1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình các yếu tố tác động đến quản lý và vận hành chuỗi cung ứng trên địa bàn tp hồ chí minh và các tỉnh lân cận

45 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, nghiên cứu về đề tài chuỗi cung ứng tại Việt Nam đang là chủ đề hấp dẫn các nhà nghiên cứu và các nhà thực hành, làm thế nào để có thể giúp các bộ phận trong doa

Trang 1

Mẩu T.08 ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

FOG

BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI KHCN CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài:

MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ VÀ VẬN HÀNH

CHUỖI CUNG ỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

CN Nguyễn Bắc Nguyên, Bộ môn Quản lý sản xuất và điều hành, Khoa QLCN

Trang 3

Lời cảm ơn Sau hơn 01 năm thực hiện đề tài “MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN

LÝ VÀ VẬN HÀNH CHUỖI CUNG ỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC TỈNH LÂN CẬN”, nhóm tác giả cũng đã hoàn thành cơ bản yêu cầu đặt ra, đề tài

cũng thu được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, đề tài này sẽ không thể thành công nếu không có sự giúp đỡ từ vật chất đến tinh thần, hỗ trợ, chia sẻ khó khăn từ quý phòng ban, đến đồng nghiệp, bạn bè

Nhân dịp này, nhóm tác giả cũng có cơ hội nói lên lời cảm ơn chân thành của mình:

Xin chân thành cảm ơn Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách khoa

Tp Hồ Chí Minh đã tài trợ nguồn kinh phí đáng kể để chúng tôi hoàn thành đề tài

Xin chân thành cảm ơn Phòng Khoa học Công nghệ và Dự án đã tạo điều kiện thuận lợi, cũng như giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài Bên cạnh đó, do mất nhiều thời gian trong việc thu thập số liệu thực tế từ những nhà quản lý của các doanh nghiệp, nên tiến độ thực hiện của chúng tôi đã bị trễ hơn dự kiến khoảng 04 tháng, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Khoa học Công nghệ và Dự án đã đồng ý cho chúng tôi gia hạn tiến độ thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn Khoa Quản lý Công nghiệp, Bộ môn Quản lý sản xuất và điều hành

đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, hỗ trợ chuyên môn để chúng tôi hoàn thành đề tài trong thời gian cho phép

Xin gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp và bạn bè đã chia sẻ những khó khăn, trao đổi thông tin, kinh nghiệm để chúng tôi hoàn thành đề tài này Ngoài ra, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Trần Thị Kim Loan, người đã có nhiều góp ý quý báu, cho chúng tôi cơ hội hoàn thiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn

Nhóm thực hiện đề tài

Huỳnh Thị Phương Lan, Đường Võ Hùng, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Nguyễn Bắc Nguyên

Trang 4

kể đến sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi Cuối cùng, một số kiến nghị được đưa ra nhằm giúp doanh nghiệp có thể cải thiện hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng của mình, nâng cao khả năng cạnh tranh

Từ khóa: Chuỗi cung ứng, hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng, sự tích hợp chuỗi

cung ứng, chia sẻ thông tin

Trang 5

02 CƠ SỚ LÝ THUYẾT 03

2.1 Khái niệm “Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng” 032.2 Khái niệm “Chia sẻ thông tin trong chuỗi cung ứng” 04 2.3 Hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng

2.4 Mối quan hệ giữa sự tích hợp trong chuỗi cung ứng và sự chia sẻ

thông tin giữa các thành viên trong chuỗi

2.5 Mối quan hệ giữa sự tích hợp và hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng

2.6 Mối quan hệ giữa sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong

chuỗi và hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng

2.7 Mô hình nghiên cứu

0505

060707

3.1 Quy trình nghiên cứu 093.2 Xây dựng thang đo 11

04 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17

4.2 Kết quả kiểm định thang đo

4.3 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

1722

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu

Trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh như hiện nay, doanh nghiệp nào có thể mang lại cho khách hàng những giá trị cao hơn sẽ được khách hàng ưa thích hơn và tạo lập được lợi thế cạnh tranh cho riêng mình Quan tâm và đáp ứng kịp thời những thay đổi trong yêu cầu của khách hàng, thời gian giao hàng nhanh hơn, chính xác hơn, sản phẩm đa dạng đáp ứng cho từng yêu cầu khác nhau của từng cá nhân, giá cả hợp lí … là những giá trị mà khách hàng mong muốn nhận được Các doanh nghiệp ngày nay dần dần nhận ra rằng chỉ riêng một bộ phận, một công ty riêng lẻ thì không thể nào mang lại cho khách hàng những giá trị trên mà cần phải có sự liên kết của tất cả các thành viên trong toàn chuỗi cung ứng (Barratt, 2012, dẫn theo Ipek, 2011)

Trong những năm gần đây, nghiên cứu về đề tài chuỗi cung ứng tại Việt Nam đang là chủ đề hấp dẫn các nhà nghiên cứu và các nhà thực hành, làm thế nào để có thể giúp các bộ phận trong doanh nghiệp hoạt động ăn khớp với nhau, làm thế nào để các thành viên trong toàn chuỗi có thể phối hợp nhịp nhàng, quá trình tạo ra sản phẩm được trôi chảy và mang lại nhiều lợi nhuận hơn Các nhà quản lý tại Việt Nam cũng như các doanh nghiệp trên toàn thế giới đang dần dần xem trọng đến việc nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng của mình, nhận thấy rằng việc quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ giúp cải thiện cho hoạt động của doanh nghiệp Nói chung, có thể phân các nghiên cứu về chủ đề quản lý chuỗi cung ứng thành hai hướng chính:

- Xây dựng mô hình toán học trong vận hành chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu là các mô hình vận hành được tính toán sao cho đạt giá trị tối ưu tương ứng với các ràng buộc và điều kiện cụ thể (bài toán thiết kế chuỗi cung ứng)

- Tìm kiếm các tiền tố và xây dựng mô hình nhân quà của các yếu tố tác động đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng

Nghiên cứu này được thực hiện theo ý tưởng của hướng thứ 2: tìm kiếm và xây dựng mô hình các tiền tố ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng, thực hiện nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai

Với mong muốn tìm ra các tiền tố tác động đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng, giúp các nhà quản lý tại Việt Nam tìm ra các giải pháp để cải thiện hoạt động quản lý chuỗi cung ứng của mình, từ đó có thể đạt được những kết quả khả quan trong hoạt động kinh doanh, nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi sau:

- Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng và sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi có tác động thế nào lên hiệu quả vận hành của chuỗi?

