AÛnh höôûng töø ñoåi môùi cô caáu toå chöùc vaø cô cheá ñieàu haønh trong caùc tröôøng ÑH vaø caùc coâng ty (sau chuyeån ñoåi), ñaëc bieät laø caùc trung taâm, vieän tröïc thuoäc caùc[r]
Trang 1Số 30 10/2019
Các nhân tố tác động đến
hiệu quả hoạt động
của các ngân hàng thương mại
ở Việt Nam
Trang 2MỤC LỤC
Số 30 tháng 10/2019 (712) - Năm thứ 52
ECONOMY AND FORECAST REVIEW
Tổng Biên tập
PGS, TS LÊ XUÂN ĐÌNH
Phó Tổng Biên tập
ĐỖ THỊ PHƯƠNG LAN NGUYỄN LỆ THỦY
Hội đồng Biên tập
TS CAO VIẾT SINH PGS, TS LÊ QUỐC LÝ PGS, TS BÙI TẤT THẮNG
TS NGUYỄN ĐÌNH CUNG
PGS, TS NGUYỄN HỒNG SƠN
GS, TS TRẦN THỌ ĐẠT
PGS, TS TRẦN ĐÌNH THIÊN
PGS, TS NGUYỄN ĐÌNH THỌ
PGS, TS NGUYỄN TIẾN DŨNG
TS VƯƠNG QUÂN HOÀNG
Tòa soạn và trị sự
65 Văn Miếu - Đống Đa - Hà Nội
Tel: 080.43174 / 080.44474
Fax: 024.3747.3357 Email: kinhtedubao@ mpi.gov.vn
Tạp chí điện tử
http://kinhtevadubao.vn
Chi nhánh phía Nam
289 Điện Biên Phủ, Quận 3 - TP Hồ Chí Minh
Tel/Fax: 028 3933 0669
Quảng cáo và phát hành
Tại tòa soạn: 080.48310 / 0905 646 814
Qua mạng lưới Bưu điện Việt Nam
Giấy phép xuất bản: 115/GP-BTTTT
In tại: Công ty CP in Công đoàn Việt Nam
CƠ QUAN NGÔN LUẬN CỦA BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ Trịnh Đoàn Tuấn Linh: Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động
của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 3
Nguyễn Văn Trãi, Nguyễn Văn Thắng: Mối quan hệ giữa tiêu dùng điện
và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu trường hợp TP Hồ Chí Minh 7
Nguyễn Hồng Hà, Nguyễn Thị Trúc Linh: Các nhân tố ảnh hưởng đến
quyết định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn TP Trà Vinh 13
Võ Thị Hoàng Phụng: Ứng dụng mô hình Altman Z-SCORE
để phân tích nguy cơ phá sản: Trường hợp các doanh nghiệp đa ngành nghề 19
Phước Minh Hiệp, Kiên Xanh: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng
tại Vietinbank Trà Vinh 24
Trần Lê Thị Nhựt Uyên, Bùi Văn Trịnh: Các yếu tố ảnh hưởng đến
quyết định gửi tiền của khách hàng là doanh nghiệp tại Vietinbank Cần Thơ 29
Nguyễn Thị Ngọc Sương: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn
của khách hàng cá nhân tại BIDV Chi nhánh Tây Đô 34
Lê Thị Ngọc Diệp: Nâng cao năng lực giảng viên và kiến thức thu nhận của sinh viên:
Nhiệm vụ trọng tâm của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam 38
Lâm Thị Mỹ Lan: Phân tích hiệu quả kinh tế mô hình nuôi tôm thâm canh
tại các huyện ven biển tỉnh Trà Vinh 42
Nguyễn Thị Thiêm, Nguyễn Phượng Lê: Thực hiện chính sách hỗ trợ
phát triển nông nghiệp trong các chương trình giảm nghèo vùng Tây Bắc 46
Đinh Thị Vân Anh: Ảnh hưởng của tài sản thương hiệu đến hiệu quả tài chính
tại các ngân hàng thương mại TP Hồ Chí Minh 51
Doãn Văn Tuân: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đi du lịch
của khách hàng: Nghiên cứu trường hợp khách du lịch outbound Việt Nam 55
Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Thị Thiêm, Đặng Xuân Phi, Nguyễn Viết Đăng: Thực thi
các thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh tỉnh Sơn La 60
Trần Văn Thắng: Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực hấp thụ công nghệ
của doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực Đồng bằng sông Hồng 65
Lê Thị Kim Tuyết: Chất lượng nguồn nhân lực quản lý đơn hàng
tại các doanh nghiệp may Việt Nam 70
Đỗ Ngân Hương: Tâm lực - tiêu chí quan trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
công đoàn tại các công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Giáo dục Việt Nam 75
Bùi Thị Thảo: Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thoát nghèo
tại khu vực Tây Nguyên 79
Hồ Thắng: Phát triển bền vững nghề nuôi cá lồng trên đầm Cầu Hai,
huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 83
Trang 3
MỤC LỤC
Số 30 tháng 10/2019 (712) - Năm thứ 52
ECONOMY AND FORECAST REVIEW
Tổng Biên tập
PGS, TS LÊ XUÂN ĐÌNH
Phó Tổng Biên tập
ĐỖ THỊ PHƯƠNG LAN NGUYỄN LỆ THỦY
Hội đồng Biên tập
TS CAO VIẾT SINH PGS, TS LÊ QUỐC LÝ PGS, TS BÙI TẤT THẮNG
TS NGUYỄN ĐÌNH CUNG
PGS, TS NGUYỄN HỒNG SƠN
GS, TS TRẦN THỌ ĐẠT
PGS, TS TRẦN ĐÌNH THIÊN
PGS, TS NGUYỄN ĐÌNH THỌ
PGS, TS NGUYỄN TIẾN DŨNG
TS VƯƠNG QUÂN HOÀNG
Tòa soạn và trị sự
65 Văn Miếu - Đống Đa - Hà Nội
Tel: 080.43174 / 080.44474
Fax: 024.3747.3357 Email: kinhtedubao@ mpi.gov.vn
Tạp chí điện tử
http://kinhtevadubao.vn
Chi nhánh phía Nam
289 Điện Biên Phủ, Quận 3 - TP Hồ Chí Minh
Tel/Fax: 028 3933 0669
Quảng cáo và phát hành
Tại tòa soạn: 080.48310 / 0905 646 814
Qua mạng lưới Bưu điện Việt Nam
Giấy phép xuất bản: 115/GP-BTTTT
In tại: Công ty CP in Công đoàn Việt Nam
CƠ QUAN NGÔN LUẬN CỦA BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
Giá 19.500 đồng
Nguyễn Thu Hà: Tác động của quản trị chất lượng chuỗi cung ứng dòng xuôi
tới kết quả hoạt động của một số doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam 88
Nguyễn Thị Bích Vân, Trần Ngân Thảo, Nguyễn Hoàng Kim Ngân, Lâm Thiện Quý:
Phân tích nhu cầu thị trường và đánh giá tính khả thi của dự án kinh doanh thực phẩm từ hoa 92
Nguyễn Xuân Minh: Để triển khai, áp dụng chỉ số hoạt động chính (KPI)
hiệu quả hơn nữa trong các tổ chức, doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 96
Phạm Hùng Cường: Hoàn thiện hoạt động marketing địa phương
nhằm thu hút vốn FDI vào tỉnh Quảng Nam 101
Nguyễn Ngọc Anh: Xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến
chuyển đổi số của chính phủ - chính phủ số 108
Đinh Văn Toàn: Khởi nghiệp kinh doanh trong các trường đại học công lập
ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi sang cơ chế tự chủ 111
Trần Đại Hải, Dương Thị Liễu: Tác động của các động lực và rào cản của giảng viên
tới năng suất khoa học: Trường hợp các trường đại học kinh tế tại Việt Nam 117
Phan Thị Minh Lý: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Hà Nội 121
Kiều Thị Hường: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 125
Phitsanoukone Phonevilaysack: Đánh giá mức độ tiếp cận về những quy định,
chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với các doanh nghiệp sản xuất điện năng tại CHDCND Lào 129
Đỗ Văn Phức: Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp xây dựng:
Phương pháp đánh giá và thực trạng của Việt Nam 132
Phùng Thị Mỹ Linh: Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý DNNVV
tỉnh Nam Định 135
Nguyễn Thị Phương Dung: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định
mua sản phẩm điện máy trực tuyến của người tiêu dùng trong môi trường giá động 138
Đinh Thị Trâm: Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng giảng viên
các trường đại học công lập trên địa bàn Hà Nội 142
Trần Anh Trường: Các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư phát triển cơ sở vật chất
và thiết bị đào tạo cho các trường đại học công lập ở Việt Nam 146
Phan Quan Việt, Phạm Ngọc Minh: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn
sản phẩm nước mắm PT Fisaco của khách hàng tại TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận 150
Hà Văn Sơn, Trần Thị Quỳnh Vân: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua
thực phẩm an toàn của người tiêu dùng tại Bà Rịa - Vũng Tàu 154
Lưu Đức Khải: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng đất của hộ nông dân:
Bằng chứng từ điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam 158
Trang 4
mới trong cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành (Đinh Văn Toàn, 2019a)
Tại Việt Nam, các trường ĐH cũng đã và đang có sự chuyển đổi theo hướng này để giảm bớt sự phụ thuộc vào bao cấp của Nhà nước, tăng tự chủ và tự chịu trách nhiệm trước xã hội Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các hoạt động và kết quả còn rất hạn chế: chưa
đa dạng về loại hình hoạt động, đặc biệt chưa đi vào chiều sâu; lợi ích mang lại còn rất nhỏ bé so với tiềm năng của các bên liên quan trong trường ĐH Trên cơ sở tổng quan cơ sở lý luận về khởi nghiệp kinh doanh trong các trường ĐH và kết quả khảo sát, bài viết sẽ trình bày nhận xét về kết quả các hoạt động này tại các trường ĐH công lập khối kỹ thuật có truyền thống lâu đời ở miền Bắc Việt Nam Đồng thời, phân tích mặt thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân chủ yếu trên góc độ tổ chức quản lý tại các trường ĐH này Kết quả và các nhận xét, đánh giá rút ra sẽ là cơ sở để tác giả kiến nghị các giải pháp khả thi trong đổi mới về mặt chính sách giúp các trường ĐH công lập ở Việt Nam
GIỚI THIỆU
Trên thế giới, khởi nghiệp kinh doanh
trong trường ĐH và phát triển ĐH khởi
nghiệp (entrepreneurial university) ngày
càng được quan tâm Trong hơn hai thập
niên qua, phát triển ĐH khởi nghiệp và
sự thúc đẩy các hoạt động khởi nghiệp
kinh doanh đã thay đổi tư duy trong quản
trị ĐH, đẩy mạnh thương mại hóa và
chuyển giao công nghệ nhằm khai thác
tối ưu nguồn lực trong các nhà trường
ĐH không chỉ là nơi đào tạo, nghiên cứu,
mà còn là trung tâm đổi mới sáng tạo,
giải quyết các vấn đề thực tiễn, mang giá
trị cho xã hội (Nguyễn Hữu Đức và cộng
sự, 2018) Do vậy, các quốc gia thường
có những chính sách hỗ trợ và thúc đẩy
phát triển khởi nghiệp kinh doanh trong
trường ĐH, đồng thời tạo môi trường đổi
Khởi nghiệp kinh doanh
trong các trường đại học công lập
ở Việt Nam trong bối cảnh
chuyển đổi sang cơ chế tự chủ
ĐINH VĂN TOÀN *
Tóm tắt
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu và khảo sát về hoạt động khởi nghiệp kinh doanh tại các trường đại học (ĐH) công lập ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi từ cơ chế hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ Với kết quả rút ra từ khảo sát tại bốn trường ĐH công lập tiêu biểu, bài viết chỉ rõ các vướng mắc, thách thức đối với hoạt động này và đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm thúc đẩy các trường ĐH công lập phát triển theo xu hướng ĐH khởi nghiệp trong giai đoạn tới.
Từ khóa: khởi nghiệp kinh doanh, doanh nghiệp học thuật, đại học khởi nghiệp, đại học công
lập, Việt Nam
Summary
This paper presents the results of a research and survey on academic entrepreneurship activity at public universities in Vietnam in the context of transformation from state-subsidized mechanism to autonomy mechanism On the basis of the results of the survey at four typical public universities, the article highlights the problems and challenges to this activity and provides some policy suggestions to promote the trend of entrepreneurial university in the coming time.
