HCM, ngày 14 tháng 1 năm 2012 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ và tên học viên: TRẦN TRỌNG MỸ Giới tính : Nam Ngày, tháng, năm sinh: 12/04/1983 Nơi sinh : Hải Phòng Chuyên ngành: Kỹ thuậ
Trang 1Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT
-
TRẦN TRỌNG MỸ
ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ TÍNH CHẤT
THẤM CHỨA CỦA TRẦM TÍCH MIOXEN DƯỚI, OLIGOXEN
TP HỒ CHÍ MINH, Tháng 1 năm 2012
Trang 2Công trình được hoàn thành tại : Trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP.HCM Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Vũ Như Hùng (ký tên):
Cán bộ chấm nhận xét 1: TS Hoàng Phước Sơn (ký tên):
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS Cù Minh Hoàng (ký tên):
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày 14 tháng 01 năm 2012
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ bao gồm:
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA
Trang 3-oOo -
Tp HCM, ngày 14 tháng 1 năm 2012
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: TRẦN TRỌNG MỸ Giới tính : Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 12/04/1983 Nơi sinh : Hải Phòng Chuyên ngành: Kỹ thuật dầu khí ứng dụng
MSHV: 09360603
1- TÊN ĐỀ TÀI:
“ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ TÍNH CHẤT THẤM CHỨA
CỦA TRẦM TÍCH MIOXEN DƯỚI, OLIGOXEN MỎ BẠCH HỔ”
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
- Tổng kết các giếng khoan mới và phân tích trạng thái làm việc của các giếng khoan khai thác mỏ Bạch Hổ
- Chính xác hóa cấu trúc địa chất, ranh giới thân dầu, tính chất thấm chứa của trầm tích Mioxen dưới, Oligoxen mỏ Bạch Hổ trên cơ sở những giếng khoan mới và trên cơ sở lựa chọn các khu vực và đối tượng nghiên cứu
- Áp dụng xử lý số liệu giếng khoan R-1X mỏ Rồng, bồn trũng Cửu Long
- Đánh giá sự thay đổi con số trữ lượng, chủ yếu ở các tầng sản phẩm 23_2, 23_3, 23_4 thuộc Mioxen dưới, tầng sản phẩm II, III thuộc Oligoxen trên và tầng sản phẩm VIII, IX thuộc Oligoxen dưới
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 04/07/2011
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 14/01/2012
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
TS Vũ Như Hùng – Viện NCKH&TK – LD Việt Nga “Vietsovpetro”
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN KHOA KỸ THUẬT ĐỊA
ĐỊA CHẤT DẦU KHÍ CHẤT VÀ DẦU KHÍ (Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 4
Trong quá trình làm luận văn, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp trong phòng Địa chất mỏ, Viện nghiên cứu Khoa học & Thiết kế, Liên doanh Việt-Nga Vietsovpetro, các chuyên viên và Lãnh đạo Ban Tìm kiếm Thăm dò Dầu khí - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Ngoài ra còn có sự giúp đỡ từ những đồng nghiệp thuộc Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ động viên và tạo điều kiện của các thầy cô tại khoa Kỹ Thuật Địa chất và Dầu Khí, đặc biệt là các thầy ở bộ môn Địa chất Dầu khí, trường đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh
Một lần nữa tác giả xin gửi lời biết ơn chân thành nhất tới tất cả mọi sự giúp
đỡ
Hà Nội, ngày tháng năm 2011 Tác giả
Trang 5Nội dung chính của luận văn bao gồm:
Chương 1 Cấu trúc địa chất, công tác thăm dò và các đánh giá về mỏ Bạch
Hổ
Chương 2 Chính xác hóa cấu trúc địa chất và tính chất thấm chứa trầm tích
Mioxen dưới, Oligoxen của các khu vực và đối tượng nghiên cứu
Trang 6ABTRACTS
From the study of the geological structure and permeability properties of the reservoir in sediment, authors can evaluate oil and gas prospects of this object It has been proposed moving objects extracted from sedimentary basement up against areas with flooded wells, assessment increase reserves contribute to catches in this area
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi, Trần Trọng Mỹ (MSHV 09360603), học viên cao học chuyên ngành Địa chất Dầu khí ứng dụng khóa 2010, xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn và phản biện của các cán bộ hướng dẫn và phản biện như được nêu trong phần phiếu chấm luận văn Luận văn có sử dụng số liệu thực
tế và được tuân thủ đúng yêu cầu quản lý thông tin
Các tài liệu trích dẫn trong luận văn được ghi rõ ràng đầy đủ nguồn gốc và thông tin trích dẫn
Học viên thực hiện
Trần Trọng Mỹ
Trang 8Trang 9
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: Cấu trúc địa chất, công tác thăm dò và các đánh
giá về mỏ
8
2 Lịch sử nghiên cứu địa chất 12
2.1 Địa tầng 12 2.2 Kiến tạo 14 2.3 Công tác thăm dò địa chất 17
3 Số liệu mới của khu vực nghiên cứu 22
CHƯƠNG II: Chính xác hóa cấu trúc địa chất và tính chất
thấm chứa trầm tích Mioxen dưới, Oligoxen của các khu vực
và đối tượng nghiên cứu
26
Trang 103
Trang 12lát mỏng
24
Trang 13MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
móng nứt nẻ Năm 1995, tại giếng khoan 409 và 802 vòm Trung Tâm đã xuất hiện nước trong qua trình khai thác dầu từ móng Trong giai đoạn hiện tại, số lượng giếng khoan ngập nước ở tầng móng ngày càng gia tăng Do đó vấn đề cấp thiết là phải chuyển đối tượng khai thác lên tầng trên đối với những giếng khoan ngập
lượng chung của toàn XNLD Vietsovpetro đang trong thời kỳ suy giảm thì việc nghiên cứu, đánh giá kỹ hơn các tiềm năng chứa dầu khí tại mỏ Bạch Hổ là việc làm rất cần thiết
Các tập sản phẩm phức hệ Mioxen dưới và phức hệ Oligoxen có cấu trúc địa chất phức tạp Từ việc nghiên cứu cấu trúc địa chất và tính chất thấm chứa của thân dầu trong lát cắt trầm tích tác giả có thể đánh giá triển vọng chứa dầu khí của đối tượng này Từ đó đề xuất chuyển đối tượng khai thác từ tầng móng lên trầm tích đối với những khu vực có nhiều giếng khoan ngập nước, đánh giá sự gia tăng trữ lượng góp phần tăng sản lượng khai thác tại các khu vực này
- Mục đích của đề tài: Chính xác hoá lại cấu trúc địa chất và nghiên cứu tính chất thấm chứa của trầm tích Mioxen dưới, Oligoxen mỏ Bạch Hổ, từ đó đề xuất đối tượng khai thác mới cho những khu vực có giếng khoan ngập nước ở tầng móng
- Đối tượng của đề tài: Trầm tích Mioxen dưới, Oligoxen của mỏ Bạch Hổ
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Trầm tích Mioxen dưới, Oligoxen vòm Bắc (BK
- 1, 2, 4, 5, 6, 8, 9) và khu vực phía nam vòm Trung Tâm (MSP – 3, 4, 5, 7, 8, 10)
III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu về cấu trúc địa chất và tính chất thấm chứa của trầm tích Mioxen dưới, Oligoxen của mỏ Bạch Hổ Đánh giá sự thay đổi về con
số trữ lượng của của đối tượng này
- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở kết quả minh giải lại tài liệu địa vật lý giếng khoan của một số đối tượng và liên kết lại các tầng sản phẩm của các giếng khoan, chính xác hóa lại ranh giới, diện tích thân dầu và tích chất thấm chứa (giá trị đọ rỗng hiệu dụng và chiều dày hiệu dụng) Kết quả nghiên cứu này có thể áp dụng
đẻ chuyển đối tượng khai thác lên tầng trên những khu vực tầng móng ngập nước
Trang 14IV Nhiệm vụ của luận văn
- Tổng kết các giếng khoan mới và phân tích trạng thái làm việc của các giếng khai thác mỏ Bạch Hổ (thống kê độ ngập nước tại các giếng khoa)
- Chính xác hóa cấu trúc địa chất, ranh giới than dầu, tính chất thấm chứa của trầm tích Mioxen dưới, Oligoxen mỏ Bạch Hổ trên cơ sở những giếng khoan mới và trên cơ sở lực chọn các khu vực và đối tượng nghiên cứu
- Đánh giá sự thay đổi con số trữ lượng, chủ yếu ở các tầng sản phẩm 23_2, 23_3, 24 thuộc Mioxen dưới, tầng sản phẩm II, III thuộc Oligoxen trên và tầng sản phẩm VIII, IX thuộc Oligoxen dưới
V Tài liệu cơ sở của luận văn
- Kết quả minh giải tài liệu địa vật lý giếng khoan của các giếng khoan trong khu vực được đề cập đến trong luận văn
- Báo cáo kết thúc các giếng khoan trong khu vực nghiên cứu
- Tài liệu carota khí, tài liệu địa vật lý giếng khoan các giếng khoan của khu vực nghiên cứu
- Báo cáo tính trữ lượng dầu và khí hoà tan mỏ Bạch Hổ
- Báo cáo cân đối trữ lượng hàng năm
Trang 15PHẦN A: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Mỏ dầu Bạch Hổ được phát hiện vào năm 1975 và được đưa vào khai thác năm
1986 Các thân dầu nằm trong các tập sét - cát thuộc lớp phủ trầm tích và trong đá móng nứt nẻ, hang hốc
Trong các năm 2002-2005 trên diện tích của mỏ Bạch Hổ đã tiến hành khảo sát địa chấn bổ sung, tái xử lý và tái minh giải các tài liệu trước đây, khoan thăm dò, các giếng khai thác nhanh, thử vỉa các đối tượng trong các giếng khoan và trong các giếng chuyển tầng khai thác, lấy và nghiên cứu mẫu lõi, mẫu dầu, khí và nước, tiến hành khảo sát ĐVLGK, thủy động lực, đo mặt cắt dòng, đã cho phép chính xác các thông số, cấu trúc và ranh giới các thân dầu của mỏ
Trang 16CHƯƠNG I: CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT, CÔNG TÁC THĂM DÒ
VÀ CÁC ĐÁNH GIÁ VỀ MỎ
I CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT CỦA KHU VỰC VÀ MỎ BẠCH HỔ
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MỎ
Mỏ Bạch Hổ nằm trên thềm lục địa phía nam Việt Nam, cách thành phố-cảng Vũng Tàu 120 km về phía đông nam, nơi có các cơ sở căn cứ kỹ thuật - sản xuất của XNLD “Vietsovpetro” (hình 1)
Độ sâu nước biển tại vùng mỏ khoảng 50m, thuận lợi cho việc sử dung các giàn khoan tự nâng Các kết quả nghiên cứu địa chất công trình biển cho thấy phần trên của đáy biển thuận tiện cho việc xây dựng các công trình biển Cường độ địa chấn của khu vực không vượt quá 6 độ Richter
xuất hiện vào thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 Thời điểm có các trận mưa lớn không kéo dài, kèm gió lốc với tốc độ tới 25 m/s Độ ẩm không khí tăng tới 87 - 89% Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau với gió đông-bắc là chủ yếu, tốc
độ đạt 20 m/s, gây nên các đợt sóng biển cao tới 10 m
Thời gian thích hợp để tiến hành các công việc ngoài biển là mùa gió tây-nam: tháng 6 đến tháng 9, và thời kỳ chuyển tiếp: tháng 4-5 và tháng 11, khi gió chuyển hướng các dòng hải lưu phụ thuộc vào chế độ gió mùa và thủy triều Tốc độ dòng chảy ở độ sâu 15-20 m đạt 85сm/s, tại tầng đáy: khoảng 20 – 30 m/s Nhiệt độ nước
Giếng khoan đầu tiên phát hiện mỏ là ВН-1, do công ty "Mobil" khoan vào năm 1975 trên phần vòm của cấu tạo được phát hiện theo kết quả thăm dò địa chấn 2D Khi thử vỉa, dòng dầu thu được từ cát kết thuộc Mioxen dưới Các công việc tiếp theo được thực hiện vào năm 1983, sau khi XNLD “Vietsopetro” được thành lập, đã đưa đến việc phát hiện các thân dầu lớn trong trầm tích Oligoxen năm 1985, trong đá móng năm 1986
Ở thời kỳ đầu (1983-1987) đối tượng thăm dò chính là các tầng mioxen dưới
và oligoxen, sau năm 1987 là đá móng Trước 1992 vị trí các giếng thăm dò được thiết kế dựa trên bản đồ cấu tạo, lập theo tài liệu địa chấn thăm dò 2D, vào các năm sau, theo tài liệu địa chấn thăm dò 3D, lần đầu tiên thực hiện theo hợp đồng giữa XNLD là với hãng GECO của Na-Uy vào năm 1991 – 1992
Trong các năm gần đây (2002-2005), nghiên cứu mỏ được thực hiện chủ yếu theo tài liệu khai thác mỏ, kết quả khoan khai thác, tái xử lý và tái minh giải tài liệu địa chấn thăm dò 3D, cùng với một khối lượng hạn chế - theo kết quả thăm dò địa chấn, kết quả khoan thăm dò và khai thác sớm Với mục đích tận thăm dò các vùng
có mức độ nghiên cứu thấp, đã tiến hành khoan ở phía Nam (GK.BH-16, 17, 1201,
Trang 171202), Tây-Nam (BH-18) và trên khối tây (GK BH-11, 12001)
Tổng cộng trên toàn mỏ cho đến nay đã khoan được 17 giếng tìm kiếm-thăm
dò, trong số đó ở 14 giếng đã thu được dòng dầu công nghiệp Mật độ khoan thăm dò
Mỏ Bạch Hổ được đưa vào khai thác từ tháng 6.1986 Dầu được khai thác từ các thân dầu:
- Mioxen dưới - từ 26 06 1986 (giếng BH-1)
- Oligoxen trên - từ 25 11 1987 (giếng BH-700)
- Oligoxen dưới - từ 13 05 0987 (giếng BH-14 )
và 8 giàn nhẹ, với các hệ thống bơm nén khí cho khai thác bằng gaslift và duy trì áp suất vỉa Việc vận chuyển người, vật tư thiết bị thực hiện bằng máy bay trực thăng và tàu biển hoặc xà lan
Nguồn năng lượng trên giàn được cung cấp bởi các động cơ đốt trong
Căn cứ sản xuất của XNLD “Vietsopetro” được đặt ở thành phố Vũng Tàu và được cung cấp năng lượng nhờ hệ thống lưới điện Quốc gia từ các nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 18136
134 133
KimCuongTay Hai Thach
04.3
05.1B 05.1C
13
22 21
20
RongViDai
RongDoi RongBay
11-2
11-1 19
CONOCO
JPVC SOCO
16-2
16-1
15.2 09
Vietsovpetro
Cấu tạo triển vọng
Mỏ dầu
Ký hiệu quy ước
Mỏ khí
Mỏ dầu và khí
Mỏ chuẩn bị khai thác
Mỏ đang khai thác
Trang 19Hình 1: Vị trí của mỏ Bạch Hổ
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊA CHẤT
Mỏ Bạch Hổ nằm ở bồn trũng Cửu Long thuộc đới nâng Trung Tâm, đới nâng chia bồn trũng thành hai cấu tạo bậc hai: cấu tạo phía Đông và cấu tạophía Tây
Trong phạm vi của đới nâng Trung Tâm, Bạch Hổ là cấu tạo đặc trưng và có kích thước lớn Toàn bộ các cấu tạo của đới nâng có cấu trúc phức tạp
Trong cấu trúc địa chất của bồn trũng có trầm tích lục nguyên tuổi từ Oligoxen-Eoxen đến đệ tứ chiếm ưu thế phủ trên móng bằng các bất chỉnh hợp góc
và địa tầng
Số liệu mới của mỏ
Kết quả khảo sát địa chấn 3D tại phần phía bắc cấu tạo, xử lý và minh giải lại tài liệu địa chấn trước đây, tài liệu khoan, thử vỉa các giếng khoan, địa vật lý giếng khoan và nghiên cứu mẫu lõi đã xác định được các nét cơ bản của cấu trúc nghiêng xoay phía Bắc của cấu tạo, chính xác hoá cấu trúc các vùng khác, vị trí và đặc tính các đứt gãy Theo tài liệu khoan các giếng thăm dò và khai thác sớm, mặt cắt địa tầng của mỏ được bổ sung, chính xác hoá về ranh giới địa tầng, đặc trưng phức hệ và các tầng sản phẩm
2.1 Địa tầng
Mặt cắt địa chất mỏ Bạch Hổ theo kết quả khoan gồm các tầng đá móng kết tinh tuổi trước Đệ tam và chủ yếu là đá trầm tích lục nguyên (hình 2) Tổng chiều dày theo chiều thẳng đứng mở vào đá móng là 1990m, của đá trầm tích là 4740m (BH-11)
Móng là đá macma kết tinh hoàn toàn với các đai mạch pocfirit và diabaz anđezit bazal phản ánh tính bất đồng nhất thạch học Theo tài liệu nghiên cứu mẫu lõi
cho thấy đá granite biotit hai mica chủ yếu phân bố trong phạm vi khối Trung Tâm, ở
khối Bắc có granodiorit biotit sáng xám và adamellit chứa nhiều monzonit thạch anh, monzodiorit thạch anh và diorit á kiềm, ở khối Nam có granit (BH-8), granodiorit (BH-17) và monzodiorit thạch anh (BH-7) Đá móng bị biến đổi thứ sinh ở các mức
độ khác nhau Trong số các khoáng vật thứ sinh có zeolit và canxit phát triển mạnh Theo số liệu phóng xạ, tuổi tuyệt đối của đá kết tinh dao động trong khoảng từ 245±7 (Triat muộn) đến 89±3 (Creta muộn) triệu năm
Granitoid ở mỏ Bạch Hổ có độ nứt nẻ và hang hốc cao Những số liệu mới thu được phần lớn xác nhận sơ đồ phân bố đá móng trước đây, còn phần phía nam của khối phía tây theo số liệu nghiên cứu mẫu lõi của giếng khoan BH-11 và mẫu vụn giếng khoan 12001 cho thấy sự phát triển đá có thành phần kiềm là diorit, với đặc trưng thấm chứa thấp Mẫu lõi giếng khoan khai thác 1113 cho thấy ở độ sâu 4900m (-4375m tuyệt đối) có sự chuyển tiếp từ phức hệ đá granit sang đá có thành phần kiềm
Trang 20Đá trầm tích phủ bất chỉnh hợp địa tầng và góc trên móng có tuổi Paleogen, Neogen và Đệ tứ được phân chia trên cơ sở các dấu hiệu thạch học, bào tử phấn, cổ sinh địa tầng theo thang địa phương (từ dưới lên): Trà Cú (Oligoxen dưới), Trà Tân
Trang 2114 Hình 2: Cột địa tầng tổng hợp mỏ Bạch Hổ
Trang 22(Oligoxen trên), Bach Hổ (Mioxen dưới), Côn Sơn (Mioxen giữa), Đồng Nai (Mioxen trên) và Biển Đông (Plioxen không phân chia và Đệ tứ) Sự thay đổi lớn nhất của chiều dày và thành phần thạch học là các tập trầm tích cơ sở có tuổi Olioxen dưới, chúng hoàn toàn vắng mặt trong phạm vi các khối móng nhô cao
SH-BSM và SH-11 gồm xen kẽ các vỉa cát kết và các tập sét kết Cùng với mức độ lún chìm của trầm tích về phía nếp lõm, chiều dày của hệ tầng tăng đồng thời với việc giảm đặc trưng thấm chứa của các vỉa cát kết Ở phần đáy của điệp là cuội và sạn kết với các mảnh đá mỏng, tạo nên tầng lót đáy Trong mặt cắt của điệp có các tầng chứa dầu: VI+VIa, VII+VIII, IX, X+XI, với chiều dày và thành phần đá chứa khác nhau Phần đầu của các tầng sản phẩm nằm kề mặt đá móng Theo kết quả khoan giếng thăm dò mới BH-11 và giếng khai thác nhanh BH-12001 nằm ở vùng phía Tây, tài liệu địa vật lý giếng khoan và thử vỉa đã xác định mức độ nén ép giảm chiều dày và đặc tính thấm chứa của chúng
Theo tài liệu địa vật lý giếng khoan, thử vỉa và khoan các giếng khai thác sớm (BH-1202) và giếng khai thác (BH-1201) ở vùng phía nam thì trầm tích của điệp này cũng có đặc tính thấm chứa thấp, chiều dày các vỉa cát - bột kết không lớn, hàm lượng sét tăng cao Theo tài liệu nghiên cứu mẫu lõi trong đá có lẫn vật liệu núi lửa
các thấu kính cát kết và bột kết được ghép với nhau thành các tập: Ia, Ib, I, II, III, IV,
V Trong một vài tập có các vỉa dầu Trong hàng loạt các giếng khoan đã gặp đá có nguồn gốc núi lửa, thành phần kiềm với chiều dày đạt đến 20m
Tài liệu khoan các giếng khoan mới đã xác nhận quan niệm trước đây về cấu trúc và thành phần của điệp
SH-7 và SH-3 Hệ tầng này gồm các lớp mỏng sét, sét kết, bột kết và cát kết màu xám, xám tối và màu sắc sặc sỡ nằm xen kẽ Trên nóc điệp Bạch Hổ trùng với tầng tựa là tập sét montmolinolit và sét kết phát triển rộng khắp diện tích với tên thông dụng là sét Rotalid Chiều dày tầng này dao động từ 35m (ở phía Nam mỏ) đến 150m (ở một vài giếng khoan phần Đông –Nam) Dưới tầng địa chấn SH-5 trong mặt cắt
tầng sản phẩm 25, 26, và 27 phát triển ở thể các thấu kính riêng biệt
có lớp các đá trầm tích cát kết - bột kết xen kẽ với các tập sét bột kết, sét và than nâu
Không thấy các tầng chúa sản phẩm trong mặt cắt của điệp này
2.2 Kiến tạo
Trang 23Theo tài liệu địa chấn 3D và khoan sâu, cấu tạo mỏ Bạch Hổ là khối nâng địa
thước 28 x 6km và biên độ 1400m theo đường đồng mức khép kín -4450m Do sự hiện diện nhiều đứt gãy nên mỏ có cấu trúc phức tạp bị chia ra nhiều khối
Từ dưới lên trên theo mặt cắt, cấu tạo phẳng dần và giảm dần kích thước Biên
độ đứt gãy giảm dần đến tắt hẳn
Theo tài liệu địa chấn 3D mới thu nổ ở phần tận cùng phía Bắc cấu tạo, các đứt gãy chính tiếp tục kéo dài lên phía Bắc Phần nghiêng xoay được thể hiện bằng sự
tính và vị trí các đường đồng mức
Ở phía tây cấu tạo giới hạn bởi các đứt gãy nghịch F1, F2, F3 được xác định trên các mặt cắt địa chấn và một số các giếng khoan như: 450, 924, 485, 2001, 140, trong đó có sự lặp lại của lát cắt trầm tích Hướng của các đứt gãy nghịch trùng với đường phương của cấu tạo Ở phía Đông, khối nâng được giới hạn bởi các đứt gãy thuận F5, F6, F7 Ở các phần đỉnh chúng được phân chia thành các đứt gãy nhỏ hơn:
F 5.1, F 5.2, F6.2, F6.3 (xem hình 3: hệ thống các khối và các đứt gãy của mỏ)
Móng được chia thành các khối cấu kiến tạo theo các đứt gãy chính có tính đến sự phân bố thạch học của móng
- Khối Tây-Bắc giới hạn ở phía Đông bởi đứt gãy thuận á kính tuyến F8, ở phía Tây và Nam bởi các đứt gãy nghịch F1 và F2, ở phía Bắc bởi đứt gãy thuận lớn F9
- Khối Bắc giới hạn ở phía Đông bởi đứt gãy thuận F5, ở phía Tây bởi đứt gãy F8, ở phía Nam bởi ranh giới thạch học ranh giới thủy động học với khối Trung Tâm
- Khối Trung Tâm giới hạn ở phía Đông bởi các đứt gãy thuận F5 và F5.3, ở phía Tây bởi đứt gãy nghịch F3, ở phía Nam bởi đứt gãy thuận F6.1 và ở phía Bắc bởi ranh giới thạch học
- Khối Đông-Bắc giới hạn bởi các đứt gãy thuận F5, F5.3, F6
- Khối Đông giới hạn bởi các đứt gãy thuận F6, F7, F6.3
- Khối Nam giới hạn bởi các đứt gãy thuận F6.1, F6.2, F6.3 và ở phía Nam bởi ranh giới giả định giới hạn phần cấu tạo đã được nghiên cứu
Trong báo cáo này khái niệm khối cấu- kiến tạo được hiểu là vùng của cấu tạo được giới hạn bởi các đứt gãy lớn và trong một vài trường hợp là ranh giới thạch học của đá (ranh giới giữa các khối phía Bắc và Trung Tâm)
Vị trí các đứt gãy chính trong minh giải tài liệu năm 2005 không có thay đổi lớn Tuy nhiên đặc tính các đứt gãy nhỏ lại thay đổi nhiều
Khối Bắc nằm sâu hơn so với khối Trung Tâm Ở khối này có hai vùng nhô cao mang tính địa phương có kích thước không lớn ở khu vực các giếng khoan 810,
811 và 68 Đứt gãy lớn F4 chia khối này thành hai phần Theo tài liệu địa chấn, bên trong phần phía Tây có một vài đứt gãy phân nhánh biên độ nhỏ Phần phía Đông của khối không có đứt gãy Kích thước khối 3.5 x 6 km
Trang 24Khối Trung Tâm chiếm vị trí cao nhất và có diện tích lớn nhất trên cấu tạo Khối này gồm nhiều khối nâng địa phương nhỏ Theo tài liệu địa chấn, bên trong khối bị chia cắt bởi nhiều đứt gãy biên độ nhỏ có hướng khác nhau và độ dài không lớn Kích thước của khối là 12 x 5 km
Khối Đông Bắc chìm sâu đến 1000m so với khối Trung Tâm, số lượng đứt gãy không nhiều chia cắt thành các khối nhỏ.Đa số các đơn nghiêng lún sâu về phía đông Kích thước của khối là 1.5 x 9km
Khối Đông ngăn cách bởi đứt gãy lớn F6 theo hướng Đông -Bắc ở phía Tây Theo tài liệu địa chấn, trong khối này chỉ có vài đứt gãy không lớn và hai trũng địa phương có độ sâu bề mặt móng đến 5200m
Khối Nam, theo kết quả minh giải tài liệu địa chấn năm 2005 không thấy khép kín ở phía Nam và được giới hạn bởi đường ranh giới giả định của vùng nghiên cứu cấu tạo Bên trong khối có các vùng nâng địa phương và nhiều đứt gãy có hướng và biên độ khác nhau Phía Bắc của khối là phần kết thúc của khối Trung Tâm Kích thước của khối này là 10 x 5 km
Khối Tây-Bắc ở phía Đông nằm kề với đứt gãy thuận F4 hướng về khối phía Bắc Theo số liệu địa chấn, bên trong khối có đứt gãy nghịch lớn và hai đứt gãy thuận chạy ngang và ngắn Bề mặt móng là đơn nghiêng chìm sâu về phía Tây Kích thước khối là 11 x 1.5 km
Cấu tạo của mỏ theo phức hệ Oligoxen dưới có cấu trúc phức tạp hơn Theo số
liệu khoan và địa chấn 3D không có trầm tích của phức hệ này ở phần khối nâng cao
của móng Trầm tích của phức hệ này có chiều dày ổn định ở những chỗ không bằng phẳng mang tính cục bộ của bề mặt móng Phần lớn các đứt gãy phát hiện ở móng đều phát triển cả trong Oligoxen dưới Trầm tích của phức hệ nằm kề trên mặt móng Trên cơ sở đặc điểm cấu tạo, cấu trúc, phức hệ Oligoxen dưới được chia thành ba vùng chứa các thân dầu, đó là vùng phía Bắc, Nam và Tây
Vùng phía Bắc được giới hạn ở phía Nam và phía Tây bằng đường ranh giới vát nhọn của trầm tích Oligoxen dưới kề trên bề mặt móng, còn ở phía Đông giới hạn bởi đứt gãy F6 Bên trong vùng này đã xác lập sự hiện diện của các đứt gãy thuận F4
thành nhiều khối nhỏ: I, II, III Bên trong các khối có nếp uốn nhỏ được hìh thành do điều kiện trầm tích Kích thước các khối này thay đổi từ : 7-10 x 1.5 - 2km, của cả vùng này là 6 x 10 km
Vùng phía Nam giới hạn ở phía Bắc bằng đường gá kề địa tầng vào bề mặt
định -4250m Bên trong khu vực có một vài đứt gãy thuận và nghịch và các nếp lồi nhỏ dạng vòm Kích thước vùng này là 4 x 8 km
Khu vực phía Tây giới hạn ở phía Bắc và Đông bằng đường gá kề địa tầng của phức hệ Oligoxen dưới với bề mặt móng Ở những phần kề liền với móng cấu tạo có dạng đơn nghiêng đổ về phía Tây, chuyển tiếp sang nếp lõm võng Kích thước vùng này là 2 x 4 km
Trang 25Phức hệ Oligoxen trên so với Oligoxen dưới có số lượng và chiều dài các đứt gãy giảm, biên độ của các đứt gãy còn lại cũng giảm, không còn các đứt gãy nghịch Cấu trúc có hình dạng nếp uốn bị phức tạp bởi nếp uốn nhỏ, mũi cấu trúc và bậc thềm Trong phạm vi mỏ, cấu trúc khép kín chỉ ở phần cuối phía Bắc Ở phía Nam có khối nâng mới có chiều sâu thế nằm như ở phần Trung Tâm Trên cơ sở độ chứa dầu khí và kiến tạo của phức hệ Oligoxen trên, cấu trúc được chia thành bảy khu vực (vùng): Trung Tâm, Bắc, Đông- Bắc, Tây-Bắc, Tây, Đông và Nam Ranh giới giữa các khu vực mang tính ước lệ và liên quan đến ranh giới phát triển các tập cát kết
Vùng Bắc bao gồm phần phía Bắc của cấu trúc, trong đó có thấy sự hình thành vòm độc lập khép kín theo bình độ -2975m Ngoài ra, vùng này còn có một số các nếp lồi nhỏ Các đứt gãy đơn lẻ, biên độ nhỏ và không kéo dài Kích thước vùng 5.5 x
7 km
Vùng Trung Tâm được phân ra xung quanh một nếp uốn có khép kín ở bình
độ -3025 m Theo tài liệu địa chấn, bên trong vùng có các đứt gãy biên độ nhỏ, độ dài không lớn và rất nhiều nếp uốn nhỏ làm phức tạp cấu trúc của cấu tạo Ranh giới phía Bắc được vạch sát với đường bình độ khép kín -3025 m, ở phía Nam, Đông, và Tây theo các đường ước lệ
Vùng phía Nam phân ra xung quanh nhóm các nếp lồi biên độ nhỏ Theo tài liệu địa chấn, trong vùng có các đứt gãy biên độ nhỏ, ngắn Các vùng phía Tây và Đông bao gồm phần cánh của cấu tạo
Theo phức hệ Mioxen dưới hướng cấu tạo gần trùng với á kinh tuyến Số lượng đứt gãy giảm nhiều hơn, góc đổ ở phần cánh cấu tạo giảm, hình thành ba vòm khá rõ ràng: Bắc, Trung Tâm và Nam Tất cả các vòm này bị phức tạp bởi các đứt gãy ngắn
Thông tin thu nhận được về cấu - kiến tạo mỏ cho phép rút ra các kết luận sau:
- Cấu trúc mỏ phát triển thừa kế Điều này được thấy khi quan sát vị trí vòm cấu tạo của tất cả các phức hệ, sự thay đổi chiều dày các phức hệ từ đỉnh đến phần rìa, sự giảm dần của góc đổ các tầng giảm từ dưới lên trên theo mặt cắt, sự giảm số lượng và biên độ các đứt gãy
- Trên cơ sở phân tích sự phát triển cấu tạo đã xác lập sự có mặt ba tầng cấu trúc: dưới-móng trước đệ tam, trung gian và tầng nền bên trên;
- Tầng cấu trúc phân cách nhau bằng các bất chỉnh hợp;
- Cấu tạo bị phân chia bởi đứt gãy các loại và có cấu trúc phức tạp
2.3 Công tác thăm dò địa chất
Công tác thăm dò địa chấn
nghiêng xoay phía Bắc mỏ Bạch Hổ Ngoài ra, công ty Golden Pacific Group đã thực hiện xử lý lại các tuyến địa chấn 3D theo chương trình dịch chuyển chiều sâu trước khi cộng PSDM cho toàn bộ mỏ với khối lượng 4842km tuyến
Trang 26Năm 2004 đã tiến hành xử lý tài liệu địa chấn mới 3D thu nhận năm 2003 với
(đã xây dựng các bản đồ cấu trúc mới theo các tầng địa chấn SH-BSM, SH-10, và SH-5) và bản đồ chiều dày giữa các tầng SH-10 và SH-BSM
Năm 2005 tiến hành minh giải lại tài liệu địa chấn thu được sau khi xử lý theo chương trình PSDM, kết quả đã xây dựng chính xác hơn bản đồ của các tầng SH-5,
7, 10 và BSM
So sánh với trước đây đã chính xác lại cấu trúc, vị trí và hướng của các hệ thống đứt gãy
Công tác khoan thăm dò và khai thác
Trong giai đoạn 2002-2005 khối lượng khoan thăm dò trên mỏ đạt 9690m Đã khoan giếng thăm dò BH-11, kết thúc thử vỉa giếng BH-18 và bắt đầu khoan giếng thăm dò BH-23 (giếng khoan đạt chiều sâu 4308m tại thời điểm tới ngày 01.01.06) Năm 2001 đã khoan giếng BH-18, giếng phải đóng tạm thời trong thời gian dài trước khi tiến hành thử vỉa Đã nhận được dòng dầu không lớn từ phần dưới móng, từ phần trên nhận được dòng dầu tự phun với lưu lượng ban đầu là 47 tấn/ngày đêm, tăng lên
120 tấn/ngày đêm trong quá trình khai thác
Trên cơ sở vị trí giếng khoan đã được các bên tham gia phê duyệt [8], giếng BH-11 được khoan trên khối phía Tây của mỏ đến chiều sâu 5652m với mục đích thăm dò các vỉa dầu trong trầm tích Oligoxen Giếng được khoan xiên từ giàn nhẹ BK-7 với khoảng cách lệch ngang theo bề mặt móng là 1750m Giếng khoan đã khoan qua đá trầm tích và gặp móng ở độ sâu 5356m (-4748m) Đá móng kết tinh là diorit Giếng khoan không gặp đứt gãy nghịch như dự đoán Trầm tích Oligoxen được mở ra ở chiều sâu từ 3995m (-3392m) đến chiều sâu 5120m (- 4514m) Lát cắt Oligoxen gồm xen kẽ đơn điệu giữa sét, sét kết với số ít các lớp mỏng bột kết và cát kết Từ chiều sâu 5120m hàm lượng cát tăng lên và xuất hiện các vỉa cát kết có chiều dày lớn hơn so với lát cắt phía trên
Từ chiều sâu 5208m (-4600m) có thấy sự phát triển của các vỉa cát với chiều dày 10-25m đặc trưng cho trầm tích Oligoxen dưới Theo số liệu phân tích tài liệu địa vật lý giếng khoan đã phân chia đá chứa dầu có tổng chiều dày hiệu dụng là 38m Chiều dày toàn bộ trầm tích trầm tích Oligoxen dưới đã mở là 145m, Oligoxen trên là 1208m
Sau khi kết thúc khoan đã tiến hành thử vỉa trong thân trần ở khoảng chiều sâu 5380-5652m (-4772-5041m) bằng gazlif trong 24 giờ Tài liệu thử vỉa trong thời gian ngắn cho thấy không nhận được dòng dầu từ móng, mặc dù trong khi khoan ở phần
Trong quá trình đặt cầu xi măng đã xẩy ra sự cố mà không khắc phục được, vì vậy các vỉa cát kết Oligoxen không được thử
Trang 27Giếng 1201 khoan ở phần rìa phía Nam cấu tạo với mục đích tận thăm dò các vỉa dầu trong trầm tích và móng Giếng được khoan nghiêng từ chân đế (OB-1) Khoảng cách lệch ngang tới vị trí gặp bề mặt móng là 1060m về phía Tây Móng đã thử ở chiều sâu 4005-4694m (-3799-4400m) Thu được dòng dầu yếu
Theo tài liệu xử lý và minh giải mới, giếng đã được khoan vào móng ở vùng đứt gãy thuận có biên độ trên 200m và đi vào khối sụt phía Tây là nguyên nhân cho dòng kém của móng Không thu được dòng dầu từ trầm tích Oligoxen
Giếng 1202 cũng được khoan ở phần rìa phía Nam cấu tạo với mục đích tận thăm dò các vỉa dầu trong các tầng trầm tích và móng từ chân đế OB-1 Kết quả thử vỉa móng và các vỉa cát kết Oligoxen cho dòng dầu yếu
Giếng 12001 được khoan ở khối phía Tây với mục đích tận thăm dò các vỉa dầu trong trầm tích Oligoxen Bề mặt móng được mở ở chiều sâu 4692m (-4585m), trầm tích Oligoxen dưới ở độ sâu 4425m (-4318m) Giếng này không gặp đứt gãy nghịch Khi thử vỉa chung cho móng và trầm tích Oligoxen dưới đã không nhận được dòng dầu Theo tài liệu địa vật lý giếng khoan trong giếng 12001 đá chứa trong trầm tích Oligoxen giảm đáng kể chỉ còn lại 3m
Cấu trúc các giếng đã khoan trong giai đoạn 2002-2005 là cấu trúc chuẩn đã được sử dụng trong các năm trước
Trong giai đoạn từ báo cáo tính lại trữ lượng lần trước tới nay đã khoan 36 giếng khai thác với tổng khối lượng là 150879m, trong đó 35 giếng đã mở vào móng
Có 3 giếng đã khoan đến chiều sâu trên 5000m, 6 giếng có đáy từ 4500m đến 5000m,
14 giếng từ 4000m đến 4500m, 13 giếng đến 4000m
Tất cả các giếng đã khoan phản ánh trạng thái hiện thời của các thân dầu Cấu
trúc các thân dầu và mức độ sản phẩm của các vùng được chính xác theo tài liệu thu được
Mẫu lõi được lấy trong các giếng khoan thăm dò và khai thác với khối lượng hạn chế 135m (thu hồi 122m) Trong giai đoạn 2002-2005 không lấy mẫu từ trầm tích Mioxen dưới, từ tầng trầm tích Oligoxen trên 3m, từ Oligoxen dưới -44m, từ móng -75m đạt 63,8% tổng số mẫu lõi lấy được
Tính đến ngày 01.01.2006 trên mỏ Bạch Hổ đã khoan 274 giếng, trong đó 17 giếng thăm dò, 6 giếng khai thác nhanh và 242 giếng khai thác, trong số này 02 giếng khoan thân hai (475 và 474), 04 giếng khoan sâu thêm vào móng (69B, 121B, 136B,
Trang 28818B) Trong quĩ giếng đã khoan đã hủy 30 giếng, đóng 8 giếng, 11 giếng quan sát,
22 giếng không hoạt động, 41 giếng sử dụng bơm ép, 152 giếng đang khai thác, một
giếng đang thử vỉa (5001), những giếng còn lại không đưa vào quĩ giếng do những
nguyên nhân khác nhau
Trong số các giếng khoan thăm dò có 10 giếng hủy sau khi thử do nguyên
nhân địa chất, được xem đã hoàn thành nhiệm vụ, bốn giếng đưa vào quĩ khai thác,
một giếng vào quỹ bơm ép và hai giếng đóng do không có công trình biển
Trong số các giếng khai thác đã hủy 19 giếng, 11 giếng đưa vào quan sát, 22
giếng không hoạt động, 40 giếng chuyển sang quĩ bơm ép và 148 giếng vào quĩ khai
thác đang hoạt động
Phương pháp, kết quả thử vỉa và khảo sát giếng
Các giếng khoan vào các đối tượng khai thác trong giai đoạn 2002-2005 được
thực hiện trong điều kiện địa chất mỏ phức tạp Trong các đối tượng khai thác, áp
suất vỉa hiện thời giảm thấp hơn áp suất thủy tĩnh qui ước Trong khi đó ở trầm tích
Khoan mở móng thường kèm theo mất dung dịch mạnh Ngăn cách đất đá đã
khoan qua bằng ống chống thực hiện trong các giếng khai thác đến bề mặt móng hoặc
thấp hơn từ 10-15m, đối với các giếng bơm ép thấp hơn chiều sâu 4000m Do cấu
trúc giếng khoan, việc thử vỉa móng nói chung được tiến hành trong thân trần có sử
dụng chất lỏng tạo bọt hoặc gaslift
Trong trường hợp thân giếng khoan trong móng được chống ống, mở vỉa thực
hiện bằng bắn mìn Bắn mìn cũng được áp dụng cho tất cả các đối tượng trầm tích
Trong trường hợp dòng dầu yếu có áp dụng các phương pháp tăng cường như:
xử lý axit, tạo áp bằng thuốc nổ, bắn mìn lặp lại, vỡ vỉa thủy lực
Giai đoạn 2002-2005 đã thử 112 đối tượng kể cả việc chuyển đối tượng
Bảng 1
KHỐI LƯỢNG THỬ VỈA Ở CÁC PHỨC HỆ CHỨA SẢN PHẨM
Số lượng đối tượng thử
Trang 29Kết quả thử vỉa: 19 đối tượng không cho dòng, 40 đối tượng cho dòng dầu lẫn nước,
6 đối tượng cho dòng nước, 45 đối tượng cho dòng dầu, các đối tượng còn lại cho dòng yếu
Bảng 2
KẾT QUẢ THỬ VỈA Kết quả nhận được dòng theo các đối tượng
Trong quá trình thử vỉa ở các giếng khoan đã tiến hành tổ hợp nghiên cứu nhiệt-
động học bắt buộc được thực hiện và theo khả năng, điều kiện cụ thể các phương đo mặt cắt nhiệt, PLT được sử dụng Cần lưu ý rằng, hiện nay sử dụng phổ biến áp kế
điện tử có độ chính xác cao để đo áp suất vỉa và áp suất đáy giếng Khối lượng lớn các nghiên cứu được thực hiện chủ yếu trong các giếng khoan cho móng mỏ Bạch Hổ
không ổn định, đo áp suất, nhiệt độ theo khoảng dọc thân giếng khoan cũng được
thực hiện trong các giếng khoan Minh giải số liệu đường cong phục hồi áp suất được tiến hành nhờ chương trình Pansystem cũng như sử dụng tổ hợp chương trình
Trang 30“Weltest” của công ty Schlumberger Đối với mỗi giếng khoan, các phương pháp xử
lý khác nhau được áp dụng để kiểm tra kết quả tính toán, minh giải
Việc ghi mặt cắt dòng chất lưu và mặt cắt tiếp nhận cho phép thu được số liệu
về khoảng làm việc trong các giếng khai thác và bơm ép Trước khi áp dụng rộng phương pháp PLT bao gồm đo dòng, đo mật độ và đo nhiệt độ, việc xác định khoảng làm việc trong giếng khoan trước đây được tiến hành bằng phương pháp đo nhiệt độ
3 NHỮNG SỐ LIỆU MỚI VỀ ĐẶC TRƯNG ĐÁ TRẦM TÍCH
Trong trầm tích với bề dày lớn nhất đã xác định được là 4500m, các tầng và vỉa sản phẩm nằm trong những phân vị địa tầng Oligoxen dưới, Oligoxen trên và Mioxen dưới
Trầm tích Oligoxen dưới được nghiên cứu theo mẫu lõi lấy từ 25 giếng Giai đoạn 2002-2005 khoan lấy mẫu bổ xung là 45.8m, mẫu lấy được 44.3m từ các giếng: BH-711, BH-1019, BH-BH-1202, BH-12001 Những số liệu mới về đặc điểm thạch học-trầm tích của đá bao gồm các kết quả phân tích độ hạt và nhiễu xạ Rơnghen
Theo số liệu nghiên cứu thạch học-trầm tích, đá chứa của phức hệ nêu trên là cát kết hạt nhỏ-trung đến thô, chọn lọc trung bình-tốt, thuộc loại acco, grauvac-thạch anh và grauvac-fenspat với ximăng sét, sét-cacbonat, đôi khi cacbonat, phân lớp mỏng và dạng khối Trong đá rất phát triển thạch anh tái sinh và tiếp xúc chỉnh hợp, đôi khi theo đường khâu các hạt, tại khoảng giữa các hạt có những khoáng vật thứ sinh như clorit, zeolit v.v… Theo tài liệu của Viện dầu khí Việt Nam thì hệ số sắp xếp hạt khoảng 0.9; các tiếp xúc nguyên sinh của hạt chiếm tỉ lệ rất nhỏ Biến đổi thứ sinh làm giảm tính thấm chứa ban đầu của trầm tích Oligoxen dưới, dẫn đến tính di dưỡng thấp của đá, trong đó rỗng thứ sinh (khe nứt và hang hốc) giữ vai trò nhất định trong cấu trúc đá chứa
Đá chắn là sét bột kết, bột kết chứa nhiều sét, màu đỏ, loang lổ và xám, chứa vôi và kết hạch cacbonat thực vật Các khoáng vật sét chủ yếu là hydromica và clorit, sét phân lớp hỗn hợp montmorilonit-hydromica chiếm thứ yếu
Trong thành phần sét đa số là các khoáng vật không trương nở, sự phân tán không đều và không đồng nhất cấu trúc do lẫn nhiều vật liệu mảnh và cacbonat dòn,
có dạng vỏ hoặc tấm và khe nứt nhỏ cho thấy tập chắn Oligoxen dưới có chất lượng thấp
Trầm tích Oligoxen trên được nghiên cứu theo mẫu lõi lấy từ 13 giếng khoan Mặt cắt là các xen lớp sét kết (chiếm 40-70% chiều dày), bột kết, cát kết và ít dạng đai mạch đá núi lửa thành phần bazơ dày tới 20m và các lớp than mỏng
Theo kết quả nghiên cứu thạch học-trầm tích, đá chứa là cát kết hạt nhỏ, chọn lọc tốt với ximăng sét và sét-cacbonat dạng khối hoặc phân lớp mỏng Theo tài liệu của Viện dầu khí Việt Nam thì hệ số sắp xếp hạt dao động trong phạm vi 0.78-0.87; tiếp xúc nguyên sinh giữa các hạt chiếm dưới 15% Cát kết là collectơ có độ rỗng nguyên sinh giữa hạt với một vài phần khe nứt và hang hốc thứ sinh
Trang 31Đá chứa là cát kết hạt nhỏ, độ chọn lọc từ trung bình đến tốt với ximăng sét và sét-cacbonat, gắn kết yếu đến trung bình, thành lớp mỏng, ít khi dạng khối, bị ép nén yếu, rỗng; trong đá hầu như không có thành tạo khoáng vật thứ sinh Theo tài liệu của Viện dầu khí Việt Nam, hệ số sắp xếp hạt dao động trong khoảng 0.55-0.75; tiếp xúc nguyên sinh của hạt chiếm ưu thế - từ 65 đến 44%
Đá chắn là sét và sét kết, chiếm 35-60% tổng chiều dày của mặt cắt Các khoáng vật sét gồm: kaolinit, hydromica, phân lớp hỗn hợp mà chủ yếu là các thành tạo montmorilonit-hydromica và montmorilonit Ở phần mái của mặt cắt trầm tích Mioxen dưới có một tập sét kết chứa cát và sét thành phần chủ yếu là montmorilonit với bề dày tới 150m, là tầng chắn rất tốt cho toàn bộ lát cắt
Không gian rỗng của đá trầm tích được nghiên cứu theo phương pháp bơm nhựa màu của 164 mẫu lấy từ 24 giếng So với số liệu 01.01.2002 đợt này bổ sung thêm của 25 mẫu
Tầng Oligoxen dưới có số lượng mẫu phân tích nhiều nhất – 121 lấy từ 16 giếng Theo kết quả nghiên cứu, độ rỗng giữa hạt của đá chứa vượt trội hơn rỗng nứt
nẻ
Phức hệ Oligoxen trên được nghiên cứu qua 27 mẫu lấy từ 6 giếng Độ rỗng trung bình là 9.35% So với trầm tích Oligoxen dưới, thì tỉ lệ giữa rỗng hang hốc so với rỗng khe nứt thay đổi rõ rệt theo hướng rỗng khe nứt giảm mạnh, chỉ còn 17%
Các số liệu mới trong giai đoạn 2002-2005 được xác định theo mặt cắt ở một giếng khoan BH-12001 nằm ở vùng phía tây
Trầm tích Mioxen dưới được nghiên cứu theo 16 mẫu lấy từ 11 giếng; giai đoạn 2002-2005 không có số liệu mới
Trong giai đoạn 2002-2005 các tầng sản phẩm Oligoxen dưới có thêm số liệu nghiên cứu mẫu lõi mới
Bảng 4
CẤU TRÚC ĐỘ RỖNG HỞ CỦA CÁT-BỘT MỎ BẠCH HỔ THEO MẪU
LÁT MỎNG (VỤN) NHUỘM MÀU
Độ rỗng, % Giếng khoan
Mioxen dưới
Trang 323, 6, 7, 10, 12, 15, 93, 116,
11,61 (16) 4,07-18,94
1,92 (16) 0,75-7,09
Oligoxen trên
0,80-15,50
7,69 (27) 0-15,10
1,66 (27) 0-6,75
4,39 (121) 0-18,63
2,97 (121) 0-8,8
Trong số các vỉa chưa xác định phức hệ trầm tích thuộc vùng phía Nam, đã lấy mẫu lõi tại khoảng sâu 3964.0-3968.3m ở giếng BH-1202 Độ rỗng được xác định theo 2 mẫu cát kết cho kết quả là 16.62 và 19.07%, trong đó rỗng giữa hạt chiếm đa
số tuyệt đối Kích thước lỗ rỗng 0.012-0.45mm, khe nứt rộng 0.003-0.22mm, dài 0.75mm
0.4-Tại khoảng chiều sâu 4027.0-4035.0m 1 mẫu cát kết được nghiên cứu, độ rỗng
đo được là 2.74% Tại giếng BH-711 thuộc vùng phía Bắc trong khoảng sâu 4171.5m đã phân tích 10 mẫu cát kết thuộc tầng VIII Kết quả cho thấy độ rỗng trung bình là 10.59%, kích thước lỗ rỗng – 0.005-0.55mm, bề rộng khe nứt 0.003-0.1mm, dài 0.04-2.5mm Mẫu lõi là một tập cát kết đồng nhất chứa ít bột và sét
4162.0-Tại giếng BH-12001, trong trầm tích Oligoxen dưới ở vùng phía Tây, mẫu lõi lấy tại độ sâu 4603.0-4611.0m là cát kết hạt thô, không đều, sạn kết và cuội kết chặt xít, gắn kết chắc bằng ximăng sét và sét-cacbonat Theo kết quả phân tích 6 mẫu, đá
có độ rỗng thấp (1.32-7.72%, trung bình 4.69%); kích thước lỗ rỗng – 0.008-0.75mm, chiều rộng khe nứt 0.004-0.024mm, chiều dài 0.06-8.5mm; tại 3 mẫu, độ rỗng khe nứt chiếm tỉ lệ trên 50%
Tại giếng BH-711 ở vùng phía bắc, mẫu lõi lấy được trong khoảng sâu 4328.0m ứng với tầng X
4318.0-Đá chứa được xác định theo 1 mẫu cát kết có độ rỗng là 9.4%; kích thước hang hốc 0.006-0.36mm, chiều rộng khe nứt 0.003-0.1mm, dài 0.1-5.95mm Đá chắn cũng xác định theo 1 mẫu bột sét kết có độ rỗng là 0.73%
Điều đáng chú ý là tỉ lệ giữa độ rỗng giữa hạt và rỗng khe nứt trong các lát cắt vừa xem xét khác hẳn so với số liệu tỷ lệ trung bình của toàn tầng Oligoxen dưới Trong 76% tổng số mẫu (19 trên tổng số 25) rỗng khe nứt chiếm không quá 20% Trong một vài mẫu tại giếng khoan BH-1202, tầng-IX tại giếng BH-12001, tầng-X tại giếng BH-711, độ rỗng khe nứt chiếm tỉ lệ tương đối lớn – 30-60% và hơn nữa trong đó các mẫu cá biệt này thường là bột kết chứa nhiều sét với độ rỗng chung nhỏ