1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại công ty cổ phần điều phú yên

140 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HACCP : Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm: phân tích điểm kiểm soát tới hạn HĐQT : Hội đồng quản trị KPCĐ : Kinh phí công đoàn KTTC : Kế toán tài chính KTQT : Kế toán quản trị NCTT : N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

Phòng đào tạo Sau đại học:

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị

tại Công ty Cổ phần Điều Phú Yên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa

từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tuy Hoà, ngày 20 tháng 3 năm 2018

Tác giả luận văn

TRỊNH VIỆT CƯỜNG

Trang 4

iv

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các Thầy

cô giáo khoa Quản trị kinh doanh, khoa Sau Đại học – Trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình

của TS Nguyễn Thị Hiển đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn Qua đây, tôi xin gửi lời

cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Đồng thời tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các phòng, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần Điều Phú Yên, gia đình cùng bạn bè đã tạo điều kiện

và hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tuy Hoà, ngày 20 tháng 3 năm 2018

Tác giả luận văn

TRỊNH VIỆT CƯỜNG

Trang 5

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 7

1.1 Bản chất của kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị 7

1.1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị trong doanh nghiệp 7

1.1.2 Đặc điểm, mục tiêu của kế toán quản trị 7

1.1.3 Vai trò và chức năng của kế toán quản trị 8

1.1.4 Tổ chức kế toán quản trị 9

1.1.5 Kế toán tài chính và kế toán quản trị 10

1.2 Nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp 12

1.2.1 Định nghĩa và phân loại chi phí trong kế toán quản trị 12

1.2.2 Lập dự toán kinh doanh 16

1.2.3 Kế toán giá thành trong doanh nghiệp 19

1.2.4 Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh 20

1.2.5 Tổ chức báo cáo kế toán quản trị 21

1.2.6 Hệ thống thông tin kế toán quản trị cho việc ra quyết định 21

1.3 Vận dụng mô hình kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất 25

1.3.1 Mô hình kết hợp 25

1.3.2 Mô hình tách rời 25

1.4 Kinh nghiệm ứng dụng Kế toán quản trị trong các doanh nghiệp trong và ngoài nước 26

Kết luận chương 1 30

Trang 6

vi

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỀU PHÚ YÊN 31

2.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Điều Phú Yên (PYCASCO) 31

2.1.1 Lịch sử hình thành công ty PYCASCO 31

2.1.2 Quá trình phát triển của PYCASCO trong thời gian qua 32

2.1.3 Đặc điểm sản phẩm và quy trình sản xuất nhân điều xuất khẩu 33

2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý 35

2.2 Tổ chức công tác kế toán tại Công ty PYCASCO 37

2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty 37

2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phần hành kế toán 38

2.2.3 Hình thức kế toán áp dụng tại Công ty 39

2.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty PYCASCO 40

2.3.1 Tổng quan ngành điều 40

2.3.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại PYCASCO 46

2.3.3 Tình hình tài chính của Công ty 49

2.4 Thực trạng vận dụng kế toán quản trị tại Công ty 58

2.4.1 Về phân loại chi phí tại Công ty 58

2.4.2 Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại đơn vị 60

2.4.3 Công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 61

2.4.4 Hệ thống báo cáo quản trị tại Công ty 66

2.4.5 Một số nhận xét về công tác kế toán quản trị tại Công ty PYCASCO 69

Kết luận chương 2 71

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỀU PHÚ YÊN 72

3.1 Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty PYCASCO 72

3.2 Quan điểm của việc vận dụng kế toán quản trị tại Công ty PYCASCO 72

3.2.1 Vận dụng kế toán quản trị phải phù hợp với mô hình tổ chức quản lý của Công ty 73 3.2.2 Vận dụng kế toán quản trị phải phù hợp với yêu cầu và trình độ quản lý của Công ty 73

3.2.3 Vận dụng kế toán quản trị phải phù hợp, hài hoà giữa chi phí và lợi ích 73

Trang 7

vii

3.3 Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản và bộ máy kế toán phục vụ cho công tác kế

toán quản trị tại Công ty 73

3.3.1 Tổ chức hệ thống chứng từ và sổ sách kế toán 73

3.3.2 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán 74

3.3.3 Tổ chức bộ máy kế toán phục vụ cho công tác kế toán quản trị 77

3.4 Hoàn thiện một số vấn đề của kế toán quản trị tại Công ty 80

3.4.1 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 80

3.4.2 Xây dựng hệ thống báo cáo dự toán sản xuất kinh doanh 81

3.4.3 Lập dự toán giá thành sản xuất và đơn giá gia công 86

3.4.4 Hoàn thiện hệ thống báo cáo tình hình thực hiện 92

3.4.5 Hệ thống báo cáo phục vụ kiểm soát, đánh giá phân tích tình hình thực hiện kế hoạch 93

3.4.6 Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – sản lượng – lợi nhuận để phục vụ cho việc ra quyết định 94

Kết luận chương 3 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 8

HACCP : Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm: phân tích

điểm kiểm soát tới hạn HĐQT : Hội đồng quản trị

KPCĐ : Kinh phí công đoàn

KTTC : Kế toán tài chính

KTQT : Kế toán quản trị

NCTT : Nhân công trực tiếp

NVLTT : Nguyên vật liệu trực tiếp

NXT : Nhập – xuất – tồn

PX : Phân xưởng

PYCASCO : Công ty Cổ phần Điều Phú Yên

QLDN : Quản lý doanh nghiệp

SXC : Sản xuất chung

SXKD : Sản xuất kinh doanh

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

TSCĐ : Tài sản cố định

XN CBNSXK : Xí nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu

XK : Xuất khẩu

Trang 9

ix

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn 2014 -

2016 48

Bảng 2.2: Bảng phân tích biến động – Kết cấu tài sản giai đoạn 2014 - 2016 50

Bảng 2.3: Bảng phân tích biến động – Kết cấu nguồn vốn giai đoạn 2014 - 2016 53

Bảng 2.4: Bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2014 – 2016 55

Bảng 2.5: Phân tích dòng tiền trong hoạt động kinh doanh giai đoạn 2014 - 2016 57

Bảng 2.6: Phân tích dòng tiền trong hoạt động tài chính giai đoạn 2014 - 2016 58

Bảng 2.7: Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2017 60

Bảng 2.8: Bảng chi phí nguyên liệu trực tiếp 62

Bảng 2.9: Bảng số lượng nguyên liệu gia công 62

Bảng 2.10: Bảng đơn giá định mức năm 2017 63

Bảng 2.11: Bảng đơn giá tiền công áp dụng tại Công ty 64

Bảng 2.12: Bảng tổng hợp chi phí SXC Công ty năm 2017 65

Bảng 2.13: Bảng tổng hợp chi phí sản xuất nguồn hàng Công tynăm 2017 66

Bảng 2.14: Bảng tính giá thành sản phẩm năm 2017 66

Bảng 3.1: Bảng hệ thống tài khoản chi phí 75

Bảng 3.2: Bảng danh mục tài khoản kế toán 76

Bảng 3.3: Bảng phân loại chi phí chi tiết tại Công ty 80

Bảng 3.4: Bảng tổng hợp chi phí và giá thành đơn vị sản phẩm tiêu chuẩn 88

Bảng 3.5: Bảng giá thành đơn vị kế hoạch cho từng loại sản phẩm 89

Bảng 3.6: Bảng tổng hợp chi phí và tính đơn giá gia công 91

Bảng 3.7: Bảng phân tích mối quan hệ CVP năm 2016 95

Trang 10

x

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Chức năng cơ bản của quản lý 8

