Những chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của nghiên cứu này bao gồm: năng lực tài chính; năng lực máy móc, thiết bị, công nghệ; nguồn nhân lực; hoạt động marketing; trình độ tổ chức,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HUỲNH MINH TOÀN
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ CÔNG NGHỆ
MÔI TRƯỜNG INCOTEC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HUỲNH MINH TOÀN
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ CÔNG NGHỆ
MÔI TRƯỜNG INCOTEC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC, thành phố
Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác
Nha Trang, ngày 20 tháng 03 năm 2018
Tác giả
Huỳnh Minh Toàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các cơ quan, đơn vị và cá nhân đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện để hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy Cô giáo Khoa Kinh Tế, Phòng Đào tạo Sau Đại học của Trường Đại học Nha Trang, là những người đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu, đặc biệt là thầy TS Nguyễn Ngọc Duy người trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận văn, đã tận tình hướng dẫn, giúp tôi tiếp cận
và hiểu rõ vấn đề thực tế, cũng như góp ý kiến sửa đổi, bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn
Gia đình, bạn bè và người thân là nguồn động viên quý báu và là chỗ dựa tinh thần vững chắc tạo nên động lực giúp tôi vượt qua những khó khăn trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn Tôi xin cảm ơn mọi người trong gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên cạnh động viên và khích lệ tôi trong quá trình tham gia khóa học Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả mọi người
Nha Trang, ngày 20 tháng 03 năm 2018
Tác giả
Huỳnh Minh Toàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Đóng góp của nghiên cứu 3
1.5 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh 5
2.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 5
2.1.2 Vai trò của cạnh tranh 5
2.1.3 Phân loại cạnh tranh 7
2.1.4 Đặc điểm cạnh tranh trong ngành xây dựng 8
2.1.5 Năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 9
Trang 62.2.1 Các nhân tố bên ngoài 13
2.2.2 Các nhân tố bên trong 22
2.3 Tổng quan nghiên cứu 28
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 30
2.4 Khung phân tích 31
Tóm tắt chương 2 33
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Quy trình nghiên cứu 34
3.2 Xây dựng khung phân tích 35
3.3 Lựa chọn đối thủ cạnh tranh, chuyên gia và khách hàng 36
3.3.1 Lựa chọn đối thủ cạnh tranh 36
3.3.2 Lựa chọn chuyên gia 37
3.3.3 Lựa chọn khách hàng 39
3.4 Ma trận hình ảnh cạnh tranh 41
3.4.1 Quy trình xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh 41
3.4.2 Cấu trúc của ma trận hình ảnh cạnh tranh 42
3.5 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu 43
3.5.1 Phương pháp thu thập thông tin 43
3.5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 43
Tóm tắt chương 3 44
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC 45
4.1.1 Thông tin chung của công ty 45
4.1.2 Chức năng, nhiệm vụ chính 45
Trang 74.1.3 Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh chủ yếu 46
4.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty 47
4.1.5 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 52
4.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC 53
4.2.1 Đánh giá sự tác động của các nhân tố bên ngoài 53
4.2.2 Đánh giá sự tác động của mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh 55
4.2.3 Đánh giá các chỉ tiêu năng lực cạnh tranh 60
4.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của INCOTEC 72
4.3.1 Mức độ quan trọng của các chỉ tiêu năng lực cạnh tranh 72
4.3.2 Điểm phân loại các yếu tố thành công 73
4.3.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh 79
4.4 Đánh giá chung 84
Tóm tắt chương 4 87
CHƯƠNG 5 KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 88
5.1 Mục tiêu và phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 88
5.1.1 Mục tiêu phát triển 88
5.1.2 Phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 88
5.2 Khuyến nghị giải pháp quản trị 89
5.2.1 Cổ phần hóa công khai ra công chúng để tăng vốn 89
5.2.2 Nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm 89
5.2.3 Chú trọng công tác xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường 91
5.3 Kết luận 92
Tóm tắt chương 5 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp ngành xây dựng 35
Bảng 3.2 Kết quả lựa chọn của các chuyên gia về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng 36
Bảng 3.3 Danh sách chuyên gia được chọn 38
Bảng 3.4 Kết quả khách hàng lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá 40
Bảng 3.5 Mô tả các đặc điểm nhân khẩu học trong mẫu nghiên cứu 41
Bảng 3.6 Kết cấu của ma trận hình ảnh cạnh tranh 42
Bảng 4.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian qua 52
Bảng 4.2 Bảng cân đối kế toán của công ty từ năm 2012 đến năm 2016 61
Bảng 4.3 Tình hình trang thiết bị kỹ thuật của Công ty 62
Bảng 4.4 Tình hình lao động của công ty 65
Bảng 4.5 Số lượng và trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực công ty 66
Bảng 4.6 Số dự án trong lĩnh vực xây dựng của Công ty tính đến năm 2017 69
Bảng 4.7 Mức độ quan trọng của các chỉ tiêu năng lực cạnh tranh 72
Bảng 4.8 Điểm phân loại các yếu tố thành công 73
Bảng 4.9 Tổng hợp điểm phân loại 79
Bảng 4.10 Mức độ quan trọng của 09 chỉ tiêu năng lực cạnh tranh dành cho khách hàng 81
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Mục tiêu chính của nghiên cứu nhằm xác định năng lực cạnh tranh của Công ty
Cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC Nghiên cứu sử dụng phương pháp chuyên gia, xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh nhằm khai thác và thu thập thông tin từ đối tượng khảo sát (bao gồm 15 người là chuyên gia và 20 người là khách hàng)
Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả và so sánh Những chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của nghiên cứu này bao gồm: năng lực tài chính; năng lực máy móc, thiết bị, công nghệ; nguồn nhân lực; hoạt động marketing; trình độ tổ chức, quản trị doanh nghiệp; hoạt động nghiên cứu và phát triển; uy tín doanh nghiệp; khả năng cạnh tranh về giá; chất lượng sản phẩm; khả năng tiếp cận thông tin; khả năng liên danh, liên kết; dịch vụ khách hàng
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ tiêu khả năng liên danh, liên kết; năng lực tài chính; hoạt động nghiên cứu và phát triển; khả năng tiếp cận thông tin là các chỉ tiêu quan trọng, phản ánh mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng Nhìn chung, Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC đã được đánh giá khá cao ở các chỉ tiêu quan trọng này, đặc biệt là chỉ tiêu khả năng liên danh, liên kết được đánh giá mạnh nhất
Đối với 03 đối thủ cạnh tranh, Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC mạnh hơn về các tiêu chí như năng lực tài chính; năng lực máy móc, thiết bị, công nghệ; nguồn nhân lực; hoạt động nghiên cứu và phát triển; khả năng tiếp cận thông tin; khả năng liên danh, liên kết Tuy nhiên, Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC có điểm yếu hơn so với các đối thủ cạnh tranh là uy tín doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh về giá, hoạt động marketing
