LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chế biến thủy sản khô tại các làng nghề thủy sản khô tỉnh Bến Tre” là công
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN DUY KHANH
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP
CỦA CÁC HỘ CHẾ BIẾN THỦY SẢN KHÔ TẠI
CÁC LÀNG NGHỀ THỦY SẢN KHÔ TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN DUY KHANH
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP
CỦA CÁC HỘ CHẾ BIẾN THỦY SẢN KHÔ TẠI
CÁC LÀNG NGHỀ THỦY SẢN KHÔ TỈNH BẾN TRE
KHÁNH HÒA - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
thu nhập của các hộ chế biến thủy sản khô tại các làng nghề thủy sản khô tỉnh Bến Tre” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ
công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, tháng 1 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Khanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, các quý thầy cô và bạn bè học viên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của
TS Quách Thị Khánh Ngọc đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
TS Quách Thị Khánh Ngọc là người hướng dẫn khoa học – đã dành nhiều thời gian quý báu để chỉ dẫn về đề tài và định hướng phương pháp nghiên cứu trong thời gian tôi tiến hành thực hiện đề tài
Thầy cô Khoa Sau Đại học, Khoa Kinh tế Trường Đại học Nha Trang đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường
Các anh/chị trong Ban quản lý 2 làng nghề thủy sản khô An Thủy và Bình Thắng Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, tháng 1 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Khanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN .iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .ix
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghı̃a của kết quả nghiên cứu 4
1.7 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾTVÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Các khái niệm liên quan 5
2.1.1 Khái niệm làng nghề 5
2.1.2 Khái niệm thu nhập 9
2.1.3 Khái niệm Hộ 10
2.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 10
2.2.1 Nghiên cứu trong nước 10
2.2.2 Nghiên cứu nước ngoài 12
2.2.3 Đánh giá các nghiên cứu trước 12
2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình 13
2.3.1 Kinh nghiệm sản xuất của hộ 14
Trang 62.3.2 Trình độ học vấn của hộ 14
2.3.3 Giới tính của hộ 14
2.3.4 Quy mô sản xuất 14
2.3.5 Thị trường tiêu thụ 15
2.3.6 Vốn vay 15
2.3.7 Nguồn nguyên liệu sản xuất 15
2.3.8 Đào tạo nghề 15
2.3.9 Thời gian làm việc của hộ 16
2.3.10 Tuổi của chủ hộ 16
2.3.11 Kỹ thuật công nghệ 16
2.3.12 Loại sản phẩm sản xuất 16
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 17
2.5 Điểm khác biệt của mô hình so với các nghiên cứu trước 20
Tóm tắt Chương 2 20
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Giới thiệu về 2 làng nghề CBTSK 21
3.1.1 Làng nghề CBTSK An Thủy 21
3.1.2 Làng nghề CBTSK Bình Thắng 21
3.2 Phương pháp nghiên cứu 22
3.2.1 Quy trình nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4 Mô hình nghiên cứu chính thức 24
3.5 Giải thích các biến và giả thuyết nghiên cứu 25
3.6 Dữ liệu nghiên cứu 28
3.6.1 Nguồn dữ liệu thu thập 28
3.6.2 Phương pháp chọn mẫu, mẫu nghiên cứu và xác định kích thước mẫu 28
3.6.3 Quy trình sàng lọc dữ liệu 29
3.6.4 Phân tích dữ liệu 29
Tóm tắt chương 3 31
Trang 7CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
4.1 Đặc điểm của các hộ điều tra 32
4.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập 42
4.2.1 Kiểm định sự tương quan và mức độ phù hợp của mô hình 42
4.2.2 Phân tích kết quả các biến trong mô hình hồi quy 44
Tóm tắt chương 4 47
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Gợi ý chính sách 48
5.3 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình 17
Bảng 2.2: Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ CBTSK 18
Bảng 2.3: Giả thuyết nghiên cứu 19
Bảng 3.1: Quy trình nghiên cứu 23
Bảng 3.2: mẫu nghiên cứu 28
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả 34
Bảng 4.2: Thông tin chung về các hộ nông dân điều tra 33
Bảng 4.3: Quan hệ giữa thu nhập theo giới tính của chủ hộ gia đình làm nghề CBTSK 35
Bảng 4.4: Quan hệ giữa thu nhập theo độ tuổi của chủ hộ gia đình làm nghề CBTSK 36
Bảng 4.5: Quan hệ giữa thu nhập theo trình độ học vấn của chủ hộ gia đình làm nghề CBTSK 37 Bảng 4.6: Quan hệ giữa thu nhập theo kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ gia đình làm nghề CBTSK 38
Bảng 4.7: Quan hệ giữa thu nhập theo quy mô sản xuất của chủ hộ gia đình làm nghề CBTSK 39
Bảng 4.8: Quan hệ giữa thu nhập theo vốn vay của chủ hộ gia đình làm nghề CBTSK 40
Bảng 4.9: Quan hệ giữa thu nhập theo thời gian làm việc của hộ gia đình làm nghề CBTSK 41
Bảng 4.10: Quan hệ giữa thu nhập theo loại sản phẩm gia đình làm nghề CBTSK 42
Bảng 4.11: Hệ số tương quan (Hộ gia đình làm nghề CBTSK) 41
Bảng 4.12: Bảng kiểm tra hệ số VIF 43
Bảng 4.13: Chỉ số R2 điều chỉnhcủa mô hình (Hộ gia đình làm nghề CBTSK ) 43
Bảng 4.14: ANOVA (Hộ gia đình làm nghề CBTSK ) 44
Bảng 4.15: Kết quả hồi quy của mô hình 44
Bảng 4.16: Mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập 47
Trang 10DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Hình 4.1: Thu nhập trung bình/tháng 34
Hình 4.2: Giới tính của chủ hộ 34
Hình 4.3: Độ tuổi của chủ hộ 35
Hình 4.4: Trình độ học vấn của chủ hộ 36
Hình 4.5: Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ 37
Hình 4.6: Quy mô sản xuất của chủ hộ 38
Hình 4.7: Vốn vay của chủ hộ 39
Hình 4.8: Thời gian làm việc của hộ 40
Hình 4.9: Loại sản phẩm của chủ hộ 41
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Làng nghề chế biến thủy sản khô (CBTSK) An Thủy nằm trên địa bàn xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Người dân xã An Thủy sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, trong đó gắn liền với nghề CBTSK Nghề CBTSK ở
An Thủy được hình thành từ những năm 40 của thế kỷ XX, từ đó luôn được duy trì và phát triển cho đến ngày nay Hiện nay làng nghề này có khoảng 67 hộ tham gia làm nghề CBTSK tập trung chủ yếu tại ấp An Thuận và một số ở ấp An Thới Năm 2007, làng nghề CBTSK An Thủy được Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ra có quyết định công nhận là làng nghề truyền thống
Làng nghề CBTSK Bình Thắng nằm trên địa bàn xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre Là một trong 3 xã vùng biển của huyện Bình Đại, nên nhân dân sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Trong đó nghề đánh bắt thủy sản là nghề truyền thống được hình thành từ những năm 1950 và phát triển cho đến ngày nay Song song với sự hình thành và phát triển nghề đánh đắt thủy sản, dựa trên nguồn nguyên liệu thủy sản có sẵn nghề CBTSK cũng dần hình thành
và phát triển cho tới ngày nay Hiện nay Bình Thắng có khoảng 41 hộ tham gia làm nghề CBTSK tập trung ở các ấp 2, 3,4 và 5 Năm 2007, cùng với làng nghề CBTSK