Sơ đồ 2.1: Tổ chức quản lý của Công ty Cổ phần Điều Phú Yên 35

Sơ đồ 2.2: Tổ chức nhân sự Phòng kế toán – tài vụ 38

Sơ đồ 2.3: Hình thức kế toán áp dụng tại Công ty 40

Biểu đồ 2.1: Giá trị xuất khẩu hạt điều của Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 45

Sơ đồ 3.1: Bộ máy kế toán Công ty 78

Trang 11

xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Trong điều kiện Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

và khu vực thì kế toán nói chung và kế toán quản trị nói riêng là yếu tố rất quan trọng

để tạo nên sức mạnh cho các doanh nghiệp Tuy nhiên tại Việt Nam, trong những năm qua, kế toán quản trị lại chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức

Với nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay thì công tác quản trị của nhà quản lý là rất quan trọng trong việc định hướng phát triển của Công ty mình Những quyết định của các nhà quản trị thường được thiết lập trên cơ sở nguồn thông tin của kế toán và nhất là kế toán quản trị, thông tin do kế toán quản trị cung cấp phần lớn nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định của nhà quản trị Vì vậy, việc tổ chức công tác kế toán quản trị là công việc rất quan trọng và cần thiết cho định hướng phát triển Công ty

Nghiên cứu chính thức đuợc thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính Với các phương pháp thu thập, thống kê, diễn giải, tổng hợp, so sánh, phân tích đánh giá thông tin

Luận văn đã hoàn thiện công tác lập dự toán, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị và ứng dụng phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận để phục vụ cho việc ra quyết định

Tổ chức lại bộ máy kế toán của Công ty theo mô hình kết hợp kế toán tài chính với kế toán quản trị và tổ chức lại hệ thống tài khoản, hoàn thiện hệ thống kế toán chi phí và sổ sách kế toán cho phù hợp với nhu cầu thông tin kế toán quản trị tại Công ty Việc ứng dụng các biểu mẫu báo cáo và số liệu có thể tập hợp được từ phần mền

kế toán của Công ty nên không mất nhiều công sức tốn kém

Từ khoá: Kế toán quản trị

Trang 12

Trong những năm qua, bên cạnh những mặt hàng nông sản truyền thống như: gạo, cao su, cà phê, tiêu thì ngành sản xuất và chế biến nhân điều xuất khẩu cũng được đánh giá là một trong những ngành mang tính chiến lược đối với sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta Sáu năm qua, kể từ năm 2010, năm ngành điều Việt Nam vượt qua mức xuất khẩu 1 tỷ USD, năm 2016, giá trị xuất khẩu hạt điều đã tăng trưởng gấp 3 lần, đạt 3 tỷ USD, sản lượng xuất khẩu trên 300.000 tấn, theo ước tính của Bộ Công Thương Với kết quả này, thì ngành điều Việt Nam tiếp tục sẽ giữ vị trí hàng đầu thế giới về xuất khẩu nhân điều

Việc xuất khẩu không những đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, giải quyết được việc làm cho hàng ngàn lao động, đồng thời đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì các doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều cũng gặp không ít khó khăn như: sự liên kết, chia sẽ thông tin còn hạn chế, nguồn nguyên liệu trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, sản phẩm chính của các doanh nghiệp là sản phẩm mới qua sơ chế, Vì vậy, các doanh nghiệp chế biến nhân điều Việt Nam vẫn chưa quyết định được giá bán và nâng cao vị thế của sản phẩm nhân điều trên thế giới

Công ty Cổ phần Điều Phú Yên (PYCASCO) với lĩnh vực kinh doanh chính là chế biến nhân điều xuất khẩu Thương hiệu Pycasco đã trở thành một thương hiệu lớn đối với ngành Điều Việt Nam trên thương trường quốc tế Trong bối cảnh toàn cầu hoá

và cạnh tranh gay gắt như hiện nay đặt ra cho đơn vị thách thức về việc kiểm soát hàng hoá, chi phí và thông tin một cách hiệu quả Để hoà nhập và đứng vững trên thị trường, các nhà quản trị của Công ty đã có nhiều quyết định quan trọng ảnh hưởng đến hiện tại

Trang 13

2

và tương lai của Công ty như thay đổi bộ máy hoạt động, đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, đàm phán gia công Trong quá trình này, các nhà quản trị của Công ty phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng thông tin kế toán quản trị trong Công ty để ra các quyết định đúng đắn và kịp thời Tuy nhiên, hiện tại công tác tổ chức thu thập và cung cấp thông tin kế toán quản trị tại Công ty chưa được quan tâm đúng mức, chưa tổ chức báo cáo lập dự toán sản xuất kinh doanh và các báo cáo kiểm soát, phân tích tình hình thực hiện so với kế hoạch làm Công ty bị động trong việc ra các quyết định quản lý

Xuất phát từ những yêu cầu cần thiết, khách quan đã nêu trên, cùng với những kiến thức đã học và kinh nghiệm công tác tại Công ty đã thúc đẩy ý tưởng nghiên cứu

về kế toán quản trị với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại Công ty Cổ

phần Điều Phú Yên”của tác giả

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu của đề tài là hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Điều Phú Yên qua nghiên cứu lý thuyết, đánh giá thực trạng vận dụng công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Điều Phú Yên qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: tổ chức vận dụng những nội dung cơ bản của kế toán quản trị

- Phạm vi nghiên cứu: công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Điều Phú Yên

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập, thống kê, diễn giải, tổng hợp,

so sánh, phân tích đánh giá thông tin liên quan đến công tác kế toán quản trị tại Công

ty Cổ phần Điều Phú Yên

5 Ý nghĩa nghiên cứu

Với nội dung và kết quả nghiên cứu như đã thực hiện, đề tài đã có những ý

nghĩa về những mặt sau:

Trang 14

6 Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Theo nghiên cứu Đinh Thị Phương Vy (2007) mang tính hệ thống về tổ chức công tác kế toán kế toán quản trị và chỉ dừng lại ở mức độ mô tả tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh dịch vụ và Xuất nhập khẩu Quận 1 Tác giả tập trung nghiên cứu công tác kế toán tại Công ty và xem xét những nguyên nhân dẫn đến việc chưa xây dựng công tác kế toán quản trị tại Công ty Fimexco Mặc dù nghiên cứu chưa nêu rõ nội dung đánh giá hoạt động kế toán quản trị cần quan tâm tại Công ty, nhưng trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất giải pháp tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Fimexco khoa học và hiệu quả

- Hồ Thị Huệ (2011) đã tiến hành nghiên cứu thông qua việc sử dụng bảng câu hỏi gồm 34 câu hỏi, được chia thành 4 phần chính: Phần thứ nhất – Phần câu hỏi gạn lọc; Phần thứ hai – Phần thông tin chung; Phần thứ ba – Phần nội dung kế toán quản trị doanh nghiệp đã sử dụng; Phần thứ tư – Nguyên nhân chưa xây dựng kế toán quản trị tại doanh nghiệp Tác giả khảo sát ngẫu nhiên 30 doanh nghiệp sản xuất tại TP Hồ Chí Minh với quy mô lớn (9 doanh nghiệp), vừa và nhỏ (21 doanh nghiệp), hoạt động trong các lĩnh vực: sản xuất bao bì, may mặc, da giày, chế biến thực phẩm, nông sản, gốm sứ

và sản xuất công nghiệp Sau khi nhận được kết quả khảo sát và kết hợp với thông tin thu thập trực tiếp, tiến hành tổng hợp theo những chỉ tiêu đã được thiết kế để tính tỷ lệ phần trăm các chỉ tiêu có ứng dụng Từ đó, đưa ra nhận định thực trạng ứng dụng kế toán quản trị ở các doanh nghiệp sản xuất tại TP Hồ Chí Minh đó là các doanh nghiệp

có quy mô lớn đa số đều xây dựng hệ thống kế toán quản trị sử dụng cho doanh nghiệp mình (chiếm 67%) và các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ 95% chưa