- Tại Việt Nam thì việc chia sẻ thông tin với đối tượng bên ngoài tổ chức của mình vẫn còn là một vấn đề nhạy cảm, các doanh nghiệp vẫn thường e ngại khi chia sẻ các thông tin liên quan đến hoạt động nội bộ của mình đến các đối tác; như vậy, mức độ ảnh hưởng của sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng như thế nào?

- Có hay không mối quan hệ giữa sự tích hợp trong chuỗi và quá trình chia sẻ thông tin?

Trang 7

Để trả lời các câu hỏi này, một số nghiên cứu tại nước ngoài đã được thực hiện Dựa vào định nghĩa về công tác quản lý chuỗi cung ứng của Lambert và Cooper (2000): “Quản lý chuỗi cung ứng là sự tích hợp của các quá trình kinh doanh chủ chốt từ những người tiêu dùng cuối cùng cho đến các nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu tiên nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ và thông tin sao cho cả khách hàng lẫn các thành viên trong chuỗi đều nhận được lợi ích”, có thể thấy taq1c giả đã nhấn mạnh khái niệm “tích hợp” là khái niệm trọng tâm trong chuỗi cung ứng Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã chỉ ra rằng: việc tích hợp trong toàn chuỗi sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh (Du, 2007, Flynn và ctg, 2010, dẫn theo Ipek, 2011), cải thiện hiệu quả kinh doanh (Kim, 2009), linh hoạt hơn trong việc giảm thời hạn giao hàng, đáp ứng nhanh với các yêu cầu từ khách hàng (Clark & Lee, 2000, dẫn theo Ipek, 2011), loại trừ được hiệu ứng Bullwhip (Lee, 1997, dẫn theo Ipek, 2011), giúp giảm chi phí giao dịch (Zhao & ctg, 2008) Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng

sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi là một trong những nhân tố quan trọng giúp chuỗi hoạt động hiệu quả hơn thông qua việc giúp dòng thông tin luân chuyển nhanh hơn, giảm thời gian đáp ứng đơn hàng, gia tăng sự hợp tác, chia sẻ rủi ro cũng như lợi ích giữa các thành viên (Li, 2006, dẫn theo Ipek, 2011)

Theo như kết quả tìm kiếm của tác giả, các nghiên cứu tương tự cho các doanh nghiệp tại Việt Nam còn khá hạn chế Do đó, đề tài “Mô hình các yếu tố tác động đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận” được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu phía trên, đồng thời kết quả thu được qua quá trình nghiên cứu sẽ

là nguồn tham khảo cho các nhà quản lý trong hoạt động ra quyết định hàng ngày của mình

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu

Thực hiện nghiên cứu này nhằm đáp ứng một số mục tiêu sau:

- Xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp

- Xác định tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của việc thực hiện tích hợp trong chuỗi cung ứng

- Xác định tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của việc chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng

- Một số kiến nghị để doanh nghiệp nậng cảo hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng của mình

1.3 Giới hạn của nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, đang hoạt động tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp tại các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai

Nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa nhà máy/ doanh nghiệp với nhà cung cấp trực tiếp

và khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp

Trang 8

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Khái niệm “Sự tích hợp” trong chuỗi cung ứng (Supply Chain Itegration):

Một định nghĩa về công tác quản lý chuỗi cung ứng của Lambert và Cooper (2000) đã nhấn mạnh: “Quản lý chuỗi cung ứng là sự tích hợp của các quá trình kinh doanh chủ chốt từ những người tiêu dùng cuối cùng cho đến các nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu tiên nhằm tạo

ra các sản phẩm, dịch vụ và thông tin sao cho cả khách hàng lẫn các thành viên trong chuỗi đều nhận được lợi ích” Theo định nghĩa này thì khái niệm “tích hợp” là khái niệm trọng tâm trong chuỗi cung ứng Một doanh nghiệp có thể thực hiện tích hợp theo dạng “dọc” hay dạng

“ngang”, hoặc áp dụng cả hai

Một sản phẩm được đưa ra thị trường phải trải qua nhiều công đoạn như: thiết kế, chuẩn bị nguyên vật liệu, tiến hành sản xuất, phân phối, các dịch vụ cộng thêm… Lấy ví dụ, để tạo ra một sản phẩm may mặc cần có các nguyên vật liệu như vải, chỉ, nút , để dệt nên vải hay se chỉ thì cần có sợi, để có thể se sợi thì cần có xơ bông hoặc xơ hóa học… Tất cả những công đoạn đó tạo thành chuỗi, và thường thì một doanh nghiệp có thể đảm nhận một vài hay toàn

bộ công đoạn trong cả chuỗi để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh khi đến tay người tiêu dùng Nếu doanh nghiệp đảm nhận toàn bộ các công đoạn thì doanh nghiệp đó được gọi là doanh nghiệp thực hiện việc tích hợp dọc trong chuỗi cung ứng; ngược lại, một số doanh nghiệp chỉ đảm nhận một vài công đoạn và thực hiện hợp tác với các công ty khác ở các công đoạn còn lại thì gọi là tích hợp ngang Như vậy, đối với các doanh nghiệp hướng đến chiến lược tích hợp ngang hay tích hợp dọc thì có thể thấy được một điều rằng, nếu không có sự liên kết tốt giữa các mắc xích trong toàn chuỗi cung ứng thì việc tạo ra sản phẩm sẽ gặp rất nhiều khó khăn Do đó, cần phải có sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi để dòng thông tin, nguyên vật liệu, sản phẩm được lưu chuyển chính xác và kịp thời (Lambert & Cooper, 2000) Trong cạnh tranh toàn cầu, cần phải có sự liên kết tốt giữa các nhà cung cấp, giữa các bộ phận trong cùng tổ chức và khách hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho dòng lưu chuyển thông tin nội bộ cũng như lưu chuyển thông tin, hàng hóa với đối tác bên ngoài Và, trong toàn chuỗi cung ứng có rất nhiều thành viên với các mối quan hệ nhà cung ứng-khách hàng cực kỳ phức tạp, do đó sự trao đổi thông tin giữa các thành viên này là hết sức cần thiết

Theo Lee & ctg (2007), sự tích hợp trong chuỗi cung ứng cần được xét ở ba góc độ: 1) Tích hợp với khách hàng; 2) Tích hợp với nhà cung cấp và 3) Tích hợp trong nội bộ doanh nghiệp