Để khắc phục điểm yếu trên, đề tài đã khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Trong đó, tập trung vào 03 giải pháp chính: Cổ phần hóa công khai ra công chúng để tăng vốn, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, chú trọng công tác xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường
Từ khóa: Năng lực cạnh tranh, ngành xây dựng, INCOTEC, Nha Trang
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao năng lực cạnh tranh chính là điều kiện tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường và cũng là phục vụ lợi ích của chính doanh nghiệp Khi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với cạnh tranh Do vậy muốn đứng vững và phát triển trên thị trường thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo cho mình những lợi thế mạnh riêng để tạo lợi thế cạnh tranh
và khẳng định vị thế của mình trên thị trường
Theo quan điểm Porter, doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng
và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững Theo Porter, lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được
Mặt khác nâng cao năng lực cạnh tranh cũng chính là đáp ứng yêu cầu thực tế hiện nay Khách hàng ngày càng đòi hỏi cao về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ không chỉ
về mặt chất lượng, giá thành, thiết kế mỹ thuật, các dịch vụ sau bán hàng mà sự lựa chọn của khách hàng còn được thể hiện qua uy tín, trách nhiệm, thương hiệu của chính doanh nghiệp Chính vì thế mỗi doanh nghiệp phải tự mình nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng, giảm giá thành, đưa khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, hệ thống kiến thức quản lý hiện đại vào hoạt động quản trị một cách sáng tạo, chuyên nghiệp
Ngành Xây dựng đã có những chuyển biến quan trọng theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực xây dựng công trình, vật liệu xây dựng, kiến trúc, quy hoạch; năng lực xây dựng có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về xây dựng, kể cả những công trình quy mô lớn, đòi hỏi chất lượng cao, công nghệ hiện đại ở trong và ngoài nước
Sự gia tăng dân số và sự hình thành các khu dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch nghỉ dưỡng đã tạo ra sức ép lớn tới môi trường Do đó, xây dựng và kinh doanh dự án môi trường là ngành đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm Điều
Trang 13đó đã kéo ngành đầu tư xây dựng và kinh doanh dự án môi trường vào sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ
Trong 7 năm hoạt động, Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ môi trường INCOTEC đã khẳng định được uy tín, thương hiệu của mình không chỉ ở Hà Nội mà còn ở nhiều vùng miền trong cả nước Tuy nhiên, là một doanh nghiệp trên lĩnh vực xây dựng, công ty cần tối đa hóa lợi nhuận thông qua các dự án trong và ngoài nước Trong giai đoạn từ năm 2015 cho đến nay, Công ty chỉ trúng thầu dự án môi trường: Hệ thống thu gom và xử lý nước thải Khu du lịch Bắc bán đảo Cam Ranh Điều này đã cho thấy công ty còn những tồn tại, hạn chế nhất định, đó có thể là những khó khăn về tài chính, khoa học công nghệ, nhân lực, kinh nghiệm… Gần đây, kinh tế
có nhiều biến động, lạm phát tăng cao, đầu tư công bị cắt giảm, sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập thị trường Việt Nam đã khiến Công ty gặp nhiều khó khăn
Vì vậy, xuất phát từ những đòi hỏi mang tính thực tiễn nói trên, tác giả quyết
định đi sâu vào đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu
tư Xây dựng và Công nghệ môi trường INCOTEC, thành phố Hà Nội” để từ đó
đưa ra một số chính sách nhằm thúc đẩy công ty vượt qua những khó khăn, tối đa hóa lợi nhuận và phát triển bền vững
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ môi trường INCOTEC để xác định những điểm mạnh và điểm yếu của công ty so với đối thủ cạnh tranh, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty trong thời gian tới
Trang 14- Đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ môi trường INCOTEC trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về lý thuyết và thực tiễn liên quan đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ môi trường INCOTEC
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ môi trường INCOTEC trong giai đoạn 2012-2016 so với các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn thành phố Nha Trang
1.4 Đóng góp của nghiên cứu
Thông qua đề tài nghiên cứu, tác giả sẽ giúp hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, lý luận
về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, các yếu tố tác động và các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để từ đó đánh giá rõ ràng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ môi trường INCOTEC trong thời điểm hiện tại
Ngoài ra, kết quả thu được thông qua đề tài, là tài liệu tham khảo mang tính khoa học giúp các nhà lãnh đạo công ty có một cái nhìn chân thật hơn về tác động của năng lực cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động của công ty mình cũng như góp phần ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho công ty trong thời gian tới
1.5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo; kết cấu luận văn gồm 5 chương: CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Chương này xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, và ý nghĩa đóng góp của đề tài
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 15Chương này trình bày các lý thuyết cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
và lợi thế cạnh tranh, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và khung phân tích các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày về quy trình nghiên cứu, cách thức lựa chọn đối thủ cạnh tranh, chuyên gia và khách hàng, quy trình xây dựng và phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu ma trận hình ảnh cạnh tranh
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương này giới thiệu tổng quan về Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC Thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và công nghệ môi trường INCOTEC dựa trên phân tích kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia và khách hàng
CHƯƠNG 5 KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
Chương này trình bày mục tiêu, định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ môi trường INCOTEC trong thời gian tới Đồng thời đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty trong giai đoạn kinh doanh tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh
2.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Theo Marx (1844): “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà
tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”
Theo Từ điển kinh doanh (1992): ”Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định
nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”
Theo Porter (1980) thì Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình
mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi
Từ những khái niệm trên đây có thể rút ra quan điểm chung của cạnh tranh ở phạm vị doanh nghiệp như sau:
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những các tổ chức, cá nhân có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng…