Trang 15

4

xây dựng mô hình kế toán quản trị sử dụng cho đơn vị mình Trên cơ sở phân tích một

số nguyên nhân dẫn đến chưa xây dựng mô hình kế toán quản trị, tác giả đã định hướng, đưa ra các giải pháp hỗ trợ để xây dựng kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất tại TP Hồ Chí Minh

- Kết quả nghiên cứu của tác giả Phan Thị Huệ (2014) đưa ra các vấn đề tổng

quan lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp và áp dụng thực tiễn vào Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hoà theo hướng kiểm tra, kiểm soát đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch Tuy nhiên nghiên cứu chưa nêu bật nội dung xây dựng hệ thống báo cáo dự toán sản xuất để hoạch định cho từng bộ phận nhưng đã vận dụng phân tích và so sánh các chức năng quản lý của nhà quản trị Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp mang ý nghĩa thực tiễn nhằm hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty

- Bài viết của Nguyễn Thị Minh Tâm (2010) “ Vài nét về thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại một số doanh nghiệp sản xuất ở Hà Nội” Với phương pháp điều tra khảo sát thực tế kết hợp với những kinh nghiệm của quốc tế thông qua bảng câu hỏi gửi đến một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Hà Nội Từ những thông tin thu thập được, tác giả phân tích và đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí và giá thành tại các doanh nghiệp sản xuất về cách thức tổ chức phân loại chi phí, xây dựng hệ thống các định mức và dự toán chi phí Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các kết luận và kiến nghị Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ so sánh mô hình kế toán quản trị ở Mỹ, Anh và Pháp để các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam tham khảo và áp dụng Tác giả chỉ nêu ra vấn đề là cần phải định hướng mô hình kế toán quản trị chung và các giải pháp cần thiết để các doanh nghiệp có thể vận dụng chứ chưa đề xuất mô hình kế toán quản trị áp dụng cho các doanh nghiệp tại Việt Nam

- Theo tác giả Võ Khắc Thường (2013) của bài viết “Ứng dụng kế toán quản trị vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp” đã đưa ra cái nhìn tổng quát về thực trạng

áp dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam Nêu lên một số ứng dụng kế toán quản trị trong việc ra quyết định tại các doanh nghiệp căn cứ vào các đặc trưng cơ bản của từng loại quyết định, để từ đó đề ra một số giải pháp để phát huy vai trò thông tin kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 16

5

Nhìn chung, các đề tài trên đã nêu được những vấn đề cơ bản về nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp, xác định đặc điểm, qui mô hoạt động và tình hình tổ chức công tác kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản trị quản lý Từ đó đánh giá ưu và nhược điểm về tình hình ứng dụng công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp và xây dựng các giải pháp để vận dụng kế toán quản trị đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, việc vận dụng kế toán quản trị tại mỗi doanh nghiệp là khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức quản trị và nhu cầu về thông tin kế toán quản trị tại doanh nghiệp Hiện tại công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Điều Phú Yên cũng đã bước đầu áp dụng nhưng chưa được quan tâm đúng mức

và đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu Dựa trên cơ sở lý luận cơ bản về kế toán quản trị và tham khảo những công trình nghiên cứu có liên quan, luận văn này đi sâu vào các nội dung như lập dự toán giá thành sản xuất cho Công ty; kiểm tra, kiểm soát, đánh giá phân tích tình hình thực hiện kế hoạch; hệ thống báo cáo kế toán quản trị

và ứng dụng phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận để ra quyết định quản lý tại Công ty Cổ phần Điều Phú Yên được đầy đủ hơn

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm các phần và chương nhưsau:

Phần mở đầu

Chương 1: Tổng quan lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Nội dung chính của chương là tổng quan tài liệu về vấn đề nghiên cứu, các lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp gồm: Nội dung của kế toán quản trị trong doanh nghiệp, vận dụng mô hình kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất và kinh nghiệm ứng dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Chương 2: Thực trạng ứng dụng công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần

Điều Phú Yên

Chương này sẽ đề cập đến quá trình hình thành, phát triển của Công ty Cổ phần Điều Phú Yên, cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Công ty và phòng Kế toán -tài vụ Nghiên cứu, phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị giai đoạn 2014 – 2016; làm rõ thực trạng vận dụng kế toán quản trị tại Công ty, đồng thời

Trang 18

7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN

TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Bản chất của kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị

1.1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Theo Hiệp hội Kế toán viên hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “Kế toán quản trị là quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản trị để điều hành các hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn”

Theo Luật Kế toán Việt Nam (khoản 3, điều 4) thì: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”

Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán ra đời trong điều kiện kinh

tế thị trường, cung cấp thông tin cho những nhà quản lý tại doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ

Kế toán quản trị về bản chất là một bộ phận cấu thành trong hệ thống thông tin kế toán của đơn vị nhằm phản ánh, xử lý và cung cấp thông tin về quá trình huy động, sử dụng các nguồn lực cho các hoạt động của đơn vị nhằm phục vụ cho mục đích của nhà quản trị tổ chức đó

1.1.2 Đặc điểm, mục tiêu của kế toán quản trị

Để thực hiện các công việc trong quá trình quản lý hoạt động của tổ chức, các nhà quản lý cần thông tin Thông tin mà các nhà quản lý cần để thực hiện công việc được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau: các nhà kinh tế, các chuyên gia tài chính, các chuyên viên tiếp thị, sản xuất và các nhân viên kế toán quản trị của tổ chức

Hệ thống thông tin kế toán quản trị trong tổ chức có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để thực hiện các hoạt động quản lý Kế toán quản trị có bốn mục tiêu chủ yếu như sau:

* Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định

* Trợ giúp nhà quản lý trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức

Trang 19

8

* Thúc đẩy các nhà quản lý đạt được các mục tiêu của tổ chức

* Đo lường hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn vị trực thuộc trong tổ chức

1.1.3 Vai trò và chức năng của kế toán quản trị

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp mình Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp, các bộ phận triển khai thành các mục tiêu thực hiện và kiểm tra kết quả thực hiện các mục tiêu này Trong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra cần phải quản lý các quy trình cụ thể, chi tiết hơn như quản lý tồn kho, quản lý sản xuất,…

Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được điều hành và quản lý bởi các nhà quản trị Kế toán quản trị cung cấp thông tin mọi lĩnh vực phục vụ các chức năng quản lý được khái quát qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Chức năng cơ bản của quản lý

(Nguồn: Giáo trình kế toán quản trị - Nguyễn Ngọc Quang (2012))

a Chức năng lập kế hoạch: là việc xây dựng các mục tiêu, chiến lược hoạt động

từ đó đưa ra các chương trình cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Để kế hoạch lập ra có tính khả thi cao thì kế hoạch đó phải được xây dựng trên cơ sở các thông tin phù hợp do bộ phận kế toán quản trị cung cấp

b Chức năng tổ chức thực hiện: để thực hiện các chương trình đã được lập ra doanh nghiệp cần tiến hành tổ chức bằng cách thiết kế, sắp xếp phân công công việc cụ thể cho từng phòng ban, bộ phận và cá nhân trong đơn vị Đây chính là quá trình kết

