1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC LÝ THUYẾT QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VỊ THẾ XÃ HỘI

14 930 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý thuyết vị thế - vai trò
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 24,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu xem xét vị trí xã hội một cách độc lập với những quyền và nghĩa vụ tương ứng thì chúng ta không thể xác định được hay so sánh được thứ bậc cao thấp giữa các vị trí xã hội của các cá

Trang 1

CÁC LÝ THUYẾT QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VỊ THẾ XÃ HỘI

1.1 Lý thuyết vị thế - vai trò:

Lý thuyết vị thế - vai trò cho phép nghiên cứu hành vi của cá nhân trong hệ thống những cấp độ cá nhân - nhóm xã hội

Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và quyền lợi kèm theo Nói cách khác, vị thế xã hội chính là một khái niệm tổng hợp nhằm chỉ vị trí xã hội cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng với các vị trí

đó Mỗi một cá nhân trong xã hội đều có những vị trí nhất định ngay từ khi sinh

ra và hình thành những chức năng cụ thể với quyền và nghĩa vụ phù hợp Chính những quyền và nghĩa vụ cao, thấp khác nhau của các vị trí xã hội sẽ tạo ra thứ bậc của chúng Nếu xem xét vị trí xã hội một cách độc lập với những quyền và nghĩa vụ tương ứng thì chúng ta không thể xác định được hay so sánh được thứ bậc cao thấp giữa các vị trí xã hội của các cá nhân bởi khi tách ra như vậy thì các cá nhân lại ở những vị trí xã hội tương đồng Mỗi một xã hội, mỗi một nền văn hoá lại có những cách nhìn nhận của riêng mình về các vị trí xã hội của cá nhân Những cách nhìn nhận đó sẽ xác định các quyền lợi và trách nhiệm nhất định được thực hiện song song với nhau ở mỗi một vị thế xã hội Mỗi một cá nhân có nhiều vị trí xã hội do vậy cũng có nhiều vị thế xã hội

Cá nhân có thể có vị thế đơn lẻ nếu xuất phát từ một vị trí xã hội bất

kì trong cơ cấu xã hội và quyền hạn, trách nhiệm tương ứng với vị trí xã hội đó

Cá nhân có thể có vị thế tổng quát bao gồm các vị thế cơ bản mà cá nhân có

Các vị thế xã hội còn được chia thành 2 loại: Vị thế gán cho và vị thế đạt được Trong đó, vị thế gán cho liên quan đến những gì mà xã hội thừa nhận đối với cá nhân đó ngay từ khi nó tham gia vào cấu trúc xã hội và không phụ thuộc vào việc cá nhân đó có chấp nhận hay không Đó là những yếu tố tự nhiên bẩm sinh như: tuổi, giới tính, chủng tộc, dòng họ, thành phần xuất thân Ví dụ:

Trang 2

người già có vị thế cao hơn người trẻ tuổi, người phụ nữ được coi là có vị thế xã hội thấp hơn người nam giới, người da đen có vị thế thấp hơn người da trắng

Vị thế xã hội của những người già, người trẻ, phụ nữ, nam giới, người da đen hay da trắng ngay từ khi sinh ra đã được xã hội quy gán tuỳ thuộc vào quan niệm hay cách nhìn nhận về vị trí xã hội của họ

Vị thế đạt được là những vị thế mà các cá nhân giành được bằng sự cố gắng, nỗ lực, bằng khả năng của cá nhân trong quá trình hoạt động sống

Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở những vị thế xã hội tương ứng của cá nhân Để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, cá nhân phải thực hiện những hành động phù hợp Nghĩa là khi xã hội nhìn nhận vị thế nào đó của cá nhân đồng thời cũng đã xác định một mô hình hành vi tương ứng và mong đợi cá nhân thực hiện mô hình hành vi đó Như vậy, vai trò xã hội của cá nhân là việc thực hiện những hành vi nhằm thoả mãn sự mong đợi của xã hội để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế xã hội của mình Những đòi hỏi, mong đợi của xã hội đối với vai trò của cá nhân thường dựa trên các chuẩn mực xã hội Chính vì vậy mà vai trò xã hội của các cá nhân luôn luôn biến đổi và khác nhau ở các xã hội khác nhau, thậm chí ở các nhóm xã hội khác nhau và ở từng thời

kì khác nhau Bởi các chuẩn mực xã hội không phải là một phạm trù bất biến mà

nó có thể thay đổi ở từng thời kỳ khác nhau, có thể khác nhau ở các xã hội khác nhau và thậm chí khác nhau ngay cả giữa các nhóm xã hội khác nhau đang tồn tại trong cùng một thời điểm lịch sử

Như vậy, ứng với mỗi vị thế xã hội bao gồm những quyền hạn và trách nhiệm là những vai trò xã hội bao gồm những mô hình hành vi tương ứng mà cá nhân phải thực hiện

Lý thuyết vị thế - vai trò cho phép chúng ta nhận định được vị thế, vai trò của người phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội Nó cho phép

ta xác định được vị thế nào của người phụ nữ là vị thế gán cho và vị thế nào là vị

Trang 3

thế đạt được; cho phép chúng ta xác định được những mô hình hành vi mà họ phải thực hiện để thoả mãn những mong đợi của xã hội, của gia đình sao cho phù hợp với những vị thế đó Chúng ta cũng có thể so sánh được thứ bậc cao hay thấp trong tương quan vị thế - vai trò giữa nam giới và nữ giới trong gia đình cũng như ngoài

xã hội Từ đó ta có thể nhìn nhận và đánh giá được sự phân công vai trò giữa hai giới trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình trong đó có lĩnh vực giáo dục con cái

1.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng :

Cơ cấu xã hội hay cấu trúc xã hội bao gồm nhiều thành phần khác nhau trong một hệ thống xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Xã hội mà chúng ta đang sống cũng được xem như một hệ thống có cấu trúc nhất định bao gồm nhiều nhóm xã hội vi mô khác nhau có mối liên hệ tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau Mỗi một nhóm xã hội vi mô lại có một cơ cấu riêng của nó, thực hiện những chức năng riêng biệt trong sự thống nhất chức năng chung của cả xã hội tổng thể

Cơ cấu xã hội được phân chia ở hai cấp độ khác nhau Nếu tiến hành phân chia ở cấp độ vĩ mô nghĩa là ta đang phân chia xã hội tổng thể ra thành nhiều nhóm xã hội khác nhau

Còn ở cấp độ vi mô ta lại tiếp tục phân tích từng nhóm xã hội, từng bộ phận, thành phần của xã hội tổng thể mà ta vừa chia được thành những cơ cấu xã hội nhỏ hơn Với cách tiếp cận này ta có thể áp dụng để phân tích cơ cấu gia đình bởi gia đình cũng được coi là một nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội tổng thể, cũng

có một cấu trúc nhất định và thực hiện những chức năng riêng trong sự thống nhất chức năng chung của toàn xã hội

Giữa cấu trúc và chức năng có mối liên hệ tác động qua lại với nhau một cách chặt chẽ bởi chức năng là phương thức thực hiện hoạt động sống của cả cấu trúc Chức năng được thực hiện để thoả mãn nhu cầu, để bảo đảm cho cơ cấu ổn

Trang 4

định và phát triển Có thể nói chức năng chính là mặt động của cấu trúc, thực hiện tốt chức năng sẽ duy trì được cấu trúc Ngược lại, cấu trúc cũng có những ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện chức năng Những biến đổi của cấu trúc có thể thúc đẩy hoặc cản trở việc thực hiện chức năng Nói tóm lại, sự biến đổi nào của cấu trúc cũng dẫn đến sự biến đổi của chức năng và sự biến đổi nào của chức năng cũng dẫn đến sự biến đổi của cấu trúc

Cấu trúc và chức năng không phải là một phạm trù bất biến mà nó biến đổi hay duy trì phụ thuộc vào nhiều yếu tố xã hội Chức năng phụ thuộc vào chính những yếu tố quyết định nhu cầu, đó là: khả năng của các cá nhân, bối cảnh Kinh

tế - Xã hội - Văn hoá hay các giá trị, chuẩn mực bởi chức năng được thực hiện nhằm để thoả mãn nhu cầu

Cấu trúc xã hội muốn duy trì trước hết phụ thuộc vào sự biến đổi xã hội Sự biến đổi xã hội càng diễn ra châm chạp thì cấu trúc càng ổn định Cấu trúc tồn tại một cách ổn định và bền vững hơn chức năng và yếu tố làm cho cấu trúc bền vững nhất

là các giá trị chuẩn mực

Nếu lý thuyết vị thế vai trò cho phép ta giải thích những biểu hiện và nguyên nhân của hành vi ở cấp độ vi mô thì lý thuyêt cấu trúc chức năng giúp ta phân tích các yếu tố và mối quan hệ giữa chúng ở cấp độ vĩ mô Áp dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng vào nghiên cứu gia đình có thể lý giải được mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, lý giải được ảnh hưởng của sự biến đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đến cơ cấu gia đình và các thành phần trong cơ cấu gia đình hay nói cách khác chính là mối liên hệ giữa gia đình với tư cách là một nhóm xã hội với xã hội tổng thể

1.3.Quan điểm tiếp cận Giới :

Quan điểm này yêu cầu nghiên cứu về nam giới và nữ giới đặt trong mối quan hệ qua lại với nhau Trước hết, ta phải làm rõ sự khác biệt và đồng nhất giữa

Trang 5

nam giới và nữ giới ở những đặc điểm tự nhiên bẩm sinh không thể thay đổi được; những đặc điểm xã hội do học hỏi mà có; những đặc điểm do xã hội quy gán; những đặc điểm có tính lịch sử và có thể thay đổi được

Tiếp cận “Giới” phải chú ý đến mối quan hệ của hai giới trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình, trong lao động, trong hưởng thụ các giá trị vật chất - tinh thần, về quyền và nghĩa vụ của mỗi giới trong gia đình và ngoài xã hội Như vậy, bằng cách so sánh những chức năng tự nhiên và xã hội giữa nam giới và nữ giới, bằng cách so sánh mọi khía cạnh của quá trình thực hiện vai trò giáo dục đạo đức cho con cái, so sánh những xuất phát điểm đi lên của từng giới ta có thể đánh giá được sự phân công vai trò giữa nam giới và nữ giới trong giáo dục đạo đức cho con cái ở độ tuổi vị thành niên trong các gia đình đô thị

Quan điểm tiếp cận giới đòi hỏi phải nghiên cứu mối quan hệ giới trong bối cảnh Kinh tế - Xã hội, trong những giai đoạn phát triển của lịch sử để thấy được những nguyên nhân xã hội quy định mối quan hệ giới

Vận dụng quan điểm tiếp cận giới trong nghiên cứu mối quan hệ Giới cần phải dựa trên sự phân tích khách quan khoa học, dựa trên những số liệu thực tế để không có cái nhìn thiên lệch về giới nào Từ đó, ta có thể đưa ra các giải pháp, khuyến nghị hữu hiệu nhằm thiết lập sự bình đẳng giới trên mọi mặt, phát huy năng lực, khả năng sáng tạo của cả hai giới đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước

II HỆ THỐNG KHÁI NIỆM CƠ SỞ:

2.1.Khái niệm gia đình:

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình trong đó có một định nghĩa được nhiều nhà Xã Hội Học thừa nhận, đó là:

“Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về quyền lợi và trách nhiệm, giữa họ có

Trang 6

những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ Đồng thời

có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán quan hệ tình dục giữa các thành viên trong gia đình.”

* Khái niệm Cơ cấu gia đình:

Khái niệm Cơ cấu gia đình nằm trong khái niệm Cơ cấu xã hội

“ Cơ cấu xã hội là một tập hợp những quan hệ có xu hướng ổn định và theo một khuôn mẫu nào đó Mỗi vị trí trong cơ cấu xã hội là một địa vị xã hội gắn liền với nó là những quyền và nghĩa vụ.”

Nói đến cơ cấu là nói đến quan hệ nội tại chi phối toàn bộ sự vật

Cơ cấu gia đình bao gồm các yếu tố như số lượng các thành viên, thành phần và các mối quan hệ trong gia đình Cơ cấu gia đình chỉ tồn tại thông qua hoạt động của các thành viên trong gia đình Đó là một quá trình được thiết chế hoá

Cơ cấu gia đình có thể được phân chia dựa trên sự khác biệt về số người, số thế hệ và tính chất của mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Cơ cấu quyền uy là một trong ba loại cơ cấu gia đình Cơ cấu quyền uy cho biết những quyết định căn bản trong đời sống gia đình thuộc về ai Trong cơ cấu quyền uy gia trưởng, vợ phải phục tùng chồng Trong cơ cấu quyền uy dân chủ, sự phân bố vai trò của các thành viên trong gia đình trước hết dựa vào các phẩm chất, năng lực cá nhân của vợ hoặc chồng, các thành viên trong gia đình đều có thể tham dự vào việc quyết định các công việc quan trọng của gia đình

2.2.Khái niệm Giới:

Khi đề cập đến khái niệm “Giới” ta phải đi từ khái niệm “Giới tính” để thấy

sự khác biệt giữa hai khái niệm này từ đó hiểu rõ hơn về khái niệm “Giới”

*Giới tính:

Trang 7

Là một khái niệm sinh học để chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ - hai cá thể người Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và

di truyền nòi giống Con người sinh ra đã được xác định những đặc điểm khác nhau về giới tính

*Giới:

Là một khái niệm để chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội Nói đến Giới là nói đến hành vi xã hội của nam giới và nữ giới, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ

“Giới” và “Giới tính” khác nhau ở các đặc trưng của nó Giới tính có đặc trưng sinh học còn “Giới” có những đặc trưng xã hội Hai cá thể “Nam” và “Nữ” sinh ra đã được quy định về giới tính nhưng phải trải qua cả một quá trình học hỏi những giá trị, chuẩn mực mà xã hội đã quy định mới có thể mang trong mình những đặc tính giới, mới có thể trở thành nam giới và nữ giới

*Bản sắc giới:

Bản sắc giới liên quan đến sự nhận thức của cá nhân về nam giới hay nữ giới Nói cách khác cá nhân cảm nhận mình đúng là giới nào đó phù hợp với nền văn hoá Bản sắc giới thường phù hợp với giới tính của cá nhân nhưng không phải mọi trường hợp bản sắc giới đều đồng nhất với giới tính của cá nhân đó Tuỳ thuộc vào từng xã hội mà có sự giao thoa giữa hai giới, có người phụ nữ có những phẩm chất của nam giới và ngược lại

*Vai trò giới:

Trang 8

Vai trò giới là những mong đợi của xã hội với một chàng trai hay một cô gái về những mô hình hành vi ứng xử phù hợp với phụ nữ hoặc nam giới

* Bình đẳng Giới:

Trong một thời gian dài, “Bình đẳng Giới” được coi là sự ngang bằng nhau

về mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội với phương châm: Phụ nữ có thể làm tất cả những gì mà đàn ông có thể làm, phụ nữ có quyền tương đương với nam giới Giải quyết bình đẳng theo cách này gặp phải một hạn chế là giữa nam giới và nữ giới có những khác biệt về tự nhiên

Gần đây, các nhà nghiên cứu giới đã đưa ra những quan niệm mới về sự bình đẳng giới Những quan niệm này tỏ ra rất tích cực trong việc khắc phục những hạn chế cũ Bình đẳng giới biểu hiện một sự công bằng mà trong đó phụ nữ và nam giới được tạo điều kiện tốt nhất, tương đương nhau về hưởng thụ chính đáng những thành quả lao động của bản thân, thực hiện những quyền và nghĩa vụ của

mình một cách đầy đủ kể cả trong gia đình và ngoài xã hội “Bởi vì cơ sở của sự bình đẳng là hướng về sự nâng cao khả năng của con người mà nó cần phải được phân phối đều cho cả hai giới ” (Một vài suy nghĩ về ý nghĩa và tầm quan trọng

của CEDAW trong thực tiễn - Ts Lê Thị Quý) Bình đẳng giới là mọi vấn đề của

cả hai giới phải được xem xét trong quan hệ với nhau và dựa trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt tự nhiên của cả hai giới

2.3 Khái niệm Đạo Đức:

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về “Đạo Đức” Trong các quan điểm về

“Đạo Đức” thì quan điểm của chủ nghĩa Mác-xit về “Đạo đức mới” tỏ ra phù hợp nhất với quan điểm về đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay Quan niệm Mác-xit cho rằng “Đạo Đức mới” là mức độ cao của quá trình phát triển đạo đức “Đạo Đức mới” được định nghĩa là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã

Trang 9

hội, nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội ( Đạo Đức học - Trần Hậu Khiêm - NXB Giáo Dục, 1997)

2.4.Khái niệm Giáo dục:

Giáo dục, hiểu theo nghĩa rộng là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt

và lĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội và loài người

Hiểu theo nghĩa hẹp thì giáo dục là quá trình hình thành nhân cách về mặt

“Đức” (niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen)

2.5.Khái niệm Xã hội hoá:

Xã hội hoá là một quá trình trong đó cá nhân học cách trở thành một thành viên của xã hội thông qua việc học tập, lĩnh hội các giá trị chuẩn mực của xã hội và đóng các vai trò xã hội

Quá trình xã hội hoá của cá nhân diễn ra ngay từ khi cá nhân đó sinh ra cho đến khi mất đi Nói các khác xã hội hoá là một quá trình diễn ra suốt đời của một

cá nhân

Quá trình xã hội hóa cá nhân diễn ra trong môi trường xã hội hóa Môi trường xã hội hoá được hiểu là tất cả những nhân tố, điều kiện cơ bản cho quá trình

xã hội hoá diễn ra Một trong ba môi trường xã hội hoá cơ bản của mỗi cá nhân là môi trường gia đình Môi trường gia đình là phức hợp của các mối quan hệ trong

Trang 10

gia đình: quan hệ hôn nhân, quan hệ vật chất - tinh thần, quan hệ cha mẹ - con cái Mỗi một mối quan hệ nhất định này chỉ ra các cương vị cơ bản của mỗi thành viên đồng thời cũng chỉ ra các vị trí - vai trò; chỉ ra các quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên đó Gia đình đại diện cho xã hội truyền đạt những tri thức cơ bản nhất

về quan hệ giữa người với người Nếu trẻ em sinh ra trong một môi trường gia đình tốt thì quá trình xã hội hóa sẽ diễn ra thuận lợi, dễ dàng Gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển hoàn thiện một con người xã hội

2.6.Vị thành niên:

Vị thành niên là một giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một con người từ 10 - 19 tuổi theo quy định của WHO Giai đoạn này có sự biến đổi đột ngột, mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tâm hồn, giai đoạn chuyển từ trẻ con sang người lớn; đánh dấu giai đoạn “ hình thành giới tính” Quá trình biến đổi này gọi là dậy thì và giai đoạn này được gọi là “vị thành niên”, tức là “ không còn là trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn” ( trang 5, Vị thành niên với SKSS, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - dự án Vie/97/P12 )

III TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Vấn đề “Giới” là một vấn đề được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, thông qua các nghiên cứu về gia đình và phụ nữ

Trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình và chế độ tư hữu Nhà Nước.” Ăng-gen đã đề cập đến sự hình thành và phát triển của gia đình Bên cạnh đó ông còn xem xét vấn đề bình đẳng Nam - Nữ trong mối quan hệ gia đình và xã hội trong quá trình biến đổi của xã hội

Ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về Giới đi sâu vào các khía cạch khác nhau của vấn đề này

Ngày đăng: 30/10/2013, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w