An Thủy, làng nghề CBTSK Bình Thắng được Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ra có quyết định công nhận là làng nghề truyền thống
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân làm nghề CBTSK thuộc tỉnh Bến Tre; Phân tích mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến thu nhập của hộ CBTSK; Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài Đề xuất một số chính sách nhằm nâng cao thu nhập của các hộ làm nghề CBTSK trên địa bàn tỉnh Bến Tre, từ đó giúp duy trì và phát triển các làng nghề CBTSK này trong tương lai
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn 2 làng nghề CBTSK chính ở tỉnh Bến Tre: làng nghề thủy sản khô An Thủy, huyện Ba Tri và làng nghề thủy sản khô Bình Thắng, huyện Bình Đại Đối tượng nghiên cứu là các hộ làm nghề CBTSK trong 2 làng nghề này
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể như sau: Sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, tham vấn trực tiếp các chuyên gia có kinh
Trang 12nghiệm về nghề CBTSK ở Bến Tre; Phương pháp thống kê mô tả, phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết thông qua phân tích hồi quy, phân tích kinh tế lượng ứng dụng dựa trên số liệu từ việc phỏng vấn trực tiếp 108 chủ hộ CBTSK trong các làng nghề này Đề tài sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình làm nghề CBTSK Mô hình nghiên cứu xây dựng gồm 1 biến phụ thuộc và 8 biến độc lập gồm: (1) Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, (2) Trình độ học vấn của chủ hộ, (3) Giới tính của chủ hộ, (4) Quy mô sản xuất, (5) Vốn vay, (6) Thời gian làm việc của hộ, (7) Tuổi của chủ hộ đan lát (8) Loại sản phẩm sản xuất
Kết quả của nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ CBTSK và thứ tự ảnh hưởng của các yếu tố là: (1) Vốn vay, (2) Quy mô sản xuất, (3) Loại sản phẩm sản xuất, (4) Thời gian làm việc của hộ
Trên cơ sở kết quả của mô hình nghiên cứu trên Đề tài có những gợi ý về chính sách nhằm làm tăng thu nhập của hộ gia đình trong 2 làng nghề CBTSK của tỉnh Bến Tre
từ đó góp phần duy trì và phát triển 2 làng nghề CBTSK truyền thống này
Từ khóa: Thu nhập, hộ, làng nghề, làng nghề truyền thống, chế biến thủy sản khô, làng nghề An Thủy, làng nghề Bình Thắng
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Bến Tre là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là
của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên) Bến Tre cách thành phố Hồ Chí Minh 86 km, cách thành phố Cần Thơ 120 km, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông Đặc biệt Bến Tre là tỉnh có nhiều lợi thế về nguồn lợi thủy sản, với 65 km chiều dài bờ biển nên thuận lợi cho việc đánh bắt, khai thác thủy sản Sản lượng thủy sản khai thác hàng năm rất lớn với nhiều loài
cá, tôm (năm 2014: là 153.976 tấn; năm 2015: là 193.733 tấn, năm 2016: là 190.887 tấn) (Chi cục Thủy sản, 2014; 2015; 2016) Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho phát triển ngành chế biến thủy sản, trong đó có nghề chế biến thủy sản khô (CBTSK)
Ngày 04 tháng 10 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1896/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản thực phẩm tỉnh Bến Tre hướng đến năm 2020, trong đó đưa ra mục tiêu: Phấn đấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản, thực phẩm của tỉnh đến năm 2015 đạt 9.143 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 24,74%, chiếm tỷ trọng 63,49% so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh; đến năm 2020 đạt 27.017 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 24,20%, đưa tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản, thực phẩm của tỉnh lên 78,51% so với công nghiệp của tỉnh vào năm 2020 Đồng thời đưa ra định hướng phát triển ngành chế biến thủy sản: Đầu tư hoàn thiện các nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh đang đầu
tư, tiếp tục kêu gọi đầu tư thêm các nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, vận động các cơ sở sản xuất khô thủy sản trong các làng nghề đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng các quy trình sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế, xây dựng thương hiệu, bao bì để tiến tới đưa sản phẩm tiêu thụ trong các siêu thị và
từng bước tham gia xuất khẩu (UBND tỉnh Bến Tre, 2012)
Hiện nay trong toàn tỉnh Bến Tre có khoảng 150 cơ sở chế biến thủy sản khô quy mô hộ gia đình tập trung chủ yếu ở 2 làng nghề CBTSK An Thủy và Bình Thắng còn lại phân bố ở một số xã lân cận của 2 làng nghề như: Tân Thủy, Vĩnh An, An Hòa
Trang 14Tây huyện Ba Tri và Bình Thới huyện Bình Đại (Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, 2015) Hàng năm các cơ sở này cung cấp hàng ngàn tấn thủy sản khô cho thị trường trong và ngoài tỉnh, với nhiều loại sản phẩm cá khô, tôm khô góp phần đáng kể trong giải quyết việc làm cho người dân địa phương đặc biệt là bộ phận
các lao động nhàn rỗi
Bến Tre có 3 Cảng cá phục vụ việc bốc dỡ hàng thủy sản của các tàu khai thác
xa bờ: Cảng Ba Tri nằm trên địa bàn xã An Thủy, huyện Ba Tri; Cảng Bình Đại nằm trên địa bàn xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và Cảng Thạnh Phú nằm trên địa bàn xã
An Nhơn, huyện Thạnh Phú Tuy nhiên hiện nay các tàu khai thác thủy sản xa bờ chủ yếu tập trung cập cảng Ba Tri và Bình Đại Đây là điều kiện để 2 làng nghề CBTSK
An Thủy và Bình Thắng hình thành và phát triển dựa trên nguồn nguyên liệu thủy sản khai thác dồi dào
Tuy có bề dày lịch sử nhưng việc tổ chức sản xuất của các hộ CBTSK trong 2 làng nghề này còn manh mún, nhỏ lẻ, mang tính tự phát trong phạm vi gia đình, chưa
có định hướng phát triển lâu dài, thu nhập từ CBTSK của các hộ trong làng nghề chưa
ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu chủ quan cũng như khách quan Nhằm góp phần tìm ra giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ CBTSK ở 2 làng nghề từ đó giúp làng
nghề này duy trì và phát triển, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến thu nhập của các hộ chế biến thủy sản khô tại các làng nghề thủy sản khô tỉnh Bến Tre”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập của hộ CBTSK và gợi ý các chính sách góp phần ổn định và tăng thu nhập của hộ CBTSK tại các làng nghề thủy sản khô tỉnh Bến Tre, từ đó giúp duy trì và phát triển các làng nghề thủy sản khô này trong tương lai
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân làm nghề CBTSK thuộc tỉnh Bến Tre
- Phân tích mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến thu nhập của hộ CBTSK
Trang 15- Đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập của các hộ CBTSK tỉnh Bến Tre trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Các yếu tố nào ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ CBTSK tại tỉnh Bến Tre?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập của các hộ CBTSK này ra sao?