Lập kế hoạch

Kiểm tra Đánh giá, ra quyết định Tổ chức thực hiện

Trang 20

9

nối các bộ phận trong cùng tổ chức, xác định dây chuyền thực hiện một cách chi tiết Các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các yếu tố, tổ chức, con người và các nguồn lực sao cho kế hoạch được thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất

c Chức năng kiểm tra: là quá trình đánh giá công việc đã thực hiện, quá trình kiểm tra có thể tiến hành khi hoàn tất công việc hoặc khi đã thực hiện một phần tiến trình công việc nhằm điều chỉnh những bước cụ thể tiếp theo Phương pháp thường dùng là so sánh số liệu thực hiện với số liệu của kế hoạch và dự toán, xác định những sai biệt giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra Qua đó, giúp nhà quản trị hiểu rõ nguyên nhân các biến động, tìm cách khắc phục và tiến hành điều chỉnh kịp thời các chênh lệch tiêu cực

d Chức năng đánh giá, hỗ trợ ra quyết định: là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đến kiểm tra, đánh giá Dựa trên hệ thống thông tin quá khứ và dự đoán tương lai của kế toán quản trị để tiến hành phân loại, lựa chọn, tổng hợp và cung cấp những thông tin cần thiết, thích hợp cho việc ra quyết định Nhà quản trị ra quyết định kinh doanh là lựa chọn một phương án kinh doanh hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.4 Tổ chức kế toán quản trị

- Sự cần thiết phải tổ chức kế toán quản trị

Các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải có hệ thống thông tin để điều hành, xử lý

và ra quyết định sản xuất kinh doanh

Do các mối quan hệ trong kinh doanh ngày càng phức tạp, KTTC không thể đáp ứng yêu cầu thông tin chi tiết, kịp thời cho nhu cầu quản lý của từng cấp trong doanh nghiệp, nên nhà quản trị chưa phát hiện ra những khâu sản xuất kinh doanh trì trệ, còn tiềm ẩn cần được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh

- Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán quản trị

Các nhân tố khách quan như môi trường pháp lý liên quan đến tổ chức công tác

kế toán của DN, cơ chế quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước, lĩnh vực hoạt động kinh doanh,

Trang 21

10

Các nhân tố chủ quan như nhận thức của lãnh đạo DN, trình độ tay nghề của kế toán trưởng và những người làm kế toán trong DN

- Nội dung tổ chức kế toán quản trị

Xác định nội dung tổ chức KTQT trong DN nhằm đảm bảo cho việc tổ chức hợp

lý và khoa học, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của từng DN Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm SXKD và đặc điểm tổ chức quản lý khác nhau, do đó không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các DN

1.1.5 Kế toán tài chính và kế toán quản trị

1.1.5.1 Khái niệm kế toán tài chính

Kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác là phản ánh các dòng vật chất

và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như: Các nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê

1.1.5.2 Phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

+ Sự giống nhau:

- Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế toán, đều nhằm vào việc phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đều quan tâm đến doanh thu, chi phí và sự vận động của tài sản, tiền vốn

- Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin Các số liệu của kế toán tài chính và kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng từ gốc Một bên phản ánh thông tin tổng quát, một bên phản ánh thông tin chi tiết

- Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của Nhà quản lý

+ Sự khác nhau:

* Đối tượng phục vụ:

Trang 22

11

- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế,

cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)

- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, Ban giám đốc)

* Mục đích:

- Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính

- Kế toán quản trị có mục đích: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh

* Đặc điểm của thông tin:

- Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được Thông tin được công khai, giải thích các nghiệp vụ đã xãy ra trong quá khứ

- Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau Thông tin được bí mật trong nội bộ doanh nghiệp, sử dụng trong lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động

* Nguyên tắc cung cấp thông tin:

- Kế toán tài chính phải tôn trọng các chuẩn mực quốc tế về kế toán và các nguyên tắc chung được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc

- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp

* Yêu cầu thông tin:

- Kế toán tài chính đòi hỏi thông tin chính xác cao gần như tuyệt đối

- Kế toán quản trị không đòi hỏi thông tin chính xác cao gần như tuyệt đối

Trang 23

12

* Phạm vi cung cấp thông tin:

- Phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tài chính trên quy mô toàn doanh nghiệp

- Phạm vi thông tin của kế toán quản trị liên quan đến việc quản lý trên từng bộ phận (phân xưởng, phòng ban) cho đến từng cá nhân có liên quan

* Kỳ báo cáo:

- Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm

- Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày

* Tính bắt buộc theo luật định:

- Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định

- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc

1.2 Nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp

1.2.1 Định nghĩa và phân loại chi phí trong kế toán quản trị

1.2.1.1 Khái niệm về chi phí

Chi phí được định nghĩa như là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm thu được các loại tài sản, hàng hóa hoặc các dịch vụ Như vậy, nội dung của chi phí rất

đa dạng Trong kế toán quản trị, chi phí được phân loại và sử dụng theo nhiều cách khác nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu đa dạng trong các thời điểm khác nhau của quản lý nội bộ doanh nghiệp Thêm vào đó, chi phí phát sinh trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau (sản xuất, thương mại, dịch vụ) cũng có nội dung

và đặc điểm khác nhau, trong đó nội dung chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thể hiện tính đa dạng và bao quát nhất

1.2.1.2 Phân loại chi phí

Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

- Chi phí sản xuất: Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằng sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết

bị Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

Trang 24

13

Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các loại

nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong đó, nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm về

mặt chất lượng và hình dáng

Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương phải trả

cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và những khoản trích theo lương của họ được tính vào chi phí Cần phải chú ý rằng, chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của bộ phận công nhân phục vụ hoạt động chung của bộ phận sản xuất hoặc nhân viên quản lý các bộ phận sản xuất thì không bao gồm trong khoản mục chi

phí này mà được tính là một phần của khoản mục chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các chi phí phát sinh trong

phạm vi các phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm Khoản mục chi phí này bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua

ngoài phục vụ sản xuất và quản lý ở phân xưởng, v.v

- Chi phí ngoài sản xuất: Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí bán hàng: Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ

cho khâu tiêu thụ sản phẩm Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển,

tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo

Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả các

chi phí phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên gốc độ toàn doanh nghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh

Trang 25

14

nghiệp, khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài

khác

Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Chi phí được phân thành ba loại:

- Chi phí khả biến (còn gọi là biến phí): là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ với các mức độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi

- Chi phí bất biến (còn gọi là định phí): là những chi phí, xét về lý thuyết, không

có sự thay đổi theo các mức độ hoạt động đạt được Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi cho nên khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại

- Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi phí khả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Hiểu theo một cách khác, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỉ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,

Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận

- Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua giai đoạn sản xuất (được gọi là giá thành sản xuất hay giá thành công xưởng) Thuộc chi phí sản phẩm gồm các khoản mục chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Xét theo mối quan hệ với việc xác định lợi tức trong từng kỳ hạch toán, chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kết chuyển để xác

Trang 26

15

định lợi tức trong kỳ hạch toán tương ứng với khối lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối kỳ

sẽ được lưu giữ như là giá trị tồn kho và sẽ được kết chuyển để xác định lợi tức ở các

kỳ sau khi mà chúng được tiêu thụ Vì lí do này, chi phí sản phẩm còn được gọi là chi phí có thể tồn kho

- Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại ngoài các khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Đó là chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ hạch toán nào được xem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính toán kết chuyển hết để xác định lợi tức ngay trong kỳ hạch toán mà chúng phát sinh Chi phí thời kỳ còn được gọi là chi phí không tồn kho

Phân loại chi phí nhằm mục đích kiểm tra và ra quyết định

- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

Chi phí kiểm soát được: là những dòng chi phí mà nhà quản trị xác định được

chính xác sự phát sinh của nó, đồng thời nhà quản trị cũng có thẩm quyền quyết định

sự phát sinh của nó

Chi phí không kiểm soát được: là những dòng chi phí mà nhà quản trị không thể

dự đoán chính xác sự phát sinh của nó Ví dụ như nhà quản trị sản xuất chỉ có thể kiểm soát được lượng tiêu hao nguyên vật liệu, nhưng không kiểm soát được giá mua nguyên vật liệu

- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

Chi phí trực tiếp: là loại chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí và

có thể tính thẳng cho đối tượng đó

Chi phí gián tiếp: là chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí Do vậy

nó được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí bằng các phương pháp phân bổ chi phí

- Chi phí lặn là những chi phí đã phát sinh do quyết định trong quá khứ Doanh nghiệp phải chịu chi phí này cho dù bất kỳ phương án nào được chọn Ví dụ như chi phí xây dựng nhà xưởng,

Trang 27

16

- Chi phí chênh lệch là những khoản chi phí hiện diện trong phương án này nhưng lại không hiện diện hoặc chỉ hiện diện một phần trong phương án khác Để ra quyết định, nhà quản trị thường phải so sánh các phương án khác nhau và thường so sánh các chi phí phát sinh trong mỗi phương án để đi đến quyết định lựa chọn một phương án tốt nhất

- Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi chọn phương án này thay cho phương án khác Chi phí này không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng, cần được xem xét đến mỗi khi nhà quản trị lựa chọn các phương án kinh doanh, đầu tư

1.2.2 Lập dự toán kinh doanh

1.2.2.1 Khái niệm và ý nghĩa dự toán

Dự toán là những dự kiến, những phối hợp chi tiết chỉ rõ cách huy động và sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và được biểu diễn bằng một hệ thống chỉ tiêu dưới dạng số lượng và giá trị

Từ khái niệm trên cho thấy dự toán sản xuất kinh doanh là căn cứ vào các kế hoạch đã được xây dựng để chi tiết hoá các chỉ tiêu kế hoạch trên cơ sở huy động một cách tối đa và sử dụng một cách có hiệu quả mọi tài sản, nguồn nhân tài, vật lực khác nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể đã được đề ra

Mỗi doanh nghiệp trước khi bắt đầu một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới đều có một kế hoạch cụ thể Để thực hiện được những mục tiêu cụ thể mà kế hoạch đã đề ra, các doanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống các dự toán và chỉ rõ các giải pháp huy động và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực để đạt được các mục tiêu đã định

Việc lập dự toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với các cấp quản trị khác nhau trong doanh nghiệp, được thể hiện như sau:

Dự toán sản xuất kinh doanh sẽ cung cấp cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp những thông tin một cách có hệ thống về toàn bộ kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Dự toán sản xuất kinh doanh cung cấp những mục tiêu xác định để làm căn cứ đánh giá việc thực hiện kế hoạch sau này Việc so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch

Trang 28

17

đã đề ra, nhà quản trị dễ dàng thấy được bộ phận nào trong doanh nghiệp không hoàn thành chỉ tiêu đề ra, từ đó tìm hiểu nguyên nhân vì sao hoạt động của bộ phận không hiệu quả và có biện pháp hữu hiệu để khắc phục

Dự toán sản xuất kinh doanh là một sự kết hợp chặt chẽ toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng các kế hoạch của từng bộ phận khác nhau Nhờ vậy, dự toán sản xuất kinh doanh đảm bảo cho các kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với các mục tiêu chung của cả doanh nghiệp

Dự toán sản xuất kinh doanh là cơ sở xây dựng và đánh giá tránh nhiệm quản lý của các cấp quản trị doanh nghiệp Qua kết quả thực hiện so với dự toán sẽ đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận cũng như nhà quản lý bộ phận Từ đó, sẽ có mức thưởng, phạt quy định dựa trên kết quả thực hiện dự toán của các bộ phận Dự toán là bức tranh tổng thể về hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, thông qua dự toán các nhà quản trị có trách nhiệm hơn trong công tác quản lý của mình

1.2.2.2 Nội dung và trình tự lập dự toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Dự toán tiêu thụ sản phẩm (Dự toán doanh thu)

+ Dự toán tiêu thụ sản phẩm là việc dự kiến số lượng sản phẩm bán và doanh thu bán hàng trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Dự toán tiêu thụ là dự toán khởi đầu

Dự toán

doanh thu =

Số lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến

Dự toán sản phẩm tồn kho đầu kỳ

- + Dự toán sản phẩm tồn kho cuối kỳ

Trang 29

18

- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được lập trên cơ sở dự toán sản xuất và định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nhằm xác định nhu cầu về lượng và giá, giúp cho quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp diễn ra một cách nhịp nhàng, đúng

kế hoạch Ngoài ra, lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp còn đáp ứng cho nhu cầu nguyên vật liệu trực tiếp dự trữ cuối kỳ

- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

Thông qua lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp, quản trị doanh nghiệp có thể chủ động trong việc sử dụng lao động một cách có hiệu quả nhất, tránh tình trạng thiếu hoặc thừa lao động, gây khó khăn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Dự toán chi phí sản xuất chung

Khi lập dự toán chi phí sản xuất chung các doanh nghiệp nên thực hiện phân chia chi phí sản xuất chung thành biến phí và định phí sản xuất chung, sau đó tổng hợp lại

để xác định tổng số chi phí sản xuất chung Theo đó, khi lập dự toán biến phí sản xuất chung có thể căn cứ theo phương pháp thống kê thực nghiệm để ước tính tỷ lệ tiêu hao biến phí sản xuất chung theo từng khoản mục biến phí trực tiếp sản xuất Còn định phí sản xuất chung thường không thay đổi so với kỳ thực tế, vì vậy có thể căn cứ vào chi phí thực tế phát sinh kỳ trước làm cơ sở ước tính cho kỳ kế hoạch nhưng có chú ý đến vấn đề tiết giảm chi phí, nhằm giảm giá thành kế hoạch vì chi phí này thường không làm tăng giá trị sản phẩm sản xuất

- Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Dự toán chi phí nguyên

vật liệu trực tiếp =

Dự toán sản phẩm sản xuất trong kỳ

Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

x

Dự toán nhu cầu thời

gian lao động (giờ) =

Dự toán sản phẩm sản xuất, dịch vụ thực hiện

Định mức thời gian sản xuất, thực hiện dịch vụ

x

Dự toán chi phí

nhân công trực tiếp =

Dự toán nhu cầu thời gian lao động

Định mức đơn giá giờ công lao động trực tiếp

x

Trang 30

19

Mục đích lập dự toán nhằm xác định tổng chi phí dự kiến về chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, là các khoản chi phí ước tính sẽ phát sinh trong kỳ dự toán trong lĩnh vực ngoài sản xuất Để lập dự toán, trước tiên là xác định chi phí bán hàng và chi phí quản lý khả biến bằng cách lấy số lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến nhân với chi phí bán hàng và quản lý cho một đơn vị sản phẩm, sau đó cộng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý bất biến để tính tổng chi phí bán hàng và quản lý dự kiến

- Dự toán báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh

Lập dự toán kết quả kinh doanh nhằm mục đích cung cấp về tình hình thu nhập của doanh nghiệp vào cuối kỳ kế hoạch nếu mọi hoạt động kinh doanh diễn ra theo đúng dự kiến Dự toán kết quả kinh doanh thường được lập theo hai dạng là dự toán kết quả kinh doanh theo phương pháp trực tiếp (theo số dư đảm phí) và phương pháp toàn bộ (theo chức năng chi phí) Theo đó, doanh thu và chi phí sẽ được tập hợp tương

tự Sau khi trừ các khoản chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và lãi trả cổ tức (đối với các công ty cổ phần), phần còn lại là lợi nhuận

1.2.3 Kế toán giá thành trong doanh nghiệp

Tính giá thành là một nội dung có tính xuất phát điểm cho nhiều công việc khác trong kế toán quản trị, vì nó có mối quan hệ mật thiết với nhiều chức năng quản trị, như lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra và ra quyết định Tính giá không chỉ là việc tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất, mà còn là giá phí của các hoạt động dịch vụ và nhiều hoạt động khác có nhu cầu quản trị chi phí

Phương pháp tính giá toàn bộ là phương pháp mà toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, tại nơi sản xuất, được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành Đây là phương pháp tính giá truyền thống trong kế toán chi phí, dựa trên ý tưởng sản phẩm của quá trình sản xuất là sự kết hợp lao động với các loại tư liệu sản xuất để biến nguyên liệu, vật liệu thành sản phẩm có thể bán được Vì vậy, giá thành của sản phẩm tạo ra từ quá trình sản xuất phải dựa trên toàn bộ các chi phí để sản xuất sản phẩm đó

Phương pháp tính giá toàn bộ gồm hai hệ thống tính giá thành sản phẩm: hệ thống tính giá theo quá trình sản xuất và hệ thống tính giá thành theo công việc

Trang 31

20

1.2.3.1 Hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất

Hệ thống tính giá thành sản phẩm theo quá trình sản xuất được áp dụng trong các công ty sản xuất đại trà một loại sản phẩm, nghĩa là hoạt động sản xuất số lớn với những sản phẩm tương tự nhau, hoặc rất tương tự nhau Quy trình sản xuất sản phẩm chia ra nhiều giai đoạn công nghệ hay nhiều bước chế biến nối tiếp nhau theo một trình

tự nhất định Mỗi giai đoạn chế biến tạo ra một loại bán thành phẩm, bán thành phẩm bước này là đối tượng chế biến ở bước kế tiếp và quá trình sản xuất này đi qua một hoặc nhiều phân xưởng khác nhau Do đó, chi phí sản xuất thường được theo dõi và tập hợp theo từng phân xưởng

1.2.3.2 Hệ thống tính giá thành theo công việc

Tính giá thành theo công việc là hệ thống tính giá thành phổ biến áp dụng ở các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng Tính giá thành theo công việc còn được gọi là tính giá thành theo đơn đặt hàng

Đặc điểm của hệ thống này là ghi chép chi phí theo công việc riêng lẻ Đối với các chi phí trực tiếp căn cứ vào chứng từ gốc để ghi, những chi phí chung thì tính toán phân bổ cho các loại sản phẩm, sau đó cộng dồn chi phí của từng loại sản phẩm, công việc để tính giá thành

Hoạt động sản xuất theo đơn đặt hàng có thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc rõ ràng

1.2.4 Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh

Doanh nghiệp có thể tổ chức kế toán bán hàng bằng nhiều cách kết hợp nhiều tiêu thức khác nhau, tuỳ theo yêu cầu quản lý của mình và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp trong từng thời kỳ

Doanh nghiệp cần xây dựng mô hình tài khoản, mở sổ kế toán và báo cáo bán hàng và kết quả bán hàng một cách linh hoạt và phù hợp nhu cầu quản lý để kế toán nắm bắt kịp thời các trường hợp bán hàng trong từng giai đoạn đáp ứng được yêu cầu xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 32

21

1.2.5 Tổ chức báo cáo kế toán quản trị

1.2.5.1 Thiết lập hệ thống báo cáo kế toán quản trị

Hệ thống báo cáo kế toán quản trị được xây dựng và lập theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp Vì vậy, hệ thống báo cáo quản trị ở từng đơn vị doanh nghiệp cũng không hoàn toàn giống nhau Để phục vụ công tác quản trị trong công ty

có hiệu quả, việc thiết lập các báo cáo quản trị là rất cần thiết

1.2.5.2 Tổ chức báo cáo kế toán quản trị

Báo cáo kế toán quản trị cung cấp những thông tin kế toán cho các nhà quản lý nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức đã đề ra Nhà quản lý nhận được thông tin này dưới hình thức như: báo cáo doanh thu, báo cáo chi phí, báo cáo giá thành, các dự toán, các báo cáo hoạt động hàng tháng, giúp nhà quản trị hiểu biết chính xác và cụ thể hơn về những vấn đề cần giải quyết

Báo cáo kế toán quản trị phục vụ cho hai chức năng chủ yếu là kiểm tra và làm căn cứ cho các quyết định kinh doanh

- Báo cáo cung cấp thông tin phục vụ cho kiểm tra quá trình thực hiện như: báo cáo tình hình thực hiện chi phí, doanh thu, Tất cả thông tin được thiết kế dưới hình thức so sánh giữa thực tế với dự toán

- Báo cáo phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị: tuỳ theo yêu cầu của nhà quản lý

1.2.6 Hệ thống thông tin kế toán quản trị cho việc ra quyết định

1.2.6.1 Phân tích chi phí theo các trung tâm chi phí

Trong các doanh nghiệp, trung tâm chi phí thường tổ chức gắn liền với các bộ phận, đơn vị thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh và ở đó người quản lý có quyền

và chịu trách nhiệm đối với kết quả hoạt động thuộc phạm vi mình quản lý Có thể chiathành các trung tâm như: trung tâm cung ứng, trung tâm sản xuất, trung tâm quản

lý và điều hành, trung tâm đầu tư

Quá trình phân tích chi phí theo trung tâm chi phí dựa vào báo cáo kết quả Đây

là báo cáo phản ánh các chỉ tiêu tài chính chủ yếu đạt được ở từng trung tâm trách nhiệm trong một khoảng thời gian nhất định, số liệu trên báo cáo so sánh các chỉ tiêu

Trang 33

tố đầu vào Từ đó dự đoán xu hướng biến động giá, tình hình cung ứng vật tư giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh

- Trung tâm sản xuất: chủ yếu là các báo cáo chi phí sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công và chi phí sản xuất chung theo số liệu thực tế và dự toán để làm cơ sở đánh giá trách nhiệm Và phải được lập chi tiết theo từng công đoạn sản xuất, từng phân xưởng sản xuất để kiểm soát chi phí gắn với trách nhiệm quản lý của từng bộ phận

- Trung tâm tiêu thụ: báo cáo về chi phí bán hàng của bộ phận tiêu thụ sản phẩm

Số liệu đánh giá cũng dựa trên thực tế và dự toán, tuy nhiên với loại chi phí này cần xem xét mối tương quan của nó với doanh thu tiêu thụ

- Trung tâm quản lý: là báo cáo về chi phí quản lý doanh nghiệp, so sánh chênh lệch giữa thực tế với dự toán nhằm đánh giá tình hình thực hiện dự toán, kiểm soát chi phí của từng phòng ban chức năng thuộc bộ phận quản lý doanh nghiệp

- Trung tâm đầu tư: là báo cáo các khoản vốn đầu tư, khả năng huy động vốn và

sử dụng các nguồn tài trợ Số liệu đánh giá dựa trên thực tế so với dự toán

Khi phân tích trung tâm chi phí nếu thấy dấu hiệu bất lợi thì cần xác định những tác động bất lợi của bộ phận tương ứng như tình hình cung ứng vật tư, lao động, tình hình sản xuất, điều hành của nhà quản lý Từ đó, nhà quản lý đưa ra những giải pháp khắc phục những khó khăn để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp

1.2.6.2 Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – sản lượng – lợi nhuận (CVP) và điểm hoà vốn để ra quyết định về sản xuất, tiêu thụ

Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – sản lượng – lợi nhuận (CVP) là việc phân tích mối quan hệ nội tại để tìm ra một sự kết hợp có hiệu quả nhất giữa các nhân tố: giá

Trang 34

23

bán sản phẩm, khối lượng hoạt động, biến phí của một đơn vị sản phẩm, định phí hoạt động và kết cấu chi phí cũng như kết cấu của sản lượng tiêu thụ, nhằm tìm ra khả năng tạo ra lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp Đây là một kỹ thuật được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của những thay đổi về chi phí, giá bán và sản lượng đối với lợi nhuận,

từ đó ra quyết định của nhà quản trị

Nội dung của phân tích CVP gồm:

- Phân tích điểm hoà vốn: Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu bằng tổng chi phí

Doanh thu – Tổng biến phí – Tổng định phí = 0

Phân tích điểm hoà vốn giúp cho nhà quản trị xây dựng kế hoạch và đưa ra những phương án kinh doanh phù hợp điều kiện hiện tại của doanh nghiệp Chi phí khi phân tích điểm hoà vốn được phân tích thành biến phí và định phí, ta sẽ có sản lượng hoà vốn và doanh thu hoà vốn như sau:

Mặc dù điểm hoà vốn không phải là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, nhưng phân tích điểm hoà vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp có phương án kinh doanh tốt hơn

- Phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lợi nhuận mong muốn

- Xác định giá bán sản phẩm với mức sản lượng, chi phí và lợi nhuận mong muốn

- Phân tích sự ảnh hưởng của giá bán đối với lợi nhuận theo các thay đổi dự tính

hoà vốn

Trang 35

- Tỷ lệ số dư đảm phí: là tỷ lệ phần trăm của số dư đảm phí trên doanh thu Chỉ tiêu này có thể tính cho tất cả các loại sản phẩm hoặc một loại sản phẩm Khi đạt mức sản lượng trên điểm hoà vốn, doanh thu tăng lên lợi nhuận sẽ tăng một mức bằng tỷ lệ số dư đảm phí với doanh thu Có nghĩa là khi tăng cùng một lượng doanh thu ở tất cả các loại sản phẩm, sản phẩm nào có tỷ lệ số dư đảm phí lớn thì sẽ đạt lợi nhuận cao hơn

Tuy nhiên công cụ phân tích này còn có một số hạn chế vì nó dựa trên giả thuyết kết cấu sản phẩm cố định, giá bán đơn vị sản phẩm không đổi, chi phí phải phân thành biến phí và định phí một cách chính xác, giá trị đồng tiền ổn định, Do đó tính khả thi

và sự chính xác khi ra quyết định dựa vào quan hệ CVP cần phải xem xét trong những điều kiện cụ thể và cần thiết

1.2.6.3 Phân tích thông tin thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp

Phương pháp phân tích thông tin thích hợp sẽ hỗ trợ cho nhà quản trị trong việc lựa chọn các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh Quá trình ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau, mỗi phương án bao gồm rất nhiều thông tin kế toán, trong đó thông tin về chi phí luôn là yếu tố quan trọng mà doanh nghiệp cần xem xét để lựa chọn khi ra các quyết định thích hợp Quá trình phân tích này gồm các bước sau:

- Tập hợp chi phí liên quan đến mỗi phương án kinh doanh, chi phí này bao gồm chi phí thực tế ước tính, chi phí tiềm ẩn và chi phí cơ hội

- Loại bỏ các chi phí và doanh thu phát sinh như nhau trong tương lai ở các phương án kinh doanh

- Loại bỏ các khoản chi phí chìm, là những khoản chi phí phát sinh luôn tồn tại ở tất cả các phương án kinh doanh

Trang 36

25

Thông tin chi phí thích hợp sẽ khác nhau khi so sánh lựa chọn các phương án kinh doanh Các kế toán quản trị chi phí phải phân loại và nhận diện chi phí một cách đúng đắn nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị chi phí và tuỳ theo mục đích mà nhà quản trị

sử dụng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định

1.3 Vận dụng mô hình kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất

Trong giai đoạn hiện nay thông tin được xem như là một yếu tố trực tiếp của quá

trình sản xuất kinh doanh nên để thích ứng với hoàn cảnh mới, các nhà quản trị đã có các phương pháp tiếp cận đối với các chức năng khác nhau của kế toán trong kinh doanh.Kế toán quản trị trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống cung cấp thông tin phục

vụ cho việc quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mô hình tổ chức KTQT có thể khái quát như sau:

1.3.1 Mô hình kết hợp

Loại mô hình này được sử dụng ở hầu hết các nước, đặc biệt là ở Mỹ và các nước

áp dụng kế toán Mỹ Các doanh nghiệp Mỹ đều áp dụng mô hình kết hợp kế toán quản trị và kế toán tài chính, hoặc mô hình phối hợp với hệ thống KTQT chi phí được tách riêng Theo mô hình này kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung về toàn bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp từ việc tổ chức xây dựng bộ máy kế toán, lưu chuyển chứng

từ, vận dụng tài khoản, hệ thống báo cáo…nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị Nội dung của mô hình này tức là KTQT không sử dụng chế độ kế toán riêng, tách rời với kế toán tài chính mà sử dụng các tài khoản kế toán chi tiết, hệ thống sổ kế toán

và báo cáo KTQT kết hợp chung trong một hệ thống kế toán thống nhất với kế toán tài chính Kế toán tài chính sử dụng các tài khoản kế toán tổng hợp còn KTQT sử dụng các tài khoản chi tiết, sổ kế toán chi tiết phù hợp, báo cáo kế toán nội bộ và còn sử dụng thêm các phương pháp khác như phương pháp thống kê, phương pháp toán để

hệ thống hóa và xử lý thông tin

1.3.2 Mô hình tách rời

Loại mô hình tổ chức KTQT này áp dụng chủ yếu ở Cộng hòa Pháp và những nước thực hiện theo kế toán Cộng hòa Pháp Theo mô hình tách rời ở Pháp, kế toán quản trị đặt trọng tâm vào việc xác định và kiểm soát chi phí ở các doanh nghiệp sản xuất, bằng cách chia chi phí theo các trung tâm trách nhiệm quản lý, phân tích đánh giá

Trang 37

26

và tìm các nguyên nhân làm sai lệch chi phí và cuối cùng điều hòa giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

KTQT sử dụng hệ thống kế toán riêng, tách rời hoàn toàn với kế toán tài chính

Hệ thống KTQT được tổ chức thành bộ máy riêng (phòng KTQT hay bộ phận KTQT)

sử dụng hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán nội bộ tách rời với

kế toán tài chính

1.4 Kinh nghiệm ứng dụng Kế toán quản trị trong các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Kế toán quản trị đang ở trong thời kỳ phát triển để đáp ứng với những thay đổi về

kỹ thuật, toàn cầu hoá và những mối quan tâm ngày càng tăng đối với việc quản trị rủi

ro Tuy nhiên, trong thực tiễn ở các doanh nghiệp Việt Nam, việc áp dụng kế toán quản trị và vai trò của KTQT còn chưa phổ biến và phát triển.Vì vậy, học tập kinh nghiệm

và vận dụng mô hình tổ chức kế toán quản trị của các nước có nền kinh tế phát triển nhằm xây dựng và hoàn thiện kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng trong các doanh nghiệp Việt Nam là vô cùng cần thiết

Kế toán quản trị chi phí ở Mỹ

Ở Mỹ, không sử dụng một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất cho các doanh nghiệp mà dựa trên các nguyên tắc kế toán để DN tự thiết kế hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanhnghiệp Đặc trưng cơ bản của mô hình kế toán Mỹ là mô hình kế toán động, nên tổ chức

kế toán có những đặc điểm khác biệt với mô hình kế toán tĩnh, cụ thể:

- Hệ thống kế toán bao gồm: Kế toán tài chính và kế toán quản trị kết hợp trong cùng một bộ máy kế toán

- Kế toán tài chính và kế toán quản trị cùng sử dụng một hệ thông tài khoản, trong

đó kế toán tài chính sử dụng các tài khoản tổng hợp, còn kế toán quản trị sử dụng các tài khoản chi tiết

Việc để DN tự thiết kế tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý cuả từng đơn vị nên mô hình kế toán Mỹ rất linh động, hướng nội, phục vụ đắc lực cho yêu cầu quản lý của DN

Trang 38

27

Với mô hình này, kế toán quản trị Mỹ phân loại chi phí theo các tiêu thức chủ yếu như sau:

- Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động của chi phí

+ Chi phí sản xuất: Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung

+ Chi phí ngoài sản xuất: Chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN

Qua phân loại này, ta thấy được vị trí và chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở DN

- Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Kế toán quản trị phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, nghĩa là khi mức hoạt động kinh doanh thay đổi, các nhà quản trị cần phải thấy trước chi phí sẽ biến động như thế nào? Biến động bao nhiêu và loại nào biến động tương ứng với biến động của mức độ hoạt động Theo cách phân loại này có thể chia như sau:

+ Biến phí: là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về mức độ hoạt động Biến phí khi tính cho một đơn vị thì nó ổn định, không thay đổi Biến phí khi không có hoạt động thì bằng 0

+ Định phí: là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động thay đổi Tuy nhiên, khi tính cho một đơn vị hoạt động, thì định phí thay đổi Khi mức độ hoạt động tăng thì định phí tính cho một đơn vị hoạt động giảm và ngược lại

+ Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của biến phí

và định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí

Với cách phân loại chi phí trên, kế toán quản trị Mỹ dễ dàng chiết xuất dữ liệu từ các tài khoản chi tiết để cung cấp các thông tin về chi phí cho nhà quản trị một cách nhanh nhất và cụ thể nhất

Kế toán quản trị chi phí ở Pháp

Đặc trưng cơ bản của mô hình kế toán Cộng hoà Pháp là mô hình kế toán tĩnh, nên tổ chức kế toán có những đặc điểm khác biệt với mô hình kế toán động, cụ thể: Hệ

Trang 39

và kết quả của từng loại hoạt động SXKD của DN theo từng sản phẩm, dịch vụ Như vậy, kế toán phân tích của Cộng hoà Pháp thực hiện những nội dung tương tự như kế toán quản trị, nhằm cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát chi phí và lập các loại dự toán

Để quản lý DN, nhà quản trị tổ chức các bộ phận có chức năng riêng biệt, bao gồm: các phòng ban, phân xưởng sản xuất, kho hàng,

Mô hình này, kế toán quản trị Pháp phân loại chi phí theo các tiêu thức chủ yếu như sau:

- Chi phí theo chức năng

Các chi phí trong kế toán tổng quát được phân loại theo bản chất kinh tế hay còn gọi là chi phí thông thường Việc phân loại này có tính chất tổng quát, chưa cung cấp thông tin đầy đủ để tính toán các loại giá thành trong kế toán phân tích Do đó, khi chuyển sang kế toán phân tích, các chi phí của kế toán tổng quát phải thể hiện được chi phí theo các chức năng như: Chức năng quản trị hành chính, chức năng tài chính, chức năng tiếp liệu, chức năng sản xuất và chức năng phân phối

- Chi phí theo mức độ liên quan đến đối tượng tập hợp chi phí

+ Chi phí trực tiếp: là các chi phí có liên quan trực tiếp đến chất lượng và số lượng sản phẩm

+ Chi phí gián tiếp: là chi phí không liên quan trực tiếp đến chất lượng và số lượng hoặc có thể liên quan đến chất lượng và số lượng sẩn phẩm nhưng không theo tỷ

lệ thuận và không liên quan trực tiếp đến sản phẩm nào, cho nên chúng không thể được tính trực tiếp cho từng sản phẩm mà phải trải qua giai đoạn phân bổ gián tiếp vào các loại sản phẩm liên quan

Trang 40

29

Ở mô hình này thì kế toán quản trị tách rời với kế toán tài chính, độc lập tương đối, sử dụng hệ thống tài khoản riêng, báo cáo riêng Qua đó ta thấy rằng việc không vận hành đồng bộ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong cùng một bộ máy nó

sẽ phát sinh nhiều nhược điểm như: Hệ thống tài khoản phức tạp vì sử dụng hai hệ thống tài khoản riêng biệt, nhiều số sách biểu mẫu, thông tin cung cấp không đồng bộ, thống nhất Kế toán tài chính khó có thể cung cấp các thông tin cho yêu cầu quản trị và ngược lại

Áp dụng mô hình tổ chức kế toán quản trị quốc tế vào doanh nghiệp

- Tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong cùng bộ máy kế toán Phân công công việc cụ thể, rõ ràng cho từng cán

bộ trong phòng kế toán, đảm bảo tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc thu nhận, xử

lý và cung cấp thông tin phù hợp với trình độ cán bộ kế toán của các DN

- Trên cơ sở tài khoản do Bộ Tài chính ban hành thì cần điều chỉnh, bổ sung những tài khoản chi tiết thích hợp với việc phản ánh, cung cấp thông tin chi phí cho mục đích quản trị của DN

- Ngoài các tiêu thức phân loại hiện nay thì cần thiết phải phân loại chi phí theo các chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và theo các yêu cầu quản trị trong nội bộ doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế, kỹ thuật và dự toán, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch khoa học và hợp lý

- Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xử lý số liệu DN nên sử dụng một hệ thống phần mềm quản trị thống nhất để quá trình lấy số liệu kịp thời và không bị sai sót

Ngày đăng: 28/01/2021, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2006), Thông tư 53/2006/TT-BTC: “Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
2. Bộ Tài chính (2014), Thông tư 200/2014/TT-BTC: “Hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
6. Nguyễn Kim Nhàn (2013), Nghiên cứu và ứng dụng hệ thống kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Xây dựng Khánh Hoà, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và ứng dụng hệ thống kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Xây dựng Khánh Hoà
Tác giả: Nguyễn Kim Nhàn
Năm: 2013
7. Trần Tuấn Anh, Đỗ Thị Thu Hằng (2014), “Ứng dụng kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Tài chính số 8-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp Việt Nam”
Tác giả: Trần Tuấn Anh, Đỗ Thị Thu Hằng
Năm: 2014
8. Phan Thị Huệ (2014), Nghiên cứu áp dụng hệ thống kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Điện Lực Khánh Hoà, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu áp dụng hệ thống kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Điện Lực Khánh Hoà
Tác giả: Phan Thị Huệ
Năm: 2014
9. Hồ Thị Huệ (2011), Xây dựng kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Thị Huệ
Năm: 2011
12. Nguyễn Thị Minh Tâm (2010), “Vài nét về thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại một số doanh nghiệp sản xuất ở Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và kinh doanh 26, pp245-255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại một số doanh nghiệp sản xuất ở Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Tâm
Năm: 2010
13. Võ Khắc Thường (2013), “Ứng dụng kế toán quản trị vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 8 (18), pp46-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ứng dụng kế toán quản trị vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”
Tác giả: Võ Khắc Thường
Năm: 2013
3. Phạm Văn Dược, Đặng Kim Cương (09/2010), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Thống kê Khác
4. Nguyễn Ngọc Quang (2012), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân 2012 Khác
5. Lê Đình Trực (2009), Tài liệu hướng dẫn học tập Kế toán quản trị, trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh Khác
10. Đinh Thị Phương Vy (2007), Tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Sản xuất kinh doanh dịch vụ và Xuất nhập khẩu Quận 1 (FIMEXCO), Luận văn Thạc sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Khác
11. Nguyễn Thị Hồng Sương (2013), Tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Sợi thuộc Tổng Công ty cổ phần Dệtmay Hoà Thọ, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Đà Nẵng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w