2.1.1 Tích hợp với khách hàng:

Sự tích hợp hay mối liên kết với khách hàng liên quan đến sự liên kết trong quá trình dự báo

và lên kế hoạch sản xuất, khả năng doanh nghiệp có thể giao tiếp với khách hàng để đảm bảo

sẽ hiểu và giao cho khách hàng các sản phẩm đúng như yêu cầu, đúng số lượng và đúng thời điểm khách hàng cần Để có được mối liên kết chặt chẽ với khách hàng doanh nghiệp cần có

hệ thống chia sẻ thông tin về đơn hàng, tình trạng sản xuất đơn hàng, hệ thống xử lý đơn hàng

có tính tương tác cao, có sự liên hệ chặt chẽ giữa các cấp quản lý của doanh nghiệp và khách hàng của mình

Trang 9

2.1.2 Tích hợp với nhà cung cấp:

Ngoài việc tạo mối liên kết với khách hàng, việc xây dựng mối quan hệ hợp tác cao với các nhà cung cấp chính là một việc hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp Thông qua việc để nhà cung cấp cùng tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp ngay từ đầu như thiết kế sản phẩm, liên kết chặt với nhà cung cấp để có thể thực hiện dự báo chính xác hơn về xu hướng thị trường, chia sẻ các thông tin về kế hoạch sản xuất của nhau để nhà cung cấp có những chuẩn bị chuẩn xác nhất về công suất, tồn kho, phục vụ cho nhu cầu nguyên vật liệu của doanh nghiệp Đồng thời, doanh nghiệp và nhà cung cấp cần hợp tác để xây dựng hệ thống phản hồi về tiến độ cũng như chất lượng đơn hàng một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất

2.1.3 Tích hợp trong nội bộ:

Cuối cùng, sự tích hợp trong nội bộ sẽ giúp các nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp có thể

dễ dàng tiếp cận các dữ liệu quan trọng của quá trình vận hành trong doanh nghiệp Xóa bỏ ranh giới giữa các bộ phận, hệ thống tích hợp dữ liệu nội bộ sẽ giúp công khai toàn bộ các thông số sản xuất đang diễn ra tại công ty như số liệu tồn kho (có thể chi tiết đến mức là số bán thành phẩm – WIP đang tồn trên từng dây chuyền), các số liệu dự báo và thực tế về mức sản lượng, hiệu suất, tỷ lệ phế phẩm, hoạt động cung ứng vật tư đang diễn ra tại nhà máy, tình trạng các đơn hàng được xuất đi, các khiếu nại của khách hàng, các bảng phân tích nguyên nhân gây lỗi, các bài học kinh nghiệm rút ra từ các bộ phận

2.2 Khái niệm “Chia sẻ thông tin” trong chuỗi cung ứng (Information Sharing)

Theo Eng (2006), Sezen (2008) và Ipek (2011), sự chia sẻ thông tin (IS) được thể hiện ở bốn góc độ: 1) Chia sẻ thông tin với khách hàng; 2) Chia sẻ thông tin với nhà cung cấp; 3) Chia sẻ thông tin giữa các bộ phận và 4) Chia sẻ kiến thức, giá trị trong tổ chức

2.2.1 Chia sẻ thông tin với khách hàng:

Các thông tin doanh nghiệp có thể chia sẻ cho khách hàng bao gồm thông tin về tình trạng thực hiện đơn hàng, các sự cố xảy ra trong quá trình thực hiện đơn hàng, khả năng giao hàng đúng hạn, năng lực sản xuất cũng như kế hoạch sản xuất các đơn hàng từ khách hàng đó của công ty (Sezen, 2008) Ngược lại, khách hàng cũng chia sẻ lại với công ty về những thông tin thị trường mà mình có được, dự báo nhu cầu hay kế hoạch xuất hàng của mình

2.2.2 Chia sẻ thông tin với nhà cung cấp:

Tương tự, ở vai trò là khách hàng, doanh nghiệp cũng không ngần ngại cho các nhà cung cấp chính của mình tham dự một phần trong quá trình lên kế hoạch và thực hiện sản xuất, chia sẻ các thông tin về phương hướng phát triển, tiến độ sản xuất, các vấn đề khó khăn trong quá trình sản xuất

2.2.3 Chia sẻ thông tin giữa các bộ phận:

Xét trong nội bộ doanh nghiệp, việc chia sẻ thông tin giữa các bộ phận có nghĩa là mỗi bộ phận đều công khai các kết quả đạt được trong quá trình tác nghiệp của mình như sản lượng làm ra hàng ngày, hàng giờ của từng dây chuyền, tỷ lệ phế phẩm của từng loại sản phẩm, từng

Trang 10

liệu, tỷ lệ đơn hàng bị trả về, giao trễ hạn, các khiếu nại của khách hàng, số lượng nguyên vật liệu nhập kho hàng ngày (Eng, 2006)

2.2.4 Chia sẻ kiến thức, giá trị trong tổ chức:

Ngoài việc chia sẻ thông tin liên bộ phận, Eng (2006) và Ipek (2011) cũng ủng hộ giá trị của việc doanh nghiệp tạo ra các tri thức và chia sẻ các tri thức đó cho toàn thể nhân viên Để có thể làm được điều này, các nhà quản lý của doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa chia sẻ trong công ty, đồng thời khuyến khích các chi nhánh, bộ phận, cá nhân mạnh dạn chia sẻ những kinh nghiệm đúc kết trong quá trình làm việc Và việc chia sẻ kinh nghiệm trong nội bộ doanh nghiệp này sẽ tạo ra các cơ hội để có thể phát huy tối đa kết quả của sự kết hợp giữa nguồn lực và áp dụng tri thức tại doanh nghiệp

2.3 Hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng (Supply Chain Performance)

Ngày nay, người ta đã nhận thấy rằng một trong những yếu tố tiên quyết giúp doanh nghiệp gia tăng lợi thế cạnh tranh của mình là hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng (Christopher, 1998; Simchi – Levi & ctg., 2000) Để đo lường hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng, các nhà nghiên cứu thường xét đến hai khía cạnh: hiệu quả và hiệu suất (Tan & ctg., 1998; Beamon, 1999; Holmberg, 2000; dẫn theo Sezen, 2008; Li, S & ctg., 2006) Hai nhóm chỉ số được dùng để đo lường là chi phí và độ tin cậy Các chỉ số về chi phí bao gồm chi phí cho hoạt động giao nhận bên ngoài doanh nghiệp, chi phí kho bãi, chi phí tồn trữ, vòng quay tài sản; trong khi đó, độ tin cậy được thể hiện qua khả năng đáp ứng đơn hàng, lượng tồn kho an toàn, khiếu nại từ khách hàng (Lee, 2007) Ngoài ra, nghiên cứu của Sezen (2008), bổ sung thêm một khía cạnh khác của một chuỗi cung ứng hoạt động hiệu quả, đó là mức độ linh hoạt

