố có liên quan đến rừng Năm 2004, Luật BV&PTR được sửa đổi bổ sung và một trong số những điều sửa đổi bổ sung nhiều nhất là khái niệm về rừng và đất rừng Theo

Khoản 1, điều 3, Luật BV&PTR 2004 “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần

thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng, rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”

Theo khái niệm trên, rừng bao gồm các yếu tố: Thực vật rừng có nguồn gốc

tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, động vật rừng sống hoang dã trong rừng, đất rừng, vi sinh vật rừng; quần

xã thực vật rừng phải có một diện tích đủ lớn để tạo ra được hoàn cảnh rừng khác với hoàn cảnh bên ngoài, độ khép tán của quần xã thực vật rừng phải lớn hơn 0,1 Độ che phủ của tán rừng là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng

Một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được các tiêu chí sau:

- Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,…có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan

- Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là rừng

- Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa,… không được coi là rừng

- Độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên

- Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải

có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên Cây rừng trên các diện tích tập trung dưới 0,5 ha hoặc dải rừng hẹp dưới 20 mét được gọi là cây phân tán

* Khái niệm đất rừng

Khái niệm về đất rừng được quy định trong Luật Đất đai 1993, sửa đổi

1998 thì xuất hiện dưới tên gọi là đất lâm nghiệp Tuy nhiên hiện nay, trong

Trang 7

7

Luật Đất đai 2003 đất đai trên lãnh thổ Việt nam được phân loại thành 3 nhóm

là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Đất rừng là một trong số các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp Hiện nay, khái niệm về đất

rừng được quy định cụ thể là “các loại đất có rừng, đất chưa có rừng, đất

không còn rừng và thảm thực vật tự nhiên được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp Đất rừng gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất và đất trồng rừng”

Trong khái niệm này, điểm lưu ý cơ bản đó là việc xác định mục đích của việc quy hoạch các loại đất Theo khái niệm trên thì không nhất thiết đất rừng phải là đất có rừng mà có thể bao gồm các loại đất không có rừng nhưng được quy hoạch cho mục tiêu phát triển rừng Bên cạnh đó, nhóm đất rừng nói trên bao gồm đất rừng đặc dụng được hiểu bao gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng đặc dụng, đất để trồng rừng đặc dụng; đất rừng phòng hộ bao gồm đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng trồng phòng hộ, đất để trồng rừng phòng hộ; đất rừng sản xuất bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất để trồng rừng sản xuất

Đất chưa có rừng bao gồm:

- Đất có rừng trồng chưa thành rừng: là đất đã trồng rừng nhưng cây trồng

có chiều cao trung bình chưa đạt 1,5 m đối với các loài cây sinh trưởng chậm hay 3,0 m đối với các loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ < 1.000 cây/ha

- Đất trống có cây gỗ tái sinh: là đất chưa có rừng quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp, thực vật che phủ gồm cây bụi, trảng cỏ, lau lách và cây gỗ tái sinh

có chiều cao 0,5 m trở lên đạt tối thiểu 500 cây/ha

- Đất trống không có cây gỗ tái sinh: là đất chưa có rừng quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gồm đất trống trọc, đất có cây bụi, trảng cỏ, lau lách, chuối rừng, chít, chè vè v.v…

- Núi đá không cây: là núi đá trọc hoặc núi đá có cây nhưng chưa đạt tiêu chuẩn thành rừng

* Khái niệm về chủ rừng

Khái niệm chủ rừng là một khái niệm rộng, hiện nay có rất nhiều cách hiểu về chủ rừng khác nhau Tuy nhiên, theo Khoản 4, Điều 3, Luật BV&PTR

2004 thì chủ rừng “ là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được

nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, nhận giao khoán quyền sử dụng rừng và đất rừng, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng rừng và đất rừng, được nhà nước công nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng” Theo đó,

việc xác định đối tượng nào là chủ rừng phụ thuộc vào hoạt động cụ thể của tổ

Trang 8

8

chức, cá nhân đó Điều này có nghĩa là đối tượng được coi là chủ rừng phải là những tổ chức, cá nhân có hoạt động cụ thể, trực tiếp liên quan đến phát triển rừng và được nhà nước công nhận bằng một văn bản hợp pháp

Việc quy định đối tượng nào được coi là chủ rừng cũng là một trong các vấn đề được các nhà làm luật hết sức quan tâm Trong Luật BV&PTR 1991 thì các loại chủ rừng chủ yếu là các ban quản lý rừng hoặc các doanh nghiệp nhà nước Hiện nay theo quy định tại điều 5 Luật BV&PTR 2004, các loại chủ rừng

bao gồm: “Ban quản lý rừng; Tổ chức kinh tế; Hộ gia đình, cá nhân trong nước;

Đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân; Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp; Người Việt nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt nam; Tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt nam; Cộng đồng dân cư thôn” Theo quy định này:

- Ban quản lý rừng bao gồm các Ban Quản lý (BQL) rừng đặc dụng, BQL rừng phòng hộ, BQL rừng giống quốc gia được nhà nước giao rừng và đất rừng

để phát triển rừng theo quy hoạch và kế hoạch đã được phê duyệt

- Tổ chức kinh tế trong nước được nhà nước giao rừng và đất rừng hoặc được nhà nước cho thuê rừng và đất rừng để phát triển rừng

- Hộ gia đình cá nhân trong nước được nhà nước giao, cho thuê, giao khoán rừng và đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất để bảo vệ và phát triển rừng theo quy hoạch và kế hoạch đã được phê duyệt

- Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao, cho thuê rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng; thuê rừng phòng

hộ trả tiền hàng năm để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường; thuê rừng đặc dụng là khu bảo vệ cảnh quan trả tiền hàng năm để bảo vệ và phát triển rừng, kết hợp kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng để thực hiện dự

án đầu tư về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhà nước cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng trả tiền một lần cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền hàng năm để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư, kết hợp sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường

- Cộng đồng dân cư thôn là một loại chủ rừng đặc biệt, được nhà nước giao các loại rừng có vai trò quan trọng đối với cộng đồng

Trang 9

xã hội và việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm phát triển hệ sinh thái rừng, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ tính đa dạng sinh học

* Các hoạt động bảo vệ rừng

- Bảo vệ hệ sinh thái rừng

- Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng

- Phòng cháy, chữa cháy rừng

- Phòng, trừ sinh vật gây hại rừng

- Kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng

- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

* Hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng

- Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ

và phát triển rừng: Đây là một trong những hoạt động quan trọng nhằm định hướng cho các hoạt động có liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp để hướng dẫn thi hành thống nhất công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp trên phạm vi

cả nước

- Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch,

kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương: hoạt động này được thực hiện theo quy định tại Điều 13 đến Điều 21, Luật Bảo vệ

- Lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để phát triển rừng; tổ

Trang 10

10

chức đăng ký, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, quyền sử dụng rừng: Việc đăng ký, quản lý hồ sơ, giao đất, giao rừng, cho thuê rừng theo quy định thì cơ quan nào có thẩm quyền giao, cho thuê loại rừng nào, đất nào thì

hồ sơ giao, cho thuê sẽ được lưu tại cơ quan đó và lưu một bản tại uỷ ban nhân dân nơi có đất rừng được giao

- Tổ chức việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, quan

hệ hợp tác quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng

- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

- Giải quyết tranh chấp về rừng

1.1.2.2 Vai trò của pháp luật trong bảo vệ rừng

Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Nó khác hoàn toàn với các quy phạm xã hội khác thể hiện ý chí của tất cả mọi người, còn pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là công

cụ để giai cấp thống trị bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình và trấn áp các giai cấp khác Pháp luật là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp và được hình thành, phát triển tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử của từng nước

Pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật, bao gồm toàn bộ những quy phạm pháp luật quy định hoạt động của các cơ quan quản lý, bảo vệ rừng, những đối tượng tham gia vào quan hệ quản lý, bảo vệ rừng

Pháp luật bảo vệ rừng là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục luật định để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

* Pháp luật là cơ sở pháp lý quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng

Hệ thống các cơ quan QLNN trong lĩnh vực BV&PTR được tổ chức thành

hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương, trong đó bao gồm hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chung và cơ quan QLNN có thẩm quyền chuyên môn trong lĩnh vực BV&PTR

Hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chung trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao gồm Chính phủ và UBND các cấp Chính phủ là cơ quan đứng đầu của

hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước Chính phủ có toàn quyền giải quyết quyết định những vấn đề liên quan tới hoạt động QLNN trên phạm vi toàn quốc trong quyền hạn của mình, trong đó có lĩnh vực bảo vệ rừng

Trang 11

- Cấp xã (nơi có rừng), có cán bộ lâm nghiệp chuyên trách giúp Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về bảo vệ và phát triển rừng

* Pháp luật là cơ sở pháp lý quy định trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng

Theo điều 38 Luật BV&PTR 2004 thì UBND các cấp có chức năng nhiệm

vụ QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Ngày 18/07/2003 Chính phủ ban hành nghị định số 86/2003/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ NN&PTNT Theo đó, Bộ NN&PTNT là cơ quan chỉ đạo chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ rừng, là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính Phủ trong hoạt động QLBVR, đứng đầu là

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Bộ NNN&PTNT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trong cả nước Ở địa phương có các Sở NN&PTNT giúp việc cho Bộ trưởng Bộ NN&PTNT trong lĩnh vực bảo vệ rừng tại địa phương

Bên cạnh đó có một hệ thống chuyên trách phụ trách việc QLBV rừng, đó

là lực lượng kiểm lâm, được coi là lực lượng nòng cốt giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quản lý bảo vệ rừng, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này

Hệ thống cơ quan kiểm lâm theo quy định của Luật BV&PTR năm 1991 (sửa

đổi, bổ sung năm 2004 tại điều 79,80,81), “Kiểm lâm là lực lượng chuyên

trách” có chức năng QLNN về rừng và bảo vệ rừng, được tổ chức thành hệ

thống, đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Bộ NN&PTNT và sự chỉ đạo kiểm tra của chính quyền địa phương, là cơ quan thừa hành pháp luật về bảo vệ rừng,

là cơ quan tham mưu cho các cấp chính quyền địa phương thực hiện công tác bảo vệ rừng trên lãnh thổ Theo Nghị định 119/ NĐ- CP ngày 16 tháng 10 năm

2006 của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm

Ở Trung ương: Cục Kiểm lâm trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

Trang 12

12

Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Chi cục Kiểm lâm trực thuộc

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh;

Ở huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Hạt Kiểm lâm huyện trực thuộc Chi cục Kiểm lâm;

Ở Vườn Quốc gia có diện tích từ 7.000 ha trở lên, Khu Bảo tồn thiên nhiên, Khu rừng đặc dụng khác có diện tích từ 15.000 ha trở lên, Khu rừng phòng hộ đầu nguồn có diện tích từ 20.000 ha rừng trở lên và có nguy cơ bị xâm hại cao,

có thể thành lập Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật

* Pháp luật là cơ sở cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

Theo Nghị định 99/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2009 thì thẩm quyền

xử phạt hành chính của kiểm lâm được quy định:

Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 200.000 đồng

Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 5.000.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 20.000.000 đồng

Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm sản, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 10.000.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 30.000.000 đồng; Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra

Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm Cục Kiểm lâm có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 20.000.000 đồng; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

Cục trưởng Cục Kiểm lâm có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến mức tối

đa đối với lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản ; Tước quyền

sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

Tòa án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền xét xử các cá nhân có hành vi

vi phạm pháp luật về BV&PTR trong trường hợp cá nhân phạm tội vượt quá mức xử lý hành chính thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự

1.1.3 Lịch sử phát triển của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

1.1.3.1 Thể chế lâm nghiệp qua các triều đại phong kiến

Trang 13

13

Tục lệ của các cộng đồng dân tộc thiểu số sống gần rừng đã đặt ra những tục lệ để bảo vệ những khu rừng có liên quan đến nguồn nước, những khu rừng

có ảnh hưởng lớn đến tâm lý, tín ngưỡng của các dân tộc

Dưới triều đại phong kiến rừng là loại tài nguyên thuộc quyền quản lý của nhà vua nhưng người dân vẫn được tự do vào rừng săn bắn, hái lượm

Thể chế lâm nghiệp đầu tiên là thuế sản vật núi rừng bao gồm sáu loại thuế khác nhau được vua Lý Thái Tổ định ra vào tháng 3/1013

Các triều đại phong kiến tiếp theo cũng đã có những quy định về thuế lâm sản, thủ tục khai thác các loại lâm sản để cống nạp cho nhà vua

Đã có những triều đại phong kiến bắt đầu chú ý đến việc trồng cây, trồng rừng nhưng chỉ ở quy mô nhỏ hoặc ở vùng phụ cận kinh đô

1.1.3.2 Thể chế lâm nghiệp thời Pháp thuộc

Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, ngay sau khi đặt chân đến Việt Nam thực dân Pháp đã ban hành hàng loạt các thể chế lâm nghiệp nhằm phục vụ cho việc độc quyền khai thác gỗ phục vụ cho quân đội Pháp

Năm 1859, thực dân Pháp đã thực hiện việc quyết định dựa vào lý trưởng của các làng xã để thực hiện việc khai thác gỗ và bảo vệ rừng

Thực hiện việc thu thuế đối với gỗ rừng tự nhiên để có tiền chi phí cho việc chiếm đóng

Ngày 7/6/1862, Thực dân Pháp đã cho tổ chức một Uỷ ban thu mua gỗ đặt tại Sài Gòn để thu mua gỗ phục vụ cho nhu cầu của hải quân Pháp

Ngày 14/6/1866, ban hành một quyết định mới về điều kiện khai thác gỗ ở Nam kỳ với mục đích là đưa việc khai thác gỗ trở thành một ngành kinh tế

Năm 1875, Uỷ ban nghiên cứu các vấn đề khai thác và buôn bán gỗ ở thuộc địa của Pháp đã ban hành một bản quy chế quy định về cấp giấy phép khai thác, thủ tục trình báo khi khai thác, vận chuyển gỗ… và quy chế cho phép khai thác gỗ

tự do để kiếm lời

Năm 1891-1894, thực dân Pháp đã ban hành hai nghị định về việc thiết lập các khu rừng cấm: Cấm hẳn việc khai thác gỗ tự do, khai thác gỗ phải theo một quy tắc nhất định để đảm bảo cho rừng tái sinh trong chu kỳ 15-20 năm, áp dụng kỹ thuật đánh dấu cây được phép chặt…

Thiết lập các hạt lâm nghiệp để tổ chức trồng rừng ở những nơi đất trống

1.1.3.3 Pháp luật bảo vệ rừng của nhà nước Việt Nam từ 1945 đến nay

* Giai đoạn 1945-1954

Tháng 11 năm 1945, Nhà nước Việt Nam đã thiết lập một Uỷ ban nghiên cứu các vấn đề về lâm chính Việt Nam đặt tại Bộ Canh Nông với mục tiêu xây

Trang 14

14

dựng một thể chế lâm nghiệp dưới chế độ mới, đồng thời xoá bỏ những thể lệ lâm nghiệp có tính chất độc quyền của thực dân Pháp Uỷ ban đã dự thảo Bộ luật về rừng, dự thảo trương trình giảng dạy của trường đại học Thuỷ lâm nhằm đào tạo đội ngũ kỹ sư lâm nghiệp có trình độ cao; Cải tiến chế độ thu tiền bán khoán lâm sản; Xây dựng chính sách phát triển trồng cây gây rừng; Xây dựng các thể chế về bảo vệ rừng

* Giai đoạn 1954-1975

Cùng với việc thành lập các hợp tác xã nông nghiệp, phần lớn rừng đã được quốc hữu hoá và chịu sự quản lý của các hợp tác xã, các đơn vị quốc doanh Việc quản lý lâm sản của các hợp tác xã chủ yếu tập trung vào khai thác rừng để bán gỗ và lấy đất để trồng lương thực

Ban hành điều lệ tạm thời về khai thác gỗ củi: Nghị định 596/TTg ngày 3/10/1955: quy định về phân loại rừng, quy tắc khai thác rừng…

Quy định chế độ khai thác gỗ gia dụng: TT 11/TT/NL ngày 11/10/1958 Thiết lập chế độ nhà nước thống nhất phân phối gỗ theo kế hoạch: Nghị định số 1038/TTg ngày 5/9/1956 đã quy định gỗ là một trong 13 loại vật tư do nhà nước phân phối theo chỉ tiêu kế hoạch

Ban hành chính sách khuyến khích sản xuất ở miền núi và chế độ canh tác nông nghiệp theo phương thức đốt nương làm rẫy

Ban hành chế độ tiết kiệm lâm sản: TT 21/NL- LN- TT ngày 27/12/1956 của Bộ Nông lâm quy định tạm thời về chế độ sử dụng gỗ quy định gỗ tứ thiết (đinh, lim, sến, táu) không được sử dụng ở những công trình tạm thời

Năm 1961, Tổng cục lâm nghiệp là cơ quan chuyên ngành của Chính phủ được thành lập, ở các huyện thành lập các lâm trường quốc doanh

Ban hành chế độ thu tiền bán khoán lâm sản: phân hạng gỗ thành 8 loại Ban hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng ngày 11/9/1972

Ngày 21/5/1973 Chính phủ ban hành Nghị định số 101/CP quy định hệ thống tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của lực lượng kiểm lâm nhân dân

* Giai đoạn 1976-1985

Nhà nước Việt Nam thực hiện việc áp dụng thể chế lâm nghiệp thống nhất trên toàn quốc: Xuất bản tài liệu: Những quy định cơ bản của nhà nước về lâm nghiệp

Thực hiện chính sách giao đất giao rừng: Quyết định 184/HĐBT ngày 6/11/1982 về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng cho các tập thể và cá nhân trồng cây gây rừng

Xác định lại chức năng và phạm vi hoạt động của ngành lâm nghiệp: ngành

Trang 15

15

lâm nghiệp chuyển từ ngành kinh tế cấp hai sang ngành kinh tế cấp một, chuyển chức năng khai thác gỗ và lâm sản từ ngành công nghiệp sang ngành lâm nghiệp

* Giai đoạn từ 1986 đến nay

Ban hành Luật Đất đai và các chính sách về giao đất lâm nghiệp

Ban hành quy chế quản lý ba loại rừng

Ban hành luật Bảo vệ và phát triển rừng và các thể chế tăng cường quản lý bảo vệ rừng

Đổi mới công tác quản lý lâm sản và thị trường lâm sản: công nhận gỗ là một loại hàng hoá thông thường, quản lý thị trường gỗ theo cơ chế thị trường…

Đổi mới các chính sách về đầu tư trong lâm nghiệp

Thực hiện pháp luật về thuế tài nguyên, chuyển từ chế độ thu tiền nuôi rừng sang chế độ thu thuế tài nguyên

Xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp…

1.1.4 Mục tiêu, chiến lược phát triển lâm nghiệp

ninh quốc phòng

* Quan điểm phát triển

- Phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng hợp

lý tài nguyên, từ trồng rừng, cải tạo rừng và làm giàu rừng đến khai thác chế

biến lâm sản, dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái

- Phát triển lâm nghiệp để có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, xoá

đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường

- Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển

lâm nghiệp

- Phát triển lâm nghiệp phải trên cơ sở đẩy nhanh và làm sâu sắc hơn chủ trương xã hội hóa nghề rừng, thu hút các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng

1.1.4.2 Mục tiêu đến năm 2020

Xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với ngành lâm nghiệp trong giai đoạn

Trang 16

Để đạt được các mục tiêu trên, nhiệm vụ của ngành lâm nghiệp là:

- Về kinh tế: Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 3 loại rừng Quản lý tốt rừng tự nhiên hiện có, gia tăng diện tích và năng suất rừng trồng, tăng cường các hoạt động nông lâm kết hợp và sử dụng có hiệu quả các diện tích đất trống đồi trọc phù hợp cho phát triển lâm nghiệp Sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ có tính cạnh tranh và bền vững để đáp ứng về cơ bản nhu cầu nội địa và tham gia xuất khẩu các sản phẩm gỗ và lâm sản khác

- Về xã hội: Cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng thông qua xã hội hoá và đa dạng hoá các hoạt động lâm nghiệp; tạo công ăn việc làm, nâng cao nhận thức, năng lực và mức sống của người dân; đặc biệt chú ý đồng bào các dân tộc ít người, các hộ nghèo và phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa để từng bước tạo cho người dân làm nghề rừng có thể sống được bằng nghề rừng

- Về môi trường: Bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng phòng hộ của ngành lâm nghiệp là: Phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường đô thị, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sống; tạo nguồn thu cho ngành lâm nghiệp từ các dịch vụ môi trường (phí môi trường, thị trường khí thải CO2, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, nghỉ dưỡng…) để đóng góp cho nền kinh tế đất nước

Để đạt được mục tiêu tổng thể, chiến lược đưa ra 5 chương trình, trong đó

có 3 chương trình phát triển và 2 chương trình hỗ trợ Mỗi chương trình đều có mục tiêu riêng Các chương trình phát triển gồm:

- Quản lý và Phát triển rừng bền vững;

- Bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và các dịch vụ môi trường

Trang 17

17

- Chế biến và tiếp thị lâm sản

Các chương trình hỗ trợ gồm: Nghiên cứu, Giáo dục, Đào tạo và Khuyến lâm/Phổ cập; Chính sách, Thể chế, Lập kế hoạch và Giám sát

1.2 Những vấn đề chung về môi trường và luật môi trường

1.2.1 Khái niệm môi trường và luật môi trường

1.2.1.1 Khái niệm môi trường

* Khái niệm chung về môi trường

Môi trường của một vật thể hay sự kiện, theo nghĩa chung nhất là tổng hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, tác động trực tiếp hay gián tiếp tới sự tồn tại và phát triển của vật thể hay sự kiện đó Bất cứ một vật thể hay một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường nhất định và nó luôn luôn chịu tác động của các yếu tố môi trường đó

Môi trường sống của con người: là tổng hợp các điều kiện bao quanh có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của các cơ thể sống Đối với con người thì môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn Theo định nghĩa của UNESCO

(1981) thì “môi trường sống của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự

nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, như những cái hữu hình (như các thành phố, các hồ chứa ) và những cái vô hình (như tập quán, nghệ thuật ), trong đó con người sống và bằng lao động của mình họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình” Như vậy,

môi trường sống của con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát

triển cho một thực thể sinh vật là con người, mà còn là “khung cảnh của cuộc

sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người” Đối tượng nghiên cứu của

chúng ta hiện nay chính là môi trường sống của con người

Môi trường theo từ điển Tiếng Việt: Là một loại danh từ dùng để chỉ các điều kiện xung quanh có tác động đến sự phát sinh, phát triển, tiêu vong của con người cũng như của sinh vật nói chung

Định nghĩa của chương trình hành động Châu Âu về môi trường: Môi

trường là sự kết hợp hoàn cảnh, điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ

Theo Khoản 1, điều 3, Luật Bảo vệ môi trường “Môi trường bao gồm các

yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới sản xuất, đời sống, sự tồn tại của con người và sinh vật nói chung”

Theo quy định này, môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên

Trang 18

18

như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn

bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định

* Các thành phần của môi trường

Với khái niệm như trên thì môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao

la, trong đó hệ mặt trời và trái đất là bộ phận ảnh hưởng trực tiếp nhất Các thành phần của môi trường trong tự nhiên không tồn tại ở trạng thái tĩnh mà luôn

có sự chuyển hóa hướng tới trạng thái cân bằng để bảo đảm sự sống trên trái đất phát triển ổn định

Về phương diện vật lý thì môi trường tự nhiên trên trái đất gồm ba quyển

là khí quyển, thủy quyển, thạch quyển Cả ba quyển này đều cấu thành bởi các

Trang 19

Khí quyển: Khí quyển là lớp vỏ khí bao quanh trái đất được cấu tạo bởi nhiều hợp chất khác nhau Đây là môi trường để truyền bức xạ mặt trời vào trái đất như bức xạ hồng ngoại, tử ngoại, tia rơn ghen và tia gamma Thành phần chủ yếu của khí quyển ở gần bề mặt trái đất: nitơ(chiếm khoảng 78%), ô xy (khoảng 20.9%), cacbonic (khoảng 0.03%), hơi nước và một số khí khác như heli, acgon, bụi

Thủy quyển: Bao gồm tất cả các dạng nước có trên trái đất như nước mặt trong các đại dương, biển, các sông, hồ trên mặt đất, băng tuyết trên mặt đất và ở hai cực của trái đất và cả nước ngầm trong các lớp tầng đất dưới sâu Thủy quyển có khối lượng ước tính vào khoảng 0.03% tổng khối lượng trái đất