Như vậy, hiểu chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành lấy thị trường và khách hàng Sản phẩm càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt, kết quả cạnh tranh sẽ tự loại những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả
2.1.2 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế thị trường, nó được coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp
mà cả nền kinh tế nói chung
Trang 172.1.2.1 Đối với doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp, cạnh tranh có những vai trò sau:
- Cạnh tranh được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải những doanh nghiệp Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò cực kỳ to lớn
- Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cạnh tranh tạo
ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường từ đó ra các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng như tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành
- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của khách hàng Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn
2.1.2.2 Đối với khách hàng
Có cạnh tranh, hàng hoá, dịch vụ sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng trong
xã hội Vì vậy, đối với khách hàng, cạnh tranh có các vai trò sau:
- Khách hàng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình
- Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo được quan tâm nhiều hơn Đó chính là những lợi ích mà khách hàng có được từ việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
2.1.2.3 Đối với nền kinh tế
Cạnh tranh được coi như là “linh hồn” của nền kinh tế, vai trò của cạnh tranh đối
Trang 18- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ những độc quyền, bất hợp
lý, bất bình đẳng trong kinh doanh
- Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng xâu sắc
- Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế
- Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài
- Cạnh tranh giúp nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường của nước ta
2.1.3 Phân loại cạnh tranh
Có nhiều tiêu thức phân loại cạnh tranh, tuy nhiên, một số cách phân loại cơ bản đó là:
2.1.3.1 Về phạm vi ngành kinh tế
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất, kinh doanh một loại hàng hoá, dịch vụ Trong đó, các doanh nghiệp yếu kém phải thu nhỏ hoạt động kinh doanh, thậm chí bị phá sản, các doanh nghiệp mạnh sẽ chiếm ưu thế Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cuộc cạnh tranh tất yếu xảy ra, tất cả đều nhằm vào mục tiêu cao nhất là lợi nhuận của doanh nghiệp
Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm mục tiêu lợi nhuận, vị thế và an toàn Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xu hướng di chuyển của vốn đầu tư sang các ngành kinh doanh thu được lợi nhuận cao hơn và tất yếu sẽ dẫn tới sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
2.1.3.2 Về mức độ cạnh tranh
Cạnh tranh hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó có rất
Trang 19Giá cả sản phẩm là do cung và cầu trên thị trường quyết định Các doanh nghiệp được
tự do gia nhập, rút lui khỏi thị trường Do đó, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các doanh nghiệp tham gia kinh doanh muốn thu được lợi nhuận tối đa phải tìm mọi biện pháp giảm chi phí đầu vào, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng
Cạnh tranh không hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là loại thị trường phổ biến nhất hiện nay Sức mạnh thị trường thuộc về một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn Các doanh nghiệp trên thị trường này kinh doanh những loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau Sự khác biệt giữa những loại hàng hoá, dịch vụ này ở nhãn hiệu Có những loại hàng hoá, dịch vụ chất lượng như nhau song sự lựa chọn của khách hàng lại căn cứ vào uy tín, nhãn hiệu sản phẩm Các hình thức của cạnh tranh không hoàn hảo đó là độc quyền, độc quyền tập đoàn, cạnh tranh mang
tính độc quyền
2.1.4 Đặc điểm cạnh tranh trong ngành xây dựng
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng là sự cố gắng giành được quyền thực hiện các dự án thông qua gói thầu với điều kiện thuận lợi và tối ưu trên cơ sở nguồn nội lực và ngoại lực có khả năng khống chế được của doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích kinh tế và xã hội Cụ thể, cạnh tranh trong đấu thầu có thể được hiểu trên các khía cạnh sau:
- Theo nghĩa hẹp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng là quá trình doanh nghiệp đưa ra những giải pháp về kỹ thuật, trang thiết bị, nhân lực, tiến độ thi công, giá bỏ thầu, ưu thế về uy tín, kinh nghiệm thể hiện tính ưu việt của mình
so với nhà thầu khác nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng trong việc thực hiện dự án Cách hiểu này chỉ giới hạn ở khâu đấu thầu, chưa chỉ ra được sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong suốt quá trình kinh doanh, do đó rất khó xác định được tính toàn diện của cạnh tranh trong quá trình đấu thầu
- Theo nghĩa rộng, cạnh tranh trong ngành xây dựng là sự ganh đua quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm thông tin, đưa ra các giải pháp về
kỹ thuật, ưu thế về kinh nghiệm, điều kiện thực hiện dự án, giá bỏ thầu nhằm đảm bảo trúng thầu và thực hiện các cam kết theo hợp đồng ký kết với khách hàng
Trang 20Thứ nhất, về chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu xây dựng Cạnh tranh trong
đấu thầu xây dựng thường có nhiều chủ thể tham gia, các chủ thể này có cùng mục tiêu theo đuổi đó là phải giành được những lợi thế về phía mình Các chủ thể khi tham gia đấu thầu đều phải cạnh tranh với nhau, điều này dẫn tới sự hình thành nhiều mối quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thể khi tham gia đấu thầu Đó là, mối quan hệ cạnh tranh giữa người bán (nhà thầu) và người mua (khách hàng); theo đó, người mua thì muốn mua được công trình xây dựng có chất lượng cao, thời gian thi công ngắn, chi phí hợp lý Còn về phía những người bán thì muốn bán được công trình trong tương lai có giá cao với chi phí hợp lý và có lợi nhuận lớn nhất trong hạn độ bảo đảm các qui chuẩn của xây dựng
Thứ hai, về đối tượng của cạnh tranh đấu thầu xây dựng Khi đánh giá và
quyết định lựa chọn nhà thầu, khách hàng thường căn cứ vào các tiêu chí để xét thầu như: kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu; khả năng tài chính; trình độ chuyên môn, kỹ thuật; tiến độ thi công, giá dự thầu Trong đó, bên khách hàng chú ý nhiều nhất tới chất lượng, tính năng ưu việt về kỹ thuật và giá thành sản phẩm, đó cũng chính là đối tượng cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau
2.1.5 Năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh
2.1.5.1 Năng lực cạnh tranh
Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt ở 4 cấp độ như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác Như vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo có hiệu quả phân bố nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững
- Năng lực cạnh tranh ngành: là khả năng ngành phát huy được những lợi thế cạnh tranh và có năng suất so sánh giữa các ngành cùng loại
Trang 21- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, khả năng tổ chức, quản trị kinh doanh, áp dụng công nghệ tiên tiến, hạ thấp chi phí sản xuất nhằm thu được lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và nước ngoài
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm: là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh và nhiều so với những sản phẩm cùng loại trên thị trường Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua hàng,…
Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể mở đường cho doanh nghiệp khai thác điểm mạnh của mình, nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Ngược lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo đảm tính bền vững của năng lực cạnh tranh quốc gia Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao đòi hỏi phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao Tương tự, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tập trung vào khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đây là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi nhưng cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực cạnh tranh (hay còn gọi là sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh) của doanh nghiệp Mỗi định nghĩa đứng trên những góc độ tiếp cận khác nhau
Theo Michael E Porter (1985), cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận
Như vậy có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ
mô Một doanh nghiệp hay sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau hoặc năm sau nữa lại không còn khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế
Trang 222.1.5.2 Lợi thế cạnh tranh
Theo Michael Porter (2009), lợi thế cạnh tranh là giá trị mà một doanh nghiệp mang lại cho người mua mà giá trị đó vượt quá chi phí của doanh nghiệp tạo ra nó Giá trị mà người mua sẵn sàng để trả, và giá trị cao hơn ngăn trở việc đề nghị những giá thấp hơn đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là nảy sinh một giá cao hơn
Khi một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh có nghĩa là doanh nghiệp đó đã có những giá trị mà các đối thủ cạnh tranh khác không có, doanh nghiệp đó hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc đã làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của một doanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp đều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên lợi thế cạnh tranh thường rất dễ bị xói mòn bởi những hành động bắt chước của đối thủ
Cạnh tranh diễn ra ở mọi nơi, không có doanh nghiệp nào không phải đương đầu với một hình thức và mức độ cạnh tranh nào Môi trường cạnh tranh hiện nay
có mức độ cạnh tranh rất khốc liệt và liên tục gia tăng Do đó, nhận thức được tác động của các nhân tố bên ngoài quan trọng, năng động cũng như biết cách tận dụng các nguồn lực của doanh nghiệp và khai thác chúng sẽ tạo ra được lợi thế cạnh tranh bền vững
2.1.5.3 Phân biệt năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh
Nhìn chung, năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh đều giúp công ty chiếm được thị phần nhiều hơn, thỏa mãn khách hàng hơn, gia tăng lòng trung thành của khách
Nguồn lực Năng lực cạnh tranh Năng lực cốt lõi
Lợi thế
cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh bền vững
Trang 23hàng và đem lại nhiều lợi nhuận hơn Năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh đều giúp công ty khác biệt so với các đối thủ khác, nhưng nó không giống nhau Cụ thể:
Năng lực cạnh tranh là tập hợp những kỹ năng và chuyên môn mà nhờ đó công
ty vượt hơn đối thủ cạnh tranh Nó có thể là năng lực về công nghệ, quản trị, hệ thống… khi so với đối thủ cạnh tranh
Một điểm được xem là năng lực cạnh tranh khi và chỉ khi nó đáp ứng 3 điều kiện: +) Phù hợp với thị trường (được thị trường công nhận)
+) Tạo được lợi ích cho khách hàng
+) Duy nhất và khó bắt chước
Lợi thế cạnh tranh giúp công ty có thể cạnh tranh được đối thủ Lợi thế có thể là
sản phẩm, dịch vụ, chiến lược, kỹ năng của nhân viên… khi so với đối thủ cạnh tranh
Có 2 loại lợi thế cạnh tranh: Dẫn đầu về giá (giá rẻ nhất) và khác biệt hóa Với định ngĩa trên, lợi thế cạnh tranh có được khi ta “thu xếp” được nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ, tiết kiệm nguồn lực thông qua các mô hình quản lý tiên tiến, tìm được địa điểm tốt, xây dựng được thương hiệu mạnh…
Điều khác biệt lớn nhất giữa năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh là năng lực cạnh tranh dẫn đến lợi thế cạnh tranh Nhưng lợi thế cạnh tranh muốn trở thành năng lực cạnh tranh phải thỏa cả 3 điều kiện của năng lực cạnh tranh
Như vậy, dù có rất nhiều sự giống nhau, đều giúp công ty vượt hơn đối thủ cạnh tranh, nhưng vẫn có những khác nhau cơ bản giữa 2 khái niệm này Đôi khi một yếu tố
có thể là lợi thế cạnh tranh nhưng không phải là năng lực cạnh tranh vì nó quá đơn giản và có thể bắt chước dễ dàng
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Để có được năng lực cạnh tranh mạnh, doanh nghiệp phải trải qua một quá trình xây dựng và củng cố bộ máy tổ chức, xây dựng và thực hiện tốt các chiến lược sản xuất - kinh doanh, bao gồm: chiến lược sản xuất, chiến lược nhân sự, chiến lược công nghệ, chiến lược thị trường và đặc biệt là chiến lược cạnh tranh; tạo dựng môi trường bên trong và bên ngoài tốt để làm cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các chiến lược
Trang 24trên, cũng như các hoạt động khác của doanh nghiệp Tất cả các yếu tố trên đều có ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và có thể chia ra làm hai nhóm sau:
Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh (2007), Quản trị chiến lược
Hình 2.2 Môi trường kinh doanh doanh nghiệp 2.2.1 Các nhân tố bên ngoài
Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) dựa trên mô hình Kim cương của M Porter
để đưa ra các yếu tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dưới tiêu đề môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, với 56 chỉ tiêu cụ thể (các chỉ tiêu này được lượng hóa để xếp hạng cho các quốc gia) thuộc 4 nhóm yếu tố sau:
Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạ tầng vật chất
- kỹ thuật, hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tài chính Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật về tiêu dùng, công nghệ thông tin…
Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và số lượng của các nhà cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và dịch vụ đào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ các chi tiết và
MÔI TRƯỜNG NỘI BỘ
SẢN PHẨM THAY THẾ ĐỐI THỦ HIỆN TẠI
Trang 25Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm hai phân nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh của các nhà sản xuất, hiệu quả của việc chống độc quyền)
Theo logic truyền thống, các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp được chia thành các nhóm sau đây: thị trường, thể chế - chính sách, kết cấu hạ tầng, các ngành hỗ trợ,…
2.2.1.1 Môi trường vĩ mô
- Ảnh hưởng về chính trị, luật pháp
Chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư, nhà quản trị các doanh nghiệp quan tâm phân tích để dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi mà doanh nghiệp đang có mối quan hệ mua bán hay đầu tư Các yếu tố như thể chế chính trị, sự ổn định hay biến động về chính trị tại quốc gia hay một khu vực là những tín hiệu ban đầu giúp các nhà quản trị nhận diện đâu là cơ hội hoặc đâu
là nguy cơ của doanh nghiệp để đề ra các quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các khu vực thị trường thuộc phạm vi quốc gia hay quốc tế
Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố pháp luật và quản lý nhà nước về kinh tế Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh chân chính,
có trách nhiệm
Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ và các chương trình chi tiêu của mình Trong mối quan hệ với các doanh nghiệp chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tài trợ, quy định, ngăn cấm, hạn chế vừa đóng vai trò khách hàng quan trọng đối với doanh nghiệp và sau cùng chính phủ đóng vai trò là nhà cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp như cung cấp thông tin vĩ mô, các dịch vụ công cộng khác
- Ảnh hưởng về kinh tế
Đây là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược của doanh nghiệp
Trang 26Nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho đầu tư
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngược lại khi nền kinh tế sa sút sẽ dẫn đến giảm chi phí tiêu dùng đồng thời làm tăng lực lượng cạnh tranh Thông thường sẽ gây nên chiến tranh giá cả trong ngành
Lãi suất và xu hướng của lãi xuất trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư, do vậy ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo vận hội tốt cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể là nguy cơ cho sự phát triển của doanh nghiệp đặc biệt nó tác động điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu Thông thường chính phủ sử dụng công cụ này để điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu theo hướng có lợi cho nền kinh tế
Lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế Khi lạm phát quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư của các doanh nghiệp, sức mua của xã hội cũng bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ Trái lại thiểu phát cũng làm cho nền kinh tế bị trì trệ Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng khuyến khích đầu tư vào nền kinh tế, kích thích thị trường tăng trưởng
Các ưu tiên hay hạn chế của chính phủ với các ngành được cụ thể hoá thông qua luật thuế Sự thay đổi của hệ thống thuế hoặc mức thuế có thể tạo ra những cơ hội hoặc nguy cơ đối với các doanh nghiệp vì nó làm cho mức chi phí hoặc thu nhập của doanh nghiệp thay đổi
- Ảnh hưởng về văn hóa, xã hội
Bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà những chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng, bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể
Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường rất rộng: "nó xác định cách thức người ta sống làm việc, sản xuất, và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ" Như vậy những hiểu biết về mặt văn hoá - xã hội sẽ là những cơ sở rất quan trọng cho các nhà quản trị trong quá trình quản trị chiến lược ở các doanh nghiệp
- Ảnh hưởng môi trường tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí
hậu, cảnh quan thiên nhiên; đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong
lòng đất, tài nguyên rừng biển, sự trong sạch của môi trường, nước và không khí,
Trang 27Trong rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ
Tuy nhiên, các nhà quản trị chiến lược cần nhạy bén với những mối đe dọa và cơ hội gắn liền với bốn xu hướng trong môi trường tự nhiên
Vật chất của trái đất có loại vô hạn, loại hữu hạn, có thể tái tạo được và loại hữu hạn không tái tạo được
Một nguồn tài nguyên hữu hạn không thể tái tạo - dầu mỏ - đã đẻ ra những vấn
đề nghiệm trọng cho nền kinh tế thế giới Giá dầu mỏ tăng vọt đã thúc đẩy việc tìm kiếm những dạng năng lượng khác thay thế như năng lượng mặt trời, hạt nhân, gió và các dạng năng lượng khác
Một số hoạt động công nghiệp chắc chắn sẽ huỷ hoại chất lượng của môi trường
tự nhiên như chất thải hóa học và hạt nhân, mức độ nhiễm thuỷ ngân gây nguy hiểm của nước biển, các hóa chất gây ô nhiễm khác trong đất và thực phẩm, việc vứt bừa bãi trong môi trường
- Ảnh hưởng công nghệ
Đây là một trong những yếu tố rất năng động chứa đựng nhiều cơ hội và đe doạ đối với các doanh nghiệp:
* Những áp lực và đe doạ từ môi trường công nghệ có thể là:
(1) Sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe doạ các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu (2) Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗi thời và tạo
ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh
(3) Sự ra đời của công nghệ mới càng tạo điều kiện thuận lợi cho những người xâm nhập mới và làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành (4) Sự bùng nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời công nghệ có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắn thời gian khấu hao so với trước
* Bên cạnh những đe doạ này thì những cơ hội có thể đến từ môi trường công
Trang 28(1) Công nghệ mới có thể tạo điều kiện để sản xuất sản phẩm rẻ hơn với chất lượng cao hơn, làm cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt hơn Thường thì các doanh nghiệp đến sau có nhiều ưu thế để tận dụng được cơ hội này hơn là các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành
(2) Sự ra đời của công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm có nhiều tính năng hơn
và qua đó có thể tạo ra những thị trường mới hơn cho các sản phẩm và dịch vụ của công ty
* Ngoài những khía cạnh trên đây, một số điểm mà các nhà quản trị cần lưu ý thêm khi đề cập đến môi trường công nghệ là:
(1) Áp lực tác động của sự phát triển công nghệ và mức chi tiêu cho sự phát triển công nghệ khác nhau theo ngành Các ngành truyền thông, điện tử, hàng không và xây dựng luôn có tốc độ đổi mới công nghệ cao, do đó mức chi tiêu cho sự phát triển công nghệ thường cao hơn so với ngành dệt, lâm nghiệp và công nghiệp kim loại Đối với những nhà quản trị trong những ngành bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi kỹ thuật nhanh thì quá trình đánh giá những cơ hội và đe dọa mang tính công nghệ trở thành một vấn đề đặc biệt quan trọng của việc kiểm soát các yếu tố bên ngoài
(2) Một số ngành nhất định có thể nhận được sự khuyến khích và tài trợ của chính phủ cho việc nghiên cứu phát triển khi có sự phù hợp với các phương hướng và
ưu tiên của chính phủ Nếu các doanh nghiệp biết tranh thủ những cơ hội từ sự trợ giúp này sẽ gặp được những thuận lợi trong quá trình hoạt động
2.2.1.2 Môi trường ngành
Hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp phải đặt mình vào môi trường cạnh tranh khốc liệt Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho doanh nghiệp là phải phân tích và phán đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành
để xác định các cơ hội và đe dọa ảnh hưởng đến doanh nghiệp
Trang 29Hình 2.3 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter
Theo Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay,
đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động
Năm áp lực cạnh tranh hình thành môi trường cạnh tranh và quyết định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong một ngành kinh doanh cụ thể Sức mạnh của các áp lựa cạnh tranh trong ngành sẽ quyết định mức độ đầu tư, cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận của ngành Khi các áp lực cạnh tranh càng mạnh thì khả năng sinh lời và tăng giá hàng của các công ty cùng ngành càng bị hạn chế Ngược lại, khi áp lực cạnh tranh yếu thì đó là cơ hội cho các công ty trong ngành thu được lợi nhuận cao
*Sức ép của khách hàng
Đây là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của người mua Người mua có thể được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi buộc doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn Ngược lại, khi người mua yếu sẽ mang đến cho
Quyền thương lượng của người mua
Nguy cơ của người mới nhập cuộc
SẢN PHẨM THAY THẾ
CÁC ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG
KHÁCH HÀNG
CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH
Cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại
Trang 30khách hàng cuối cùng, các nhà phân phối và các nhà mua công nghiệp Áp lực của khách hàng thường được thể hiện trong các trường hợp sau:
- Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp Trong khi đó người mua là một số ít và có quy mô lớn Hoàn cảnh này cho phép người mua chi phối các công ty cung cấp
- Khách hàng mua một khối lượng lớn Trong hoàn cảnh này người mua có thể
sử dụng ưu thế mua của họ như một ưu thế để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý
- Ngành cung cấp phụ thuộc vào khách hàng với tỷ lệ phần trăm lớn trong tổng
*Quyền lực của nhà cung cấp
Các nhà cung cấp là những tổ chức, cá nhân có khả năng sản xuất và cung cấp các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu, các loại dịch vụ, phương tiện vận chuyển, thông tin Những nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng của các sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp Qua đó làm giảm khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp Trên một phương diện nào đó, sự đe dọa đó tạo ra sự phụ thuộc ít nhiều đối với các doanh nghiệp Áp lực tương đối của nhà cung ứng thường thể hiện trong các tình huống sau:
- Ngành cung ứng mà doanh nghiệp chỉ có một số, thậm chí một doanh nghiệp độc quyền cung ứng;
- Tình huống không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp không có người cung ứng nào khác;
- Doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và ưu tiên của nhà cung ứng;
Trang 31- Loại đầu vào, chẳng hạn vật tư của nhà cung ứng là quan trọng nhất đối với doanh nghiệp;
- Các nhà cung cấp vật tư cũng có chiến lược liên kết dọc, tức là khép kín sản xuất
*Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Đối thủ cạnh tranh hiện tại là một trong 5 lực lượng cạnh tranh trong ngành Khi xem xét đối thủ cạnh tranh hiện tại doanh nghiệp cần nhận thấy: Nếu đối thủ càng yếu, doanh nghiệp có cơ hội tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại, khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá là đáng kể Vì vậy, việc phân tích đối thủ cạnh tranh hiện tại cần xoay quanh những nội dung chủ yếu sau:
Một là, doanh nghiệp phải nhận biết được đối thủ cạnh tranh trực tiếp để từ đó
phân tích tín hiệu từ thị trường và phân loại đối thủ cạnh tranh
Hai là, phân tích điểm mạnh, điểm yếu và khả năng cạnh tranh của các đối thủ
thông qua so sánh các yếu tố (sản phẩm, chất lượng, khả năng cạnh tranh về giá, hiệu quả quảng cáo, năng suất lao động, mạng lưới phân phối, thị phần, khả năng tài chính )
Ba là, phân tích chiến lược hiện tại của đối thủ cạnh tranh từ đó so sách tương
quan thế lực của doanh nghiệp so với đối thủ
*Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ quyết định gia nhập ngành
Về mọi phương diện các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn chưa bằng các đối thủ trong ngành Tuy nhiên, họ có hai điểm mà các doanh nghiệp hiện tại cần phải lưu ý là: có thể biết được điểm yếu của các đối thủ hiện tại; và có tiềm lực tài chính, công nghệ mới để sản xuất các sản phẩm mới
Mức độ thuận lợi và khó khăn cho việc nhập ngành của các đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc phần lớn vào hàng rào cản trở gia nhập Theo Michael Porter hàng rào cản trở gia nhập ngành bao gồm:
Trang 32Kinh tế quy mô (chi phí về sản xuất, phân phối, bán, quảng cáo ) giảm với số lượng bán Hay nói cách khác số lượng sản phẩm sản xuất và bán hàng tăng lên thì chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm xuống
Những ưu thế tuyệt đối về chi phí không liên quan đến quy mô: (1) Công nghệ sản phẩm thuộc quyền sở hữu: sáng chế, làm chủ một công nghệ; (2) Sự tiếp cận nguồn lực đặc thù: nhân lực, nguồn nguyên liệu thô thuận lợi; (3) Vị trí kinh doanh thuận lợi; (4) Đường cong kinh nghiệm
Khác biệt hóa sản phẩm: là việc tạo ra sản phẩm có những đặc tính đặc biệt
mang tính độc đáo về chất lượng, giá cả, thiết kế, biểu tượng hay dịch vụ khách hàng
có thể phân biệt dễ dàng với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh
Kênh phân phối của các doanh nghiệp hiện tại đang rất mạnh và đã tồn tại trên
thị trường Việc các doanh nghiệp mới thuyết phục để mạng lưới phân phối đó làm việc với doanh nghiệp mình là điều hết sức khó khăn, cần phải có các biện pháp giảm giá, chia sẻ chi phí quảng cáo
Phản ứng lại của các doanh nghiệp hiện tại trong lĩnh vực kinh doanh Nếu các
doanh nghiệp mới muốn vào ngành phản ứng lại một cách tích cực và khôn khéo, họ sẽ thuận tiện hơn trong việc gia nhập ngành Nhưng nếu các doanh nghiệp phản ứng lại bằng một cuộc chiến (ví dụ cuộc chiến về giá) thì giá phải trả là quá đắt để gia nhập ngành
* Áp lực của sản phẩm và dịch vụ thay thế
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của khách hàng Đặc điểm cơ bản của nó thường có các ưu điểm hơn sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt Do các loại hàng có tính thay thế cho nhau nên sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, việc phân tích sản phẩm thay thế là rất quan trọng đối với doanh nghiệp Khi thực hiện phân tích sản phẩm thay thế doanh nghiệp phải thể hiện các nội dung sau:
- Phân tích xu hướng thay thế: thay thế bình thường hay thay thế hoàn toàn
- Phân tích mối quan hệ về cung cầu và mối quan hệ về giá cả của sản phẩm thay thế Phân tích sản phẩm thay thế tốt sẽ cho phép doanh nghiệp xác định ngành hàng
Trang 33kinh doanh một cách có hiệu quả và có thể chuyển hướng kinh doanh hay đa dạng hóa sản phẩm khi thấy cần thiết
2.2.2 Các nhân tố bên trong
Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần phải phân tích kỹ lưỡng môi trường bên trong của doanh nghiệp nhằm xác định rõ những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp mình, từ đó doanh nghiệp cần có biện pháp để cải cách, thay đổi những yếu tố tác động xấu đến doanh nghiệp, phát huy những điểm mạnh để đạt được ưu thế cạnh tranh tối đa
2.2.2.2 Năng lực máy móc, thiết bị, công nghệ
Máy móc, thiết bị là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp xây dựng, nó ảnh hưởng rất nhiều đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp Yếu tố kỹ thuật này quyết định việc lựa chọn, tính toán các giải pháp hợp lý trong tổ chức thi công, bố trí con người và thiết bị một cách hài hoà nhằm đạt được tiêu chuẩn
về chất lượng rút ngắn tiến độ thi công, tiết kiệm chi phí xây dựng, hạ giá thành công trình và tăng lợi thế cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh về máy móc thiết bị và công nghệ thể hiện thông qua các đặc tính sau:
- Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ: Biểu hiện ở các thông số như: Hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại của máy móc, thiết bị công nghệ