Sự linh hoạt thể hiện khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và nhu cầu khách hàng Một công ty được đánh giá là quản lý chuỗi cung ứng của mình tốt hay không dựa vào khả năng thích ứng với sự thay đổi về sản phẩm, thời gian giao hàng, sản lượng và tổng hợp của các điều trên Ngoài ra, Sezen (2008), Liu (2009) và Ipek (2011) đã tách nội dung đánh giá về mức độ tận dụng tài sản từ chi phí ra thành một khía cạnh khác để

đo lường khái niệm hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng Một doanh nghiệp được xem là biết cách sử dụng tài sản hiện có của mình tốt được xem xét trên các khía cạnh sau: các chi phí dành cho việc giao hàng hay chia sẻ thông tin nội bộ cũng như trao đổi thông tin bên ngoài là ít nhất so với hiệu quả mang lại, lượng tồn kho được đặt ở mức có thể hỗ trợ tối đa cho quá trình vận hành chứ không phải là lãng phí, chi phí dành cho việc quản lý hao hụt nguyên vật liệu là thấp nhất (Li, G., 2009; Ipek, 2011)

2.4 Mối quan hệ giữa sự tích hợp trong chuỗi cung ứng và sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi:

Có thể thấy rõ trong hoạt động dự báo hay lập kế hoạch sản xuất, nếu các doanh nghiệp có càng nhiều thông tin hữu ích thì kết quả dự báo và các kế hoạch sẽ chính xác hơn Nếu khách hàng chịu chia sẻ thông tin về lượng hàng hóa tiêu thụ được cũng như số lượng đặt hàng từ khách hàng của mình thì hiệu ứng Bull-whip trong chuỗi cung ứng sẽ được giảm đáng kể Trong nội bộ doanh nghiệp, nếu các sự cố xảy ra tại các bộ phận được phát hiện càng sớm thì thiệt hại sẽ càng được giảm thiểu Để đạt được những điều trên thì cần phải có sự chia sẻ thông tin giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, giữa các thành viên trong toàn chuỗi cung ứng Và, sự chia sẻ này phải đặt trên nền tảng hợp tác và hoàn toàn tin cậy lẫn nhau, chất lượng thông tin được chia sẻ phải được đảm bảo

Trang 11

Tuy nhiên, để một tổ chức chia sẻ các thông tin về hoạt động nội bộ của mình với tổ chức khác thì phải có một sự tin tưởng lẫn nhau (Eng, 2006; Kim 2009), phải có một mối liên kết chặt chẽ, một cam kết liên minh giữa các tổ chức này Mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng sâu sắc giữa các đối tác sẽ giúp cho thời gian hợp tác kéo dài hơn, các mâu thuẫn được giải quyết hiệu quả hơn, tăng cường khả năng đáp ứng linh hoạt các yêu cầu khách hàng, tạo điều kiện cho dòng thông tin được luân chuyển thuận lợi hơn trong chuỗi, đồng thời kích thích tinh thần sẵn sàng chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi (Yeung, 2009) Như vậy, kết quả từ

sự tích hợp trong chuỗi cung ứng là một mối quan hệ chiến lược hướng đến quan hệ hợp tác giữa các thành viên đối tác trong chuỗi, và mối quan hệ cộng sự này sẽ là đòn bẩy cho việc chia sẻ các thông tin chính xác, kịp thời (Li, G., 2006; Yeung, 2009; Ipek, 2011) Nghiên cứu của Li, G (2006) cho rằng nhìn vào mức độ tích hợp trong chuỗi cung ứng có thể biết được doanh nghiệp đó đạt được trình độ chia sẻ thông tin trong nội bộ chuỗi đến đâu Cụ thể, nếu doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác thì các chiến lược, kế hoạch và hoạt động tác nghiệp hàng ngày của doanh nghiệp cũng sẽ được định hình hướng về sự hợp tác, phối hợp đồng bộ giữa các hoạt động để có thể đạt đến việc chia sẻ thông tin trong nội bộ Tóm lại, mối liên kết hay sự tích hợp trong chuỗi cung ứng sẽ có tác động đến mức độ chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi Hay nói cách khác, sự tích hợp đóng vai trò như là

cơ sở hạ tầng cho việc tăng cường chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng Giả thuyết H1 được đưa ra như sau:

H1: Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng (SCI) có tác động tích cực đến Sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi (IS)

2.5 Mối quan hệ giữa sự tích hợp và hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng:

Nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy tác động tích cực của việc xây dựng quan hệ cộng sự dựa trên niềm tin và sự cam kết của các đối tác trong chuỗi cung ứng đến hiệu quả hoạt động của chuỗi và từ đó giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh (Lee, 2007; Ryu & ctg., 2009) Li, G & ctg (2009), Cheng & ctg (2010), đã khẳng định rằng nếu trình độ áp dụng công nghệ thông tin trong quá trình giao tiếp giữa các doanh nghiệp càng cao thì các giao dịch, thỏa thuận giữa các đối tác ở khắp nơi trên thế giới sẽ an toàn hơn, các hoạt động tương tác giữa các thành viên trọng chuỗi sẽ đáng tin cậy hơn nhờ cập nhật thông tin kịp thời Hay

có thể nói, một nền tảng công nghệ thông tin vững chắc được thiết lập thông qua sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong chuỗi sẽ cung cấp những thông tin kịp thời, chính xác và đáng tin cậy trong khi chi phí dành cho việc trao đổi thông tin không cao

Ngoài ra, Ipek (2011), thông qua kết quả khảo sát 158 công ty sản xuất tại Thổ Nhĩ Kỳ, đã cho thấy, sự tích hợp trong chuỗi cung ứng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng: sự tích hợp giữa các thành viên trong chuỗi là đòn bẩy để đạt được hiệu quả vận hành thông qua việc dòng thông tin cũng như dòng nguyên vật liệu được truyền đạt thông suốt từ các thành viên cung cấp nguyên vật liệu đến các thành viên tạo ra sản phẩm, và đến tay người tiêu dùng; nhờ vậy gia tăng sự linh hoạt, giảm thiểu thời gian sản xuất, cải thiện tình trạng tồn kho và giúp gia tăng việc giao hàng đúng hẹn Tóm lại, qua các nghiên cứu trước cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa sự tích hợp trong chuỗi cung ứng và hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng Giả thuyết H2 được đưa ra như sau:

H2: Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng (SCI) có tác động tích cực lên hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng ứng (SCP)

Trang 12

2.6 Mối quan hệ giữa sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi và hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng:

Theo Ipek (2011), việc chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi có tác động tốt đến hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng Việc chia sẻ thông tin trở thành một trong những yếu

tố quan trọng trong việc tạo ra các giá trị trong tổ chức Và, vì khái niệm quản lý chuỗi cung ứng nhấn mạnh đến hiệu quả lưu chuyển tài sản từ nguồn nguyên vật liệu đến nguồn tiêu thụ sản phẩm/dịch vụ, và sự chia sẻ thông tin hai chiều này tạo ra các tài sản không bao giờ bị mất

đi dù đã được “sử dụng” Ngược lại, loại tài sản này sẽ ngày càng có giá trị hơn khi quá trình ứng dụng, rút kinh nghiệm, chia sẻ được thực hiện tiếp giữa các thành viên trong hệ thống (Zhou, 2007) Trước đó, một số nhà nghiên cứu khẳng định việc chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng có tác động tích cực đáng kể đến SCP (Li, S., 2006; Li, J.,

2006 & Madlberger, 2007) Cụ thể, sự chia sẻ thông tin sẽ giúp công ty có các quyết định tốt hơn trong công tác dự báo, đặt hàng, lập kế hoạch sản xuất, vật tư thông qua các giá trị về tồn kho, nhu cầu, khả năng cung ứng được hiển thị rõ ràng Và, một số lợi ích có được nhờ vào sự chia sẻ thông tin được liệt kê như sau: tăng cường sự hợp tác (Kwon, 2004, dẫn theo Ipek, 2011; Eng, 2006), giảm sự không chắc chắn/rủi ro khi dự báo (Li, S., 2006; Zhou, 2007), việc lưu chuyển vật liệu nhanh hơn, mức độ đáp ứng đơn hàng cao hơn, chu kỳ sản xuất ngắn hơn (Lin, F., 2002, dẫn theo Ipek, 2011), giảm chi phí tồn kho (Soosay, 2008) gia tăng sự hài lòng của khách hàng thông qua việc đáp ứng đơn hàng nhanh và chính xác (Premus, 2010), đóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí tổng thể cũng như góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng (Li, S., 2006) Như vậy, giả thuyết H3 được phát biểu như sau:

H3: Sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi (IS) có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng (SCP)

2.7.Mô hình nghiên cứu đề xuất:

Dựa vào nền tảng lý thuyết về quản lý chuỗi cung ứng, cùng với các kết quả nghiên cứu trước của các tác giả như Ipek (2011), Kim (2009), Liu (2009), Sezen (2008), Eng (2006) Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đề xuất được thể hiện ở hình 2.1 bên dưới

H3+

Sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi (IS)

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trang 13

H1: Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng (SCI) có tác động tích cực đến Sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi (IS)

H2: Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng (SCI) có tác động tích cực lên hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng ứng (SCP)

H3: Sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi (IS) có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng (SCP)

Trang 14

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là nghiên cứu định lượng Dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi với đối tượng trả lời là các nhà quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Quy trình nghiên cứu được thể hiện trên hình 3.1

3.1.1 Mục tiêu và mô hình nghiên cứu: Đã được trình bày ở 2 chương trước, mục tiêu và

mô hình nghiên cứu là cơ sở để thực hiện các bước tiếp theo trong quy trình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết về quản lý chuỗi cung ứng và kết quả của các nghiên cứu trước ở nước ngoài, trong đó nghiên cứu này sử dụng lại mô hình nghiên cứu đã được kiểm định của tác giả Ipek (2011), thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ

3.1.2 Xây dựng thang đo sơ bộ: Thang đo sơ bộ cho các thành phần trong mô hình được

xây dựng dựa vào các thang đo đã được sử dụng trong các nghiên cứu định lượng trước đây của Ipek (2011) Tuy nhiên, do có sự khác nhau về văn hoá và mức độ phát triển kỹ thuật, cơ

sở vật chất, các thang đo được kiểm định qua các nghiên cứu trước chưa thật sự phù hợp với thực tế tại Việt Nam nên cần phải qua bước phỏng vấn định tính sơ bộ để hiệu chỉnh lại cho phù hợp

3.1.3 Phỏng vấn định tính sơ bộ: Phỏng vấn định tính sơ bộ được thực hiện sau khi có

thang đo sơ bộ ban đầu Mục đích của các cuộc phỏng vấn này là: (1) khám phá các yếu tố thúc tác động đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng trong bối cảnh tại Việt Nam Từ đó đưa

ra các điều chỉnh và/ hoặc thêm bớt các câu hỏi cho phù hợp với hoàn cảnh tại Việt Nam; (2) tham khảo ý kiến của các đối tượng phỏng vấn về cách thức đo lường các khái niệm về sự tích hợp, sự chia sẻ thông tin và hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng phù hợp với bối cảnh tại Việt Nam 8 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện đối với các nhà quản lý sản xuất nhằm bổ sung và hiệu chỉnh thang đo

3.1.4 Hoàn chỉnh thang đo chính thức: Từ các thang đo ban đầu, thang đo chính thức

được hiệu chỉnh dựa trên kết quả phỏng vấn định tính Các điều chỉnh này bao gồm chỉnh sửa

từ ngữ, nội dung câu hỏi, hình thức thang đo và hình thức bảng câu hỏi

3.1.5 Thu thập dữ liệu chính thức:

Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được lựa chọn Bảng câu hỏi được gởi đến các nhà quản lý đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ tại các công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh

và các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai Trong số 300 bảng khảo sát được gởi đi, thu

về được 210 bảng, trong đó có 161 bảng câu hỏi hợp lệ được sử dụng để thực hiện phân tích (tỷ lệ hồi đáp là 53.7%)

Theo nghiên cứu của Bollen, kích thước mẫu tối thiểu là 5 lần so với các biến ước lượng trong

mô hình Mô hình nghiên cứu có 47 ước lượng nên kích thước mẫu dự kiến chấp nhận được là