Thạch quyển: là lớp vỏ rắn ngoài của trái đất có chiều sâu từ 0 đến 100

km Thành phần của thạch quyển trên mặt là các lớp đất - sản phẩm phong hoá của các lớp đá trên bề mặt qua hàng ngàn năm - và các lớp khoáng vật dưới sâu Trong thạch quyển, đất là thành phần quan trọng nhất, bao gồm các chất khoáng, chất hữu cơ, không khí và nước và cả các vi sinh vật

Sinh quyển: là phần của trái đất trong đó có sự sống tồn tại, bao gồm một phần của thạch quyển có độ sâu khoảng 3m kể từ mặt đất, thủy quyển và phần khí quyển tới độ cao 10m trên giới hạn của thực vật

1.2.1.2 Các chức năng của môi trường

trường trước hết là không gian sống của con người Để sinh sống, con người cần

có một phạm vi không gian nhất định biểu thị bằng độ lớn của vùng sinh sống và một chất lượng môi trường nhất định Trong mỗi vùng nhất định, độ lớn không gian sống của con người biểu thị qua giá trị bình quân diện tích đất tính theo một đầu người trong vùng, hay biểu thị gián tiếp qua mật độ dân cư (số dân sống trên 1km2)

Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người: Con người để tồn tại và phát triển phải sử dụng các

tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh học, các nguồn năng lượng, tất cả đều lấy

từ môi trường Tất cả các nền sản xuất của con người, từ săn bắt, hái lượm, nông

Trang 20

20

nghiệp, đến công nghiệp đều phải sử dụng các nguồn nguyên liệu như đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng lượng củi, gỗ, than đá, dầu, khí, nắng, gió, nước…bắt nguồn từ năng lượng mặt trời

Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất

Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

1.2.1.3 Tác động của con người đến môi trường

Hiện tại, nhân loại đang phải đối mặt với bốn vấn đề lớn : bảo vệ hoà bình; bùng nổ dân số; ô nhiễm môi trường và sự nghèo đói Trong đó vấn đề bùng nổ dân số được coi là nguyên nhân chung của ba hiểm hoạ trên, đặc biệt trở nên cấp bách, nhất là đối với những nước đang phát triển, đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá như ở nước ta Sự gia tăng dân số đã gây sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu của con người Gia tăng dân số cơ học tạo ra các nguồn rác thải lớn, đồng thời gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, nhất là tại khu vực đô thị và các làng nghề

* Tác động của sự gia tăng dân số thế giới đến môi trường

Tác động môi trường của sự gia tăng dân số thế giới có thể mô tả bằng công thức tổng quát:

I= C.P.E Trong đó:

C: Sự gia tăng tiêu thụ tài nguyên trên đơn vị đầu người

P: Sự gia tăng tuyệt đối dân số thế giới

E: Sự gia tăng tác động đến môi trường của một đơn vị tài nguyên được loài người khai thác

I: Tác động môi trường của sự gia tăng dân số và các yếu tố liên quan đến dân số

Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế giới biểu hiện ở các khía cạnh:

Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phuc vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp v.v

Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp

Trang 21

21

Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp hoá

và các nước đang phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêu phí dư thừa ở các nước công nghiệp hoá Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị và nông thôn, giữa các nước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến sự di dân ở mọi hình thức

Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân

cư Ô nhiễm môi trường không khí, nước tăng lên Các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô thị ngày càng khó khăn

* Tác động của sự gia tăng dân số tại Việt Nam đến môi trường

Dân số tăng kéo theo nạn phá rừng

Phá rừng là một trong những nguyên nhân gây ra nạn ô nhiễm môi sinh, mất cân bằng sinh thái, dẫn đến sự biến đổi khí hậu thất thường, bão lụt, lũ quét,

lở đất và phát sinh nhiều loại dịch bệnh

Dân số tăng rác thải gia tăng

Trong những năm qua, do yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế, nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã được hình thành Những khu công nghiệp, cụm công nghiệp đi vào hoạt động, thu hút số lượng lớn lao động từ các nơi đến tạo nên sự gia tăng dân số cơ học tại các khu vực này Mặt khác, do yêu cầu mưu sinh, nhiều lao động nông thôn, di cư tự do ra các đô thị lớn là cho dân

số tại các đô thị nước ta tập trung quá đông khiến môi trường sống ở khu vực đô thị trở nên ngột ngạt Thiếu nước sạch sinh hoạt, ô nhiễm không khí, tiếng ồn do lượng phương tiện giao thông nhiều đặc biệt là rác thải sinh hoạt gia tăng gây sức ép lớn về môi trường

1.2.1.4 Khái niệm Luật môi trường ở Việt Nam

* Định nghĩa

Luật môi trường là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp

lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình sử dụng hoặc tác động đến một hay vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người

* Đối tượng điều chỉnh của Luật Môi trường

Là các quan hệ xã hội được luật môi trường điều chỉnh, bao gồm:

- Quan hệ giữa nhà nước và cá nhân, tổ chức (phương pháp mệnh lệnh -

phát sinh từ hoạt động quản lý nhà nước về môi trường)

Trang 22

22

+ Quan hệ đánh giá tác động môi trường (ĐTM)

+ Thanh tra

+ Xử lý vi phạm

- Quan hệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau (do ý chí của các bên):

+ Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái hay sự cố MT

+ Giải quyết tranh chấp

+ Phối hợp đầu tư vào các công trình bảo vệ môi trường

+ Hợp tác khắc phục thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường

1.2.1.5 Các nguyên tắc chủ yếu của Luật môi trường

* Nguyên tắc đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành

Quyền đuợc sống trong môi trường trong lành là quyền được sống trong một môi trường không bị ô nhiễm (theo TCMT chứ không phải là môi trường trong sạch lý tưởng), đảm bảo cuộc sống được hài hòa với tự nhiên (nguyên tắc thứ nhất của Tuyên bố Stockholm về môi trường và con người và Tuyên bố Rio

De Janeiro về môi trường và phát triển)

Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo

vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho người dân được sống trong một môi trường trong lành Xét ở khía cạnh này thì đây không chỉ là một nguyên tắc mà còn là mục đích của luật môi trường

Tạo cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình thông qua những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

* Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất trong việc quản lý và bảo vệ môi trường

Nguyên tắc này được thể hiện ở hai khía cạnh:

- Sự thống nhất về không gian: Môi trường không bị chia cắt bởi biên giới quốc gia, địa giới hành chính

- Sự thống nhất nội tại giữa các yếu tố cấu thành môi trường: Giữa các yếu

tố cấu thành môi trường luôn có quan hệ tương tác với nhau, yếu tố này thay đổi dẫn đến sự thay đổi của yếu tố khác Sự thay đổi của rừng trên các lưu vực sông dẫn đến sự thay đổi về số lượng và chất lượng của nước trong lưu vực

- Việc BVMT không bị chia cắt bởi biên giới quốc gia, địa giới hành chính Điều này có nghĩa là trên phạm vi toàn cầu các quốc gia cần phải có sự hợp tác để bảo vệ môi trường chung Trong phạm vi quốc gia, việc khai thác, BVMT phải đặt dưới sự quản lý thống nhất theo hướng hình thành cơ chế mang tính liên vùng, bảo đảm sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương

- Cần phải bảo đảm có mối quan hệ tương tác giữa các ngành, các văn bản

Trang 23

Phải tạo ra bộ máy và cơ chế quản lý có hiệu quả để có thể tránh được tham nhũng và lãng phí những nguồn lực, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên

Phải coi đánh giá tác động môi trường là một bộ phận của dự án đầu tư

* Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa

Theo nguyên tắc này môi trường được coi là một loại hàng hóa đặc biệt Người phải trả tiền theo nguyên tắc này là người gây ô nhiễm hiểu theo nghĩa rộng bao gồm người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, người có hành vi xả thải vào môi trường và người có những hành vi khác gây tác động xấu tới môi trường theo quy định của pháp luật

Định hướng hành vi tác động của các chủ thể vào môi trường theo hướng khuyến khích những hành vi tác động có lợi cho môi trường thông qua việc tác động vào chính lợi ích kinh tế của họ Bảo đảm sự công bằng trong hưởng dụng

và BVMT Tạo nguồn kinh phí cho họat động BVMT

1.2.2 Môi trường và sự phát triển bền vững

1.2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững

Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất

và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ

xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân

và cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ, môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường

Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong

ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên

Trang 24

24

nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản "Sự

phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo

Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và

Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ:

Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện

tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát

triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường

Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái

Theo Điều 3, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam, 2005: “Phát triển bền

vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo

vệ môi trường”

Theo đó, phát triển bền vững là mối liên kết không thể tách rời giữa phát triển và bảo vệ môi trường Thực chất của phát triển bền vững là sự kết hợp giữa việc phát triển và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường

- Phát triển bền vững phải thỏa mãn các mục tiêu

Mục tiêu kinh tế: Tạo ra được sản xuất hàng hóa và dịch vụ với nguyên tắc chi phối là hiệu quả

Trang 25

25

Mục tiêu môi trường: Gìn giữ và bảo vệ tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên với nguyên tắc chi phối là bảo vệ đa dạng sinh học và tính thống nhất của sinh thái

Mục tiêu xã hội: Gìn giữ và nâng cao chất lượng cuộc sống với nguyên tắc chính là công bằng

1.2.2.2 Yêu cầu của phát triển bền vững

Môi trường ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng, gây tổn thương cho con người đang sống ở hiện tại và các thế hệ tương lai, điều này buộc chúng ta phải xem xét lại thước đo của sự phát triển Cần phải tính đến lợi ích của những cộng đồng không được hưởng lợi hoặc hưởng lợi quá ít từ sự tăng trưởng, đến lợi ích của thế hệ mai sau, đến chi phí cần phải sử dụng để đền bù thiệt hại về môi trường hoặc để cải thiện môi trường Việc tính toán chi phí môi trường gộp vào chi phí phát triển đã dẫn đến một khái niệm mới, đó là phát triển bền vững Khái niệm phát triển bền vững được Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới thông qua năm 1987 là những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho không làm hại đến khả năng các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ" PTBV không chỉ là cách phát triển có tính đến chi phí môi trường mà thực ra là một lối sống mới Ngoài ra, "Chiến lược cho cuộc sống bền vững - Hãy cứu lấy Trái Đất của IUCN - UNEP - WWF, 1991 đã chỉ ra rằng sự bền vững trong cuộc sống của một dân tộc phụ thuộc vào việc hoà hợp với các dân tộc khác và với giới tự nhiên Do đó, nhân loại không thể bòn rút được gì hơn ngoài khả năng thiên nhiên có thể cung cấp, và cần phải áp dụng một kiểu sống mới trong giới hạn thiên nhiên cho phép Với một định nghĩa mạch lạc và ngắn gọn như trên, chiến lược PTBV có thể dễ dàng được chấp nhận, tuy nhiên, chỉ khi triển khai chiến lược này trong phát triển kinh tế xã hội mới thấy cực kỳ khó khăn Viện Quốc tế về Môi trường và Phát triển (Intemational Institute for Environmental & Development - IIED) cho rằng, PTBV gồm 3 hệ thống phụ thuộc lẫn nhau

Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể đình chỉ tiến hoá

và ngừng sự phát triển của mình Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường

Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc:

Trang 26

26

1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người

3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất

4 Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được

5 Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất

6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân

7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình

8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ

9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu

1.2.3 Những định hướng, mục tiêu quan trọng của chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia

Ngày 05/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1216/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Theo đó, mục tiêu tổng quát nhằm kiểm soát, hạn chế về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường sống; nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước

Đến năm 2030 ngăn chặn, đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; cải thiện chất lượng môi trường sống; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; hình thành các điều kiện cơ bản cho nền kinh tế xanh, ít chất thải, các-bon thấp vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững đất nước

Chiến lược đưa ra 4 định hướng các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường,

đó là: Phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường; cải tạo, phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái, đẩy mạnh cung cấp nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường; khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; xây dựng năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

Trong đó, các định hướng đều tập trung vào các mục tiêu như không để phát sinh cơ sở mới, giảm các nguồn hiện đang gây ô nhiễm môi trường; cải tạo, phục hồi hồ, ao, kênh, mương, đoạn sông đã bị ô nhiễm, suy thoái; cải thiện chất lượng môi trường không khí trong các khu đô thị, khu dân cư; sử dụng tài nguyên đất hiệu quả và bền vững; nâng tỷ lệ che phủ của rừng và nâng cao chất lượng rừng; kiềm chế tốc độ, suy giảm số loài và số cá thể các loài hoang dã,

Trang 27

27

suy thoái các nguồn gen quý, hiếm Đồng thời nâng cao nhận thức, hiểu biết, kiến thức về biến đổi khí hậu, thích nghi, sống chung với biến đổi khí hậu trong nhân dân

Để thực hiện Chiến lược hiệu quả cần tập trung vào các giải pháp tổng thể như: tạo chuyển biến mạnh mẽ ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân trong bảo vệ môi trường; hoàn thiện pháp luật, thể chế quản lý, tăng cường năng lực thực thi pháp luật; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ về bảo vệ môi trường; phát triển ngành kinh tế môi trường để hỗ trợ các ngành kinh tế khác giải quyết các vấn đề môi trường, thúc đẩy tăng trưởng, tạo thu nhập và việc làm; tăng cường và đa dạng hóa đầu tư cho bảo vệ môi trường; thúc đẩy hội nhập và tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường

1.2.4 Khái quát sự phát triển của pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam 1.2.4.1 Giai đoạn trước năm 1986:

Luật môi trường chưa xuất hiện với tư cách là một ngành luật độc lập Chính phủ đã ban hành một số văn bản có liên quan đến vấn đề môi trường như: Sắc lệnh 142/SL (21/12/1949) Quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng; Nghị quyết 36/CP (11/3/1961) HĐCP về quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất; Chỉ thị 127/CP (24/5/1971) HĐCP về công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; Chỉ thị

số 07/TTg ngày 16/1/1964 về thu tiền bán khoán lâm sản và thu tiền nuôi rừng; Nghị quyết 183/CP (25/9/1966) về công tác trồng cây gây rừng

Theo quy định tại điều 36, Hiến Pháp 1980 thì: “các cơ quan nhà nước,

các xí nghiệp, Hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa

vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cải tạo môi trường sống”

Tuy nhiên:

Các quy định của pháp luật chỉ liên quan đến một số khía cạnh bảo vệ môi trường xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước chứ chưa nhằm trực tiếp vào việc bảo vệ các yếu tố của môi trường

Các quy định về môi trường nằm rải rác trong các văn bản pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau, trong đó yếu tố môi trường là yếu tố phát sinh

Các quy phạm pháp luật về môi trường thời kỳ này được ban hành chủ yếu bằng văn bản dưới luật

Trang 28

28

1.2.4.2 Giai đoạn 1986 – nay

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành đã đưa việc bảo vệ môi trường thành điều khoản riêng biệt

Luật Đất đai 1993, Luật Dầu khí 1993 đều đưa việc bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân…

Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI xác định bảo vệ môi trường là một mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước đến năm 2000

Hiến pháp 1992 đưa bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ

Các quy định pháp luật về môi trường đã có nội dung cụ thể và trực tiếp hơn về vấn đề BVMT: Xác định cụ thể và chi tiết quyền, nghĩa vụ của cá nhân,

tổ chức trong việc bảo vệ môi trường

Pháp luật về bảo vệ môi trường mang tính toàn diện và hệ thống hơn

1.3 Hệ thống quản lý nhà nước về Lâm nghiệp và môi trường

Hệ thống các cơ quan QLNN trong lĩnh vực lâm nghiệp và môi trường được

tổ chức thành hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương, trong đó bao gồm

hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chung và cơ quan QLNN có thẩm quyền chuyên môn

1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung

Hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chung bao gồm Chính phủ và UBND các cấp Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước Chính phủ có toàn quyền giải quyết quyết định những vấn đề liên quan tới hoạt động QLNN trên phạm vi toàn quốc trong quyền hạn của mình, trong đó có lĩnh vực lâm nghiệp và môi trường