Trang 34- Tính đồng bộ: Thiết bị hoạt động tốt phải đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị công nghệ với các điều kiện địa lý, khí hậu, thuỷ văn, phương pháp sản xuất và sự phù hợp giữa chất lượng, độ phức tạp của sản phẩm với giá cả của sản phẩm do công nghệ
đó sản xuất ra
- Tính hiệu quả: Thể hiện về trình độ sử dụng máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, từ đó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động tối đa nguồn lực vật chất sẵn có, phục vụ cho mục đích cạnh tranh
- Tính đổi mới: Là một trong những yếu tố tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở trình độ trang bị công nghệ mà còn thể hiện ở trình độ chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo của người lao động trong doanh nghiệp Công nghệ thích hợp, hiện đại là điều kiện cần thiết để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, có nhiều tính năng ưu việt hơn các sản phẩm cùng loại trên thị trường, và do đó giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh
2.2.2.3 Nguồn nhân lực
Khi đánh giá nguồn nhân lực thì doanh nghiệp thường chú trọng đến các vấn đề:
(1) Cán bộ quản trị cấp cao (ban giám đốc) là những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, điều hành và quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp
Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào các quyết định của họ Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo, doanh nghiệp thường quan tâm đến các tiêu thức như kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản lý doanh nghiệp, phẩm chất kinh doanh và các mối quan hệ và xa hơn nữa là khả năng xây dựng một tập thể đoàn kết, vững mạnh, thúc đẩy mọi người hết mình cho công việc Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tăng thêm sức mạnh, tăng thêm năng lực cạnh tranh
(2) Cán bộ quản trị cấp trung gian là những người đứng dưới quản trị viên cao cấp và đứng trên quản trị viên cấp cơ sở Ở vị trí này họ vừa quản trị các quản trị viên cấp cơ sở thuộc quyền, vừa điều khiển các nhân viên khác Chức năng của họ là thực hiện các kế hoạch và chính sách của doanh nghiệp bằng cách phối hợp thực hiện các công việc nhằm dẫn đến hoàn thành mục tiêu chung
Trang 35(3) Các chuyên viên, đây là một trong những khác biệt so với các ngành khác
Họ là những người không làm quản lý mà chỉ làm nhiệm vụ chuyên môn đơn thuần
Đó là những kỹ sư, cử nhân trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như lập dự toán, giám sát thi công và vai trò của họ cũng rất quan trọng
(4) Cán bộ quản trị cấp cơ sở, công nhân là đội ngũ các nhà quản trị ở cấp cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị một doanh nghiệp Nhiệm vụ của họ
là hướng dẫn, đôn đốc, điều khiển công nhân hoàn thành các công việc hàng ngày theo tiến độ kế hoạch để đưa đến hoàn thành mục tiêu chung của cả doanh nghiệp Đây là đội ngũ quản trị viên lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp qua khía cạnh như chất lượng, tiến độ thi công Và cuối cùng là là đội ngũ lao động với trình độ tay nghề cao, có khả năng sáng tạo trong công việc, họ chính là những người thực hiện những ý tưởng, chiến lược của các quản trị cấp cao, tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
(5) Một vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm là khả năng huy động lực lượng công nhân kịp thời về số lượng và chất lượng để phục vụ cho quá trình thi công công trình Đây là việc rất khó vì khác với các ngành sản xuất khác trong ngành xây dựng, nhu cầu sử dụng công nhân tuỳ thuộc vào tiến độ thi công
2.2.2.4 Hoạt động marketing
Marketing được hiểu là các hoạt động liên quan đến nghiên cứu, dự báo, xác định các nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu
đó bằng cách kết hợp các chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối
và chiến lược tiếp thị xúc tiến hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh ở những thị trường trong những giai đoạn khác nhau Các hoạt động Marketing cơ bản trong doanh nghiệp bao gồm: hoạt động nghiên cứu thị trường để giúp doanh nghiệp chủ động nhận diện các
cơ hội từ thị trường, phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và phân tích khách hàng; tiếp đến doanh nghiệp thực hiện việc hoạch định các chiến lược marketing (chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến) Như vậy, hoạt động marketing giúp cho doanh nghiệp đưa sản phẩm và dịch vụ của mình đến gần hơn với khách hàng, tác động đến quyết định lựa chọn và sử dụng của
họ, có thể trở thành khách hàng trung thành của doanh nghiệp
Trang 36Trong lĩnh vực xây dựng, do đặc thù sản phẩm của các doanh nghiệp ngành này
là không thể đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàng lựa chọn như các ngành công nghiệp khác được mà chủ yếu dựa vào danh tiếng, thương hiệu, chất lượng của của những công trình đã thi công để khách hàng xem xét và tìm đến yêu cầu sản xuất sản phẩm Sự cạnh tranh trực tiếp giữa các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu là sự so sánh
về thành tích, về thương hiệu Thành tích và thương hiệu của doanh nghiệp càng lớn thì khả năng trúng thầu của doanh nghiệp càng cao Do đó trước khi đấu thầu cần phải làm tốt công tác quảng cáo, tiếp thị để nâng cao mức độ tin cậy của doanh nghiệp với khách hàng, từ đó góp phần vào việc nâng cao khả năng trúng thầu
2.2.2.5 Trình độ tổ chức, quản trị doanh nghiệp
Cơ cấu Ban lãnh đạo có phẩm chất và tài năng có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới sự thành công của doanh nghiệp Một nhà lãnh đạo giỏi không chỉ biết làm cho bộ máy công ty vận hành đúng quy luật và còn phải làm cho nó hoạt động một cách linh hoạt, uyển chuyển cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường trong và ngoài doanh nghiệp
* Năng lực quản trị được thể hiện ở các mặt sau:
Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và đa dạng thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng, đến kiến thức về xã hội, nhân văn Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh - gọn - nhẹ và hiệu quả cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao, ra quyết định nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của doanh nghiệp; qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp Điều này có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 372.2.2.6 Năng lực nghiên cứu và phát triển
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồm nhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp cho phù hợp với thị trường Hoạt động nghiên cứu và phát triển giúp cho doanh nghiệp không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm, giúp cho sản phẩm của công ty có sự khác biệt so
với sản phẩm của các công ty khác tạo ra năng lực cạnh tranh
2.2.2.7 Uy tín của doanh nghiệp
Uy tín đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh, là yếu tố quan trọng nhất tạo được lòng tin trong lòng khách hàng
Uy tín được hình thành qua kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian dài nhờ uy tín nhãn hiệu sản phẩm, chất lượng độ tin cậy của khách hàng và đối tác trong quan hệ
kinh doanh
2.2.2.8 Khả năng cạnh tranh về giá
Giá là một trong những ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn mua hàng của khách hàng doanh nghiệp Vì vậy, giá cũng là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Giá được xem là một khoảng chi phí đối với khách hàng nhưng nó lại là một khoảng thu nhập đối với doanh nghiệp Cạnh tranh bằng giá là một trong những công cụ cạnh tranh phổ biến trong thời đại ngày nay Doanh nghiệp nào đưa ra mức giá thấp hơn đối thủ nhưng lợi ích mang lại cho khách hàng tương đương
sẽ được khách hàng lựa chọn Vì vậy một doanh nghiệp luôn muốn hạ thấp giá gói thầu của mình để tăng khả năng cạnh tranh Mỗi doanh nghiệp đều cần có một chiến lược giá nhất định tùy thuộc vào từng thời điểm, tùy sản phẩm và tùy từng vùng mà doanh nghiệp kinh doanh
2.2.2.9 Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là những giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng Khả năng của các doanh nghiệp khác nhau thì chất lượng thường không giống nhau, phụ thuộc rất lớn vào khả năng tổ chức, khả năng tài chính, trình độ chuyên môn, phong cách phục vụ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, nhưng lại thường xuyên biến động,
Trang 38không ổn định, từ đó kéo theo tính bất ổn và khó xác định chính xác chất lượng của sản phẩm Nếu chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp càng cao thì uy tín càng lớn, càng thu hút được nhiều khách hàng tin tưởng và sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp, từ
đó càng nhiều cơ hội tăng doanh thu, tăng thị trường, thị phần phát triển, biểu hiện của năng lực cạnh tranh cao, bởi chất lượng sản phẩm là do khách hàng cảm nhận và quyết định đến kết quả đánh giá chất lượng
2.2.2.10 Khả năng tiếp cận thông tin
Khả năng này tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao
vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới Những biến động trên thị trường thế giới đều tác động đến nền kinh tế trong nước mà cụ thể là các doanh nghiệp, những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế Sự cạnh tranh đã và đang diễn ra từng ngày, mỗi doanh nghiệp đều có nhu cầu cập nhật thông tin nhanh và tổng quát để có những quyết định đúng đắn, doanh nghiệp nào càng nắm bắt được nhiều thông tin và đi trước một bước thì doanh
nghiệp đó càng có nhiều lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh
2.2.2.11 Khả năng liên danh, liên kết
Đối với những dự án vượt quá năng lực thực hiện của mình, doanh nghiệp thường liên danh, liên kết với nhau để tạo ra một pháp nhân mới, tăng cường năng lực
về kinh tế - kỹ thuật và khả năng cạnh tranh của mình Quá trình liên danh, liên kết có thể được thực hiện theo chiều ngang và theo chiều dọc Liên danh, liên kết theo chiều ngang là sự hợp tác của doanh nghiệp cùng ngành với nhau để thực hiện các dự án lớn Liên danh, liên kết theo chiều dọc là liên kết giữa doanh nghiệp xây dựng với các doanh nghiệp khác (ví dụ với doanh nghiệp sản xuất nội thất, khai thác vật liệu xây dựng, thi công điện nước) với mục đích giảm giá thành, khai thác, sử dụng một cách tối đa máy móc, công nghệ
Mở rộng các hình thức liên danh, liên kết là một xu hướng đang diễn ra mạnh mẽ trong các doanh nghiệp xây dựng Đây là sự thích ứng của doanh nghiệp trước đòi hỏi của cơ chế thị trường Hiện nay, trong đấu thầu xây dựng, liên danh, liên kết diễn ra
Trang 39- Liên danh, liên kết tham gia dự thầu Đây là hình thức các nhà thầu hợp tác, liên kết với nhau thành một nhà thầu để tham gia dự thầu Nhà thầu mới có năng lực mạnh
về tài chính, nhân lực và kỹ thuật dựa trên năng lực của các nhà thầu liên kết
- Liên danh, liên kết hình thành các tập đoàn xây dựng Đó là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp xây dựng để hình thành nên một tập đoàn lớn với tiềm lực kinh tế và kỹ thuật vững mạnh nhằm khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của các thành viên và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
2.2.2.12 Dịch vụ khách hàng
Dịch vụ khách hàng là một hệ thống được tổ chức để tạo ra một mối liên kết mang tính liên tục từ khi tiếp xúc với khách hàng lần đầu tiên cho đến khi sản phẩm được giao, nhận và được sử dụng, nhằm làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng một cách liên tục
2.3 Tổng quan nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trước những thay đổi của thị trường trong nước và quốc tế, có thể kể đến nghiên cứu của một số tác giả như sau:
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phạm Phú Cường (2012), trên cơ sở lý luận chung về chiến lược cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của doanh nghiệp xây dựng giao thông Tác giả trình bày thực trạng, chiến lược kinh doanh trong đấu thầu xây lắp của doanh nghiệp xây dựng giao thông ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 – 2010 và mô hình hoạch định đến năm 2020
Phạm Thị Thu Hiền (2015), trên cơ sở lý thuyết về năng lực đấu thầu xây lắp của doanh nghiệp, tác giả đã tìm ra điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của những điểm yếu trong năng lực đấu thầu của Công ty giai đoạn 2012-2014, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu xây lắp cho Công ty Cổ phần phát triển Kỹ thuật xây dựng
Lê Văn Hưng (2014), trên cơ sở phân tích thực trạng, khả năng cạnh tranh đấu thầu xây dựng, qua đó tìm ra những ưu điểm, thành tựu và những tồn tại trong công tác đấu
Trang 40thầu xây dựng của Tổng Công ty “Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Tổng Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam” Nguyễn Trọng Hà (2016) đã đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần
tư vấn đầu tư và xây dựng Miền Trung so với các đối thủ cạnh tranh khác thông qua các chỉ tiêu: uy tín thương hiệu, thị phần, am hiểu thị trường và khách hàng, máy móc thiết bị, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh về giá, khả năng tài chính, nghiên cứu và phát triển, quản lý nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực, lợi thế vị trí Từ các chỉ tiêu đánh giá, Nguyễn Trọng Hà đã thu về kết quả đạt được, hạn chế yếu kém cũng như nguyên nhân của những hạn chế yếu kém trong công tác nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty.Nguyễn Văn Long (2014) đã tìm hiểu về hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh Để từ đó phân tích thực trạng hoạt động và năng lực cạnh tranh của Công
ty Cổ phần Dược Incotec bằng ma trận hình ảnh cạnh tranh
Nguyễn Tuấn Minh (2011) đã hệ thống hóa cơ sơ lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, từ đó có cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình giao thông Bến Tre, qua đó đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty trong việc cung cấp dịch vụ, thi công các công trình giao thông
Nguyễn Ánh Ngọc (2016) đã xây dựng được khung đánh giá năng lực cạnh tranh của các công ty trong lĩnh vực sản xuất xi măng bao gồm 12 chỉ tiêu đánh giá chính Làm cơ sở để Công ty Cổ phần xi măng Vicem Hoàng Mai phát huy những điểm mạnh và hạn chế, khắc phục những điểm yếu trong gian đoạn cạnh tranh sắp tới Ngô Thị Quỳnh Nhung (2014) đã phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Thái nguyên từ 2008 đến 2012 Từ
đó xây dựng ma trận SWOT và ma trận hình ảnh cạnh tranh cho công ty, đưa ra các giải pháp để phát huy điểm mạnh, tận dụng cơ hội, né trách thách thức và hạn chế điểm yếu cho công ty
Nguyễn Chí Thành (2003) đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu xây dựng công trình giao thông Tác giả đã phân tích thực trạng khả năng của tổng công ty xây dựng giao thông và một
số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của tổng công ty này