228 Tuy nhiên, do đối tượng khảo sát là nhà quản lý doanh nghiệp (mỗi nhà quản lý đại diện cho một doanh nghiệp) khó tiếp cận, do đó với số lượng bảng khảo sát thu về được là 161 vẫn

có thể được chấp nhận cho bước phân tích định lượng

Trang 15

Bảng câu hỏi có cấu trúc được thiết kế để làm công cụ thu thập dữ liệu cho đề tài Bảng câu hỏi đầu tiên được thiết kế dựa trên bộ thang đo sơ bộ Sau đó được cải tiến và hiệu chỉnh dần sau khi có kết quả phỏng vấn định tính Bảng câu hỏi trước khi đưa ra khảo sát định lượng chính thức sẽ được kiểm tra bằng cách tham khảo ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc lập các bản câu hỏi để kiểm tra ngôn từ, trình bày có phụ hợp hay chưa, câu văn có

bị tối nghĩa hay không? Từ đó hiệu chỉnh các lỗi này và tiến hành thu thập dữ liệu Bảng câu hỏi chính thức được đính kèm trong phần Phụ lục

3.1.6 Kiểm định sơ bộ thang đo với EFA: Giai đoạn đánh giá sơ bộ thang đo được thực

hiện sau khi hoàn thành việc thu thập dữ liệu Phương pháp đánh giá là phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis – EFA) Quá trình đánh giá và sàng lọc được thực hiện qua 2 bước với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS: (1) Phân tích riêng cho từng thang đo để đánh giá tính đơn hướng của các thang đo; (2) Phân tích chung các thang đo với nhau để đánh giá sơ bộ độ giá trị hội tụ và độ giá trị phân biệt Độ tin cậy của thang đo được đánh giá bằng

hệ số Cronbach Alpha Trong quá trình này, các biến không đạt yêu cầu sẽ bị loại bỏ

3.1.7 Kiểm định thang đo với CFA: Sau khi thang đo được kiểm định bằng phương pháp

hệ số tin cậy Cronbach Alpha và EFA, các biến quan sát cùng các thang đo thành phần đạt yêu cầu tiếp tục được đưa vào phân tích CFA để đánh giá tính đơn hướng, độ tin cậy và độ giá trị của thang đo Phân tích CFA được thực hiện qua 2 bước: 1) Phân tích CFA cho từng thang

đo đa hướng để kiểm định về tính đơn hướng, độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích, độ giá trị hội tụ của các thang đo thành phần và độ giá trị phân biệt giữa các thành phần của thang đo 2) Phân tích CFA chung cho tất cả các thang đo để kiểm định độ giá trị phân biệt giữa các khái niệm trong mô hình lý thuyết

3.1.8 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết: Áp dụng phương pháp SEM

thông qua phần mềm AMOS được sử dụng để kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết Quy trình nghiên cứu được thể hiện như hình 3.1

Trang 16

Mục tiêu nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

3.2 Xây dựng thang đo:

Các giả thuyết đưa ra trong mô hình nghiên cứu được kiểm định thông qua các khái niệm đa hướng, thang đo được sử dụng lại từ các nghiên cứu trước Mỗi phát biểu được đo lường dựa trên thang đo Likert 5 điểm, với “1” là “Hoàn toàn không đồng ý” đến “5” là “Hoàn toàn đồng ý” Mô hình lý thuyết có 3 khái niệm nghiên cứu bậc 2 và được đo lường bằng 48 biến quan sát Thang đo các khái niệm đều sử dụng mô hình đo lường dạng kết quả (reflective measurement models)

3.2.1 Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng:

Theo Lee & ctg (2007), sự tích hợp hay nói cách khác là sự liên kết trong chuỗi cung ứng cần được xét ở ba góc độ: với nhà cung cấp, khách hàng và trong nội bộ

Thang đo “Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng” là khái niệm bậc 2, bao gồm 3 thành phần: 1) Tích hợp với nhà cung cấp; 2) Tích hợp với khách hàng; và 3) Tích hợp trong nội bộ doanh nghiệp

Phỏng vấn định tính sơ bộ

Thu thập dữ liệu chính thức (n = 161)

Kiểm định thang đo với Cronbach anpha và EFA

Xây dựng thang đo sơ bộ

Hoàn chỉnh thang đo chính thức

Kiểm định thang đo với CFA

Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả

thuyết (SEM)

Trang 17

3.2.1.1 Tích hợp với nhà cung cấp:

Như đã trình bày ở chương 2, việc xây dựng mối quan hệ hợp tác cao với các nhà cung cấp chính là một việc hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp Việc tích hợp với nhà cung cấp thể hiện thông qua việc để nhà cung cấp cùng tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp ngay từ đầu như thiết kế sản phẩm, liên kết chặt với nhà cung cấp để có thể thực hiện dự báo chính xác hơn về xu hướng thị trường, chia sẻ các thông tin về kế hoạch sản xuất của nhau để nhà cung cấp có những chuẩn bị chuẩn xác nhất về công suất, tồn kho, phục vụ cho nhu cầu nguyên vật liệu của doanh nghiệp, hệ thống phản hồi về tiến độ cũng như chất lượng đơn hàng một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất

Dựa theo nghiên cứu của Kim (2009) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “tích hợp với nhà cung cấp” được đo lường bởi 4 biến, thể hiện trong bảng 3.1:

Bảng 3.1 Thang đo “Tích hợp với nhà cung cấp”

STT Tên biến Nội dung

1 ITESUP01 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giao tiếp với nhà cung cấp

2 ITESUP02 Thiết lập quan hệ hợp tác với nhà cung cấp

3 ITESUP03 Hệ thống đặt hàng nhà cung cấp nhanh

4 ITESUP04 Quy trình mua hàng hiệu quả

3.2.1.2 Tích hợp với khách hàng:

Sự tích hợp với khách hàng liên quan đến sự liên kết trong quá trình dự báo và lên kế hoạch sản xuất, khả năng doanh nghiệp có thể giao tiếp với khách hàng để đảm bảo sẽ hiểu và giao cho khách hàng các sản phẩm đúng như yêu cầu, đúng số lượng và đúng thời điểm khách hàng cần Như vậy, doanh nghiệp cần có hệ thống chia sẻ thông tin về đơn hàng, tình trạng sản xuất đơn hàng, hệ thống xử lý đơn hàng có tính tương tác cao, có sự liên hệ chặt chẽ giữa các cấp quản lý của doanh nghiệp và khách hàng của mình

Dựa theo nghiên cứu của Kim (2009) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Tích hợp với khách hàng” được đo lường bởi 4 biến, thể hiện trong bảng 3.2:

Bảng 3.2 Thang đo “Tích hợp với khách hàng”