- Cần có những chủ trương, chính sách và giải pháp gì để nâng cao thu nhập cho các hộ CBTSK thuộc tỉnh Bến Tre?
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành cho 2 làng nghề CBTSK
chính ở tỉnh Bến Tre: làng nghề thủy sản khô An Thủy, huyện Ba Tri và làng nghề thủy sản khô Bình Thắng, huyện Bình Đại
- Đối tượng nghiên cứu: Thu nhập và chủ hộ của các hộ CBTSK ở 2 làng nghề này
1.5 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, tham
vấn trực tiếp các chuyên gia có kinh nghiệm về nghề CBTSK ở Bến Tre
b) Phương pháp định lượng: Dùng phương pháp thống kê mô tả, phân tích dữ
liệu và kiểm định giả thuyết thông qua phân tích hồi quy, phân tích kinh tế lượng ứng dụng để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân trong làng nghề CBTSK với sự hỗ trợ của Excel và phần mềm SPSS
c) Dữ liệu nghiên cứu:
- Dữ liệu thứ cấp: Được thu thập từ các nguồn: niên giám thống kê tỉnh Bến
Tre; báo cáo của Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tỉnh Bến Tre; báo cáo xã An Thủy, Bình Thắng; báo cáo từ 2 làng nghề
- Dữ liệu sơ cấp: Các số liệu sơ cấp cần thiết trong nghiên cứu được điều tra từ
nhiều đối tượng và bằng một số công cụ khác nhau như:
+ Phỏng vấn chuyên gia: đối tượng là người am hiểu về 2 làng nghề CBTSK như: ban quản lý làng nghề, cán bộ xã, các chủ hộ có kinh nghiệm lâu năm trong CBTSK
+ Điều tra khảo sát các hộ dân: tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ CBTSK của 2 làng nghề
Trang 161.6 Ý nghı̃a của kết quả nghiên cứu
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là một tài liệu hỗ trợ các cơ
quan chức năng địa phương đề ra những chính sách, quy hoạch, giải pháp phù hợp nhằm giúp cho người dân làm nghề CBTSK nơi đây có thể cải thiện và gia tăng nguồn thu nhập của họ trong thời gian tới
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu cũng đóng góp làm tài liệu tham khảo cho các
nghiên cứu về thu nhập làng nghề CBTSK cũng như các ngành nghề truyền thống khác
1.7 Kết cấu luận văn
Chương 1: Giới thiệu
Chương này trình bày tổng quan các vấn đề nghiên cứu: lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của đề tài
Chương 2: Tổng quan tài liệu và Cơ sở lý thuyết
Chương này nêu khái quát chung về làng nghề, khái niệm về thu nhập, khái niệm về hộ, tổng quan các nghiên cứu trước, khung phân tích của nghiên cứu, các giả thiết nghiên cứu và đưa ra mô hình nghiên cứu đề nghị
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày giới thiệu tổng quát về địa bàn nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu chính thức, nguồn
dữ liệu nghiên cứu và các kỹ thuật phân tích dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Trong chương này sẽ tiến hành:
- Phân tích kết quả từ mô hình nghiên cứu, thực hiện các kiểm định cần thiết của mô hình nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ CBTSK
- Phân tích mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến thu nhập của hộ CBTSK
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Dựa vào kết quả nghiên cứu ở chương 4, đưa ra kết luận của luận văn và trên cở
sở đó có những gợi ý chính sách phù hợp
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm làng nghề
Từ xa xưa do đặc thù nền sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có nhiều lao động tham gia đã khiến cư dân Việt cổ sống quần tụ lại với nhau thành từng cụm dân cư đông đúc, dần hình thành nên làng xã Trong từng làng xã đã có cư dân sản xuất các mặt hàng thủ công, lâu dần lan truyền ra cả làng, xã tạo nên những làng nghề và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác
Theo Phạm Côn Sơn (2004), làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương
Vũ Quốc Tuấn & cộng sự (2010), nghề thủ công truyền thống thường được coi
là ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chuyên sản xuất, chế tác các loại sản phẩm truyền thống chủ yếu bằng tay và công cụ giản đơn, sử dụng sức người là chính, với con mắt
và bộ óc giàu sáng tạo của các nghệ nhân, thợ chuyên nghề Trong các nghề thủ công bao giờ cũng sử dụng công nghệ truyền thống, bao gồm: 1) Tay nghề và kinh nghiệm của nghệ nhân, thợ chuyên; 2) Công cụ cổ truyền; 3) Xử lý nguyên vật liệu tự nhiên, sẵn có tại chỗ Các nghề thủ công truyền thống Việt Nam thường được xác định căn cứ vào các yếu tố:
- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta;
- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề chuyên;
- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài năng và đội ngũ thợ thủ công lành nghề;
- Có kỹ thuật và công nghệ cổ truyền khá ổn định;
- Sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu;
- Sản phẩm tiêu biểu, độc đáo, có giá trị kinh tế và chứa đựng hàm lượng văn hóa cao;
Trang 18- Là nghề nghiệp nuôi sống một phần hoặc tất cả cộng đồng dân cư của một hoặc nhiều làng, xã, cụm dân cư, phố nghề chuyên
Mai Thế Hởn & cộng sự (2003), làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là nhiều thế hệ Tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phầm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị trường
Bùi Văn Vượng (1997), làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công Ở đấy, không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác
Theo Phạm Sơn (2004), một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện sau:- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề; - Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của làng
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2006), Làng nghề là một hoặc
nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản
xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau
Tiêu chí công nhận làng nghề: Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
(2006), làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
a) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;
b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;
c) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Phân loại làng nghề
Theo Vũ Quốc Tuấn (2011), phân loại làng nghề thống nhất hai cách phân loại như sau:
Trang 19- Phân loại theo số lượng nghề: làng nghề một nghề là những làng ngoài nghề nông ra, chỉ có thêm một nghề thủ công duy nhất Làng nghề nhiều nghề, là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một số hoặc nhiều nghề khác
- Phân loại theo tính chất nghề: làng nghề truyền thống là những làng xuất hiện lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phương khác Một số làng mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương cho người đi học nghề ở nơi khác rồi về dạy cho dân địa phương nhằm tạo việc làm cho dân địa phương mình
Các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề
Làng nghề có các loại hình tổ chức kinh doanh như sau:
+ Hộ gia đình: Là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong các làng nghề truyền thống Hộ gia đình vừa là đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh tế và vừa là một đơn
vị sinh hoạt Các thành viên trong gia đình đều có chung một cơ sở kinh tế, có chung
sở hữu đối với tài sản dùng cho sinh hoạt và đối với tư liệu sản xuất Lao động trong phạm vi gia đình với mục đích không phải để lấy tiền công mà để đóng góp phần của mình vào sản lượng chung của cả gia đình Mỗi thành viên trong gia đình đều có trách nhiệm đối với cơ sở kinh tế ấy và làm cho nó tăng dần lên bằng lao động của mình Thành quả lao động chung của cả gia đình thể hiện qua tổng số thu nhập đều được tiêu dùng chung Gia đình cũng là một đơn vị tổ chức lao động Ở đó người chủ hộ đồng thời là người thợ giỏi, nắm quyền quản lý, quyết định và điều hành mọi công việc từ phân công lao động đến phân phối thu nhập (Đặng Kim Chi và cộng sự, 2012)
+ Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện số hộ gia đình với nhau
để cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó Hợp tác là phương thức tất yếu trong lao động và sản xuất Bởi lẽ khi mà quy mô hộ gia đình đã vượt quá giới hạn thì
sẽ có những mặt hạn chế như thiếu vốn, khả năng ứng dụng công nghệ, thị trường tiêu thụ, … Do vậy, khi sản xuất phát triển, quy mô hộ gia đình không còn phù hợp, không đáp ứng yếu cầu sản xuất thì tự nó tự phá vỡ khuôn khổ của nó để hợp tác với nhau, cùng sản xuất và cùng tồn tại Hình thức này phát triển và tồn tại song song với hình thức hộ gia đình trong làng nghề truyền thống (Trần Minh Yến, 2004)
Trang 20+ Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống Với những mô hình và cơ chế hoạt động được đổi mới, trong thời điểm hiện nay hợp tác xã vẫn còn là loại hình kinh doanh chủ yếu ở một số các làng nghề truyền thống (Trần Minh Yến, 2004)
+ Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần: Đây là loại hình kinh doanh có độ tập trung hóa cao, có quan hệ rộng với thị trường, có khả năng và yêu cầu đổi mới công nghệ để mở rộng quy mô sản xuất Hình thức này phát triển từ một số tổ chức sản xuất hoặc một số hộ gia đình có tiềm lực kinh tế khá, có trình độ tổ chức và có khả năng tiếp cận thị trường Tuy ở một số làng nghề truyền thống, hình thức này tuy không chiếm tỷ trọng cao nhưng có vai trò trung tâm liên kết
mà các hộ gia đình là vệ tinh thực hiện các hợp đồng, gia công…, giải quyết đầu vào
và đầu ra cho các hộ gia đình (Đặng Kim Chi và cộng sự, 2012)
Đặc điểm của làng nghề
Ở mỗi làng nghề bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm,… nhưng nó lại có chung một số đặc điểm Tôn Thất Viên (2009) đã đưa ra một số đặc điểm sau:
- Làng nghề tồn tại ở nông thôn gắn bó mật thiết với sản xuất nông nghiệp;
- Sản xuất trong làng nghề chủ yếu là bằng phương pháp thủ công, công nghệ thô sơ, lạc hậu;
- Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề nông thôn chủ yếu theo hộ gia đình;
- Phương thức dạy nghề chủ yếu theo phương thức truyền nghề;
- Sản phẩm của các làng nghề đa dạng trong đó có một số sản phẩm có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc
Theo Bùi Văn Vượng (1997) cho rằng hàng thủ công truyền thống phải có các yếu tố sau:
- Trong sản phẩm thủ công, văn hóa tinh thần kết tinh trong văn hóa vật thể Sản phẩm thủ công của Việt Nam bao giờ cũng phản ánh sâu sắc, tư tưởng, tình cảm
và quan niệm thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam
Trang 21- Hàng thủ công truyền thống có tính cá biệt, tính riêng, mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét đặc trưng địa phương, tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng
- Hàng thủ công là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ những thành tựu kỹ thuật – công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo với đầu óc sáng tạo nghệ thuật Và từ đó trong sự phát triển hàng thủ công có thêm những đặc thù: Tính riêng, tính đơn chiếc mạnh hơn tính đồng loạt Có chiều sâu hơn chiều rộng, mang tính trường phái gia tộc, giữ bí quyết trong sáng tạo hơn là sự phổ cập, mang tính rộng rãi
- Yếu tố văn hóa của hàng thủ công truyền thống đã tạo nên vị trí quan trọng của các sản phẩm trên thương trường và giao lưu quốc tế
- Sản phẩm thủ công tự thân đã là sản phẩm hàng hóa Người thợ thủ công sản xuất hàng thủ công, trước hết là do yêu cầu kinh tế và nguồn sống của mình Nên sản phẩm thủ công mang lại nguồn lợi kinh tế cho đất nước, địa phương, cũng như cho người thợ ở các làng nghề
2.1.2 Khái niệm thu nhập
Tổng cục Thống kê (2011), định nghĩa rằng: thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định
Thu nhập của hộ bao gồm:
- Thu nhập từ tiền công, tiền lương;
- Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất);
- Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất);
Trang 22- Thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm…
Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh …
2.1.3 Khái niệm Hộ
Haviland (2003), Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ, là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ hai người trở lên, các thành viên trong hộ có hoặc không có quỹ thu chi chung, thu nhập chung Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai
Như vậy Hộ là tập hợp những người có cùng chung mối quan hệ với nhau (có chung huyết thống hoặc là con nuôi, là người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận), sống trong cùng một gia đình và được pháp luật công nhận, cùng sinh sống và phát triển kinh tế
2.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.2.1 Nghiên cứu trong nước
Mai Văn Nam (2012), nghiên cứu thu nhập và giải pháp nâng cao thu nhập của nông hộ tham gia hoạt động làng nghề ở tỉnh Bạc Liêu Nghiên cứu dùng phương pháp phân tích mô hình hồi quy đa biến với 237 mẫu phỏng vấn thực tế các hộ tham gia hoạt động làng nghề để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng thu nhập của các nông hộ tham gia hoạt động làng nghề Các biến trong mô hình nghiên cứu gồm: tính chất hoạt động của hộ, lượng mặt hàng, số lao động tham gia sản xuất, vốn cố định, vốn lưu động Kết quả nghiên cứu cho thấy các nông hộ tham gia làng nghề ở tỉnh Bạc Liêu giúp tăng việc làm, tăng thu nhập Đề tài nhận định có 3 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ tham gia hoạt động làng nghề là: Tính chất hoạt động của hộ, số lao động tham gia sản xuất và vốn lưu động
Nguyễn Hồng Thu (2012), nghiên cứu phân tích thu nhập của hộ gia đình làm nghề truyền thống sơn mài Tương Bình Hiệp – Bình Dương Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích mô hình hồi quy với 150 quan sát phỏng vấn trực tiếp hộ gia
Trang 23đình ở làng nghề, để tìm hiểu những yếu tố có ảnh hưởng đến thu nhập của người dân làng nghề truyền thống sơn mài Tương Bình Hiệp Mô hình nghiên cứu gồm 14 biến: tuổi của chủ hộ, giới tính của người lao động làm chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm của chủ hộ, quy mô lao động tham gia, số chủng loại sản phẩm, tỷ suất chi phí sản xuất/doanh thu, kỹ thuật công nghệ, nguồn hàng gia công, thị trường tiêu thụ, vốn vay, cơ sở hạ tầng, tham gia sinh hoạt làng nghề, thu nhập khác Kết quả của nghiên cứu Đề tài đã nhận định có 5 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân làng nghề truyền thống sơn mài là: nguồn hàng gia công, tham gia sinh hoạt làng nghề, trình độ học vấn, thu nhập khác, và thị trường tiêu thụ
Đinh Phi Hổ và Trương Châu (2014), nghiên cứu về nâng cao thu nhập cho hộ gia đình ở các xã biên giới tỉnh Tây Ninh Với phương pháp nghiên cứu mô hình hồi quy tuyến tính, nghiên cứu dùng số liệu sơ cấp chọn số quan sát là 200 hộ gia đình ở
10 xã trên 5 huyện của tỉnh Tây Ninh trong năm 2013, qua đó nhằm xác định thu nhập của hộ gia đình ở vùng biên giới Tây Ninh Các biến độc lập trong mô hình gồm có 10 biến: nghề nghiệp của chủ hộ, kinh nghiệm làm việc, trình độ học vấn, giới tính, thành phần dân tộc, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, quy mô diện tích đất, số hoạt động tạo thu nhập và vay vốn Kết quả nghiên cứu Đề tài nhận định thu nhập phụ thuộc vào các yếu tố: trình độ văn hóa của chủ hộ, quy mô hộ, quy mô diện tích đất nông nghiệp của hộ,
số hoạt động tạo thu nhập; và kinh nghiệm của chủ hộ
Đinh Phi Hổ và Nguyễn Văn Hòa (2014), nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ sản xuất nước cốt bần ở huyện Cù Lao Dung tỉnh Sóc Trăng Với phương pháp nghiên cứu mô hình hồi quy tuyến tính, nghiên cứu dùng số liệu sơ cấp, chọn số quan sát là 120 hộ gia đình ở 4 xã của huyện Cù Lao Dung trong năm 2013, nghiên cứu xây dựng 7 biến độc lập có ảnh hưởng đến thu nhập gồm: tuổi, trình văn hóa, kiến thức về công nghiệp chế biến, kinh nghiệm sản xuất nước cốt bần, chi phí sản xuất trong năm, vốn vay và số lao động của hộ Qua đó nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình sản xuất nước cốt bần ở Cù Lao Dung Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập của hộ sản xuất nước cốt bần phụ thuộc vào: kiến thức nông nghiệp, chi phí sản xuất, vốn vay ngân hàng, kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ
Hồ Thị Kim Phượng (2015), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của
hộ gia đình làm nghề truyền thống đan lát Tam Vinh ở Phú Ninh tỉnh Quảng Nam
Trang 24Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến, xây dựng 8 biến độc lập: kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ; koại sản phẩm sản xuất; quy mô sản xuất; thời gian đan lát trung bình một ngày của hộ; tuổi của chủ hộ đan lát; trình độ học vấn của chủ hộ; giới tính của chủ hộ; nguồn nguyên liệu sản xuất Kết luận, có 5 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình làm nghề truyền thống đan lát Tam Vinh ở Phú Ninh tỉnh Quảng Nam với mức ý nghĩa 1% các biến đó là: kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, loại sản phẩm sản xuất, quy mô sản xuất, thời gian đan lát trung bình một ngày của 1 người/hộ và tuổi của chủ hộ đan lát Và thông qua các kiểm định từ mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình làm nghề đan lát Tam Vinh, thì thứ
tự tầm quan trọng ảnh hưởng của các yếu tố là (1) quy mô sản xuất, (2) loại sản phẩm sản xuất, (3) tuổi của chủ hộ đan lát, (4) thời gian đan lát trung bình một ngày của 1 người/hộ và (5) kinh nghiệm sản xuất
2.2.2 Nghiên cứu nước ngoài
Aikaeli (2010), nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến thu nhập ở nông thôn Tanzania Bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến với số quan sát là 1.610 hộ gia đình ở nông thôn Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ của chủ hộ, diện tích đất sản xuất, quy mô hộ gia đình là những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Bên cạnh đó nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các hộ có chủ hộ là nam giới thì có thu nhập cao hơn so với thu nhập của các chủ hộ là nữ giới
Shrestha va Eiumnoh (2000), nghiên cứu các yếu tố quyết định đến thu nhập của nông hộ ở Thái Lan Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đa biến, với số quan sát là 192 hộ gia đình, kết quả cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến tổng thu nhập của nông hộ là nguồn thu từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, diện tích đất sản xuất, số thành viên trong độ tuổi lao động và trình độ học vấn
2.2.3 Đánh giá các nghiên cứu trước
Nhìn chung những nghiên cứu trước đây về yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ trong các làng nghề truyền thống đều dựa vào các lý thuyết về kinh tế, lý thuyết
về thu nhập Những nghiên cứu này sử dụng các thông tin, số liệu từ việc phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ tham gia sản xuất trong các làng nghề, sau đó bằng phương pháp phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biếnvà các kiểm định cần thiết để tìm ra yếu nào có ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ này
Trang 252.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình
Theo Mincer (1974) (trích bởi Đinh Phi Hổ - Trương Châu (2014), cho rằng thu nhập của hộ ảnh hưởng bởi các yếu tố: trình độ học vấn, kinh nghiệm nghề nghiệp, giới tính của chủ hộ và các yếu tố khác Thu nhập bao gồm có thu nhập gộp, thu nhập ròng Phần thu nhập gộp là phần tích số giữa giá bán và sản lượng sản xuất ra Thu nhập ròng là hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng chi phí
Đề tài nghiên cứu thu nhập hộ gia đình ở nông thôn, để đo lường thu nhập của
hộ gia đình Đề tài dùng thước đo thu nhập ròng (tổng doanh thu trừ đi các khoản chi phí sản xuất, tuy nhiên trong các khoản chi phí sản xuất không bao gồm chi phí lao động và chi phí cơ hội của hộ gia đình, vì hộ dân nông dân chủ yếu lấy công làm lời để góp phần tạo ra nguồn thu cho gia đình)
Park (1992), năng suất lao động là điều kiện để thay đổi thu nhập điều đó cho thấy rằng các nhân tố tác động đến năng suất lao động cũng chính là tác động đến thu nhập
Theo Scoones (1998), những yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình bao gồm: vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội Vốn tự nhiên là đất đai, nước, không khí là cơ sở cho tất cả các hoạt động kinh tế của con người Vốn tài chính bao gồm các khoản tiết kiệm và tín dụng, cho biết khả năng của một hộ gia đình
để tiết kiệm và tiếp cận tín dụng cho đầu tư trong bất kỳ các hoạt động tạo thu nhập Vốn con người mô tả các yếu tố như giáo dục, lực lượng lao động, kinh nghiệm làm việc và giới tính Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc của họ Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau: Sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau và sự chia sẻ những kiến tức, giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các cộng đồng lại với nhau
Karttunen (2009), cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các yếu
tố nhân khẩu của chủ hộ cùng với tỷ lệ phụ thuộc ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Ở nông thôn, các hoạt động nông nghiệp là chủ yếu, tuy nhiên các hoạt động nông nghiệp thường theo mùa vụ và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Việc đa dạng hoá nguồn thu nhập từ nhiều hoạt động sản xuất giúp hộ gia đình nông thôn có thể giải quyết việc làm lúc nông nhàn và cải thiện thu nhập của hộ
Schwarze (2004), Reardon và cộng sự (1992), cho rằng các vùng nông thôn ngày nay đã từng bước tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp, và các hoạt động
Trang 26này góp phần tăng thu nhập của họ Nên đa dạng hóa sản xuất kinh doanh ở nông thôn
sẽ tác động làm tăng thu nhập hộ gia đình
2.3.1 Kinh nghiệm sản xuất của hộ
Đinh Phi Hổ và Nguyễn Văn Hòa (2014), ứng dụng hàm Mincer nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ sản suất nước cốt bần ở huyện Cù Lao Dung tỉnh Sóc Trăng Kết quả nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm sản xuất có ảnh hưởng đến thu nhập, nếu chủ hộ có thêm 1 năm kinh nghiệm sản xuất nước cốt bần, thu nhập của chủ hộ sẽ tăng thêm 9,464 triệu đồng
Phần lớn các hộ CBTSK ở 2 làng nghề chủ yếu làm theo kinh nghiệm truyền lại nên kinh nghiệm sản xuất là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động và thu nhập của hộ
2.3.2 Trình độ học vấn của hộ
Trương Châu (2013), đã nghiên cứu và kết luận, nếu trình độ học vấn của chủ
hộ tăng thêm 1 năm thì thu nhập của hộ tăng thêm 51,643 ngàn đồng Nguyễn Hồng Thu (2012), cũng có kết luận trình độ ảnh hưởng đến thu nhập, khi trình độ học vấn tăng thêm 1 năm học tương ứng với thu nhập của người dân sẽ tăng lên 0,270 triệu đồng
Người có trình độ học vấn cao thì có nhiều kiến thức, nhạy bén trong công việc,
có khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn rất tốt phục vụ cho công việc, sản xuất tạo
ra của cải, thu nhập cao hơn so với người có trình độ học vấn thấp Người có trình độ học vấn cao sẽ quy mô sản xuất lớn hơn, chất lượng sản phẩm sản xuất sẽ tốt hơn, thị trường tiêu thụ nhiều hơn so với người có trình độ thấp
2.3.3 Giới tính của hộ
Tống Quốc Bảo (2014); Trương Châu (2013); Đinh Phi Hổ và Nguyễn Văn Hòa (2014) đều cho rằng giới tính ảnh hưởng đến thu thập và người có giới tính nam
có thu nhập cao hơn là nữ
Giới tính của chủ hộ ảnh hưởng kỹ năng làm việc nên sẽ ảnh hưởng đến thu nhập mà họ nhận được
2.3.4 Quy mô sản xuất
Mai Văn Nam (2012) khi số lao động làng nghề tăng thêm 1 lao động thì số thu nhập của hộ tăng thêm 8.074,679 nghìn đồng/ năm Nguyễn Thị Hồng Thu (2012) cũng đã cho rằng quy mô lao động càng lớn thì mang lại nguồn thu nhập càng cao
Trang 27Số lượng người tham gia sản xuất càng nhiều thì thu nhập của hộ càng tăng Điều đó cho thấy quy mô về sản xuất đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất của làng nghề
2.3.5 Thị trường tiêu thụ
Theo Porter (1985, 1990, trích bởi Nguyễn Văn Hiếu, 2013) hoạt động sản xuất kinh doanh cá nhân, doanh nghiệp trong ngành kinh tế thông thường được phân thành
ba khâu: Hoạt động đầu vào, sản xuất và hoạt động đầu ra Cả ba khâu hoạt động có liên quan mật thiết với các chủ thể bên ngoài ngành đó, từ đó chúng tạo ra hoat động ngành
Nếu thị trường không ổn định sẽ gây ra những khó khăn và bấp bênh cho sản xuất Nên thị trường tiêu thụ có ảnh rất lớn đối với sự phát triển và tồn tại của nghề CBTSK, cũng như thu nhập của hộ
2.3.6 Vốn vay
Trần Minh Yến (2004), khẳng định vốn là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triền làng nghề Mai Văn Nam (2012) khi vốn của hộ tăng lên 1.000 đồng sẽ làm tăng trung bình 2,556 nghìn đồng thu nhập của hộ Đinh Phi Hổ và Nguyễn Văn Hòa (2014) khi hộ vay thêm được một triệu đồng từ các ngân hàng của định chế chính thức, thu nhập của hộ sẽ tăng thêm 0,001 triệu đồng
Vốn là điều kiện ban đầu của các hộ sản xuất, khi có vốn kết hợp với trình độ khoa học học kỹ thuật, công nghệ sản xuất giúp cho hộ gia đình có điều kiện tham gia sản xuất, mở rộng sản xuất
2.3.7 Nguồn nguyên liệu sản xuất
Trần Minh Yến (2004), cho rằng nguồn nguyên liệu là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của các làng nghề truyền thống Mặc dù hiện nay đã có
sự hỗ trợ tích cực của các phương tiện giao thông và phương tiện kỹ thuật, nhưng vấn
đề khối lượng, chất lượng, chủng loại và khoảng cách của các nguồn nguyên liệu, vật liệu vẫn có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng và giá thành sản phẩm Bùi Văn Vượng (1997), nghề thủ công truyền thống phải có yếu tố sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất
2.3.8 Đào tạo nghề
Bùi Văn Vượng (1997), Trần minh Yến (2004), Mai Thế Hởn & cộng sự (2003) đều cho rằng việc dạy nghề truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác, người
Trang 28trước là người dạy nghề truyền nghề trực tiếp cho các thành viên trong gia đình hoặc dòng họ Bí quyết nghề không dễ lộ ra ngoài, bí quyết nghề bao giờ cũng được người thợ giữ gìn với ý thức đầy đủ và cẩn trọng Việc giữ gìn bí mật nghề nghiệp là vũ khí phòng chống người khác lấy mất nghề rồi quay lại cạnh tranh, làm mất luôn tính độc quyền của mình
2.3.9 Thời gian làm việc của hộ
Thời gian làm việc của lao động có ảnh hưởng đến thu nhập mà họ nhận được, khi lao động tạo ra thu nhập theo giờ thì thời gian lao động càng tăng thu nhập cũng tăng theo Tống Quốc Bảo (2014), nếu thời gian lao động tăng lên 1 giờ, thu nhập tăng thêm 0,36% Trần Minh Yến (2004) cũng cho rằng thời gian lao động ảnh hưởng đến thu nhập của hộ, hộ có thời gian sản xuất trong ngày, tháng nhiều hơn sẽ có thu nhập cao hơn
2.3.10 Tuổi của chủ hộ
Phạm Tấn Hòa (2014), giả định nếu các yếu tố khác không đổi, tuổi của chủ hộ tăng thêm 1 tuổi thì thu nhập của hộ có thể tăng thêm 1.646,899 ngàn đồng/năm so với những hộ gia đình khác có độ tuổi thấp hơn
Tuổi ảnh hưởng tới kỹ năng làm việc, khả năng tiếp thụ kiến thức, tính năng động và kinh nghiệm làm việc nên sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ
2.3.11 Kỹ thuật công nghệ
Bùi Văn Vượng (1997), Trần minh Yến (2004), Mai Thế Hởn & cộng sự (2003), cho rằng nghề truyền thống là những nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ đơn giản, với con mắt và bộ óc giàu sáng tạo của con người Công nghệ truyền thống tạo ra sự khác biệt phong cách và kỹ thuật dẫn đến sự tồn tại độc lập của từng làng nghề
2.3.12 Loại sản phẩm sản xuất
Bùi Văn Vượng (1997), hàng thủ công là loại sản phẩm kết tinh từ những thành tựu kỹ thuật công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo, với đầu óc sáng tạo của nghệ nhân nên sản phẩm thủ công ở mỗi làng nghề đều có màu sắc riêng, từng nghệ nhân cũng có nét riêng Và hàng thủ công mang tính đơn chiếc hơn là đồng loạt
do đó loại sản phẩm sản xuất có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình làm nghề truyền thống
Trang 29Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình
Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ
Mincer (1974), Đinh Phi Hổ và Trương Châu (2014), Hồ Thị Kim Phượng (2015)
+
Quy mô sản xuất
Karttunen (2009), Đinh Phi Hổ và Trương Châu (2014), Mai Văn Nam (2012)
+
+
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ việc tổng hợp tổng quan các lý thuyết kinh tế, các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan, để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ CBTSK,
Đề tài đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:
Trang 30Bảng 2.2: Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ CBTSK
Mô hình hồi quy tuyến tính có dạng như sau:
Y= β0 + β1*X1 + β2*X2 + … + β8*X8 + u Trong đó:
Y: là thu nhập trung bình của hộ trong 1 tháng
Thu nhập trung bình của hộ (Y)
Giới tính của chủ hộ (X3)
(X5)
Trang 31Bảng 2.3: Giả thuyết nghiên cứu Tên biến/Ký
Kỳ vọng
Mincer (1974), Đinh Phi
Hổ và Trương Châu (2014)
+
Trình độ học vấn
của chủ hộ (X2)
Thể hiện bằng số năm học cao nhất ở các bậc học (năm)
Mincer (1974), Đinh Phi
Hổ và Trương Châu (2014), Nguyễn Hồng Thu (2012)
Tống Quốc Bảo (2014), Trương Châu (2013), Đinh Phi Hổ và Nguyễn Văn Hòa (2014)
+
Quy mô sản xuất
(X4)
Thể hiện bằng số người trực tiếp tham gia sản xuất (người)
Đinh Phi Hổ và Trương Châu (2014), Mai Văn Nam (2012)
Tống Quốc Bảo (2014), Trần Minh Yến (2004)
Porter (1985,1990), Mai Văn Nam (2012)
+
Trang 322.5 Điểm khác biệt của mô hình so với các nghiên cứu trước
Mô hình nghiên cứu đề xuất cho đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chế biến thủy sản khô tại các làng nghề thủy sản khô tỉnh Bến Tre” có các điểm khác biệt so với các nghiên cứu trước như sau:
- Khu vực khảo sát: Khảo sát thu thập dữ liệu và phân tích thu nhập của hộ gia đình làm nghề CBTSK thuộc 2 làng nghề CBTSK An Thủy và Bình Thắng
- Kỹ thuật phân tích thu nhập, tách riêng thu nhập từ nghề CBTSK của hộ
- Theo tìm hiểu thì cho đến nay chưa có nghiên cứu về thu nhập của các hộ CBTSK ở 2 làng nghề CBTSK An Thủy và Bình Thắng
Tóm tắt Chương 2
Chương này đã trình bày tóm lược các khái niệm về làng nghề, hộ và thu nhập của hộ, các cơ sở lý thuyết cơ bản về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ CBTSK như: kinh nghiệm sản xuất, giới tính chủ hộ, quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ, vốn vay, nguồn nguyên liệu sản xuất, đào tạo nghề, thời gian làm việc của hộ, tuổi của chủ hộ, kỹ thuật công nghệ, loại sản phẩm sản xuất Đồng thời tổng hợp các luận điểm cơ bản của các nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các
hộ dân nói chung Từ đó, xây dựng các biến cần nghiên cứu, hình thành mô hình nghiên cứu đề nghị và các giả thuyết nghiên cứu Mô hình nghiên cứu đề nghị có 12 biến độc lập: kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ, vốn vay, nguồn nguyên liệu, đào tạo nghề, thời gian làm việc của hộ, tuổi của chủ hộ, kỹ thuật công nghệ, loại sản phẩm sản xuất
Trang 33CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Năm 2007, làng nghề CBTSK An Thủy được Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ra
có quyết định công nhận là làng nghề truyền thống
Hiện nay, tại làng nghề CBTSK An Thủy có khoảng 67 hộ tham gia làm nghề CBTSK tập trung chủ yếu tại ấp An Thuận và một số ở ấp An Thới, tất cả đều sản xuất theo quy mô hộ gia đình Với lợi thế là xã ven biển, đồng thời có cảng cá Ba Tri đóng trên địa bàn nên nguồn nguyên liệu thủy sản rất dồi dào Đây thật sự là một tiềm năng lớn để nghề CBTSK ở đây phát triển mạnh Tuy nhiên phần lớn các hộ CBTSK vẫn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, theo truyền thống, chưa dám mở rộng quy mô sản sản xuất Sản phẩm chủ yếu của làng nghề là các loại cá và tôm khô Thị trường tiêu thụ chủ yếu là các chợ trong tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Kết quả điều tra năm 2017)
3.1.2 Làng nghề CBTSK Bình Thắng
Trong thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Bình Thắng là ấp Bình Châu thuộc làng Bình Đại, sau năm 1975 đổi tên thành xã Bình Đại B (Thị trấn Bình Đại), thuộc huyện Bình Đại Đến năm 1979 tách ra thành xã Bình Thắng Do được tách ra từ Thị trấn Bình Đại nên hệ thống giao thông thủy bộ rất thuận lợi, có nhiều điều kiện để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, xã đặc biệt quan tâm việc giữ gìn và phát triển các ngành, nghề truyền thống
Trang 34Là một trong 3 xã vùng biển của huyện Bình Đại, nên nhân dân sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Trong đó nghề đánh bắt thủy sản là nghề truyền thống Làng cá Bình Thắng được hình thành từ những năm 1950 (khi đó là Bình Châu) và phát triển cho đến ngày nay Song song với sự hình thành và phát triển nghề đánh đắt thủy sản, dựa trên nguồn nguyên liệu thủy sản có sẵn nghề CBTSK cũng dần hình thành và phát triển cho tới ngày nay (Hội Thủy sản tỉnh Bến Tre, 2016)
Cảng cá Bình Đại đóng trên địa bàn xã Bình Thắng cũng là một trong những cảng cá lớn của Bến Tre nên nguồn nguyên liệu thủy sản rất dồi dào Đây là một lợi thế lớn để nghề CBTSK ở đây phát triển Tuy nhiên, cũng như làng nghề An Thủy, phần lớn các hộ CBTSK ở đây vẫn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, theo truyền thống, chưa dám mở rộng quy mô sản sản xuất
Năm 2007, cùng với làng nghề CBTSK An Thủy, làng nghề CBTSK Bình Thắng được Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ra có quyết định công nhận là làng nghề truyền thống
Hiện nay Bình Thắng có khoảng 41 hộ tham gia làm nghề CBTSK tập trung ở các ấp 2, 3,4 và 5 Cũng như làng nghề CBTSK An Thủy, tất cả các cơ sở ở làng nghề CBTSK Bình Thắng đều sản xuất theo quy mô hộ gia đình Sản phẩm chủ yếu của làng nghề là các loại cá khô và tôm khô Thị trường tiêu thụ chủ yếu là các chợ trong tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Kết quả điều tra năm 2017)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Quy trình nghiên cứu
Đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chế biến thủy sản khô tại các làng nghề thủy sản khô tỉnh Bến Tre” được tiến hành qua các bước sau:
- Đầu tiên xác định các vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
- Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước rồi xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp cho đề tài Sau đó lập bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát thử 30 mẫu nhằm mục đích hoàn thiện bảng câu hỏi phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và địa bàn khảo sát
- Sau đó tiến hành thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ của hộ gia đình CBTSK trên địa bàn nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi, với cỡ mẫu n = 108 Mẫu điều tra sau khi thu về sẽ được kiểm tra, làm sạch và mã hóa trên máy tính Phần cuối cùng, phân tích dữ liệu với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS
Trang 35Bảng 3.1: Quy trình nghiên cứu
Xác định vấn đề nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu Xác định mục tiêu nghiên cứu
Thảo luận
Mô hình nghiên cứu chính thức
Phát thảo bảng câu hỏi
Khảo sát thử (30 mẫu)
Hoàn thiện bảng câu hỏi
Thu thập dữ liệu
Xử lý, làm sạch, nhập dữ liệu
Phân tích dữ liệu (Thống kê mô
tả, phân tích hồi quy)
Viết báo cáo kết quả
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 363.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức:
- Nghiên cứu sơ bộ (sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính) được thực hiện bằng cách thảo luận nhóm với một số cán bộ có kinh nghiệm về CBTSK như: Ban quản lý làng nghề CBTSK, cán bộ xã và chủ hộ CBTSK có kinh nghiệm tại địa bàn nghiên cứu Đầu tiên, thảo luận nhóm với nhóm cán bộ của ban quản lý làng nghề CBTSK, cán bộ xã, sau đó nhờ cán bộ ban quản lý làng nghề CBTSK giới thiệu một số
hộ CBTSK có kinh nghiệm lâu năm, có thu nhập tương đối cao và ổn đinh từ nghề CBTSK để tiến hành phỏng vấn Nghiên cứu sơ bộ là cơ sở để kiểm tra các yếu tố trong mô hình lý thuyết, là căn cứ quan trọng để đưa vào mô hình nghiên cứu chính thức, lập bảng câu hỏi phù hợp và thu thập dữ liệu để làm nghiên cứu định lượng
- Sau khi có kết quả nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng các số liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình làm nghề CBTSK trên địa bàn nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi khảo sát Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên cơ sở mô hình nghiên cứu chính thức Tuy nhiên, trước khi khảo sát chính thức, nghiên cứu này có tiến hành phỏng vấn thử 30 hộ gia đình (mẫu) CBTSK để kiểm tra tính chính xác, từ ngữ, thứ tự sắp xếp,… để kiểm tra tính phù hợp của bảng câu hỏi tránh trường hợp thông tin không rõ ràng, không phù hợp, thừa thông tin, thiếu thông tin làm cho người trả lời hiểu không đúng và không hiểu được các yêu cầu của câu hỏi trong bảng khảo sát Từ kết quả của phỏng vấn thử nếu thiếu sót hoặc sai sót thông tin thì tiến hành chỉnh sửa bổ sung để hoàn thiện bảng câu hỏi và tiến hành phỏng vấn
chính thức
3.4 Mô hình nghiên cứu chính thức
Từ kết quả nghiên cứu định tính (sơ bộ và phỏng vấn thử) và xem xét các biến quan sát đưa vào trong mô hình nghiên cứu (Chương 2) của đề tài thì các biến quan sát đưa vào mô hình đã đầy đủ Tuy nhiên, cách thu thập số liệu có sự điều chỉnh, cụ thể là
dữ liệu thu thập chỉ liệt kê những thành viên trong hộ có phát sinh thu nhập từ nghề làm CBTSK và giới hạn những thành viên đó phải có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên để tính thu nhập của hộ, bình quân thu nhập từ CBTSK của hộ thì lấy lấy tổng thu nhập từ CBTSK chia cho 12 tháng; chủ hộ gia đình CBTSK là người có tham gia sản xuất trong hộ và là người chủ quản lý trong việc điều hành, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của hộ
Trang 37Dựa vào cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước, kết quả nghiên cứu sơ bộ Đề tài đưa ra mô hình nghiên cứu chính thức cho đề tài như sau:
Y= β0 + β1*X1 + β2*X2 + … + β8*X8+ u Trong đó:
Y: là thu nhập trung bình của hộ trong 1 tháng từ nghề CBTSK (ngàn đồng) β0: là hằng số hồi quy
X3: Giới tính của chủ hộ (nam/nữ)
X4 : Quy mô sản xuất (người)
X5: Vốn vay (đồng)
X6: Thời gian làm việc trung bình của 1 người trong hộ (giờ/ngày)
X7: Tuổi của chủ hộ (tuổi)
X8: Loại sản phẩm sản xuất
Mô hình nghiên cứu xây dựng có 8 biến độc lập ảnh hưởng đến thu nhập của người dân làm nghề CBTSK gồm: (1) Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, (2) Trình độ học vấn của chủ hộ, (3) Giới tính của chủ hộ, (4) Quy mô sản xuất, (5) Vốn vay, (6) Thời gian làm việc trung bình của 1 người trong hộ, (7) Tuổi của chủ hộ đan lát (8) Loại sản phẩm sản xuất
3.5 Giải thích các biến và giả thuyết nghiên cứu
- Y: thu nhập trung bình của hộ từ nghề CBTSK (ngàn đồng/hộ/tháng) Số tiền thu nhập trung bình trong 1 tháng của hộ từ nghề CBTSK trong 1 tháng tính bằng cách lấy tổng thu nhập từ nghề CBTSK trong 1 năm của hộ chia cho 12 tháng Ở đây dùng