1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu các yếu tố ẢNH HƯỞNG đến ý ĐỊNH THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN bền VỮNG DU LỊCH BIỂN của NGƯỜI dân THÀNH PHỐ TUY hòa, TỈNH PHÚ yên

111 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 9,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Mục tiêu của đề tài này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững du lịch biển của người dân tại thành phố Tuy Hòa,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ THỊ MINH TRÍ

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

Ý ĐỊNH THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH BIỂN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ THỊ MINH TRÍ

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

Ý ĐỊNH THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH BIỂN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham

gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển của người dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Nha Trang, ngày 20 tháng 01 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Minh Trí

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt hơn hai năm học tập và nghiên cứu đến nay, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp.Đây là công trình nghiên cứu của tôi Để có được kết quả như hôm nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Quý thầy cô, các bạn học viên, các đồng nghiệp, người thân cũng như các tổ chức, cá nhân

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Quý thầy cô Trường Đại học Nha Trang đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi và các học viên khác trong quá trình theo học tại trường

Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Lê Chí Công đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện đề tài với tất cả sự nhiệt tình và đầy trách nhiệm

Và cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ đã góp thêm ý kiến để tôi hoàn thành tốt hơn luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Trân trọng!

Nha Trang, ngày 20 tháng 01 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Minh Trí

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ý ĐỊNH THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 6

2.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến phát triển du lịch bền vững 6

2.1.1 Khái niệm du lịch 6

2.1.2 Phát triển du lịch 7

2.1.3 Khái niệm phát triển bền vững 7

2.1.4 Khái niệm phát triển du lịch bền vững 10

2.1.5 Mô hình phát triển du lịch bền vững 11

2.2 Cộng đồng địa phương và vai trò đối với phát triển du lịch bền vững 14

2.2.1 Khái niệm cộng đồng địa phương 14

2.2.2 Vai trò của cộng đồng địa phương đối với phát triển du lịch 16

2.3 Lý thuyết hành vi dự định TPB và ứng dụng trong lĩnh vực du lịch 17

2.3.1 Ý định tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững 18

2.3.2 Thái độ đối với phát triển du lịch bền vững 20

2.3.3 Các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững 20

2.3.4 Kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững 21

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan 21

2.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 21

2.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 22

2.5 Đề xuất mô hình và giả thuyết của nghiên cứu 24

2.5.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 24

2.5.2 Phát triển giả thiết cho mô hình nghiên cứu 25

Trang 6

Tóm tắt chương 2 30

CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Giới thiệu về Tuy Hòa- Phú Yên 31

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 31

3.1.2 Điều kiện tự nhiên, chính trị-xã hội và kinh tế 31

3.1.3 Tài nguyên du lịch 37

3.1.4 Kết quả kinh doanh du lịch 42

3.2 Thiết kế nghiên cứu 44

3.2.1 Quy trình nghiên cứu 44

Tóm tắt chương 2 52

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ Ý ĐỊNH THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 53

4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 53

4.2 Đánh giá thang đo bằng hệ số Cronbach’sAlpha 57

4.2.1 Thang đo “Ý định tham gia chương trình phát triển du lịch biển bền vững” 58

4.2.2.Thang đo “Thái độ đối với việc tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững” 58

4.2.3.Thang đo “Sự quan tâm tham gia chương trình bảo vệ môi trường du lịch biển tại Tuy Hòa” 59

4.2.4.Thang đo “Trách nhiệm đối với môi trường của mình khi tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại Tuy Hòa” 60

4.2.5.Thang đo “Ảnh hưởng của người liên quan đến việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển” 60

4.2.6.Thang đo “Nhận thức lợi ích từ việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển 61

4.3 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 62

4.4 Phân tích tương quan hồi quy 64

4.4.1 Kết quả hồi quy và các kiểm định cơ bản cho mô hình nghiên cứu đề xuất 64 Tóm tắt chương 4 70

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 71

5.1 Thảo luận từ câu hỏi nghiên cứu 71

Trang 7

5.2 Gợi ý chính sách cho ngành du lịch thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 72

5.2.1 Khuyến nghị một số chính sách tại Tuy Hòa, Phú Yên liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố 72

5.2.2 Khuyến nghị một số chính sách đối với Nhà nước liên quan đến việc khuyến khích ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa 75

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 76

Tóm tắt chương 5 77

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ANOVA : Anlysis of Variance (Phân tích phương sai)

DLBV : Du lịch bền vững

EFA : Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá) GRDP

: Gross Regional Domestic Product (Tổng sản phẩm trên địa bàn) IUCN : International Union for onservation of Nature and Natural

Resources (Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế) IUOTO : International Union of Official Travel Oragnization

KDLH : Kinh doanh lữ hành

KMO : Kaiser-Meyer – Olkin (Hệ số KMO)

LHQ : Liên Hiệp Quốc

PBC : Perceived Behavioral Control (Kiểm soát hành vi)

SEM : Structural Equation Modeling (Mô hình cấu trúc tuyến tính) SN :

Subjective Norm (Chuẩn chủ quan)

ST : Sustainable Tourism (Du lịch bền vững)

TPB : Theory of Planned Behavior (Thuyết hành vi dự định)

TRA : Theory of Reasoned Action (Thuyết hành động hợp lý)

UBND : Ủy ban nhân dân

UNDP : United Nations Development Programme

(Chương trình phát triển liên hiệp quốc) UNWTO : United Nation Word Tourism Organization

(Tổ chức du lịch thế giới từ 1/12/2005) VH-TT& DL : Văn hóa, thể thao và du lịch

WCED : World Commission on Environment and Development

(Ủy ban phát triển thế giới) WTO : World Tourism Organization (Tổ chức du lịch thế giới)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Phát triển du lịch bền vững và không bền vững 14

Bảng 3.1: Lượng khách du lịch và doanh thu du lịch tại Phú Yên 2014 - 2016 43

Bảng 3.2: Đo lường các khái niệm nghiên cứu 47

Bảng 4.1: Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu 54

Bảng 4.2: Thống kê mô tả biến quan sát 55

Bảng 4.3: Thang đo Ý định tham gia chương trình phát triển du lịch biển bền vững 58

Bảng 4.4: Thang đo thái độ đối với việc tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững 59

Bảng 4.5: Thang đo sự quan tâm tham gia chương trình bảo vệ môi trường du lịch biển tại Tuy Hòa 59

Bảng 4.6: Thang đo Trách nhiệm đối với môi trường của mình khi tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại Tuy Hòa 60

Bảng 4.7: Thang đo ảnh hưởng của người liên quan đến việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển 61

Bảng 4.8: Thang đo Nhận thức lợi ích từ việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển 61

Bảng 4.9: Phân tích EFA các thành phần trong mô hình nghiên cứu 63

Bảng 4.10: Kết quả EFA thang đo các nhân tố chuẩn trong mô hình nghiên cứu 63

Bảng 4.11: Hệ số Centered VIF 65

Bảng 4.12: Kết quả phân tích hồi quy cho mô hình nghiên cứu (phương pháp Enter) 69

Bảng 4.13: Bảng đánh giá mức độ phù hợp của mô hình đề xuất 69

Bảng 4.14: Bảng kết quả phân tích ANOVA cho mô hình 70

Bảng 5.1: Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 71

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững theo quan điểm của Jordan Ryan 8

Hình 2.2: Mô hình phát triến bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank 9

Hình 2.3: Mô hình phát triến bền vững của Villen, 1990 10

Hình 2.4: Mô hình phân tích lợi ích chi phí phát triển du lịch bền vững 12

Hình 2.5: Thuyết hành vi dự định – TPB (Ajzen, 1991) 18

Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu các thành phần mô hình TPB 25

Hình 3.1: Tháp Nhạn 38

Hình 3.2: Ghềnh đá đĩa 39

Hình 3.3: Nhà thờ Mằng Lăng 39

Hình 3.4: Ngọn hải đăng 40

Hình 3.5: Núi đá bia 41

Hình 3.6: Vịnh Xuân Đài 41

Hình 3.7: Đầm Ô Loan 42

Hình 3.8: Quy trình nghiên cứu 44

Hình 4.1: Kiểm định phương sai thay đổi cho mô hình nghiên cứu 66

Hình 4.2: Phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên của mô hình nghiên cứu 67

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Mục tiêu của đề tài này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững du lịch biển của người dân tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, đánh giá mức độ quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến

ý định tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong phát triển bền vững du lịch biển Từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong phát triển bền vững du lịch

Dựa vào cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu, đo lường về ý định tham gia của cộng đồng đã có trên thế giới và trong nước, nghiên cứu khám phá để đưa ra mô hình lý thuyết cùng với các thang đo cho từng nhân tố trong mô hình nghiên cứu Nghiên cứu định lượng với mẫu 200 người dân được khảo sát để đánh giá các thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết

Kết quả kiểm định và những lập luận cho thấy các thang đo đạt yêu cầu, mô hình lý thuyết phù hợp với mục đích nghiên cứu và các giả thuyết được chấp nhận Kết quả cho thấy mô hình lý thuyết đề ra phù hợp với dữ liệu thị trường với 04/05 giả thuyết đề xuất trong mô hình nghiên cứu ở chương 2 có tác động cùng chiều và mạnh đến ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo thứ tự: (1) Sự quan tâm đến chương trình phát triển bền vững

du lịch biển tại Tuy Hòa, Phú Yên; (2) Trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch biển tại Tuy Hòa, Phú Yên; (3) Thái độ đối với việc tham gia chương trình phát triển bền vững

du lịch biển tại Tuy Hòa, Phú Yên; và (4) Ảnh hưởng của các đối tượng liên quan đến

sự tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại Tuy Hòa, Phú Yên

Kết quả nghiên cứu giúp cơ quan quản lý nhận ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững tại địa phương nhằm có chính sách phù hợp

để phát triển du lịch bền vững có sự đóng góp tích cực của người dân địa phương

Từ khóa: Ý định, du lịch bền vững, cộng đồng, Tuy Hòa

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những thập niên gần đây cùng với sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế- xã hội, khoa học kỹ thuật…đời sống con người được cải thiện, nhu cầu du lịch cũng ngày càng tăng cao và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam

Với tiềm năng đa dạng, phong phú về tài nguyên du lịch, Việt Nam đã và đang trở thành điểm du lịch hấp dẫn ở khu vực và thế giới với nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như: du lịch tham quan, du lịch văn hóa, du lịch “xanh”, du lịch MICE (Meeting Incentive Conference Event - du lịch kết hợp với hội nghị, hội thảo, triển lãm, sự kiện) Năm 2016, Việt Nam đón tiếp hơn 10 triệu lượt khách quốc tế (tăng 26% so với năm 2015 và gấp hai lần năm 2010), 62 triệu lượt khách nội địa và tổng doanh thu cả năm ước đạt 400.000 tỷ đồng Đây là con số kỷ lục từ trước tới nay

Bên cạnh những kết quả đạt được, du lịch Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức như: ô nhiễm môi trường, các sản phẩm du lịch chưa có nhiều sáng tạo, du lịch còn manh mún, tạm thời, dịch vụ còn nhiều bất cập Do đó, để đạt tới sự hài hòa giữa sự phát triển mạnh ngành du lịch mà không làm tổn hại đến môi trường sinh thái thì chúng ta đặt ra mục tiêu phát triển du lịch bền vững Đây là đề tài nóng hổi trong giai đoạn hiện nay và được nhiều người ủng hộ

Phát triển du lịch bền vững là giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường thiên nhiên và cộng đồng địa phương, được thực hiện lâu dài và không ảnh hưởng xấu nền hệ sinh thái Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (UNWTO, 2005) chỉ ra rằng phát triển du lịch bền vững cần phải: (1) Về môi trường: sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên; (2) Về văn hóa - xã hội: tôn trọng tính trung thực

về xã hội và văn hóa của các người dân, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa; (3) Về kinh tế: bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi ích kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch vụ xã hội cho các người dân, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo Như vậy,

sự tham gia tích cực của người dân vào chương trình phát triển du lịch bền vững tại địa

Trang 13

phương là một trong những giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững (Phạm Trung Lương, 2002)

Phú Yên là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, nằm giữa 2 đèo lớn là đèo Cả và đèo Cù Mông Hệ thống giao thông Phú Yên khá thuận lợi, có quốc lộ 1A

và đường sắt Bắc - Nam đi qua; sân bay Tuy Hòa cách trung tâm TP Tuy Hòa khoảng 7km về phía Nam, có khả năng tiếp nhận loại máy bay Boing 747, hiện đang khai thác tuyến bay Tuy Hòa - TP Hồ Chí Minh 01 chuyến/ngày, tuyến bay Tuy Hòa - Hà Nội 5 chuyến/tuần; cảng Vũng Rô có khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải trên 5.000 tấn; tuyến đường quốc lộ 25 và liên tỉnh lộ 645 nối với các tỉnh Tây Nguyên

Phú Yên với bờ biển dài 190km, núi biển liền kề tạo nên nhiều vịnh, đầm mang

vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ như: đầm Cù Mông; đầm Ô Loan; vịnh Vũng Rô gắn liền với

di tích lịch sử Tàu Không số và con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển Vịnh Xuân Đài, đầm Cù Mông là nơi chứng kiến các cuộc giao tranh của quân Tây Sơn và nhà Nguyễn, danh thắng quốc gia Ghềnh Đá Đĩa nổi tiếng bởi hiện tượng địa chất độc đáo, kỳ lạ có một không hai ở Việt Nam; Bãi Môn – Mũi Điện, nơi đón ánh bình minh sớm nhất trên dải đất liền Việt Nam

Thiên nhiên đã ban tặng cho Phú Yên trên 20 bãi tắm có thể phát triển loại hình

du lịch nghỉ dưỡng biển và thể thao trên biển, trên cát Các bãi tắm có sự kết hợp giữa núi non, biển và cát trắng mịn, thoai thoải, nước biển luôn trong xanh và lặng sóng bên những rặng phi lao, rừng dừa Một số bãi tắm tiêu biểu như: Bãi Bàng, Bãi Bàu, Bãi Rạng, Xuân Hải, Bãi Nồm, An Hải, Phú Thường, Long Thủy, Tuy Hòa, Bãi Góc Phú Yên còn có nhiều gành đá và đảo nhỏ ven bờ như: hòn lao Mái Nhà, hòn Yến, hòn Chùa, hòn Nưa

Những năm gần dây, số lượt khách du lịch đến Phú Yên tăng mạnh Theo thống kê cuối năm 2016, tổng lượt khách đến với Phú Yên là hơn 1,1 triệu lượt, đạt 117,5% so với kế hoạch Du lịch đóng vai trò ngày càng lớn vào sự tăng trưởng kinh

tế của địa phương

Nghiên cứu gần đây trên thế giới, người ta chỉ ra rằng, cộng đồng địa phương đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triền du lịch (Lê Chí Công, 2016) Tuy nhiên, nhận thức về phát huy vai trò đó của người dân địa phương đối với phát triển du lịch ở Việt Nam nói chung và thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên nói riêng còn

hạn chế Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến

Trang 14

ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển của người dân thành phố Tuy hòa, tỉnh Phú Yên” nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của cộng

đồng người dân khi tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển, từ đó đề xuất các chính sách nhằm khuyến khích hành vi của cộng đồng tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển của người dân thành phố Tuy Hòa và mức độ tác động của các yếu tố này đến ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách nhằm khuyến khích hành vi của

cộng đồng tham gia phát triển du lịch thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia chương trình phát triển

bền vững du lịch biển của người dân thành phố Tuy Hòa;

- Phân tích mức độ tác động của các yếu tố đến đến ý định tham gia chương

trình phát triển bền vững du lịch biển của người dân thành phố Tuy Hòa;

- Đề xuất một số kiến nghị chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy ý định tham gia

chương trình phát triển bền vững du lịch biển của người dân thành phố Tuy Hòa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khung lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết hành

vi tham gia trong du lịch, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển của người dân

Đối tượng khảo sát: Cộng đồng địa phương (những người đang sinh sống và

làm việc trên địa bàn thành phố Tuy Hòa)

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài thực hiện khảo sát trên địa bàn thành phố Tuy

Hòa, tỉnh Phú Yên thời gian từ tháng 5/2017 đến tháng 8/2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp với các dữ liệu đã được công bố thông qua các nguồn: Cục thống kê, sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Phú Yên, Trung tâm xúc tiến du lịch để đánh giá sơ bộ về phát triển bền vững du lịch biển tại địa phương Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng

Trang 15

kiểm định mô hình này tại Phú Yên, với số lượng được khảo sát dự kiến là 200 người Toàn bộ dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0 Xử lý dữ liệu gồm có bốn bước: một là làm sạch dữ liệu; hai là kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Anpha để kiểm định sự tương quan giữa các biến và loại bỏ các biến có độ tin cậy không phù hợp; ba là phân tích nhân tố khám phá EFA tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia phát triển du lịch bền vững; bốn là phân tích hồi quy tuyến tính nhằm xác định mức độ tác động của các nhân tố đến ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch

5 Đóng góp của đề tài

5.1 Về mặt lý luận

Đề tài nghiên cứu ý định tham gia chương trình phát triển du lịch bềnvững của người dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên nhằm chỉ ra và xem xét các yếu tố ảnh hưởng ý định tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững của người dân Tìm

ra đâu là các nhân tố cơ bản có ảnh hưởng nhiều đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững tại địa phương

Hiện nay ngành du lịch của thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên ngày càng phát triển bền vững, đề tài xem xét các khía cạnh liên quan đến mức độ tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại đây Các yếu tố xem xét kiểm soát tác động đến ý định tham gia của người dân như trình độ học vấn, tuổi tác, thu nhập, khu vực sống của họ có gần biển hay không, thời gian họ gắn bó với thành phố Tuy Hòa

5.2 Về mặt thực tiễn

Thông qua nghiên cứu sẽ giúp tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển của người dân thành phố Tuy Hòa, trong đó nhân tố nào có ý nghĩa quan trọng nhất Đồng thời, việc xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến ý định hành vi tham gia bảo vệ môi trường du lịch biển đảo Tuy Hòa theo hướng bền vững sẽ giúp các nhà quản lý du lịch và chính quyền địa phương trong huyện tìm ra các biện pháp nhằm tăng cường ý định hành vi tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững du lịch biển của người dân thành phố Tuy Hòa Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn có giá trị tham khảo đối với những đề tài tương tự sau này

Trang 16

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài tài liệu tham khảo và phần phụ lục, kết cấu của luận văn bao gồm 5 chương chính:

Chương 1: Giới thiệu chung về vấn đề nghiên cứu

Trong chương này tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về sự cần thiết của đề tài, mục tiêu của nghiên cứu, các câu hỏi của nghiên cứu, đối tượng - phạm vi nghiên cứu,

phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương này sẽ trình bày các khái niệm quan trọng của phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững, ý định tham gia phát triển du lịch bền vững, đề xuất mô hình lý thuyết áp dụng và giả thuyết nghiên cứu Đồng thời, chương này cũng lược khảo những nghiên cứu trước cả trong và ngoài nước để định hướng việc xây dựng mô hình

nghiên cứu

Chương 3: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo và bảng câu hỏi điều tra khảo sát, thu thập dữ liệu, số lượng mẫu; khái quát về phân tích nhân tố và các bước phân tích dữ liệu

Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu

Từ việc thu thập dữ liệu được tiến hành như các bước ở chương 3, trong chương 4 này sẽ thực hiện lần lượt các phân tích, gồm phân tích tương quan, phân tích

độ tin cậy, phân tích nhân tố, phân tích mô hình hồi quy và cuối cùng là kiểm định các

giả thuyết của mô hình nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách/kiến nghị

Từ kết quả của chương 4, chương 5 sẽ trình bày những kết luận của nghiên cứu, đưa ra những chính sách hoặc kiến nghị nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu được đặt ra, đồng thời đánh giá những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ý ĐỊNH THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

2.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến phát triển du lịch bền vững

2.1.1 Khái niệm du lịch

Du lịch đã trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến của con người trong thời đại ngày nay Tuy nhiên, thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm du lịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm giữa những người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực này

Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức : IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…

Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ

Theo các nhà du lịch Trung Quốc: Hoạt động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan

hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện

Theo Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO, 2003): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền

Theo Pirogionic (1985) thì du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh

tế và văn hóa

Trang 18

Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc

Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục

vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Từ những khái niệm trên, có thể rút ra bốn luận điểm cơ bản về du lịch: Thứ nhất, du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên; Thứ hai, chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn; Thứ ba, mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi

du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập ở nơi đến, nơi viếng thăm; Thứ tư, du lịch là thiết lập mối quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư địa phương

2.1.2 Phát triển du lịch

Du lịch là ngành dịch vụ hoạt động trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn những nhu cầu vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, các nét đẹp văn hóa…của dân cư các miền khác nhau trên thế giới để thu được lợi nhuận

Vì vậy, việc đẩy mạnh phát triển du lịch thường được các quốc gia trên thế giới quan tâm đề cao vì tính hiệu quả của nó, đôi khi nó còn được gọi là “nền công nghiệp không khói” Trên cơ sở khái niệm tăng trưởng và phát triển, ta có thể đi đến việc xác lập nội hàm của phát triển du lịch như sau: Đó là sự gia tăng sản lượng và doanh thu cùng mức độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện

về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch

2.1.3 Khái niệm phát triển bền vững

Từ thế kỷ XIX, qua thực tiễn quản lý rừng ở Đức, người ta đã đề cập tới sự

“phát triển bền vững” Nhưng mãi đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khái niệm này mới được phổ biến tương đối rộng rãi Năm 1980, IUCN cho rằng “phát triển bền vững”

Trang 19

phải và cân nhắc đến việc khai thác các tài nguyên có khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem xét các điều kiện khó khăn cũng như thuận lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn và dài hạn Đến năm 1987, ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Grohalem Brandtland thành lập đã công bố thuật ngữ

“phát triển bền vững” trong bản báo cáo “Tương lai chúng ta” như sau: “Phát triển

bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”

Theo ông Jordan Ryan - đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam thì “phát triển bền vừng là một quá trình đảm bảo tăng tối đa phúc lợi của xã hội và xóa bỏ đói nghèo thông qua việc quản lỷ ở mức tối ưu và có hiệu quá tài nguyên thiên nhiên” Ông khẳng định phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững

về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Cũng theo ông, chúng ta không nên coi phát triển bền vững như một phương tiện thuận lợi để gom tất cả các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường lại với nhau, mà cần có một quan điểm toàn diện để đảm bảo các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì mâu thuẫn nhau

Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững theo quan điểm của Jordan Ryan

Trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tháng 6 năm 1992 tại Rio De Janeiro,

“phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp giữa

ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội

Bà Nguyễn Ngọc Lý (Trưởng ban Phát triển bền vững – UBND thành phố Hà

Trang 20

Nội) cũng đồng ý với các định nghĩa về phát triển bền vững của hội nghị RioDeJaneiro, cho rằng khái niệm về phát triển bền vững cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng thời điểm lịch sử, từng nền kinh tế - xã hội khác nhau và tùy theo những nền văn hóa khác nhau của các quốc gia

Ngoài ra, còn có một số tác giả cho rằng: “phát triển bền vững bên cạnh yếu tố

là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cần phải có cả sự bền vững về an ninh, chính trị và bảo đảm công bằng xã hội Khái niệm phát triển bền vững mang tính chất toàn cầu nên không thể hiểu phát triển bền vững chỉ trong phạm vi một nước mà phải tính đến những yếu tố hợp tác quốc tế, yếu tố phối hợp phát triển giữa các quốc gia, nhất là những ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường

Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển

Tuy hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững, song tập trung, tất cả đều thống nhất ở các nội dung sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về 3 mặt: trở ngại kinh tế, xã hội và môi trường để đáp ứng những

nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không làm tồn hại, gây đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế-xã hội mai sau,

không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai”

Hình 2.2: Mô hình phát triến bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank

Trang 21

Hình 2.3: Mô hình phát triến bền vững của Villen (1990)

Như vậy, muốn phát triển bền vững thì phải cùng đồng thời thực hiện ba mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư; (3) Cải thiện môi trường môi sinh thái,bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau

2.1.4 Khái niệm phát triển du lịch bền vững

Theo WTO (1992) đưa ra tại hội nghị về mô trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái

và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người” (Phạm Trung Lương, 2002)

Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên

và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương

Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách

Trang 22

có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương (WTO, 2002) Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính (Kibert và cộng sự, 2011), đôi khi được ví như “ba chân”: Thứ nhất là thân thiện môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi

tự nhiên, giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm…) và cố gắng có lợi cho môi trường Thứ hai là gần gũi về xã hội và văn hoá, nó không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ Thứ ba là có kinh tế, nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì

“sẽ kinh doanh tốt nhờ làm tốt” Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thể không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khích đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng

và có thể cũng sẽ thu lợi tức

2.1.5 Mô hình phát triển du lịch bền vững

2.1.5.1 Mô hình phân tích lợi ích và chi phí

Các học giả Ba Lan cũng đã nỗ lực để trình bày bản chất của du lịch bền vững

ở một dạng mô hình Du lịch bền vững (ST) đề cập chủ yếu là ba loại hình du lịch (Durydiwkaet và cộng sự, 2010), tức là: 1) liên quan đến các giá trị môi trường tự nhiên (STnatural); 2) liên quan đến các giá trị môi trường văn hóa (STcultural); 3) yêu cầu từ khách du lịch kỹ năng nhất định (STqualifying) Có tính đến các loại hình

du lịch mà họ trình bày ý tưởng của du lịch bền vững như công thức sau đây:

ST=STnatural+STcultural+STqualifying+(STnatural/k x STcultural/k x STqualifying/k)

Với k là hệ số hiệu chỉnh

Trang 23

Theo các tác giả, công thức này đề cập đến khái niệm toàn diện về du lịch bền vững, có nghĩa là nó phải được hiểu như là một sự kết hợp của các loại hình du lịch,

bổ sung bởi các mục tiêu chung, chẳng hạn như quan tâm đến môi trường tự nhiên, hạn chế những tác động tiêu cực cho người dân địa phương, mang lại lợi ích kinh tế cho khu vực tiếp nhận và đáp ứng các nhu cầu của du khách du lịch

Mô hình này được thể hiện trong sơ đồ (Hình 2.4), giả định chính là mô hình dựa trên các biến, các yếu tố mô hình cân bằng và sự thay đổi của nó, yếu tố ảnh hưởng đến các biến, và các khả năng và hạn chế về việc sử dụng các mô hình

Hình 2.4: Mô hình phân tích lợi ích chi phí phát triển du lịch bền vững

Giải thích cho mô hình

(1) Lợi ích từ du lịch - lợi ích thu được khi du khách tham quan một điểm đến

và lợi ích của người dân địa phương (bao gồm đơn vị kinh doanh du lịch, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức khác), kết quả từ sự phát triển của du lịch:

Mức lợi ích thấp nhất chấp nhận được (Bmin): biểu thị mức độ chấp nhận tối thiểu của nhu cầu cao nhất của khách du lịch và người dân địa phương, dưới mức này những lợi ích thu được sẽ được đánh giá là không đủ; giá trị Bmin được đo bằng giá trị số của các điểm Bmin trên trục Ox của đồ thị

Mức lợi ích cao nhất (Bmax): biểu thị mức độ chấp nhận tối đa (trong điều kiện

du lịch bền vững) của mức nhu cầu cao nhất của khách du lịch và người dân địa phương; giá trị Bmax được đo bằng giá trị số của các điểm Bmax ở trên trục Ox của

Trang 24

đồ thị

Lợi ích thực (Breal): biểu thị mức độ thực của lợi ích thu được bởi khách du lịch

và cộng đồng địa phương liên quan đến phát triển du lịch trên một điểm đến nhất định Trong thành phần của lợi ích có hai nhóm tham gia cơ bản (du khách và, cộng đồng địa phương), trong đó có thể có lợi ích đối lập Để cân bằng lợi ích (đảm bảo tính bền vững) giữa những lợi ích của khách du lịch và cộng đồng địa phương, như một yếu tố của sự cân bằng chung (bền vững), các tác giả đã tạo ra một mô hình phụ

hỗ trợ nhằm cân bằng các thành phần có lợi Các giả định của mô hình này đã được chuyển giao với trục Ox của mô hình chính

(2) Chi phí phát triển du lịch - suy thoái môi trường tự nhiên và tổ hợp môi

trường xã hội (xã hội, văn hoá, kinh tế) trên một khu vực tiếp nhận du lịch:

Mức suy thoái cao nhất có thể chấp nhận (Dmax): biểu thị mức chấp nhận cao nhất về du lịch bền vững (tức là không được dẫn đến những thay đổi không thể đảo ngược) mức độ xuống cấp của cả hai môi trường; giá trị Dmax được đo bằng giá trị

số của các điểm Dmax trên trục Oy của đồ thị

Mức suy thoái không thể tránh khỏi (Dunav): biểu thị mức độ suy thoái không thể tránh khỏi của cả hai môi trường do phát triển du lịch bền vững; giá trị Dunav được đo bằng giá trị số của các điểm Dunav trên trục Oy của đồ thị

Suy thoái thực (Dreal): mức độ thực sự của sự xuống cấp của môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế xã hội xảy ra tại một điểm đến liên quan đến phát triển

du lịch

Mục đích của việc xây dựng mô hình du lịch bền vững là trình bày một cách đầy đủ, rõ ràng và đơn giản như hình thức bản chất của du lịch bền vững trong quan điểm ngắn hạn Các tác giả dự định mô hình đề xuất, thiết kế như là một cấu trúc lý thuyết, thể hiện một cách đầy đủ nhất những ý tưởng của du lịch bền vững Mô hình này được dự định được linh hoạt, tức là có thể áp dụng trong mọi điều kiện, trên tất

cả các khu vực tiếp nhận, với mỗi loại hình du lịch Một điều kiện, mà đã được yêu cầu để đáp ứng tất cả các tiêu chí khác, là cần thiết để sử dụng chức năng phụ thuộc toán học và ký hiệu mô hình

Trang 25

danh mục các yếu tố được coi là bền vững và các yếu tố được coi là không bền vững trong phát triển du lịch được hình thành Dưới đây, tác giả xin giới thiệu mô hình so sánh du lịch biển vững và không bền vững của Machado (2003)

Bảng 2.1: Phát triển du lịch bền vững và không bền vững

Các yếu tố đánh giá Du lịch bền vững Du lịch không bền vững

Đối tượng tham gia kiểm soát Địa phương Trung ương

Chiến lược Quy hoạch trước, triển khai sau Không có quy hoạch, triển

khai tùy tiện

Thái độ du khách Thông cảm và lịch thiệp Không ý tứ

Sự trung thành của du khách Trở lại tham quan Không trở lại tham quan

Nguồn: Machado A (2003), Tourism and Sustainable Development, CapacityBuilding for

Tourism Development in VietNam, VNAT and FUDESO, VietNam

2.2 Cộng đồng địa phương và vai trò đối với phát triển du lịch bền vững

2.2.1 Khái niệm cộng đồng địa phương

Theo xã hội học, cộng đồng là một tập thể những cá nhân có sự tương tác và cùng chia sẻ một môi trường chung Đối với cộng đồng loài người, ý định, niềm tin và

Trang 26

tín ngưỡng, nguồn lực, nhu cầu, sở thích, nguy cơ… và một số các điều kiện khác có thể hiện diện và trở thành điểm chung của tập thể, ảnh hưởng đến bản sắc của các thành viên và mức độ kết nối hay mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau

Sự hình thành cộng đồng thường dựa vào các yếu tố: lãnh thổ, kinh tế và văn hóa Khái niệm cộng đồng bao gồm các yếu tố: tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; có sự liên hệ tình cảm; có sự tự nguyện hy sinh đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả; có ý thức đoàn kết mọi thành viên trong tập thể Cộng đồng là một tập thể người định cư trên lãnh thổ nhất định Họ có hoạt động kinh tế để đảm bảo về mặt vật chất và tạo nên sự gắn kết cộng đồng Đây là nhân tố quan trọng giúp cho một cộng đồng phát triển vững mạnh Mỗi cộng đồng có những nét văn hóa đặc trưng riêng, được hình thành trong quá trình phát triển của cộng đồng đó Đó là phong tục tập quán, các quy ước, tín ngưỡng tôn giáo…được lưu truyền từ đời này sang đời khác

Hầu hết nghiên cứu trước nói về “cộng đồng” như một đơn vị không gian nhỏ, cấu trúc xã hội đồng nhất với mức độ chia sẻ và lợi ích chung Cộng đồng địa phương

là nhóm người với một bản sắc chung và những người có thể được tham gia vào một loạt các khía cạnh liên quan của đời sống Họ cũng lưu ý rằng cộng đồng địa phương thường có quyền liên quan đến khu vực và tài nguyên thiên nhiên, mối quan hệ mạnh

mẽ về văn hóa, xã hội, kinh tế và tinh thần Nghiên cứu khác phát biểu rằng một cộng đồng dùng để chỉ một nhóm các cá nhân sinh sống hoặc làm việc trong khu vực địa lý cùng với một số chia sẻ về văn hóa hoặc lợi ích chung (Aref & Gill, 2010)

Trong du lịch, cộng đồng thường được xác định theo phân bố địa lý Theo

Sproule (1996) thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sống trên cùng một khu

vực địa lý, nhận biết bản thân họ thuộc cùng một nhóm Các thành viên trong một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân Tất cả họ có thể thuộc về cùng một nhóm tôn giáo, chính trị, tầng lớp hoặc đẳng cấp” Ngoài những đặc điểm

chung, cộng đồng là một thực thể phức tạp và không đồng nhất Trong cùng một cộng đồng, có người giàu và người nghèo, người mới nhập cư và những cư dân bản địa, người có nhiều đất đai và người không có đất Sự phân hóa trong cộng đồng dẫn đến mức độ tham gia và hưởng lợi khác nhau của thành viên trong một cộng đồng trong các chương trình, dự án phát triển cộng đồng, do đó ẩn chứa những xung đột xảy ra trong cộng đồng (Israr và cộng sự, 2009)

Trang 27

Khi nói đến cộng đồng trong du lịch tại Việt Nam, người ta thường nghĩ ngày đến cộng đồng địa phương ở nông thôn, ở những vùng cao (cộng đồng người dân tộc)

mà quên rằng ở thành thị cũng có những cộng đồng với những giá trị và bản sắc riêng của họ Do đó, chúng ta cần có cách tiếp cận khác hơn để thấy được nhiệm vụ và vai

trò của những cộng đồng ở những nơi là điểm đến du lịch

2.2.2 Vai trò của cộng đồng địa phương đối với phát triển du lịch

Đối với cư dân địa phương, du lịch không chỉ có những tác động kinh tế mà còn tác động đến cuộc sống cá nhân họ Du lịch tác động lên cách sống, truyền thống và văn hoá cũng như sinh kế của họ Không giống như những người tham gia khác trong ngành du lịch, cộng đồng địa phương sẽ phải giải quyết với du lịch cho dù họ có chọn hay không (Salam, 2009) Một số cộng đồng vùng xa nơi mà thường là rất yên tĩnh và

an bình, đã bị phát hiện cho các hoạt động của du khách quốc tế, những người mà phần lớn chỉ đi qua và không ở lâu để gặp gỡ với cộng đồng địa phương Các cư dân địa phương cần phải hoà nhập những phản ứng với việc xâm nhập này Một số không muốn làm gì với du khách, nhưng một số bị hấp dẫn bởi những cơ hội việc làm Cho

dù những phản ứng đầu tiên này như thế nào, các cư dân địa phương thường là chưa có những chuẩn bị cho những nhu cầu của du khách Họ thường không thể cạnh tranh với các ngành du lịch lớn và không hiểu những mong muốn hoặc thói quen của những du khách tự do này, những người thích khám phá những vùng mới Các thành viên cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong du lịch Họ có thể thực hiện nhiều vai trò trực tiếp trong ngành du lịch như: Cho thuê đất cho việc phát triển; Làm việc bán thời gian, toàn thời gian hoặc thời vụ cho những nhà điều hành tư nhân; Cung cấp những dịch vụ cho các nhà điều hành tư nhân như thức ăn, hướng dẫn viên, giao thông, nhà nghỉ; Hình thành liên kết với các nhà điều hành tư nhân, những người cung cấp thị trường, hậu cần, hướng dẫn viên đa ngôn ngữ, trong khi đó thì cộng đồng cung cấp những dịch

vụ còn lại; Thực hiện các chương trình du lịch tự do dựa vào cộng đồng

Cho dù cộng đồng địa phương có hay là không tham gia trực tiếp vào ngành du lịch,nhưng họ cũng đóng nhiều vai trò gián tiếp mà tác động đến sự thành công của bất

cứ doanh nghiệp du lịch bền vững nào Sự giao lưu không chính thức của cộng đồng địa phương với du khách có vai trò lớn trong việc mở rộng thêm những trải nghiệm của du khách về những cái tích cực như du khách cảm thấy được sự hiếu khách, an toàn và tiện nghi Các chủ đất địa phương cũng có thể có vài trò quan trọng đối với sự

Trang 28

lành mạnh sinh thái của vùng, đặc biệt là ở vùng đệm của khu bảo tồn biển, gần bờ biển, xung quanh cửa sông…Nhà cửa, thị xã, gia đình và cuộc sống cũng sẽ bị thay đổi nếu du lịch trở thành một phần quan trọng của vùng này (Gutierrezetal, 2005)

Một trong những đóng góp lớn nhất của du lịch bền vững là khả năng để chuyển những “đe doạ” thành những “lợi ích” cho cộng đồng địa phương (Gutierrez và cộng

sự, 2005) Các cư dân địa phương đóng vai trò quan trọng trong du lịch bền vững do 2 nguyên nhân chính sau Trước hết, địa điểm và nhà của họ đang thu hút nhiều du khách Tiếp theo, việc hỗ trợ của cư dân địa phương là cần thiết cho sự thành công của những nỗ lực bảo tồn bao gồm cả du lịch bền vững Những hiểu biết truyền thống và địa phương thường là những hợp phần chính của những trải nghiệm và giáo dục thu hút du khách

Những tác động tiêu cực về môi trường, văn hoá và xã hội của việc phát triển du lịch không bền vững tác động đến cư dân địa phương một cách sâu sắc nhất Các cộng đồng truyền thống và những người bản xứ có thể đóng vai trò chính trong việc bảo tồn đang dạng sinh học, nhưng chỉ được nhận ra trong thời gian gần đây và vấn đề quan trọng liên quan đến sự tham gia, sử dụng đất và nguồn lợi và vấn đề dân chủ cũng cần được xem xét trong hoàn cảnh phát triển du lịch Du lịch có thể phát triển và tăng trưởng khi người dân địa phương có một thái độ tích cực đối với nó và khi họ nhìn thấy vai trò của họ trong quá trình phát triển du lịch (Ambro, 2008)

2.3 Lý thuyết hành vi dự định TPB và ứng dụng trong lĩnh vực du lịch

Lý thuyết TPB tồn tại cách đây hơn 20 năm, nó được chứng mính rằng nó là lý thuyết hữu ích để dự đoán hành vi của con người Lý thuyết TPB là một lý thuyết cho việc thực hiện những dự đoán liên quan đến việc xây dựng và thực hiện kế hoạch và hành động TPB là một lý thuyết mà nhìn vào những hành vi thay đổi thông qua ảnh hưởng của ý định Về lý thuyết, các dự báo xu hướng của hành vi của một người là ý định của họ để tham gia tạo hành vi Xu hướng hành vi được xác định bởi thái độ đối với các hành vi, mức chủ quan và kiểm soát các hành vi (Ajzen, 1991)

Các thành phần đầu tiên của TPB là thái độ mà nó đo lường mức độ mà một cá nhân có một đánh giá thuận lợi hay bất lợi của hành vi Điều này lần lượt được dự đoán bởi tổng của các sản phẩm của niềm tin về kết quả của các hành vi và đánh giá về những kết quả đó Thành phần thứ hai là chuẩn chủ quan, nó được sử dụng để đo lường sự ảnh hưởng của người khác đối với các hành vi, mà lần lượt được dự đoán

Trang 29

bằng tổng của các tín ngưỡng, quy phạm và động lực để thực hiện Thành phần thứ ba

là kiểm soát hành vi, nó phản ánh tín ngưỡng liên quan đến việc tiếp cận các nguồn lực

và cơ hội cần thiết để thực hiện hành vi

Hình 2.5: Thuyết hành vi dự định – TPB (Ajzen, 1991)

Kết quả là, lý thuyết có thể được sử dụng để dự đoán hành vi người dân, mục tiêu của nghiên cứu này là dự đoán xu hướng hành vi của người dân đối với hoạt động phát triển du lịch bền vững Các phần khác trong nghiên cứu sẽ xây dựng trên du lịch bền vững và xem xét lại các nghiên cứu liên quan đến TPB và phát triển du lịch bền vững TPB đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu như hành vi mua Internet (Celik, 2008; George, 2002; Jarvenpaa & Todd, 1997; Limayen và cộng sự, 2000) và trong các hệ thống thông tin thư viện (Mathieson, 1991; Taylor & Todd, 1995) TPB cũng được nhiều tác giả sử dụng nghiên cứu về du lịch như Lý thuyết TPB về du lịch bền vững (Hamid & Isa, 2015), các ứng dụng của lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) trong du lịch tại Jordan (Ziadat, 2015)

Nghiên cứu ý định tham gia phát trển du lịch bền vững, tác giả dừng lại ở nghiên cứu xu hướng hành vi/ý định hành vi Ứng dụng TPB trong nghiên cứu ý định tham gia phát triển du lịch bền vững, thái độ ở đây là thái độ của người dân đối với phát triển du lịch bền vững; chuẩn chủ quan ở đây chính là các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững; tương đồng với kiểm soát hành vi cảm nhận

là kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững

2.3.1 Ý định tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững

Ở các nước đang phát triển, sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình

ra quyết định của sự phát triển du lịch thường mờ nhạt và trong quá trình ra quyết định luôn có giới hạn hoặc đôi khi không quan trọng (Dola & Mijan, 2006) Việc chấp nhận

Trang 30

và nhấn mạnh vào sự tham gia của cộng đồng và cách tiếp cận cộng đồng để phát triển

du lịch có nghĩa là họ phải được tham gia lập kế hoạch, ra quyết định và quản lý dự án

Bỏ qua sự tham gia của người dân vào phát là một thực tế phổ biến ở các nước đang phát triển có nền văn hóa phát triển theo lệnh từ trên xuống (Teye và cộng sự, 2002) Cater (1994) nhấn mạnh sự cần thiết cho sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc lập kế hoạch và quản lý du lịch, đặc biệt là trong bối cảnh các nước đang phát triển Drake (1991) đã tuyên bố rằng sự tham gia của người dân địa phương ngày càng được coi là nền tảng cho sự hiệu quả của việc lập kế hoạch và quản lý du lịch Thật vậy, sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch không chỉ liên quan đến quá trình ra quyết định và lợi ích của việc phát triển du lịch, mà còn liên quan đến chiến lược du lịch bền vững (D‘Amore, 1992; Green, 1995; Leslie, 1993; Murphy, 1988) Tuy nhiên, có những trở ngại đáng kể đến sự tham gia cộng đồng trong hoạch định du lịch ở các nước đang phát triển như Iran Một trong những trở ngại liên quan đến sự chỉ thị ra quyết định của hệ thống quản lý Do đó, có hai vấn đề chính của hoạch định hệ thống phát triển: hệ thống theo từng ngành được chia nhỏ, và không có

sự hiện diện đáng kể của sự tham gia của cộng đồng trong tiến trình hoạch định và quản lý (Mohammadi, 2010)

Một trong những lý do chính cho vấn đề này ở các nước đang phát triển, liên quan đến cấu trúc chính trị, kinh tế và xã hội của họ, đó là cơ sở hạ tầng cần thiết để tham gia vào việc ra quyết định không được cung cấp đồng thời (Dola & Mijan, 2006) Bên cạnh đó những rào cản hoạt động, cấu trúc và văn hóa với sự tham gia của cộng đồng được nhấn mạnh trong phát triển du lịch cộng đồng địa phương ở Iran (Aref & Redzuan, 2008) Họ phát hiện ra rằng những rào cản này không đồng đều tồn tại trong mỗi cộng đồng, nhưng thiếu sự tham gia của cộng đồng đã được xác định là rào cản quan trọng để phát triển du lịch hiệu quả

Lý thuyết hành vi tiêu dùng có kế hoạch (TPB) được mở rộng từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA) TPB cho rằng thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và sự kiểm soát hành vi là ba yếu tố quyết định đến ý định hành vi (Ajzen, 1991) Đồng thời, việc tích hợp vào mô hình nhân tố kiểm soát hành vi như một yếu tố quyết định về xu hướng hành vi của khách hàng Nhân tố này được xem xét dưới góc độ kiểm soát niềm tin.Nó bao gồm yếu tố niềm tin rằng việc thực hiện hành vi dễ dàng hay khó khăn phụ thuộc vào việc sở hữu các nguồn tài nguyên thiết yếu và cơ hội để thực hiện một hành

Trang 31

vi cụ thể

Theo lý thuyết TPB, ý định của một người là các dự báo gần của hành vi của họ tham gia tạo hành vi Do đó, ý định tham gia phát triển du lịch bền vững là các dự báo gần của hành vi của người dân, dự báo xác suất họ tham gia phát triển du lịch bền vững hay là không

Ý định tham gia phát triển du lịch bền vững là biến phụ thuộc, xu hướng hành vi này được giải thích bởi thái độ của người dân đối với phát triển du lịch bền vững, các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững, đồng thời bị kiểm soát bởi các rào cản

2.3.2 Thái độ đối với phát triển du lịch bền vững

Thái độ được định nghĩa là một trạng thái tinh thần của cá nhân hướng tới một giá trị (Allport, 1966) và là một khuynh hướng lâu dài đối với một khía cạnh cụ thể của môi trường của một người (McDougall & Munro, 1987) Chúng được xây dựng dựa trên sự nhận thức và niềm tin của thực tại, nhưng có liên quan chặt chẽ với tổ chức

và nhân cách Theo Ajzen (1991), thái độ đối với hành vi liên quan đến mức độ đánh giá tích cực hay tiêu cực trong quá trình phát triển của hành vi Thái độ tích cực của cá nhân đối với một hành vi cụ thể cũng sẽ củng cố ý định thực hiện hành vi đó của cá nhân (Ajzen,1991) Trong du lịch, thái độ của cộng đồng đối với du lịch là rất quan trọng bởi lập luận rằng một cộng đồng hạnh phúc có khả năng hỗ trợ phát triển du lịch

và chào đón khách du lịch (Snaith & Haley, 1999) Thái độ đối với phát triển du lịch bền vững là thái độ tổng thể bao gồm thái độ đối với bảo vệ môi trường, thái độ đối với bảo vệ tài nguyên du lịch, thái độ đối với bảo vệ cơ sở vật chất hạ tầng, thái độ đối với bảo vệ bản sắc văn hoá địa phương và thái độ đối với giữ gìn an ninh trật tự

2.3.3 Các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững

Chuẩn chủ quan thể hiện nhận thức về tầm quan trọng của những người có ảnh hưởng đến quyết định mua của một cá nhân, có thể là người thân, hay bạn bè và cả đồng nghiệp của họ (Ajzen, 1991) Chuẩn chủ quan là một chức năng của chuẩn mực niềm tin của một người về những gì mà người xung quanh nghĩ rằng họ nên hay không nên làm (Ajzen, 1991) Trong du lịch, chuẩn chủ quan cũng được đo lường bởi mức độ ủng hộ hay phản đối của những người xung quanh như bạn bè người thân, cộng đồng,

có thể là khách du lịch Mức độ ảnh hưởng của những người liên quan phụ thuộc vào

sự gắn kết với chủ thể và động cơ của chủ thể làm theo những người có ảnh hưởng

Trang 32

Bạn bè, người thân có sự gắn kết chặt chẽ với chủ thể gây ra ảnh hưởng đáng kể lên ý định tham gia của chủ thể Họ có thái độ, hành động tích cực hay tiêu cực đối với

sự phát triển du lịch bền vững đều tác động đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững Sự gắn kết cộng đồng chủ thể thường có hành vi của cộng đồng

Nếu cộng đồng địa phương ủng hộ tham gia phát triển du lịch bền vững, thì đó là một cộng đồng đó có ảnh hưởng tích cực lên ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của chủ thể Sự lên án hay ủng hộ của người dân cả nước hay thế giới đối với sự phát triển du lịch của địa phương phần nào gây ảnh hưởng lên ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của chủ thể Mức độ thoả mãn nhu cầu của khách du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến sự quay lại của họ, mong muốn của du khách đối với người dân địa phương trong đó bao gồm cả mong muốn về sự phát triển du lịch bền vững ở địa phương phần nào tác động đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân

2.3.4 Kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững

PBC có thể được mô tả như sự dễ dàng/khó khăn của khách hàng để thực hiện ý định hành vi (Ajzen, 1991) PBC đánh giá nhận thức như thế nào để kiểm soát các yếu

tố có thể tạo điều kiện/ hạn chế các hành động cần thiết để đối phó với một tình huống

cụ thể PBC trở nên tốt hơn khi cá nhân có các cơ hội và những nguồn tài nguyên quan trọng (Madden và cộng sự, 1992)

Đối với du lịch, các rào cản chính ngăn cản cộng đồng địa phương tham gia vào

kế hoạch phát triển du lịch bền vững của địa phương được chỉ ra, đó là: 1) trình độ học vấn thấp, thiếu kiến thức về du lịch; 2) điều kiện sống nghèo nàn và thiếu sự hỗ trợ tài chính; 3) thói quen hàng ngày bận rộn và thiếu thời gian để tham gia du lịch; 4) nhận thức của cộng đồng địa phương về du lịch như một hoạt động thời vụ với thu nhập thấp; và 5) sự chênh lệch về quyền lực, thể chế quan liêu và sự mất lòng tin của cộng đồng về quyền lực của họ (Kim và cộng sự, 2014)

Cộng đồng có ít kiến thức về du lịch và do đó miễn cưỡng tham gia và chịu trách nhiệm về bất kỳ khía cạnh của việc lập kế hoạch và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Tương tự như các nghiên cứu trước đây trong đó nêu bật mức độ giáo dục thấp là rào cản chính cho sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch du lịch

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan

2.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

[1] Nghiên cứu của Environ và cộng sự (2015) về “Hành vi của doanh nhân đối

Trang 33

với các hoạt động phát triển du lịch bền vững” Doanh nhân là một trong những bên liên quan trong ngành du lịch, và sự tham gia của họ là bắt buộc đối với thực tiễn này Các doanh nhân tham gia vào du lịch bền vững là rất quan trọng Như vậy mức độ tham gia của doanh nhân vào du lịch bền vững là rất lớn Trong văn học, để xác định hành vi, lý thuyết về hành vi theo kế hoạch đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm du lịch và khách sạn Nghiên cứu đã xem xét ý định của doanh nhân bằng cách sử dụng lý thuyết hành vi trong việc thực hiện du lịch bền vững

[2] Nghiên cứu của Eshliki & Kaboudi (2011) về “Nhận thức của cộng đồng về

du lịch và tác động của họ trong việc tham gia vào kế hoạch du lịch”, đã đưa ra 5

thuộc tính: phá hoại môi trường gồm yếu tố 6 giải thích, xã hội và văn hóa ảnh hưởng gồm yếu tố 3 giải thích, hiệu quả kinh tế gồm yếu tố 5 giải thích, ô nhiễm nước và bờ biển gồm yếu tố 3 giải thích và cải thiện chất lượng cuộc sống bằng 2 yếu tố Trong đó

có những yếu tố gây tác động tích cực và tiêu cực vào kế hoạch du lịch Từ đó có thể đưa ra các giải pháp hạn chế và nâng cao nhận thức, sự tác động của cộng đồng vào kế hoạch du lịch

[3] Nghiên cứu của Liedewij van Breugel (2013) về sự tham gia của cộng đồng dân cư và nhận thức tác động vào phát triển du lịch Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu cách thức các thành viên cộng đồng tham gia vào các dự án du lịch cộng đồng, cả ở cấp độ cá nhân và cộng đồng Đồng thời, sự hài lòng của người dân địa phương sẽ được phân tích với trọng tâm là ba loại tác động; Môi trường, kinh tế, và văn hoá-xã hội Câu hỏi chính của nghiên cứu là "Làm thế nào để loại hình tham gia của địa phương vào các dự án du lịch dựa vào cộng đồng ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân địa phương với kết quả của phát triển du lịch?" Người dân địa phương dự kiến sẽ

có nhiều người tham gia vào các dự án du lịch cộng đồng, thái độ của họ đối với du lịch trong khu vực của họ sẽ thuận lợi hơn

2.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

[1] Lê Chí Công & Võ Hoàn Hải (2015) với nghiên cứu “Thái độ của cộng

đồng địa phương đối với phát triển du lịch biển Nha Trang-Khánh Hòa” được đăng

trên Tạp chí Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 08, tr 42-44 Nghiên cứu đã sử dụng kĩ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với cộng đồng địa phương Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện với 250/275 phiếu phát ra tại tại thành phố Nha Trang Kết quả ủng hộ tất cả các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra khi

Trang 34

chỉ ra rằng 5 nhân tố: (1) lợi ích kinh tế; (2) sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch; (3) sự hài lòng của du khách; (4) bền vững môi trường; (5) phát triển xã hội tác động thuận chiều đến thái độ sẵn sàng tham gia vào chương trình phát triển du lịch biển Kết quả nghiên cứu cho phép nhà nghiên cứu và quản lý ngành du lịch có cái nhìn toàn diện đến vai trò đặc biệt quan trọng của cư dân địa phương trong phát triển bền vững du lịch biển đảo

[2] Nghiên cứu của Lê Chí Công và cộng sự (2016) với chủ đề “Nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phần thái độ đến ý định của cộng đồng địa phương tham gia phát triển du lịch bền vững” được đăng trên Tạp chí Khoa học Thương mại, số 100, tr.65-72 Nghiên cứu này sử dụng kĩ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với cộng đồng địa phương Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp hạn ngạch với 200 phiếu phát ra tại thành phố Quy Nhơn Kết quả 04/05 giả thuyết ủng hộ được đưa ra khi chỉ ra rằng bốn nhân tố: (1) thái độ đối với bảo vệ môi trường; (2) thái độ đối với bảo vệ tài nguyên du lịch; (3) thái độ đối với bảo vệ cơ sở hạ tầng kinh doanh du lịch; (4) thái

độ đối với bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương và gìn giữ an ninh trật tự xã hội tác động thuận chiều đến ý định tham gia phát triển du lịch biển bền vững Kết quả cho phép nhà nghiên cứu, quản lý ngành du lịch có cái nhìn toàn diện đến vai trò quan trọng của cư dân địa phương trong phát triển bền vững du lịch biển đảo

[3] Nghiên cứu của Lê Chí Công (2015) với chủ đề “Xây dựng chỉ tiêu đánh giá du lịch bền vững: Nghiên cứu điển hình tại thành phố Nha Trang”, được đăng trên Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 217, tr 56-64 Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Delphi để xây dựng hệ thống chỉ tiêu giúp đánh giá phát triển bền vững du lịch biển đảo Nghiên cứu phỏng vấn bảy chuyên gia trong lĩnh vực du lịch thông qua hai vòng đánh giá Kết quả cho thấy có tám chỉ tiêu đã bị loại bỏ và 28 chỉ tiêu còn lại đã được lựa chọn cho trường hợp tại Nha Trang Kết quả đã cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà quản lý ngành du lịch, đơn vị kinh doanh du lịch trong việc ra các quyết định quản lý, đặc biệt là chú trọng cung cấp các sản phẩm/dịch vụ du lịch góp phần phát triển bền vững du lịch biển đảo

[4] Nghiên cứu của Lê Chí Công (2017) với chủ đề “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng địa phương vào chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại duyên hải Nam Trung Bộ” được đăng trên Tạp chí Kinh tế và Phát triển số

240, tháng 6 năm 2017 Nghiên cứu này phát triển dựa trên tích hợp ba lý thuyết: phát

Trang 35

triển bền vững; trao đổi xã hội và hành vi tham gia Một mẫu nghiên cứu theo hạn ngạch đã được điều tra từ cộng đồng địa phương với 444/500 phiếu phát ra tại Khánh Hòa, Bình Định và Quảng Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7/8 giả thuyết được ủng hộ Sự tham gia của cộng đồng địa phương đến chương trình phát triển du lịch bền vững chịu ảnh hưởng tích cực của nhận thức lợi ích, sự gắn bó và sự quan tâm của cộng đồng đến chương trình phát triển du lịch bền vững; trong khi chịu ảnh hưởng tiêu cực từ nhận thức chi phí Nghiên cứu đã đề xuất một số chính sách phù hợp cho phép ngành du lịch phát huy vai trò của cộng đồng trong việc tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững thời gian tới

[5] Nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững ở trong nước được thực hiện khá lâu, có hệ thống và đầy đủ Năm 2002 Hà Nội đã phát hành báo cáo tổng hợp đề tài

KHCN độc lập cấp nhà nước Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững

ở Việt Nam do Phạm Trung Lương làm chủ nhiệm đề tài Đề tài này gồm có tám đề tài

nhánh: (1) Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững; (2) Tổng quan kinh nghiệm các nước về phát triển du lịch bền vững; (3) Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững; (4) Tài nguyên du lịch và các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam; (5) Môi trường du lịch Việt Nam và các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch bền vững; (6) Xây dựng hệ thống các giải pháp cho phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam; (7) Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch bền vững; (8) Xây dựng hệ thống bản đồ Với khối lượng nghiên cứu lớn như vậy, đề tài đã nghiên cứu nhiều khía cạnh liên quan đến phát triển DLBV ở Việt Nam, khái quát hóa cơ sở lý thuyết về phát triển DLBV; đưa ra nhiều ví dụ minh họa trên cơ sở nghiên cứu thống kê, mô tả tình hình phát triển DLBV

ở một nước trên thế giới và trong nước Vai trò của người dân đối với phát triển DLBV cũng được đề cập trong nghiên cứu, và rõ nhất là trong đề tài nhánh mang tính lý thuyết, hệ thống Đề tài không đi sâu nghiên cứu vai trò của người dân cho riêng một địa phương nào cũng như không nghiên cứu chi tiết giải pháp để phát triển DLBV liên quan đến người dân cụ thể

2.5 Đề xuất mô hình và giả thuyết của nghiên cứu

2.5.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Mô hình nghiên cứu đưa ra dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững du lịch và lý thuyết hành vi dự định TPB ứng dụng cho du lịch Mô hình nghiên cứu các

Trang 36

thành phần của trong TPB ứng dụng cho nghiên cứu ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển của cộng đồng địa phương bao gồm có ba thành phần: (1) Thái độ chung đối với việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch; (2) Các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch; và (3) Kiểm soát rào cản đối với việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch Ngoài ra, dựa trên tổng quan các nghiên cứu trước và thực tiễn tại địa phương tác giả

bổ sung thêm 02 yếu tố đó là: (1) nhận thức lợi ích khi tham gia chương trình phát triển bền vững; (2) Nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch của cộng đồng (Hình 2.6)

H2

Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu các thành phần mô hình TPB 2.5.2 Phát triển giả thiết cho mô hình nghiên cứu

Thái độ đối với việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển, thái

độ đại diện cho niềm tin tích cực hay tiêu cực của con người và sự đánh giá về hành vi của mình Thái độ nói đến sự đánh giá của con người về kết quả của một hành vi (Ajzen, 1991) Nếu người dân đánh giá rằng việc tham gia phát triển bền vững du lịch

là hữu ích đối với họ, thì theo lý thuyết TRA và TPB (Fishbein & Ajzen, 1975; Ajzen, 1991), mức độ quan tâm đối với việc tham gia phát triển bền vững du lịch sẽ mạnh

H1

Thái độ đối với tham gia

chương trình phát triển du

lịch bền vững

Các ảnh hưởng xã hội đối

với việc tham gia chương

Nhận thức lợi ích khi tham gia chương trình phát triển bền vững

Sự quan tâm đến tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển

H2

H3

H4

H5

Trang 37

hơn Từ kết quả nghiên cứu trên, nghiên cứu này tác giả cho rằng người dân có thái độ tích cực đối với phát triển du lịch bền bững thì ý định tham gia của họ càng cao Vì vậy giả thiết H1 được đề xuất:

H1: Thái độ tích cực đối với việc tham gia phát triển bền vững du lịch, ý định tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển sẽ tăng

Bạn bè, người thân có xu hướng du lịch những nơi người thân của họ sinh sống,

và họ mong muốn một trong những nơi đó du lịch phát triển bền vững Cộng đồng xã hội cũng vậy muốn có nhiều nơi để du lịch với nhiều đặc trưng địa phương khác nhau Các nghiên cứu trước cũng cho thấu các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển bền vững du lịch là tích cực thì người dân địa phương càng có mong muốn/ ý định/ dự định tham gia các hoạt động bảo vệ du lịch bền vững (Kim và cộng sự, 2014)

Từ kết quả nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này tác giả cho rằng một khi các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển bền vững du lịch có tác động là tích cực,

ý định/ khả năng tham gia các chương trình du lịch bền vững càng cao Vì vậy, giả thuyết H2 được đề xuất như sau:

H2: Các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững tác động tích cực, ý định tham gia các chương trình phát triển bền vững du lịch biển càng tăng

Trong những năm gần đây, du lịch đã chú trọng phát triển theo các tiêu chuẩn nhằm đảm bảo duy trì sự cân bằng sinh thái và tránh sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên, ô nhiễm và những tác động xấu đến môi trường du lịch Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng hướng đến tính bền vững phải được tiếp cận trên góc độ: kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trong dài hạn (Jucan & Jucan, 2010) Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải có sự đối chiếu giữa các lợi ích và mục tiêu, ưu tiên hợp tác giữa các nhà ra quyết định, các nhà sản xuất và người tiêu dùng, thúc đẩy lợi ích lâu dài của công chúng Để đạt được những mục đích này, cần phải tôn trọng và thực hiện các quy tắc thực hành tốt trong du lịch (Jucan & Jucan, 2010)

Khái niệm trách nhiệm xã hội của tổ chức được tiếp cận từ những năm 50 của thế kỷ XX Trong tâm của khái niệm này đề cập đến khía cạnh “vai trò” hay “trách nhiệm” của tổ chức trong việc thực hiện các hoạt động đối với xã hội Có thể nói, trách nhiệm xã hội và thực thi trách nhiệm xã hội của tổ chức là một phần trong chiến lược phát triển bền vững Đối với doanh nghiệp, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh (CSR) liên quan đến trách nhiệm xã hội của tổ chức đối với lực lượng lao động, xã hội

và môi trường Theo một định nghĩa khác, CSR đã trở thành một trách nhiệm thường

Trang 38

trực của các công ty đối với môi trường xung quanh họ, cho những thực tiễn làm việc tốt nhất, vì sự tham gia của họ vào cộng đồng địa phương và để họ thừa nhận rằng thương hiệu không chỉ phụ thuộc vào chất lượng, giá cả và tính duy nhất nhưng theo cách tích lũy, họ tương tác với lực lượng lao động, cộng đồng và môi trường của công

ty (Brown, 2006)

Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải đảm nhận đối với xã hội Trách nhiệm xã hội có nghĩa là tối đa hoá các tác động tích cực và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội (khách hàng, chủ sở hữu, nhân viên, cộng đồng, nhà cung cấp, chính phủ) Có bốn loại trách nhiệm xã hội: pháp lý, đạo đức, kinh tế và từ thiện Khía cạnh pháp lý về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) liên quan đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định được thiết lập bởi các cơ quan có thẩm quyền, đưa

ra các tiêu chuẩn cho hành vi có trách nhiệm - việc phân loại xã hội mà họ nghĩ là đúng hay sai Quy định pháp lý của lãnh đạo doanh nghiệp là cần thiết vì xã hội - bao gồm người tiêu dùng, các nhóm sở thích, đối thủ cạnh tranh và các nhà lập pháp - không đảm bảo rằng các doanh nghiệp làm những gì đúng trong một lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như bảo vệ người tiêu dùng hoặc môi trường Vì vậy, luật pháp quy định các hoạt động kinh doanh có trách nhiệm Các luật này có thể được chia thành luật điều chỉnh cạnh tranh, luật bảo vệ người tiêu dùng, luật môi trường và các luật thúc đẩy sự an toàn và công bằng

Trách nhiệm xã hội còn được tiếp cận rộng rãi hơn từ khía cạnh cộng đồng, theo đó, cộng đồng là những người sinh sống trong một phạm vi lãnh thổ nhất định có những mối liên hệ và quan hệ với nhau Tại những điểm đến phát triển du lịch, cộng đồng thường tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển du lịch (kinh doanh du lịch, quảng bá, giới thiệu sản phẩm du lịch; cung cấp sản phẩm/dịch vụ/lao động cho phát triển du lịch và đặc biệt cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường cho phát triển du lịch Đứng trên góc độ này trách nhiệm xã hội của cộng đồng đối với bảo vệ môi trường du lịch là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch hướng đến tính bền vững

Nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch được hiểu là nghĩa nghĩa vụ vượt lên trên cả khía cạnh về pháp luật Nghĩa vụ này được xem việc tối đa hóa ảnh hưởng tích cực lâu dài của cộng đồng với môi trường du lịch và tối thiểu hóa các mối nguy hiểm tiềm tàng cho môi trường du lịch trong tương lai (Eshliki & Kaboudi

Trang 39

(2011) Nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch được đo lường thông qua: (1) Chủ động giảm mức tiêu thụ năng lượng, (2) Giảm thiểu giảm rác thải ra môi trường, (3) Tránh gây ô nhiễm môi trường, (4) Có ý thức bảo vệ mội trường tự nhiên nơi mình sinh sống, (5) Chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, (6) Chủ động giảm mức tiêu thụ năng lượng Nghiên cứu trước đã chứng minh rằng một khi cộng đồng có nhận thức cao về trách nhiệm của mình đối với môi trường du lịch, họ sẽ chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường du lịch Vì vậy giả thuyết sau được đề xuất:

H3: Nhận thức về trách nhiệm xã hội đối với môi trường càng tăng, ý định tham gia chương trình phát triển bền vững càng cao

Du lịch thường được xem là "ngành không khói" có thể mang lại lợi ích tối đa

so với các hoạt động kinh tế khác Nó có thể tạo ra tiền tệ nhất định, cải thiện cán cân thanh toán, thúc đẩy phát triển khu vực, đa dạng hoá nền kinh tế địa phương, tăng thu

thuế, tạo cơ hội việc làm, khuyến khích đầu tư công (Sirakaya, Choi, và Var, 2002) Vì

vậy, cộng đồng địa phương, ngành du lịch và chính quyền địa phương đã tìm mọi biện pháp để tối đa hóa lợi ích kinh tế từ việc phát triển du lịch

Nghiên cứu của Wight (1993) cho rằng du lịch dựa vào cộng đồng hướng đến tính bền vững có thể thúc đẩy các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường ở cấp địa phương và khu vực Các nội dung hướng đến tính bền vững kinh tế trong du lịch bao gồm việc mang lại lợi ích kinh tế nói chung, đa dạng hóa nền kinh tế địa phương, kiểm soát tăng trưởng kinh tế, cải thiện liên kết địa phương và khu vực, phân phối công bằng lợi ích kinh tế cho địa phương (McIntyre, 1993)

Trong khi các nhà bảo vệ mô hình du lịch dựa vào cộng đồng cho rằng một trong những mục tiêu chính của phát triển du lịch là tối đa hoá lợi ích kinh tế (Whitton, 2002), những người ủng hộ du lịch bền vững lưu ý đến tốc độ phát triển du lịch nên duy trì trong khả năng mà cộng đồng có thể tham gia vào quá trình tăng trưởng và phục hồi tài nguyên tự nhiên (Trousdale và Gentoral, 1998) Tính bền vững về mặt kinh tế thúc đẩy phân phối hợp lý các lợi ích kinh tế cho người dân trong cộng đồng địa phương

Không giống như phát triển du lịch thông thường, du lịch cộng đồng bền vững nhằm thúc đẩy hợp lý các lợi ích kinh tế giữa các cư dân trong cộng đồng Điều này có thể đạt được thông qua việc thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển và cung cấp hỗ trợ trong nước và quốc tế Hỗ trợ của chính phủ có thể bao gồm

Trang 40

(1) tăng cường các chương trình đào tạo, (2) cho vay lãi suất thấp, và (3) tăng cường

sự hợp tác giữa các cơ quan chính phủ, các ngành công nghiệp địa phương, khu vực và quốc gia, các tổ chức phi chính phủ (UN, 2001)

Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng không chỉ giúp cải thiện điều kiện kinh tế (tăng thu nhập, cơ hội kinh doanh sản phẩm du lịch,…) mà còn tạo điều kiện phát triển

cơ hội việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Du lịch phát triển tại mỗi địa phương sẽ tăng thêm cơ hội tham gia của cộng đồng vào quá trình kinh doanh, giao lưu

mở rộng hợp tác củng như tiếp xúc với nhiều đối tượng du khách khác nhau Thông qua quá trình này cộng đồng sẽ cải thiện nhận thức về xã hội và đóng góp của du lịch vào phát triển văn hóa-xã hội của cộng đồng dân cư ngày càng được thể hiện rõ nét

Ngoài ra, quá trình phát triển du lịch còn tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia vào bảo vệ môi trường du lịch Du lịch muốn phát triển bền vững đòi hỏi quá trình khai thác kết hợp với bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch Đứng trên góc độ này, cộng đồng sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ cải thiện môi trường du lịch thông qua việc phát triển du lịch

Nhận thức lợi ích được hiểu là cảm nhận về những lợi ích mà cá nhân có được khi trực tiếp/gián tiếp tham gia hoạt động du lịch (Chocie & Muray, 2010) Nhận thức lợi ích được đo lường thông qua: Khi tham gia hoạt động du lịch sẽ hữu ích cho bản thân, gia đình, xã hội, mang lại giá trị cho địa phương và giá trị cho toàn xã hội Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng một khi người dân càng nhận thức cao về những lợi ích từ

sự tham gia chương trình phát triển du lịch mang lại, ý định tham gia các hoạt động trong chương trình phát triển du lịch hướng đến tính bền vững càng tăng lên (Lê Chí Công, 2017) Vì vậy, tác giả đề xuất giả thuyết H4:

H4: Nhận thức lợi ích khi tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững càng tăng, ý định tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững càng cao

Sự quan tâm của cộng đồng thể hiện mức độ mà người dân quan tâm đến việc tham gia chia sẻ các vấn đề về cuộc sống của họ với cộng đồng (Lee, 2013) Sự quan tâm được đo lường thông qua các phát biểu bao gồm: đối với tôi tham gia vào chương trình triển triển du lịch bền vững là: (i) quan trọng; (ii) có nhiều ý nghĩa; (iii) thích đáng; (iv) đáng quan tâm; (v) phù hợp (Lee, 2013; Nicholas và cộng sự, 2009) Sự quan tâm của cộng đồng có thể được coi là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển

du lịch dựa vào cộng đồng (Lepp, 2007) Sebele (2010) đã chỉ ra rằng cộng đồng càng quan tâm đối với chương trình phát triển du lịch bền vững thì họ sẽ càng nhận được

Ngày đăng: 28/01/2021, 22:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Lê Nguyễn Hậu (2008), Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh, NXB Đại Học Bách khoa TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh
Tác giả: Lê Nguyễn Hậu
Nhà XB: NXB Đại Học Bách khoa TP.HCM
Năm: 2008
6. Nguyễn Bá Lâm (2007), Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững, NXB Trường đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Bá Lâm
Nhà XB: NXB Trường đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội
Năm: 2007
7. Phạm Trung Lương (2002), Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 2002
8. Hồng Thị Minh (2008), Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đai học kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
Tác giả: Hồng Thị Minh
Năm: 2008
9. Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2008
10. Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009), Nghiên cứu khoa học trong quản trị kinh doanh, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học trong quản trị kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
11. Nguyễn Đình Thọ (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2011
13. Ajzen, I. (1991), The theory of planned behavior, Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50, 179-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The theory of planned behavior
Tác giả: Ajzen, I
Năm: 1991
14. Ambro`, M. (2008), Attitudes of local residents towards the development of tourism in Slovenia: The case of the Primorska, Dolenjska, Gorenjska and Ljubljana regions, Anthropological Notebooks 14 (1): 63–79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attitudes of local residents towards the development of tourism in Slovenia: The case of the Primorska, Dolenjska, Gorenjska and Ljubljana regions
Tác giả: Ambro`, M
Năm: 2008
15. Bollen, K. A. (1989), ‘Structural Equations with Latent Variables’, New York: John Wiley & Sons, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Structural Equations with Latent Variables’
Tác giả: Bollen, K. A
Năm: 1989
19. D'amore, L. J. (1992), ‘Promoting sustainable tourism: the Canadian approach. Tourism Management’, 13 (3), 258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Promoting sustainable tourism: the Canadian approach. Tourism Management’
Tác giả: D'amore, L. J
Năm: 1992
20. Drake, S.P. (1991), Local Participation in Ecotourism Projects, Nature Tourism: Managing for the Environment, Washington DC: Island Press, 132-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Local Participation in Ecotourism Projects
Tác giả: Drake, S.P
Năm: 1991
21. Eraqi, M. I. (2007), ‘Local Communities’ Attitudes Towards Impacts Of Tourism Development In Egypt’, Tourism Analysis, Vol. 12, pp. 191–200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Local Communities’ Attitudes Towards Impacts Of Tourism Development In Egypt’
Tác giả: Eraqi, M. I
Năm: 2007
22. George, J. F (2002), ‘Influences on the intent to make internet purchases’, Internet Research: Electronic Networking Applications and Policy, Vol.12, No.2, pp.165-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influences on the intent to make internet purchases’
Tác giả: George, J. F
Năm: 2002
23. Green, H. (1995), ‘Planning for sustainable tourism development, Tourism and the environment: a sustainable relationship?’, London: Routledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Planning for sustainable tourism development, Tourism and the environment: a sustainable relationship?’
Tác giả: Green, H
Năm: 1995
24. Hair, J. J. F., Anderson, R.E., Tatham, R.L. & Black, W.C. (1998) Multivariate Data Analysis, 5th ed. Upper Saddle River, NJ: Prentice-Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multivariate Data Analysis
59. Lịch sử hình thành và phát triển thành phố Tuy Hòa, Cổng thông tin điện tử thành phố Tuy Hòa, < http://tptuyhoa.phuyen.gov.vn/ Link
60. Kết quả lượng khách du lịch và doanh thu du lịch tại Phú Yên năm 2014-2016, < http://svhttdl.phuyen.gov.vn/wps/portal/svhttdl/&gt Link
61. Các địa điểm du lịch Phú Yên, < http://dulichphuyen.info/danh-lam-thang-canh-cac-diem-du-lich-hap-dan-o-phu-yen-140.html &gt Link
63. Kế hoạch đầu tư phát triển đưa du lịch thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên thành ngành kinh tế quan trọng, < https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Ke-hoach-119-KH-UBND-dau-tu-phat-trien-dua-du-lich-thanh-nganh-kinh-te-quan-trong-Phu-Yen-2016-322148.aspx&gt Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w