STT Tên biến Nội dung

1 ITECUS05 Công ty và khách hàng có sự chia sẻ cao về thông tin thị trường

2 ITECUS06 Quy trình nhận đơn hàng nhanh gọn

3 ITECUS07 Tần suất liên lạc cao giữa bộ phận bán hàng và khách hàng

4 ITECUS08 Các cấp quản lý của 2 bên có mối liên hệ chặt chẽ

Trang 18

Dựa theo nghiên cứu của Kim (2009) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Tích hợp trong nội bộ” được đo lường bởi 4 biến, thể hiện trong bảng 3.3:

Bảng 3.3 Thang đo “Tích hợp với khách hàng”:

STT Tên biến Nội dung

1 ITEITER09 Hệ thống thông tin nội bộ có các thông tin cập nhật về tình trạng tồn

4 ITEITER12 Việc quản lý kho được thực hiện thông qua phần mềm quản lý

3.2.2 Sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi:

Thang đo sự chia sẻ thông tin được xây dụng dựa trên nghiên cứu của Eng (2006), Sezen (2008) và Ipek (2011): sự chia sẻ thông tin (IS) được thể hiện ở bốn góc độ: 1) Chia sẻ thông tin với nhà cung cấp; 2) Chia sẻ thông tin với khách hàng; 3) Chia sẻ thông tin giữa các bộ phận và 4) Chia sẻ kiến thức, giá trị trong nội bộ

3.2.2.1 Chia sẻ thông tin với nhà cung cấp:

Ở vai trò là khách hàng, doanh nghiệp cũng không ngần ngại cho các nhà cung cấp chính của mình tham dự một phần trong quá trình lên kế hoạch và thực hiện sản xuất, chia sẻ các thông tin về phương hướng phát triển, tiến độ sản xuất, các vấn đề khó khăn trong quá trình sản xuất Ngược lại, nhà cung cấp cũng chia sẻ các thông tin, khó khăn trong quá trình sản xuất của mình cho doanh nghiệp Dựa theo nghiên cứu của Sezen (2008) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Chia sẻ thông tin với nhà cung cấp” được đo lường bởi 5 biến, thể hiện trong bảng 3.4:

Bảng 3.4 Thang đo “Chia sẻ thông tin với nhà cung cấp”

STT Tên biến Nội dung

1 SHASUP13 Chia sẻ với nhà cung cấp các thông tin về dự báo nhu cầu

2 SHASUP14 Được chia sẻ về năng lực sản xuất của nhà cung cấp

3 SHASUP15 Tình trạng sản xuất của đơn hàng đã đặt được cung cấp thường

xuyên

4 SHASUP16 Thông tin về sản phẩm và giá của nhà cung cấp có thể dễ dàng có

được

5 SHASUP17 Chia sẻ với nhà cung cấp kế hoạch sản xuất của công ty

3.2.2.2 Chia sẻ thông tin với khách hàng:

Theo nghiên cứu của Sezen (2008), các thông tin doanh nghiệp có thể chia sẻ với khách hàng bao gồm: thông tin về tình trạng thực hiện đơn hàng, các sự cố xảy ra trong quá trình thực hiện đơn hàng, khả năng giao hàng đúng hạn, năng lực sản xuất cũng như kế hoạch sản xuất các đơn hàng từ khách hàng đó của công ty Dựa theo nghiên cứu của Sezen (2008) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Chia sẻ thông tin với nhà cung cấp” được đo lường bởi 5 biến, thể hiện trong bảng 3.5:

Trang 19

Bảng 3.5 Thang đo “Chia sẻ thông tin với khách hàng”

STT Tên biến Nội dung

1 SHACUS18 Khách hàng chia sẻ với công ty thông tin về dự báo nhu cầu

2 SHACUS19 Khách hàng chia sẻ với công ty kế hoạch sản xuất/ xuất hàng

3 SHACUS20 Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi tiến độ thực hiện của đơn hàng

đã đặt

4 SHACUS21 Công ty và khách hàng có sự chia sẻ về năng lực sản xuất của nhau

5 SHACUS22 Kế hoạch sản xuất của công ty được chia sẻ với khách hàng

3.2.2.3 Chia sẻ thông tin trong nội bộ:

Theo nghiên cứu của Eng (2006), việc chia sẻ thông tin giữa các bộ phận có nghĩa là mỗi bộ phận đều công khai các kết quả đạt được trong quá trình tác nghiệp của mình như sản lượng làm ra hàng ngày, hàng giờ của từng dây chuyền, tỷ lệ phế phẩm của từng loại sản phẩm, từng dây chuyền, thông tin về tai nạn lao động, mức tồn kho bán thành phẩm, tồn kho nguyên vật liệu, tỷ lệ đơn hàng bị trả về, giao trễ hạn, các khiếu nại của khách hàng, số lượng nguyên vật liệu nhập kho hàng ngày Dựa theo nghiên cứu của Eng (2006) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Chia sẻ thông tin trong nội bộ” được đo lường bởi 5 biến, thể hiện trong bảng 3.6:

Bảng 3.6 Thang đo “Chia sẻ thông tin trong nội bộ”

STT Tên biến Nội dung

1 SHAINF23 Các cấp quản lý trong công ty có thể tham khảo nhu cầu vật tư của

các bộ phận thông qua hệ thống thông tin nội bộ

2 SHAINF24 Các cấp quản lý trong công ty nhận được thông tin của hoạt động

trong toàn chuỗi cung ứng thường xuyên

3 SHAINF25 Thông tin và dữ liệu đầu vào của sản xuất được chia sẻ trong nội bộ

4 SHAINF26 Quản lý cấp cao thương có các cuộc thảo luận về các vấn đề xảy ra

trong các bộ phận

5 SHAINF27 Ý tưởng về việc cải thiện sự hợp tác giữa các bộ phận được chia sẻ

rộng rãi trong công ty

3.2.2.4 Chia sẻ kiến thức, giá trị trong nội bộ:

Ngoài việc chia sẻ thông tin liên bộ phận, Eng (2006) và Ipek (2011) cũng ủng hộ giá trị của việc doanh nghiệp tạo ra các tri thức và chia sẻ các tri thức đó cho toàn thể nhân viên Để có thể làm được điều này, các nhà quản lý của doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa chia sẻ trong công ty, đồng thời khuyến khích các bộ phận, cá nhân mạnh dạn chia sẻ những kinh nghiệm đúc kết trong quá trình làm việc Dựa theo nghiên cứu của Eng (2006) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Chia sẻ kiến thức, giá trị trong doanh nghiệp” được đo lường bởi 4 biến, thể hiện trong bảng 3.7:

Bảng 3.7 Thang đo “Chia sẻ kiến thức, giá trị trong doanh nghiệp”

STT Tên biến Nội dung

1 SHAEXP28 Các bài học kinh nghiệm của các bộ phận được chia sẻ trên hệ

thống thông tin nội bộ

2 SHAEXP29 Quản lý cấp cao đề cao tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin

3 SHAEXP30 Công ty có cách thức riêng để chia sẻ kinh nghiệm trong nội bộ

Trang 20

3.2.3 Hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng:

3.2.3.1 Chi phí hoạt động:

Các chỉ số về chi phí bao gồm chi phí cho hoạt động giao nhận bên ngoài doanh nghiệp, chi phí kho bãi, chi phí tồn trữ, vòng quay tài sản Dựa theo nghiên cứu của Liu (2009) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Chi phí hoạt động” được đo lường bởi 4 biến, thể hiện trong bảng 3.8:

Bảng 3.8 Thang đo “Chi phí hoạt động”

STT Tên biến Nội dung

1 COST32 Chi phí sản xuất đơn vị thấp

2 COST33 Chi phí tồn kho thấp

Bảng 3.9 Thang đo “Mức tận dụng tài sản”

STT Tên biến Nội dung

1 A-UTI36 Chi phí giao hàng thấp

2 A-UTI37 Vòng quay hàng tồn kho cao

3 A-UTI38 Vòng quay tài sản cao

4 A-UTI39 Chi phí quản lý thông tin thấp

3.2.3.3 Độ tin cậy của chuỗi cung ứng:

Độ tin cậy của chuỗi cung ứng được thể hiện qua khả năng đáp ứng đơn hàng, lượng tồn kho

an toàn, khả năng giải quyết thỏa đáng các khiếu nại từ khách hàng (Lee, 2007) Dựa theo nghiên cứu của Sezen (2008), Lee (2007) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Độ tin cậy của chuỗi cung ứng” được đo lường bởi 4 biến, thể hiện trong bảng 3.10

Bảng 3.10 Thang đo “Độ tin cậy của chuỗi cung ứng”

STT Tên biến Nội dung

1 RELIA40 Có kênh thông tin chính thức với nhà cung cấp

2 RELIA41 Giải quyết mâu thuẫn với đối tác trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau

3 RELIA42 Tỉ lệ giao hàng đúng hẹn cao

4 RELIA43 Đảm bảo thông tin chuyển giao cho khách hàng chính xác

Trang 21

3.2.3.4 Sự linh hoạt của chuỗi cung ứng

Sự linh hoạt của chuỗi cung ứng thể hiện khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và nhu cầu khách hàng Một công ty được đánh giá là quản lý chuỗi cung ứng của mình tốt hay không dựa vào khả năng thích ứng với sự thay đổi về thiết kế sản phẩm, thời gian giao hàng, sản lượng, kích thước lô hàng, hầu như không có hiệu ứng Bullwhip Dựa theo nghiên cứu của Sezen (2008), Lee (2007) và Ipek (2011) cùng với kết quả phỏng vấn định tính, thang đo “Độ tin cậy của chuỗi cung ứng” được đo lường bởi 4 biến, thể hiện trong bảng 3.11

Bảng 3.11 Thang đo “Sự linh hoạt của chuỗi cung ứng”

STT Tên biến Nội dung

1 FLEX44 Leadtime ngắn

2 FLEX45 Hầu như không có hiệu ứng Bullwhip

3 FLEX46 Đáp ứng yêu cầu của hệ thống Just-in-time

4 FLEX47 Đáp ứng được sự thay đổi yêu cầu đơn hàng

Trang 22

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm mẫu khảo sát

Trong số các doanh nghiệp được khảo sát, doanh nghiệp được xếp vào loại doanh nghiệp lớn

(số lao động trên 300) chiếm gần một nửa với tỉ lệ 51.6%, kế đến là các doanh nghiệp nhỏ (số

lượng lao động từ 11-200) với tỉ lệ là 37.3%, khoảng 10% còn lại là các doanh nghiệp vừa và

rất nhỏ Khi so sánh dữ liệu này với dữ liệu về hình thức sở hữu doanh nghiệp ta thấy có sự

tương ứng: tỷ lệ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thường là các doanh nghiệp sản xuất

có quy mô lớn tại các khu công nghiệp cũng chiếm khoảng 50%, còn lại các công ty vừa và

nhỏ là các doanh nghiệp Việt Nam Bộ dữ liệu thu thập từ 161 doanh nghiệp với các đặc điểm

được trình bày trong bảng 4.1

Bảng 4.1: Đặc điểm mẫu khảo sát

Theo quy mô doanh nghiệp (Số lao động) Số lượng doanh nghiệp Tỷ lệ (%)

Theo hình thức sở hữu doanh nghiệp

4.2Kết quả kiểm định thang đo:

4.2.1 Kiểm định sơ bộ thang đo với EFA:

Thang đo của các khái niệm nghiên cứu được đánh giá và sàng lọc sơ bộ bằng phương pháp

phân tích nhân tố khám phá EFA và hệ số Cronbach Alpha cho từng thành phần

Đầu tiên, việc kiểm định độ tin cậy của thang đo được thực hiện riêng từng thành phần giúp

loại bỏ các biến “rác” Tiêu chuẩn chọn là các biến phải có hệ số tương quan biến-tổng

(item-total correlation) > 35; hệ số Cronbach Alpha > 60

Sau khi phân tích hệ số tin cậy Cronbach alpha, tiếp theo, các thang đo được đánh giá bằng

phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, tiêu chuẩn được sử dụng trong phân tích EFA

là:

- Trị số KMO (Kaiser- Meyer-Olkin) dao động trong khoảng 0.5- 1 chứng tỏ thực hiện

phân tích nhân tố đối với tập dữ liệu này là thích hợp

- Trọng số nhân tố (factor loading) > 40

- Khoảng cách giữa 2 hệ số tải của cùng 1 biến lên 2 nhân tố tối thiểu là 0.3

- Eigenvalue ≥ 1

- Thang đo đạt yêu cầu khi tổng phương sai trích ≥ 50% (Hair & ctg, 1998)

Nhằm khám phá một cách tốt nhất cấu trúc dữ liệu, phương pháp trích Principal Axis

Factoring với phép quay Promax được sử dụng trong các phân tích EFA

Ngày đăng: 28/01/2021, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm