Đối với nhóm khách thể nghiên cứu là các hộ gia đình di dân – TĐC thủy điện Tuyên Quang nói chung và học sinh thuộc các hộ gia đình này nói riêng, mặc dù chưa có những nghiên cứu, đánh [r]
Trang 1Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các
hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh –
huyện Chiêm Hóa – tỉnh Tuyên Quang)
Mai Thị Hiệp
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn Thạc sĩ ngành: Công tác xã hội; Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn: PGS.TS Hoàng Thu Hương
Năm bảo vệ: 2014
Keywords Công tác xã hội; Hỗ trợ giáo dục; Hệ thống nguồn lực; Hộ gia đình tái định cư
Content
1 Lý do chọn đề tài:
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nghèo với trên 20 dân tộc anh em cùng sinh sống như Tày, Nùng, Dao, H'Mông Theo các số liệu báo cáo, thống kê của tỉnh thì hiện nay tại Tuyên Quang còn rất nhiều các hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và các hộ gia đình dân tộc thiểu số có điều kiện sống khó khăn Do đó, học sinh thuộc các hộ gia đình này còn gặp rất nhiều vấn đề khó khăn, thiếu thốn và nhiều nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng
Đặc biệt tại một số địa phương trong tỉnh còn một bộ phận dân cư là các gia đình thuộc vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại địa phương mới để phục vụ cho việc xây dựng nhà máy thủy điện Tuyên Quang Theo kết quả thống kê của ban di dân thì tổng số có 4.193 hộ, 20.138 khẩu phải di chuyển TĐC thuộc 88 thôn bản, tổ dân phố chiếm 29,5% so với tổng số 298 thôn, bản của toàn huyện Na Hang (nơi xây dựng thủy điện Tuyên Quang) Việc di dời, TĐC tại nơi ở mới kéo theo rất nhiều những thay đổi về phong tục, tập quán, nguồn sinh kế, lối sống, môi trường, văn hóa, giáo dục
Thực tế cho thấy đời sống của các hộ gia đình sau TĐC gặp khó khăn về nhiều mặt: việc làm, thu nhập, học hành của con em các hộ gia đình, việc học nghề của đa số người dân TĐC Nguyên nhân là do các dự án, các chương trình TĐC chỉ mới quan tâm chăm lo cho vấn đề nhà ở của người dân mà chưa chú trọng đến yếu tố kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội và môi trường khác
Trong đó vấn đề hỗ trợ giáo dục nhằm cải thiện trình độ học vấn và giải quyết các vấn đề khác tồn tại trong học đường của học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vẫn chưa thực sự được quan tâm nhiều Hiện nay, tại một số trường có điểm TĐC trong tỉnh vấn đề học vấn và các vấn đề tồn tại trong học đường đang diễn ra thực trạng cấp bách, rất đáng được quan tâm giải quyết như: tình trạng nghỉ học, bỏ học sớm, chuyển trường, kết quả học tập kém hay vấn đề hòa nhập ở trường Do đó rất cần những chương trình, chính sách hộ trợ của tỉnh và chính quyền địa phương, và hơn hết là sự quan tâm đặc biệt của các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng nhằm giải quyết tình trạng này
Trang 2Nhận thấy, công tác xã hội có thể ứng dụng phương pháp phát triển cộng đồng để hỗ trợ các hoạt động học tập, giải quyết các vấn đề tại học đường, đồng thời cải thiện tình trạng học vấn cho nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC Cùng với việc sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng
đồng, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng
nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh – Chiêm Hóa – Tuyên Quang)
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tại Việt Nam, từ khi chính sách đổi mới kinh tế năm 1986 của Đảng và Nhà nước được đưa vào thực hiện và có hiệu quả đã xuất hiện tình trạng di dân và số lượng di dân tăng đột biến vào những năm 1990 trở lại đây Quá trình di dân tại Việt Nam đã kéo theo rất nhiều hệ quả Trước hết là mặt tích cực, các loại hình di dân đã có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội như tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống cho người di cư cũng như gia đình của họ rất nhiều hộ gia đình ở nông thôn có cuộc sống rất khó khăn, không có việc làm, nhưng sau khi di dân lên thành phố họ đã giải quyết được vấn đề việc làm, thu nhập và ổn định cuộc sống hơn Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì quá trình di cư này cũng đã để lại nhiều hậu quả đáng tiếc cho xã hội Trước hết, vấn đề di cư đã gây xáo trộn dân cư cho cả nơi xuất cư và nhập cư, đồng thời việc di cư từ nông thôn lên thành phố tăng nhanh kéo theo các vấn đề về việc làm, nhà ở, các công trình công cộng cùng với nhiều tệ nạn xã hội khác Đây là những vấn đề bức xúc cho toàn xã hội Trước những thực trạng đó, đã có rất nhiều nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu về vấn đề di
cư trong nước để đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất cho sự phát triển bền vững Cho đến nay ở Việt Nam đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về di dân Nhìn chung, những công trình này đã nghiên cứu di dân trên nhiều lĩnh vực
Trước hết phải kế đến những nghiên cứu đưa ra được cái nhìn tổng quan nhất về di dân ở
Việt Nam Đầu tiên là nghiên cứu “Di dân của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX” của Đặng Thu
được đăng trên phụ san tạp chí nghiên cứu lịch sử, Hà Nội, khoa học xã hội, năm 1993; hay nghiên
cứu của Guest, Philip về “Động lực di dân nội địa ở Việt Nam” năm 1998; và cũng phải kể đến nghiên cứu “Nghiên cứu di dân ở Việt Nam” do Đỗ Văn Hòa – Trịnh Khắc Thẩm cùng tiến hành
nghiên cứu vào năm 1999 Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu chỉ xoay quanh những vấn đề như : Nguyên nhân, thực trạng, hệ quả của di cư, đặc biệt là những nghiên cứu về nguyên nhân chỉ mới xem xét trên góc độ kinh tế việc làm mà chưa đề cập nhiều đến những tác động về mặt văn hoá -
xã hội hay vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di dân
Về sau đã có thêm nhiều nghiên cứu về di cư xem xét đến những góc độ khác như ảnh hưởng
của yếu tố văn hóa – xã hội đối với di cư Nổi bật trong số đó là nghiên cứu: “Vai trò của mạng lưới
xã hội trong di dân” của tác giả Đặng nguyên Anh, đăng trên tạp chí xã hội học số 2 năm 1998 Có
thể nói mạng lưới xã hội là một nhân tố quan trọng quyết định đến toàn bộ quá trình di cư Ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với di cư khác nhau theo đặc điểm cá nhân và hộ gia đình, cũng như khác biệt giữa nam và nữ Do đó, nghiên cứu về vai trò của mạng lưới xã hội đối với di cư đã chỉ ra được nguyên nhân, xu hướng di cư và sự hòa nhập của cư dân tại nơi chuyển đến Liên quan đến vấn
đề nghiên cứu này còn có đề tài “nhóm không chính thức của người lao động ngoại tỉnh ở Hà Nội”
của tác giả Vũ Dũng đăng trên tạp chí tâm lý học Một điều đáng quan tâm ở đây là những nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến vai trò của mạng lưới xã hội như một nguyên nhân cũng như chức năng trợ giúp về chỗ ở, việc làm, thu nhập…lại rất ít hay chưa đề cập nhiều dến vấn đề tác động về mặt văn hoá xã hội như tác động về mặt nhận thức, tâm lý, tư tưởng, truyền thống, phong tục tập quán…
Song song với vấn đề di dân thì việc TĐC tại nơi đến cũng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Do đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến TĐC được tiến hành:
Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu “Tái định cư bắt buộc” của Ngân hàng phát triển châu Á
thực hiện năm 1995 Theo nghiên cứu này thì việc TĐC bắt buộc được xác định như là chính sách đền bù và hỗ trợ ổn định lại cuộc sống Một nghiên cứu nữa về vấn đề TĐC cũng rất đáng được quan
tâm đó là “Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn” của tiến sỹ Phạm Mộng
Trang 3Hoa và tiến sỹ Lâm Mai Lan, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2000 Đây là những nghiên cứu về các
cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng TĐC nói chung
Ngoài ra cũng có những nghiên cứu về sinh kế của người nghèo TĐC Cụ thể, năm 2007,
Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị thực hiện dự án "Nghiên cứu về sinh kế của người
nghèo sau tái định cư tại Hà Nội” với sự tài trợ của Mennonite Central Committee (MCC) Nghiên
cứu này xem xét việc làm thế nào người dân nghèo thích nghi với cuộc sống mới này, những khó khăn họ phải đối diện và họ cần được hỗ trợ như thế nào để phát triển sinh kế bền vững Bằng phương pháp tiếp cận nhân chủng học, nghiên cứu đã có được một cái nhìn sâu vào đời sống của người nghèo thông qua những câu hỏi về cuộc sống hàng ngày của họ trước và sau khi TĐC Hiểu được những điều này là nền tảng để xây dựng nên các chương trình phát triển hỗ trợ người nghèo TĐC Nghiên cứu hướng tới đối tượng độc giả là các tổ chức chính phủ và phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phát triển đô thị Đồng thời, các kết quả nghin cứu cũng sẽ là cơ sở để trung tâm hành động vì sự phát triển Đô thị xây dựng nên các chương trình hỗ trợ người nghèo ổn định TĐC
Những năm gần đây nước ta có nhiều công trình có quy mô lớn như thuỷ điện Sơn La, thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Bản Vẽ (Nghệ An), thuỷ điện Tuyên Quang đòi hỏi phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, truyền thống văn hoá của cộng đồng Đời sống của các hộ gia đình sau khi di dời, TĐC tại nơi ở mới tồn tại rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, xem xét Chính vì vậy trong nước đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá riêng liên
quan đến nhóm hộ gia đình di dân do các dự án thủy điện
Trước hết là một số nghiên cứu, đánh giá, bài viết chung về thực trạng đời sống
của các hộ dân sau khi TĐC tại nơi ở mới, như nghiên cứu “Chính sách di dân tái định cư các công
trình thuỷ điện ở việt nam từ góc độ nghiên cứu xã hội” của PGS.TS Đặng Nguyên Anh được đăng
trên tạp chí DS&PT (số 6/2007) Nghiên cứu đưa ra cái nhìn chung nhất về thực trạng công tác TĐC tại các dự án thủy điện, những khó khăn trong quá trình quy hoạch và công tác chuyển dân; đồng thời đề cập đến một số vấn đề về cơ chế quản lý và chính sách bồi thường, hỗ trợ TĐC; đề xuất một
số giải pháp khắc phục được các bất cập nói trên và đảm bảo di dân TĐC bền vững
Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiều thực trạng, nhu cầu và giải quyết một
số vấn đề, khía cạnh riêng của nhóm gia đình sau khi di dân- TĐC của các dự án thủy điện Điển hình nhất là các nghiên cứu về sinh kế, nhằm điều tra, đánh giá, tìm hiểu các thông tin về hoạt động
kinh tế, nguồn thu nhập… như nghiên cứu “sinh kế của cộng đồng dân tái định cư vùng lòng hồ
sông Đà, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La” của nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy
sản 1, nghiên cứu đã thực hiện điều tra đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội, tìm các thông tin về kinh
tế hộ gia đình, nguồn thu nhập từ nông nghiệp hay khai thác nuôi trồng thủy sản và các nguồn lực sẵn có tại địa phương ở cộng đồng dân tái định cư vùng lòng hồ sông Đà, Phù Yên, Sơn La Qua đó, chỉ ra được những khó khăn của người dân TĐC, chỉ ra được giải pháp cải thiện sinh kế và bảo tồn
bền vững nguồn lợi thủy sản cho cộng đồng này Hay nghiên cứu “ Tác động của các dự án thủy
điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hóa của người dân tái định cư” của PGS.TS Trần Văn Đạo
được công bố trên Tạp chí Dân tộc học, số 2-2011, tr.11-19 Bài viết hạn chế trong việc đánh giá
ban đầu tác động tích cực và tiêu cực của thuỷ điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hoá của các cộng đồng TĐC là người dân tộc thiểu số, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp làm cơ sở cho hoạch định và xây dựng chính sách tái định cư thủy điện Tây Nguyên thời gian tới…
Ngoài ra cũng có những nghiên cứu phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý, xã hội đến
sự thích ứng với môi trường sống của các hộ gia đình di cư trong các dự án thủy điện, hệ thống hóa các lý luận về thích ứng, phân tích và làm sáng tỏ sự thích ứng của dân di cư vùng thủy điện Sơn La,
đề xuất kiến nghị nhằm giúp dân di cư thích ứng nhanh với điều kiện sống mới, như: luận văn tiến sĩ
của Nguyễn Văn Hồng – năm 2012 “nghiên cứu sự thích ứng với điều kiện sống mới của dân di cư
vùng thủy điện Sơn La” bài viết “Ảnh hưởng của thủy điện Sơn La đến công tác tổ chức quản lý và
cố kết cộng đồng của người Thái” của tác giả Vũ Hải Vân được công bố trên tạp chí dân tộc học số
3- 2011, nghiên cứu nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố văn hóa truyền thống của người dân tộc thái
Trang 4Đối với nhóm khách thể nghiên cứu là các hộ gia đình di dân – TĐC thủy điện Tuyên Quang nói chung và học sinh thuộc các hộ gia đình này nói riêng, mặc dù chưa có những nghiên cứu, đánh giá riêng nhằm phân tích, tìm hiểu và giải quyết những vấn đề khó khăn của họ nhưng học sinh thuộc các hộ gia đình cũng phần nào nhận được những chính sách quan tâm, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương về giáo dục Như việc triển khai thực hiện có hiệu quả và đúng quy định Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ về miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các trường học để trẻ em nói chung và trẻ em con hộ nghèo, cận nghèo và hộ dân tộc thiêu số nghèo nói riêng
có điều kiện học tập thuận lợi; ưu tiên đầu tư trước cho các cơ sở trường, lớp học ở các xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới, mở rộng “Quỹ khuyến học” các cấp…con em một số hộ gia đình TĐC cũng được áp dụng chính sách giáo dục đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo
Đề tài nghiên cứu “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ giáo dục
cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu
tại xã Phúc Thinh – Chiêm Hóa – Tuyên Quang), mặc dù không phải là một vấn đề nghiên cứu hoàn toàn mới nhưng có thể nhận thấy một số điểm khác biệt đối với các đề tài nghiên cứu về di dân, di
cư và TĐC trước đây như sau:
Thứ nhất là sự khác biệt về khách thể nghiên cứu, nghiên cứu được tiến hành với nhóm học
sinh dân tộc thiểu số thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
Thứ hai, là khác biệt về đối tượng nghiên cứu, đây là nghiên cứu tập trung đến việc hỗ trợ
giáo dục nhằm cải thiện được trình độ học vấn, giải quyết những vấn đề khác tồn tại trong học đường đối với nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
Thứ ba, hoạt động trợ giúp cho nhóm đối tượng được xây dựng bằng cách khai thác, sử dụng
chính những nguồn lực sẵn có trong cộng đồng để trợ giúp
3 Ý nghĩa của nghiên cứu:
3.1 Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nghiên cứu giúp cho việc ứng dụng một số lý thuyết của xã hội học, tâm lý học và đặc biệt là công tác xã hội vào quá trình nghiên cứu và thực hành
Với đặc trưng của ngành công tác xã hội, đề tài nghiên cứu còn là cơ hội để ứng dụng các kỹ năng công tác xã hội và các kỹ thuật công tác xã hội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đối với địa phương: Cải thiện tình trạng học vấn người dân địa phương, nâng cao thành tích trong công tác văn hóa – giáo dục
Đối với bản thân các em học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC: Các em được hỗ trợ giáo dục nhằm cải thiện nhận thức, kết quả học tập ở trường, được tạo điều kiện thuận lợi để đến trường, có cơ hội thi đỗ vào các trường chuyên nghiệp và có thể thay đổi cuộc sống sau này và giải quyết một số vấn đề khác tồn tại trong học đường
Đối với các hộ gia đình TĐC có con em trong độ tuổi đi học: Đề tài nghiên cứu giúp các hộ gia đình TĐC thực hiện được vai trò giáo dục, bảo vệ, quan tâm và chăm sóc trẻ em, mở ra cơ hội thay đổi cuộc sống gia đình sau này
Đối với nhóm học sinh nghèo, dân tộc thiểu số ở miền núi: Đề tài nghiên cứu cũng giúp ích trong việc chỉ ra những thách thức, khó khăn, thiếu thốn chung và những nhu cầu cần được hỗ trợ của những học sinh dân tộc thiểu số nghèo ở miền núi Nghiên cứu cũng chỉ ra được một số hoạt động hỗ trợ giáo dục có thể trợ giúp cho nhóm học sinh này
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu hướng tới việc tìm ra cách thức để liên kết các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng nhằm cải thiện trình độ học vấn và giải quyết các vấn đề khác tồn tại trong học đường cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
Trang 54.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Mô tả thực trạng hoạt động học tập và nhận diện những khó khăn trong học đường của học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang tại xã Phúc Thịnh, Chiêm Hóa, Tuyên Quang
Xác định nhu cầu cần hỗ trợ đối với hoạt động học tập của học sinh và các hộ gia đình TĐC Đánh giá các hệ thống nguồn lực hiện có trong cộng đồng có khả năng hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
Đề xuất hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ giáo dục
cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
5.1 Đối tuợng nghiên cứu:
Liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình
TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang (Nghiên cứu trường hợp học sinh thuộc các hộ gia đình
vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại xã Phúc Thịnh - Chiêm Hóa - Tuyên Quang)
5.2 Khách thể nghiên cứu:
Học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang tại hai thôn: An Thịnh và An Quỳnh thuộc xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Các nguồn lực hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang, bao gồm:
- Các hộ gia đình TĐC có con em trong độ tuổi đi học
- Các hộ gia đình bản địa tại xã Phúc Thịnh
- Chính quyền và các ban, đoàn thể xã Phúc Thịnh; cán bộ 02 thôn An Thịnh và An Quỳnh (xã Phúc Thịnh)
- Nhà trường
- Ban di dân, TĐC huyện Chiêm Hóa
5.3 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hỗ trợ giáo dục giúp cải thiện trình độ học vấn và giải quyết các vấn đề khó khăn trong học đường cho học sinh thuộc các gia
đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu trường hợp học sinh thuộc các hộ gia đình vùng
lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại xã Phúc Thịnh - Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2014 - tháng 8/2014
6 Câu hỏi nghiên cứu:
Hoạt động học tập và các vấn đề khó khăn tại học đường của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang TĐC tại xã Phúc Thịnh, Chiêm Hóa, Tuyên Quang hiện nay như thế nào?
Những nhu cầu cơ bản nào cần được đáp ứng cho hoạt động học tập của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC?
Có những hệ thống nguồn lực nào trong cộng đồng có thể tham qua vào quá trình hỗ trợ giáo dục cho nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC?
Hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC được thực hiện như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu:
Học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang có một số khó khăn trong hoạt động học tập như: nhận thức chậm, ý thức học tập chưa tốt, kết quả học tập kém
Để cải thiện điều kiện học tập, hỗ trợ để phát triển trí tuệ, đáp ứng các hoạt động học tập, học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang cần được đáp ứng nhu cầu chăm sóc cả về vật chất và tinh thần Trong cộng đồng, các nguồn lực dựa vào cộng đồng như: Phòng giáo dục huyện Chiêm Hóa, chính quyền địa phương, cán bộ thôn, nhà trường, hội khuyến
Trang 6học và một số nguồn nhân lực khác có thể liên kết để hỗ trợ giáo dục cho nhóm học sinh thuộc các
hộ gia đình TĐC
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận:
Cơ sở phương pháp luận của triết học mácxít giúp cho chúng ta một cách nhìn tổng quát chung nhất về sự sinh ra, tồn tại và biến đổi của các sự kiện, các quá trình, các mối quan hệ xã hội
mà là đối tượng của nghiên cứu Vì vậy trong nghiên cứu sử dụng hai phương pháp luận điển hình là phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử Đây kim chỉ nam cho toàn bộ công trình nghiên cứu
8.2 Phương pháp thu thập thông tin:
8.2.1 Phương pháp quan sát:
Mục đích của phương pháp quan sát:
- Quan sát môi trường sống, sinh hoạt của nhóm học sinh và các hộ gia đình TĐC nhằm tìm hiểu thực trạng, điều kiện sống, các mối quan hệ; điều kiện và hoạt động học tập của nhóm học sinh
- Quan sát tại trường học nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động học tập, sự hòa đồng và các mối quan hệ của nhóm học sinh với bạn bè và thầy cô giáo
Địa điểm quan sát:
- Quan sát tại gia đình các hộ TĐC; quan sát tại buổi họp thôn
- Quan sát tại trường học (bao gồm trường Tiểu học Phúc Thịnh và trường THCS Phúc
Thịnh)
Cách thức tiến hành quan sát: quan sát không tham dự; nhiều lần
8.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu:
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích nắm rõ được các số liệu về số lượng các hộ di dân- TĐC, số hộ nghèo, cận nghèo; số lượng học sinh; thực trạng đời sống, các hoạt động hỗ trợ đối với nhóm học sinh và các hộ gia đình TĐC; đồng thời thông qua các tài liệu của nhà trường nắm được thực trạng hoạt động học tập của nhóm học sinh
Các nguồn tài liệu chính được sử dụng để phân tích: các chương trình, quyết định, báo cáo công tác di dân của Tỉnh Tuyên Quang; báo cáo tổng của ban di dân TĐC huyện Chiêm Hóa; báo cáo, theo dõi của xã Phúc Thịnh, các biên bản họp thôn; báo cáo của nhà trường…
8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Mục đích của phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin về thực trạng đời sống của các
hộ gia đình TĐC; thực trạng hoạt động học tập của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC, nắm
rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập của nhóm học sinh Xác định được các nhu cầu cần được đáp ứng nhằm hỗ trợ giáo dục cho nhóm học sinh và gia đình; đồng thời xác định được các nguồn lực sẵn có tại cộng đồng có tiềm năng và khả năng tham gia vào quá trình hỗ trợ giáo dục cho nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
Số lượng phỏng vấn sâu được tiến hành: 23 phỏng vấn sâu, cụ thể:
- 5 học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC: 2 học sinh đã bỏ học, 2 học sinh THPT, 1 học sinh
THCS
- 4 PHHS các hộ gia đình TĐC: 1 PHHS có con đã bỏ học, 1 PHHS Tiểu học, 1 PHHS
THCS, 1 PHHS THPT
- 3 PHHS tại địa phương
- 2 học sinh tại địa phương: 1 học sinh THCS, 1 học sinh THPT
- 4 giáo viên: 2 giáo viên Tiểu học, 2 giáo viên THCS
- 5 cán bộ (xã, thôn): 2 cán bộ xã, 2 trưởng thôn, 1 cán bộ phụ nữ thôn
8.2.4 Thảo luận nhóm tập trung:
Mục đích của thảo luận nhóm: Nhằm tìm hiểu thực trạng đời sống, hoạt động học tập của nhóm học sinh Xác định được các nhu cầu cần được hỗ trợ của nhóm học sinh và gia đình; đặc biệt thông qua thảo luận nhóm xác định được thứ tự ưu tiên các nhu cầu cần hỗ trợ cho hoạt động học tập, qua đó lựa chọn được các nhu cầu ưu tiên cần giải quyết Đồng thời, phương pháp này còn được
Trang 7sử dụng để đánh giá các nguồn lực hỗ trợ chính tại địa phương, xây dựng được kế hoạch trợ giúp cho nhóm học sinh
Số lượng nhóm : 04 nhóm (Từ 04 – 06 người/ nhóm), bao gồm:
- Nhóm học sinh (Học sinh THPT và THCS): 06 người / nhóm
- Nhóm PHHS ( Thảo luận với nhóm mẹ học sinh): 06 người / nhóm
- Nhóm cán bộ ( Xã, thôn): 06 người/ nhóm
- Nhóm giáo viên ( Giáo viên trường THCS Phúc Thịnh): 04 người/ nhóm
Công cụ, kỹ thuật sử dụng trong thảo luận nhóm:
- Cây vấn đề: Xác định được vấn đề và nguyên nhân của vấn đề tồn tại với nhóm học sinh và gia đình Sử dụng trong thảo luận nhóm với cán bộ
- Bảng sắp xếp các vấn đề ưu tiên giải quyết:
Phương pháp xác định:
Chuẩn bị: Giấy Ao, bút viết, giấy A4
Sau khi mỗi nhóm xác định được các nhu cầu, viết lại các nhu cầu lên giấy A0, đặt kí hiệu A,
B, C, D cho từng nhu cầu Sau đó diền các nhu cầu vào các mảnh giấy nhỏ đã chuẩn bị sẵn theo các kí hiệu ở trên, phát cho những người tham gia thảo luận nhóm để họ cho điểm các nhu cầu theo thứ tự lựa chọn ưu tiên
- Điểm được xác định sẵn dựa trên từng mức độ mong muốn thứ tự 1, 2, 3, 4, 5 Sau khi những người tham gia thảo luận nhóm đã lựa chọn xong, thu lại mảnh giấy đó và cộng điểm Từ tổng điểm xác định được thứ tự ưu tiên các nhu cầu Đây chính là cách thức để có được bảng sắp xếp thứ tự các vấn đề cần ưu tiên giải quyết do mỗi nhóm xác định
References
1 Các tài liệu trong nước:
1 Đặng nguyên Anh (1998), Vai trò của mạng lưới xã hội trong di dân, Tạp chí xã hội học, số 2
(62), trang 16 – 23
2 Đặng Nguyên Anh (2007), Chính sách di dân tái định cư các công trình thuỷ điện ở việt nam từ góc
độ nghiên cứu xã hội, Tạp chí Dân số và phát triển, (số 6)
3 Phạm Huy Dũng chủ biên (2006), Bài giảng công tác xã hội - Lý thuyết và thực hành công tác xã
hội trực tiếp, Đại học Thăng Long, Nxb đại học sư phạm
4 Vũ Dũng (1997), Nhóm không chính thức của người lao động ngoại tỉnh ở Hà Nội, Tạp chí tâm
lý học, (số 2), trang 27 – 31
5 Trần Văn Đạo (2011), Tác động của các dự án thủy điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hóa
của người dân tái định cư, Tạp chí Dân tộc học, (số 2), tr.11-19
6 Phạm Mộng Hoa - Lâm Mai Lan (2000), Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và
thực tiễn, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội
7 Đỗ Văn Hòa – Trịnh Khắc Thẩm (1999), Nghiên cứu di dân ở Việt Nam, NXB NN Hà Nội
8 Nguyễn Văn Hồng (2012), Nghiên cứu sự thích ứng với điều kiện sống mới của dân di cư vùng
thủy điện Sơn La, luận án tiến sĩ ngành Xã hội học
9 Tô Duy Hợp – Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Nxb văn
hóa – thông tin Hà Nội
10 Nguyễn Thị Oanh (2000), Phát triển cộng đồng, Khoa Phụ nữ học, Đại học Mở Bán công TP.HCM
11 Trần Thị Tuyết Oanh chủ biên (2008), Giáo trình Giáo dục học, Nxb đại học sư phạm
12 Hoàng Phê chủ biên (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng
13 Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu Xã hội học, Nxb đại học
quốc gia Hà Nội
14 Đặng Thu (1993), Di dân của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, phụ san tạp chí nghiên cứu
lịch sử, Hà Nội, khoa học xã hội
Trang 815 Trần Mạnh Tường, Từ điển Anh – Việt, Đại học Oxford, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội
16 Vũ Hải Vân (2011), Ảnh hưởng của thủy điện Sơn La đến công tác tổ chức quản lý và cố kết
cộng đồng của người Thái, Tạp chí dân tộc học, (số 3)
17 Phạm Viết Vượng (2000), Giáo dục học, nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
18 Nghiên cứu xã hội học (1996), Nxb Chính trị quốc gia, tr.190
19 Sở lao động thương binh và xã hội Tuyên Quang (tháng 7 – năm 2007), Tài liệu tập huấn
cán bộ làm công tác giảm nghèo
20 Tổ chức Quốc tế phục vụ Cộng đồng và Gia đình, Trường Cán bộ lao động và Xã hội –
Việt Nam (1996), Tài liệu tập huấn Hỗ trợ tâm lý xã hội cho những người dễ bị tổn
thương, phần II
21 Trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng (tháng 3 – 2008), Tài liệu tập huấn đào
tạo giảng viên phát triển cộng đồng
22 Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (tháng 4- 2010), Báo cáo tổng kết công tác di dân, tái định
cư dự án thủy điện Tuyên Quang thực hiện trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
23 Ủy ban nhân dân huyện Chiêm Hóa- Tuyên Quang (tháng 2 – 2010), Báo cáo công tác di dân,
tái định cư thủy điện Tuyên Quang giai đoạn thực hiện từ năm 2003 – 2009
2 Các tài liệu nước ngoài:
24 Mary Ann Forgey & Carol S Cohen Thực hành Công tác xã hội chuyên nghiệp, sách dịch, Đại
học mở - bán công TP Hồ Chí Minh
25 Malcolm Payne Lý thuyết Công tác xã hội hiện đại Nxb Lyceum Books, INC 5758
S.Blackstone Avenue, Chicago Người dịch: ThS Trần Văn Kham
26 Carrie Turk – Ngân hàng thế giới (tháng 11- 1999), Việt Nam tiếng nói của người nghèo
27 Anthony yeo (2005), Bàn tay giúp đỡ, Nxb trẻ Người dịch : Lan Khuê, hiệu đính: Trịnh Chiến
3 Tài liệu trực tuyến:
28 Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Một phần mười trẻ em 5–17 tuổi là lao động trẻ em,
http://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/newsitems/WCMS_237790/l ang en/index.htm, cập nhật ngày 14/03/2014
29 Theo cổng thông tin điện tử Chính phủ, Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Chính
Phủ,http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?mode=detail&docum ent_id=94653
30 Theo cổng thông tin điện tử Chính phủ, Quyết định số 1766/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ,
http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&mode=detai l&document_id=151844
31 Theo Trung tâm nghiên cứu Pháp luật về Quyền con người và Quyền công dân, Công ước quốc
http://hcrc.hcmulaw.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=36:cong-c-quc-t-v-cac-quyn-tr-em&catid=6:b-lut-nhan-quyn-quc-t&Itemid=20, cập nhật ngày 18/11/2011
32 Theo Thư viện Pháp luật, Nghị định 197/2004/NĐ–CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất, http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh-197-2004-ND-CP-boi-thuong-ho-tro-tai-dinh-cu-khi-Nha-nuoc-thu-hoi-dat-vb52593.aspx , cập nhật ngày 03/12/2004
33 Theo Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,
http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=6123 , cập nhật ngày 9/6/2000