Theo điều 109 Hiến pháp 1992 ( sửa đổi bổ sung 2001) quy định: “Chính phủ là

cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cấp cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Chính phủ có quyền giải

quyết, quyết định các vấn đề liên quan tới hoạt động Quản lý nhà nước trên phạm vi toàn quốc trong phạm vi quyền hạn của mình Quyền hạn và nghĩa vụ của Chính phủ được quy định trong điều 115 Hiến pháp 1992(sửa đổi bổ sung 2001) Theo Luật Tổ chức Chính Phủ ( 2/12/2001- Chủ tịch nước ký lệnh công

bố ngày 7/1/2002) thì Chính phủ thực hiện việc phân công, phân cấp, giao nhiệm vụ, kiểm tra giám sát mọi hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo thông suốt mọi hoạt động từ trung ương tới địa phương trên

Trang 29

29

tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thông qua hoạt động chấp hành - điều hành của mình UBND thực hiện chức năng QLNN trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và hành chính- chính trị trong phạm vi lãnh thổ nhất định UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nên phải chịu trách nhiệm tổ chức quản lý hành chính nhà nước ở địa phương; Đảm bảo bộ máy hành chính đó hoạt động thông suốt Nghĩa vụ và quyền hạn của UBND được quy định trong Hiến pháp 1992( sửa đổi, bổ sung 2001) và Luật tổ chức HĐND và UBND 2002

1.3.2.1 Trong lĩnh vực môi trường

Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường

Phối hợp hoạt động với các cơ quan trung ương để thanh tra, kiểm tra và

Ban hành các văn bản dưới luật để điều chỉnh các hành vi có liên quan trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

Trang 30

Giao đất, cho thuê các loại rừng thuộc thẩm quyền

Cho phép sử dụng các loài động thực vật rừng hoang dã quý hiếm nhóm I; II

* UBND cấp tỉnh

Ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền về quản lý bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp để chỉ đạo các cấp, ngành, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn thực hiện các quy định của pháp luật

Tổ chức, triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng

Quản lý hệ thống các khu rừng đặc dụng, phòng hộ, rừng sản xuất theo quy định của pháp luật

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp; chỉ đạo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật Chỉ đạo các tổ chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng, huy động và phối hợp các lực lượng để ngăn chặn mọi hành vi gây thiệt hại đến rừng và đất lâm nghiệp; kiên quyết đấu tranh, chấm dứt tình trạng khai thác rừng, phá rừng trái pháp luật, chống người thi hành công vụ trên địa bàn

Chỉ đạo thực hiện công tác giao, cho thuê, thu hồi rừng và đất lâm nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng, quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo

về rừng và đất lâm nghiệp

Tổ chức việc điều tra, kiểm kê, thống kê, phân loại rừng, lập bản đồ rừng

và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh

Lập và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, đất lâm nghiệp của địa phương; các cơ sở chế biến gỗ, lâm sản; ngăn ngừa tình trạng lợi dụng để tiêu thụ, hợp thức hóa nguồn gỗ, lâm sản trái pháp luật

* Ủy ban nhân dân cấp huyện

Triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, chính sách, chế độ Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp

Tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, khai thác lâm sản theo quy định của pháp luật; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định về giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng

Trang 31

31

Huy động, chỉ đạo các lực lượng trên địa bàn để ngăn chặn mọi hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên rừng; tổ chức thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật hại rừng

Tổ chức thực hiện công tác giao rừng, thu hồi rừng và đất lâm nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo

về rừng và đất lâm nghiệp

Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thống kê, theo dõi diễn biến rừng, đất lâm nghiệp

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ về quản

lý, bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp đối với các tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư trên địa bàn Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo quy định của pháp luật; theo dõi chặt chẽ đối tượng vi phạm có tính chuyên nghiệp để xử lý; đấu tranh kiên quyết, chấm dứt tình trạng chống người thi hành công vụ

Tổ chức việc lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, đất lâm nghiệp, các cơ sở chế biến gỗ, lâm sản; thường xuyên kiểm tra, phát hiện

và xử lý kịp thời hành vi tiêu thụ, hợp thức hóa nguồn gỗ, lâm sản trái pháp luật

* Ủy ban nhân dân cấp xã

Quản lý diện tích, ranh giới các khu rừng; các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn

Tổ chức việc lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, phương án bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Tổ chức thực hiện quy hoạch ba loại rừng trên thực địa, quy hoạch chi tiết

về bảo vệ và phát triển rừng gắn với các chủ rừng

Tiếp và xác nhận hồ sơ xin giao rừng, thuê rừng và giao đất, thuê đất lâm nghiệp đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư theo thẩm quyền

Chỉ đạo cộng đồng dân cư thôn xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn phù hợp với quy định của pháp luật; hướng dẫn thực hiện sản xuất lâm nghiệp; canh tác nương rẫy và chăn thả gia súc theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt

Tổ chức hoạt động có hiệu quả của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với nòng cốt là lực lượng dân quân tự vệ; huy động các lực lượng trên địa bàn kịp thời ngăn chặn các hành vi phá rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương án bốn tại chỗ (chỉ huy, lực lượng, phương tiện, hậu cần); kịp thời báo

Trang 32

32

cáo lên cấp trên đối với vụ việc khi vượt quá tầm kiểm soát của xã; giám sát hoạt động của các cơ sở chế biến gỗ, lâm sản theo quy định của pháp luật

Xử phạt vi phạm hành chính các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật

Theo dõi, cập nhật diễn biến rừng, đất lâm nghiệp; thường xuyên kiểm tra việc sử dụng rừng, đất lâm nghiệp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư trên địa bàn xã

Tổ chức quản lý, bảo vệ diện tích rừng nhà nước chưa giao, chưa cho thuê

và xây dựng phương án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để giao lại cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê diện tích rừng này để rừng thực sự có chủ cụ thể

Hòa giải các tranh chấp về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn

1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về lâm nghiệp

1.3.3.1 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

* Vị trí pháp lý của Bộ NN&PTNT:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật

* Nhiệm vụ và quyền hạn trong lĩnh vực lâm nghiệp:

Định kỳ điều tra, phúc tra, phân loại rừng, thống kê diện tích và trữ lượng của rừng, lập bản đồ rừng và đất lâm nghiệp trên phạm vi cả nước

Lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng dài hạn trên phạm vi cả nước để trình Chính phủ xét duyệt Thẩm định quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của các Tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương trước khi trình Chính phủ phê duyệt

Trình Chính phủ phê duyệt sản lượng gỗ rừng tự nhiên được phép khai thác, tiêu thụ hàng năm trên phạm vi cả nước Thẩm định hồ sơ tổng hợp thiết kế khai thác rừng tự nhiên và ra quyết định mở cửa rừng khai thác cho các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương

Đề xuất Chính phủ xác lập các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng phòng hộ có tầm quan trọng quốc gia hoặc nằm trên lãnh thổ của nhiều tỉnh, các khu rừng giống quốc gia và giao cho các tổ chức thuộc Bộ NN và PTNT, các ngành khác có liên quan hoặc UBND tỉnh quản lý, bảo vệ và xây dựng

Trang 33

33

Xây dựng các văn bản dưới luật trình Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các chính sách, chế độ, thể lệ, quy trình, quy phạm kỹ thuật có liên quan đến việc quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng và đất rừng trong toàn quốc

Tổ chức phối hợp với Thanh tra Nhà nước tiến hành thanh tra, kiểm tra việc quản lý Nhà nước về rừng đối với chính quyền các cấp; Thanh tra việc chấp hành pháp luật về rừng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao rừng và đất rừng

Giải quyết tranh chấp về rừng, phối hợp với Bộ TNMT giải quyết các tranh chấp về đất rừng giữa các chủ rừng ở các tỉnh khác nhau; khen thưởng những tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có thành tích suất sắc

Trong trường hợp đặc biệt, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để chỉ đạo công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng có hiệu quả Chỉ đạo

cơ quan Kiểm lâm thuộc Bộ NN và PNTT xử phạt hoặc khởi tố các hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến tài nguyên rừng theo quy định của pháp luật Quản lý nhà nước về trồng rừng, phát triển tài nguyên rừng, khai thác, bảo quản lâm sản; bảo vệ tài nguyên rừng

Thống nhất quản lý về chế biến lâm sản;

Quản lý nhà nước về giống cây lâm nghiệp, vật tư lâm nghiệp;

1.3.3.2 Tổng cục Lâm nghiệp

* Vị trí và chức năng:

Tổng cục Lâm nghiệp là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý nhà nước và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về lâm nghiệp trong phạm vi cả nước; quản lý, chỉ đạo các hoạt động dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục

* Nhiệm vụ và quyền hạn:

Trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành theo thẩm quyền hoặc để Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự

án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về lâm nghiệp;Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm, hàng năm, chương trình, dự án, đề án và công trình quan trọng quốc gia về lâm nghiệp; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy trình chuyên môn, nghiệp vụ, quy phạm kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành lâm nghiệp

Trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiêu chuẩn quốc gia để đề nghị cơ quan có thẩm quyền thẩm định, công bố

Trang 34

34

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lâm nghiệp

Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án về lâm nghiệp sau khi được phê duyệt hoặc ban hành

Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Lâm nghiệp; thẩm định và công bố tiêu chuẩn cơ sở chuyên ngành

Về quản lý rừng: Trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để trình cấp có thẩm quyền ban hành quy chế quản lý rừng; tiêu chí xác định và phân loại rừng, các phân khu chức năng của rừng đặc dụng; công bố quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, kết quả thống kê rừng, diễn biến rừng năm năm và hàng năm theo quy định của pháp luật; Chỉ đạo việc điều tra, xác định ranh giới các loại rừng; hướng dẫn nội dung, biểu mẫu, phương pháp thống

kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến rừng, tài nguyên rừng, đất để trồng rừng và lập hồ sơ quản lý rừng; Thẩm định quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng

và các chương trình, dự án đầu tư vùng nguyên liệu tập trung của các địa phương theo quy định; Hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, quy hoạch nương rẫy và hoạt động về chứng chỉ rừng bền vững

Về bảo vệ rừng: Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc bảo vệ rừng, chống chặt, phá rừng trái phép và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; phòng cháy, chữa cháy rừng; tổ chức cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng, phát hiện sớm lửa rừng Trình Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức lực lượng chuyên ngành phòng cháy, chữa cháy rừng; Chỉ đạo thống nhất về chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng kiểm lâm, các lực lượng bảo vệ rừng; chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc trang bị vũ khí, công cụ, phương tiện cho lực lượng kiểm lâm và các lực lượng bảo vệ rừng; Phối hợp với cơ quan bảo vệ thực vật tổ chức dự báo tình hình dịch bệnh, hướng dẫn và kiểm tra công tác phòng, trừ sinh vật hại rừng

Về bảo tồn thiên nhiên rừng: Hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng hệ thống rừng đặc dụng trên phạm vi cả nước; trực tiếp quản lý các Vườn quốc gia được giao;

Tổ chức điều tra, đánh giá động vật, thực vật và vi sinh vật đặc hữu theo quy định của pháp luật;

Về phát triển rừng: Chỉ đạo xây dựng và kiểm tra việc thực hiện các đề

án, dự án, cơ chế chính sách phát triển rừng gắn với xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống nhân dân ở vùng có rừng;

Trang 35

35

Về sử dụng rừng: Trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy chế khai thác gỗ và lâm sản; hạn mức khai thác gỗ rừng tự nhiên; Hướng dẫn, thẩm định phương án quản lý rừng bền vững và điều chế rừng; hướng dẫn việc thẩm định hồ sơ tổng hợp thiết kế khai thác gỗ rừng tự nhiên;

Tổ chức chỉ đạo công tác điều tra cơ bản, thống kê và quản lý các cơ sở

dữ liệu theo quy định

Tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ về lĩnh vực lâm nghiệp và công tác khuyến lâm theo phân cấp của

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Thực hiện hợp tác quốc tế về lâm nghiệp theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và theo quy định của pháp luật

Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao hoặc theo quy định của pháp luật

1.3.3.3 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

* Vị trí và chức năng:

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh có chức năng tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước ở địa phương về: nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thuỷ sản; thuỷ lợi và phát triển nông thôn; phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản và muối trong quá trình sản xuất đến khi đưa ra thị trường; về các dịch vụ công thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh và theo quy định của pháp luật

Tổ chức thực hiện phương án giao rừng cho cấp huyện và cấp xã sau khi được phê duyệt; tổ chức thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng,

Trang 36

Tổ chức việc bình tuyển và công nhận cây mẹ, cây đầu dòng và rừng giống trên địa bàn tỉnh Xây dựng phương án, biện pháp, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp và sử dụng vật tư lâm nghiệp; trồng rừng; chế biến và bảo quản lâm sản; phòng và chống dịch bệnh gây hại rừng, cháy rừng;

Chịu trách nhiệm phê duyệt phương án điều chế rừng, thiết kế khai thác rừng; giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo và kiểm tra việc trồng rừng, bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ theo quy định;

Hướng dẫn, kiểm tra việc cho phép mở cửa rừng khai thác và giao kế hoạch khai thác cho chủ rừng là tổ chức và Uỷ ban nhân dân cấp huyện sau khi được phê duyệt; việc thực hiện các quy định về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã trong quản lý, bảo vệ rừng ở địa phương; việc phối hợp và huy động lực lượng, phương tiện của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn trong bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và phòng cháy, chữa cháy rừng

1.3.3.4 Chi cục lâm nghiệp (thuộc Sở NN và PTNT)

* Vị trí, chức năng:

Chi cục Lâm nghiệp là cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về lâm nghiệp, về trồng rừng, phát triển tài nguyên rừng, khai thác lâm sản và chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh

Chi cục chịu sự lãnh đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Lâm nghiệp

* Nhiệm vụ, quyền hạn:

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, 5 năm và hàng năm; chương trình, đề án, dự án về trồng rừng, phát triển tài nguyên rừng, khai thác lâm sản trên địa bàn tỉnh

Hướng dẫn việc lập và thẩm định quy hoạch, kế hoạch trồng rừng, phát triển tài nguyên rừng của Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố

Trang 37

37

Thực hiện việc xác lập các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất trong phạm vi quản lý của địa phương sau khi được phê duyệt Tổ chức thực hiện việc phân loại rừng, xác định ranh giới các loại rừng; thống kê, kiểm kê, lập bản đồ rừng theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Tổ chức thực hiện phương án giao rừng cho cấp huyện và cấp xã sau khi được phê duyệt; tổ chức việc thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh; tổ chức việc lập và quản

lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để trồng rừng

Thẩm định phương án điều chế rừng, thiết kế khai thác rừng; kiểm tra việc trồng rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ theo quy định

Tổ chức việc bình tuyển và công nhận cây mẹ, cây đầu dòng và rừng giống trên địa bàn tỉnh Xây dựng phương án, biện pháp, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp và sử dụng vật tư lâm nghiệp; trồng rừng; chế biến và bảo quản lâm sản (gồm cả lâm sản ngoài gỗ); phòng và chống dich bệnh gây hại rừng theo quy định

Hướng dẫn, kiểm tra việc cho phép mở của rừng khai thác và giao kế hoạch khai thác cho chủ rừng là tổ chức và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố sau khi được phê duyệt

1.3.3.5 Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

* Vị trí pháp lý:

Phòng NN & PTNT là cơ quan chuyên môn của UBND huyện, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ lợi và Phát triển nông thôn trên địa bàn huyện

* Nhiệm vụ trong lĩnh vực lâm nghiệp:

Căn cứ quy hoạch, kế hoạch PTLN của tỉnh, giúp UBND huyện lập quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng và phát triển rừng và đất rừng trên địa bàn huyện Hướng dẫn UBND xã lập quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng và phát triển rừng và đất rừng; đồng thời là cơ quan thẩm định quy hoạch, kế hoạch đó

để trình UBND huyện ra quyết định phê duyệt; chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt; phối hợp theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và sử dụng đất rừng trên địa bàn huyện

Phối hợp với các cơ quan tham mưu cho UBND huyện giao, cho thuê, thu hồi rừng, đất rừng trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật; quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy, hướng dẫn, kiểm tra UBND cấp xã thực hiện các công việc trên theo đúng quy định của pháp luật

Trang 38

38

Giúp UBND huyện ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền để chỉ đạo việc thực hiện chính sách, chế độ của nhà nước về quản lý, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất rừng trên phạm vi huyện

Quản lý chỉ đạo công tác giống trong lâm nghiệp và công tác khuyến lâm trên địa bàn huyện

Tổ chức chỉ đạo các dự án phát triển rừng sản xuất, rừng phòng hộ, các dự án lâm nghiệp xã hội, xây dựng và phát triển nông thôn miền núi trên địa bàn huyện Giúp UBND huyện giải quyết tranh chấp về quản lý, sử dụng rừng trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật

Chỉ đạo hướng dẫn UBND các xã theo dõi kiểm tra các quy định về hợp đồng giao đất, giao và khoán rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn Huyện

Tuy nhiên, tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà từng địa phương có quyết định cụ thể quy định nhiệm vụ của Phòng NN & PTNT

1.3.3.6 Cơ quan kiểm lâm

* Chức năng:

Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của Nhà nước có chức năng bảo vệ rừng, giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

* Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm:

Kiểm lâm tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thống nhất từ trung ương đến địa phương về chuyên môn, nghiệp vụ Cơ quan Kiểm lâm được thành lập ở những địa bàn có rừng hoặc ở các đầu mối giao lưu lâm sản quan trọng, nơi chế biến lâm sản tập trung Hoạt động của Kiểm lâm tuân thủ sự lãnh đạo, quản lý thống nhất của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và chịu sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp đối với các hoạt động bảo vệ rừng trên địa bàn

Trong hoạt động bảo vệ rừng, Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên ngành về nông nghiệp và phát triển nông thôn, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và dựa vào sức mạnh của toàn dân để thực hiện nhiệm

vụ được giao

* Quyền hạn và trách nhiệm: (Trong khi thi hành nhiệm vụ)

Yêu cầu tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc kiểm tra và điều tra;

Tiến hành kiểm tra hiện trường, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật;

Trang 39

39

Xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi

vi phạm hành chính

Khởi tố, điều tra hình sự đối với những hành vi vi phạm pháp luật về bảo

vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về hình sự và pháp luật về tố tụng hình sự;

Được sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật

*Cơ cấu tổ chức:

- Cục Kiểm lâm là cơ quan chuyên ngành trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về bảo vệ tài nguyên rừng, thừa hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên phạm vi toàn quốc

- Chi cục Kiểm lâm: là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển

nông thôn, có chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện trách nhiệm quản

lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên rừng ở địa phương

sử dụng lâm sản, phòng cháy, chữa cháy rừng ở địa phương;

- Đội Kiểm lâm cơ động: Là một bộ phận của Chi cục kiểm lâm tương

đương với các phòng chuyên môn

- Hạt Phúc kiểm lâm sản: Được thành lập ở các đầu mối giao lưu lâm sản quan trọng và những trung tâm tiêu thụ chế biến lâm sản Việc thành lập, giải thể Hạt phúc kiểm lâm sản do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định sau khi có sự nhất trí của Bộ NN&PTNT

- Hạt kiểm lâm: là đơn vị trực thuộc chịu sự quản lý về chuyên môn, nghiệp

vụ của Chi Cục kiểm lâm, có trách nhiệm giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ, quản lý rừng và quản lý lâm sản theo kế hoạch và sự phân cấp của tỉnh

- Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ: Tổ chức bảo vệ tài nguyên rừng, chống chặt phá rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sâu bệnh hại rừng ở khu rừng đặc dụng hoặc khu rừng phòng hộ

- Kiểm lâm viên phụ trách địa bàn: Kiểm lâm địa bàn cấp xã là công chức nhà nước thuộc biên chế của Hạt Kiểm lâm huyện phân công về công tác tại địa bàn xã, phường, thị trấn có rừng, chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

1.3.4 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn về môi trường

1.3.4.1 Bộ Tài nguyên và môi trường

* Vị trí, chức năng:

Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức

Trang 40

40

năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng, thuỷ văn; đo đạc, bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo

Tổ chức xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường

Đánh giá hiện trạng môi trường trên phạm vi cả nước, định kỳ báo cáo Chính phủ và Quốc hội

Thẩm định báo cáo ĐTM của dự án đầu tư trong nước, các cơ sở sản xuất trong nước theo sự phân cấp, các dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Chỉ đạo việc tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ KH-KT, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trình Chính phủ việc tham gia các tiêu chuẩn quốc tế, ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường

1.3.4.2 Sở tài nguyên và môi trường

* Vị trí:

Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường

* Chức năng:

Xây dựng và trình UBND tỉnh các văn bản về bảo vệ môi trường tại địa phương

Thẩm định báo cáo ĐTM theo thẩm quyền

Thanh tra môi trường theo thẩm quyền

Tiếp nhận, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo…

1.3.4.3 Phòng Tài nguyên và Môi trường

Là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, biển và hải đảo

1.3.4.4 Công chức địa chính - xây dựng

Là công chức chuyên môn về tài nguyên và môi trường cấp xã, tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trên địa bàn; chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện

Ngày đăng: 28/01/2021, 23:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thành Bang, Các nguyên lý về môi trường. Tài liệu của dự án VIETPRO.2020 BỘKHCN &amp; MT, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên lý về môi trường
Tác giả: Nguyễn Thành Bang
Nhà XB: BỘKHCN & MT
Năm: 2020
2. Lê Huy Bá, Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long, Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Lê Huy Bá, Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2002
3. Bộ NN&amp;PTNT (2004) “ Cẩm nang ngành lâm nghiệp” ( Chương – Khuôn khổ pháp lý lâm nghiệp; Chương – Phân loại sử dụng, lập quy hoạch và giao đất lâm nghiệp; Chương – Hành chính và thể chế ngành lâm nghiệp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành lâm nghiệp
Tác giả: Bộ NN&amp;PTNT
Năm: 2004
4. Bộ NN&amp;PTNT, 20 năm đổi mới Lâm nghiệp, NXB chính trị quốc gia, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm đổi mới Lâm nghiệp
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
5. BộTài nguyên và Môi trường, Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến 2010 và định hướng đến 2020, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến 2010 và định hướng đến 2020
7. Cục Kiểm lâm, Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, NXB Nông nghiệp, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng
Tác giả: Cục Kiểm lâm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Cục phát triển lâm nghiệp, Văn bản pháp quy về lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp,2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản pháp quy về lâm nghiệp
Tác giả: Cục phát triển lâm nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
9. Hoàng Sỹ Động, “Tình hình tài nguyên rừng toàn cầu” - Tạp chí NN&amp;PTNT 7/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tài nguyên rừng toàn cầu
12. Nguyễn Trường Giang, 1996, Môi trường và luật quốc tế về môi trường, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và luật quốc tế về môi trường
Tác giả: Nguyễn Trường Giang
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Nguyễn Đình Hoè,"Môi trường và phát triển bền vững", trong sách Quản lý Nhà nước về Khoa học, Công nghệ và Môi trường, NXB Khoa học và Kỹthuật Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và phát triển bền vững
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹthuật Hà Nội
14. Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, Việt Nam, môi trường và cuộc sống, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam, môi trường và cuộc sống
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
15. Nguyễn Đức Hy, Phát triển bền vững trong tầm nhìn của thời đại. Viện Sinh thái và Môi trường xuất bản, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững trong tầm nhìn của thời đại
Tác giả: Nguyễn Đức Hy
Nhà XB: Viện Sinh thái và Môi trường
Năm: 2003
16. IUCN, Chiến lược cho cuộc sống bền vững - Hãy cứu lấy Trái Đất, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cho cuộc sống bền vững - Hãy cứu lấy Trái Đất
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
17. Nguyễn Đức Khiển, Môi trường và phát triển, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và phát triển
Tác giả: Nguyễn Đức Khiển
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2001
18. Koos Neefjes. Môi trường và sinh kế: Các chiến lược phát triển bền vững Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và sinh kế: Các chiến lược phát triển bền vững
Tác giả: Koos Neefjes
19. Một số quy định pháp luật về xử phạt hành chính và hình sự trong quản lý và bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, NXB chính trị quốc gia, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quy định pháp luật về xử phạt hành chính và hình sự trong quản lý và bảo vệ rừng, quản lý lâm sản
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
20. Một số quy định pháp luật về xử phạt hành chính và hình sự trong quản lý và bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, 2005, NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quy định pháp luật về xử phạt hành chính và hình sự trong quản lý và bảo vệ rừng, quản lý lâm sản
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
21. Nguyễn Văn Ngừng, 2004, Một số vấn đê bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay,NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đê bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Ngừng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
22. Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường, Đại học quốc gia Hà Nội, 1996, Cứu lấy trái đất, chiến lược cho cuộc sống bền vững, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cứu lấy trái đất, chiến lược cho cuộc sống bền vững
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
23. Viện khoa học pháp lý, 2005, Kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước với việt thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước với việt thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w