Keywords: entrepreneurship, academic enterprise, entrepreneurial university, public university,
Vietnam
* Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngày nhận bài: 10/09/2019; Ngày phản biện: 23/10/2019; Ngày duyệt đăng: 24/10/2019
Trang 5Bài viết tiếp cận khởi nghiệp kinh doanh trên các khía cạnh chủ yếu về thay đổi phương thức tổ chức, điều hành (thành lập doanh nghiệp hoặc các viện, trung tâm về triển khai NCKH và kết hợp các hoạt động tư vấn, chuyển giao…), phát huy tinh thần doanh nghiệp của các viên chức giảng dạy và quản lý tại các trường ĐH công lập ở Việt Nam Bốn trường ĐH công lập khối khoa học kỹ thuật ở phía Bắc được chọn làm địa bàn nghiên cứu, bao gồm: Bách khoa Hà Nội, Xây dựng, Thủy lợi, Mỏ - Địa chất Bên cạnh việc sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của 4 trường ĐH này, tác giả cũng tiến hành phỏng vấn định tính sâu, sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc đối với 7 nhà khoa học tham gia quản lý, điều hành các đơn vị kinh doanh và 2 nhà lãnh đạo doanh nghiệp lớn nhất trong các trường ĐH này trong năm 2018
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Khảo sát tại 4 trường ĐH công lập khối khoa học kỹ thuật ở phía Bắc cho thấy một số kết quả sau:
Thứ nhất, công ty trực thuộc ĐH được thành lập ban đầu là doanh nghiệp nhà nước:
Cùng với chính sách chung của nền kinh tế giai đoạn chuyển đổi, Quyết định số 68/1998/TTg, ngày 07/03/1998 của Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thí điểm thành lập doanh nghiệp nhà nước trong các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu Các trường ĐH đều thành lập các công ty theo mô hình doanh nghiệp nhà nước Cụ thể:
- Trường ĐH Thủy lợi: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định thành lập Công ty Tư vấn và Chuyển giao công nghệ vào năm 2000 Tiền thân của Công ty (từ năm 1990) là Trung tâm Khoa học và Triển khai kỹ thuật thủy lợi, trực thuộc Trường ĐH Thủy lợi
- Trường ĐH Xây dựng: Công ty Tư vấn ĐH Xây dựng, tiền thân là Trung tâm
Tư vấn nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật trực thuộc Trường được thành lập năm 2000 (theo Quyết định số 4652/ QĐ-BGD&ĐT-TCCB, ngày 02/11/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) Công ty hoạt động theo mô hình doanh nghiệp nhà nước
- Trường ĐH Mỏ - Địa chất: Công ty
Tư vấn, triển khai công nghệ và xây dựng mỏ địa chất được Bộ Giáo dục và Đào tạo
phát triển theo hướng ĐH khởi nghiệp trong giai đoạn
chuyển đổi
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Bên cạnh sứ mạng sáng tạo và truyền bá tri thức gắn
với hai nhóm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học (NCKH)
và đào tạo nhân lực trình độ cao, ngày nay, các trường
ĐH còn thực hiện nhiệm vụ thứ ba là chuyển giao,
thương mại hóa và phục vụ cộng đồng thông qua các
hoạt động khởi nghiệp kinh doanh, tham gia các hoạt
động trong nền kinh tế - xã hội (Etzkowitz và cộng
sự, 2000) Các hoạt động này được gọi chung là khởi
nghiệp kinh doanh trong ĐH, hay còn gọi là ‘khởi
nghiệp học thuật’ (academic entrepreneurship) Nhiều
ĐH trên thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ
nhờ các hoạt động này mang lại
Nhìn chung, khởi nghiệp và phát triển kinh doanh
trong các cơ sở giáo dục ĐH được biết đến như là sự
tổng hợp các khả năng và mong muốn của các cá nhân
trong hoặc ngoài nhà trường để nhận biết, tạo cơ hội
kinh doanh mới (sản phẩm, phương pháp sản xuất, tổ
chức kinh doanh hay phát triển thị trường mới) Theo
Yokoyama (2006), phát triển khởi nghiệp kinh doanh
trong bối cảnh của các trường ĐH không nhất thiết phải
được hiểu với ý tưởng thu lợi nhuận, chấp nhận rủi ro
hay mang tính thương mại thuần túy, mà còn là thể chế
tự chủ hoàn toàn và tự lực, chia sẻ rủi ro và trách nhiệm
của nhà trường, các nhà khoa học đối với xã hội trong
hoạt động kinh doanh, đồng thời tích hợp văn hóa kinh
doanh, doanh nghiệp với văn hóa học thuật
Các hoạt động mang tính kinh doanh trong ĐH có
thể bao gồm nhiều hoạt động gắn với tất cả các hành
vi khởi nghiệp kinh doanh của các cán bộ giảng viên
và người học trong các trường ĐH Trong đó, hoạt động
chủ yếu bao gồm: thành lập các doanh nghiệp mới,
hình thành các trung tâm nghiên cứu với ngành công
nghiệp và các nỗ lực nhằm khai thác bằng sáng chế, sở
hữu công nghệ và giấy phép để triển khai chuyển giao
công nghệ (Jahangir và cộng sự, 2014) Nhiều nghiên
cứu gần đây của các học giả trên thế giới cũng khẳng
định xu hướng phát triển của “ĐH khởi nghiệp”, mà ở
đó, các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh luôn gắn với
đổi mới sáng tạo và gắn với vai trò quan trọng của sự
hợp tác ba bên: chính phủ, trường ĐH và doanh nghiệp
(Gibb, 2012; Dalmarco và Hulsink, 2018)
Tại các trường ĐH công lập, kết quả của các hoạt
động và sự chuyển dịch về quản lý đã gắn NCKH với
doanh nghiệp bên ngoài và làm tăng tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của nhà trường Trường ĐH Auckland, New
Zealand là một ví dụ điển hình của sự chuyển đổi này từ
mô hình truyền thống Trong giai đoạn chuyển đổi sang
quản trị kiểu doanh nghiệp (1990-2005), thông qua các dự
án hợp tác công - tư hiệu quả, ĐH này đã hình thành các
tổ chức nghiên cứu, ứng dụng trực thuộc trường, từ đó thúc
đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp kinh doanh và xuất
hiện các doanh nhân học thuật (Đinh Văn Toàn, 2019b)
Trang 6án hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với mạng lưới các nhà tư vấn, hướng dẫn, không gian khởi nghiệp và ươm tạo
- Tại Trường ĐH Thủy lợi, năm 2015, Công ty Tư vấn và Chuyển giao công nghệ quyết định chuyển đổi mô hình thành Công ty TNHH Tư vấn Trường ĐH Thủy lợi Đây là mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, trong đó vốn đóng góp chủ yếu (chiếm 75%) từ cán bộ, viên chức trong Nhà trường
- Trường ĐH Mỏ - Địa chất: Năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập Công ty Tư vấn, Triển khai công nghệ và Xây dựng Mỏ - Địa chất (Công ty CODECO) theo mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên trên cơ sở đề án chuyển đổi mô hình từ doanh nghiệp nhà nước
- Trường ĐH Xây dựng: Năm 2013, Công ty Tư vấn
ĐH Xây dựng chính thức chuyển đổi mô hình doanh nghiệp thành Công ty TNHH Tư vấn ĐH Xây dựng (CCU CO., LTD) Công ty hoạt động theo mô hình TNHH nhiều thành viên do Trường ĐH Xây dựng là tổ chức sáng lập chính, với vốn góp chiếm 51% Số vốn còn lại do cá nhân cán bộ và giảng viên trong Trường góp Để hoạt động với quy mô rộng và đáp ứng nhu cầu của thị trường, Công ty TNHH Tư vấn ĐH Xây dựng có các xí nghiệp thành viên, như: Tự động hóa thiết kế; Thiết kế kiến trúc, kết cấu; Cơ điện công trình M&E;
Xí nghiệp Thiết kế thủy lợi, thủy điện; Xí nghiệp Thiết kế cầu đường ô tô, cảng và công trình biển Trong quy chế hoạt động của mình và sự thỏa thuận với Trường
ĐH Xây dựng, Công ty được quyền sử dụng các phòng thí nghiệm của Nhà trường phục vụ nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khi cần thiết
Thứ ba, chưa có số liệu chính thức về các công ty spin-off và startups:
Kết quả khảo sát tại các trường ĐH cho thấy, chưa có thông tin chính thức về các công ty được thành lập trên cơ sở các kết quả nghiên cứu hoặc chuyển giao công nghệ trực tiếp từ cán bộ giảng viên trong các trường (spin-off) hay các doanh nghiệp khởi nghiệp gắn với đổi mới sáng tạo (startups)
Điều này không đồng nghĩa với giả thiết các nghiên nghiên cứu, phát minh, sáng chế, hay giải pháp hữu ích của các nhà khoa học hay công nghệ mới của các trường ĐH này không hỗ trợ việc hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp mới từ nhà trường Thực tế, nhiều công nghệ, giải pháp đã được áp dụng trong thực tiễn thông qua doanh nghiệp bên ngoài với sự chuyển giao chính thức (thông qua tác giả là các cá nhân) hoặc không chính thức Tuy nhiên, các dữ liệu công bố hoặc báo cáo chính thức của các trường
ĐH chưa đề cập các hoạt động phát triển doanh nghiệp theo hai phương thức trên
Thứ tư, nhìn tổng thể, hoạt động của doanh nghiệp thuộc các trường ĐH chưa có bứt phá và thành công lớn về quy mô và hiệu quả so với tiềm năng:
Trong 5 năm trở lại đây đã chứng kiến sự năng động và các kết quả hoạt động thành công về mô hình tổ chức và vận hành của BK Holdings, Công ty TNHH
ra quyết định thành lập năm 2000 Hoạt
động theo mô hình doanh nghiệp nhà
nước, Công ty này có 1 trung tâm công
nghệ và 4 xí nghiệp thi công trực thuộc
- Trường ĐH Bách khoa Hà Nội: Công
ty Đầu tư và Phát triển Công nghệ Bách
khoa Hà Nội (BK-Holdings) được thành
lập vào năm 2008 theo mô hình công ty
cổ phần, nhưng trực thuộc Trường ĐH
Bách khoa Hà Nội (Trường nắm cổ phần
chi phối)
Thứ hai, có sự chuyển đổi về hình thức
tổ chức, mô hình doanh nghiệp và cơ chế
hoạt động theo thị trường, nhưng vẫn giữ
sự phù hợp với điều kiện hoạt động trong
trường ĐH công lập:
Qua thời gian, mô hình doanh nghiệp
nhà nước được bao cấp không còn phù hợp
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
do đó làm hạn chế đổi mới sáng tạo và
cản trở sự phát triển, nuôi dưỡng tinh thần
doanh nghiệp Với yêu cầu của xu thế thị
trường và sự bế tắc trong hoạt động, các
doanh nghiệp theo mô hình này trong các
trường ĐH được các bộ chủ quản chuyển
đổi cho phù hợp với Luật Doanh nghiệp
và thông lệ quốc tế Cụ thể:
- Tại Trường ĐH Bách khoa Hà
Nội, BK-Holdings đã thay đổi mô hình
để thích nghi với điều kiện nằm trong
trường ĐH công lập Mô hình doanh
nghiệp được chuyển đổi từ công ty cổ
phần thành công ty TNHH một thành
viên Theo đó, BK Holdings như một
công ty mẹ (do Nhà trường góp vốn sáng
lập, quyết định Chủ tịch hội đồng thành
viên và cử người tham gia quản lý) thực
hiện đầu tư, góp vốn vào các công ty con
và các công ty liên kết (theo mô hình cổ
phần hoặc TNHH) Tính đến năm 2018,
hệ thống các doanh nghiệp, tổ chức hoạt
động theo mô hình doanh nghiệp trong
BK Holdings gồm: 6 công ty thành viên,
2 trường đào tạo (Trường Cao đẳng nghề
Bách khoa Hà Nội; Trường THCS &
THPT Tạ Quang Bửu) và 1 chương trình
hợp tác đào tạo quốc tế
BK Holdings luôn đóng vai trò cầu
nối trong các hợp tác, kêu gọi đầu tư từ
các doanh nghiệp và cá nhân cho các nhà
khoa học và Nhà trường khi có nhu cầu
phát triển sản phẩm, thương mại hóa,
hoặc đầu tư nghiên cứu ban đầu về công
nghệ Đặc biệt, BK Holdings trực tiếp
triển khai đầu tư hạ tầng, cơ sở kỹ thuật
và đào tạo để hình thành được một hệ
sinh thái khởi nghiệp khá thành công ở
Việt Nam thông qua các chương trình, dự
Trang 7Ảnh hưởng từ đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế điều hành trong các trường
ĐH và các công ty (sau chuyển đổi), đặc biệt là các trung tâm, viện trực thuộc các trường ĐH được khảo sát chỉ ra những kết quả đáng khích lệ đối với phát triển tinh thần khởi nghiệp kinh doanh, thể hiện ở sự thành công trong hoạt động dịch vụ tư vấn, đào tạo, sản xuất, kinh doanh của các đơn vị Kết quả phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý đang làm việc tại các trường ĐH này cho thấy sự chuyển biến khá rõ từ hai khía cạnh đổi mới sau đây:
(i) Đối với các trung tâm, viện: tự chủ hơn trong quản lý và điều hành đơn vị Hàng năm, các đơn vị báo cáo kết quả về nhà trường, nộp một phần kinh phí (từ 1%-2% doanh thu) quản lý; các đơn vị được trường hỗ trợ nhân sự quản lý (phần lớn và cán bộ giảng viên kiêm nhiệm) và trụ sở làm việc Các hoạt động khác (xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển, khai thác các nguồn lực) của đơn vị được phân quyền quyết định và tự chủ như doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
(ii) Đối với các doanh nghiệp: thuận lợi hơn trong quản lý, vận hành và huy động nguồn lực, góp vốn và tài sản từ các cá nhân tổ chức theo Luật Doanh nghiệp (năm 2014) Với mô hình tổ chức chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên hoặc hai thành viên trở lên, nhưng tỷ lệ vốn góp chi phối là trường
ĐH, thì nhà trường có thể lựa chọn và cử cán bộ có năng lực quản trị là chủ tịch HĐTV và tham gia các cơ quan trong thiết chế quản trị Đặc biệt, các công
ty có thể quyết định góp tài sản, vốn và nhân sự để phát triển dự án kinh doanh mới, hoặc để hình thành các doanh nghiệp theo mô hình công ty cổ phần khi triển khai các dự án khởi nghiệp và lĩnh vực kinh doanh mới (điều mà trước đây, nhà trường hoặc doanh nghiệp nhà nước trực thuộc trường không thực hiện góp vốn, nhân lực hay tài sản từ ngân sách nhà nước được)
Thứ sáu, có những thuận lợi khi các đơn vị hoạt động theo mô hình đơn vị trực thuộc trường ĐH công lập:
Trước hết, đó là sự bảo trợ khá toàn diện về tư cách pháp lý (đơn vị sự nghiệp), được ưu tiên khai thác, sử dụng mặt bằng, thương hiệu của nhà trường, đặc biệt là đội ngũ quản lý và nhà khoa học (theo cơ chế kiêm nhiệm) trong các
Tư vấn ĐH Xây dựng Điều này bước đầu khẳng định
một mô hình tổ chức doanh nghiệp trong trường ĐH
công lập phù hợp hơn so với các mô hình doanh nghiệp
nhà nước và công ty cổ phần trước đây Tuy nhiên, kết
quả mang lại chưa thật nổi trội Mặt khác, các doanh
nghiệp còn lại hoạt động ở mức độ “cầm chừng” và có
thể thấy vẫn tồn tại khoảng cách rất lớn giữa tiềm lực
của các trường ĐH và năng lực đội ngũ các nhà khoa
học với kết quả khai thác và hiệu quả mang lại (theo số
liệu chính thức mà các trường này công bố)
Thứ năm, các trung tâm, viện nghiên cứu, ứng dụng
được thành lập, hoạt động theo mô hình đơn vị sự
nghiệp có thu phụ thuộc các trường ĐH có sự chuyển
đổi cơ cấu và phương thức hoạt động theo tinh thần tự
chủ (theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP) và bắt đầu có
những chuyển biến trong cơ cấu tổ chức và điều hành
theo hướng “doanh nghiệp”.
Về cơ cấu tổ chức và điều hành, hầu hết các trung
tâm, viện trong các trường ĐH được thành lập trong
giai đoạn 1990-2000, hoạt động theo mô hình đơn vị
sự nghiệp có thu và cơ chế tổ chức khoa học, công
nghệ (KHCN) trên cơ sở Nghị định số 35-HĐBT, ngày
28/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) Các doanh nghiệp trong các trường ĐH ở giai
đoạn này, nếu được thành lập đều là doanh nghiệp nhà
nước theo chủ trương cho phép thí điểm thành lập của
Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 68/1998/QĐ-TTg,
ngày 27/03/1998) Như vậy, tư tưởng về đẩy mạnh hoạt
động nghiên cứu gắn với ứng dụng, chuyển giao công
nghệ đã có từ giai đoạn này Nhưng, sự thay đổi đáng
kể trong các hoạt động này và hoạt động của các doanh
nghiệp trong trường ĐH mới thực sự đem lại nhiều kết
quả trong khoảng 5 năm gần đây, sau khi các đơn vị
thực sự được giao quyền tự chủ về nhiệm vụ, tài chính,
tổ chức, nhân sự và đặc biệt là công tác điều hành nội
bộ theo tư tưởng của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP,
ngày 05/09/2005 của Chính phủ và việc chuyển đổi
thành công mô hình doanh nghiệp nhà nước thành các
công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (năm 2005
và 2014)
Bên cạnh đó, có sự thay đổi trong nhận thức cần
tăng cường các nghiên cứu mang tính ứng dụng, phục
vụ cộng đồng và chuyển giao công nghệ để tăng
nguồn thu cho các đơn vị và nhà trường Số lượng
viện, trung tâm nghiên cứu, ứng dụng được thành lập
và hoạt động hiệu quả tại 4 trường tăng liên tục trong
5 năm qua Trong 4 trường ĐH này, chỉ có 4 doanh
nghiệp hoạt động theo mô hình công ty TNHH, nhưng
có tới 26 trung tâm và 29 viện Điển hình như: Trường
ĐH Xây dựng có 16 viện; Trường ĐH Mỏ - Địa chất
có 8 trung tâm Đặc điểm chung của các viện là tham
gia nhiều hơn hoặc trực tiếp vào hoạt động đào tạo so
với các trung tâm Theo báo cáo hàng năm của các
trường, thì doanh thu của các viện, trung tâm tăng liên
tục: Trường ĐH Xây dựng đạt 79 tỷ đồng năm 2018,
Trường ĐH Thủy lợi đạt 168,5 tỷ đồng năm 2017 và
Trường ĐH Mỏ - Địa chất đạt trên 232 tỷ đồng vào
năm 2018
Trang 8đơn vị NCKH và doanh nghiệp; việc đổi thông tin giữa bên chuyển giao (các đơn vị) và bên nhận chuyển giao (doanh nghiệp, cá nhân trên thị trường) chưa thuận lợi và thông suốt
Mặt khác, số lượng các sản phẩm NCKH và công nghệ có thể chuyển giao và có tính thương mại hóa trong các trường ĐH chưa nhiều, nhưng Chính phủ và các trường ĐH chưa có cơ chế hay chế tài để các nhà khoa học, chủ nhiệm đề tài, dự án liên hệ với các doanh nghiệp trong và ngoài ĐH để tiếp tục các bước thương mại hóa kết quả nghiên cứu (phần lớn họ chọn phương án an toàn là nhận kinh phí đặt hàng NCKH, không quan tâm đến thương mại hóa)
Bên cạnh đó là vướng mắc về cơ chế tài chính, cơ chế huy động vốn và tài sản Hầu hết các đơn vị và công ty trong ĐH gặp khó khăn về vốn hoạt động do không tiếp cận được các nguồn vốn hỗ trợ ban đầu, trong khi vay thương mại từ các ngân hàng cho giai đoạn đầu hoạt động của các doanh nghiệp là không khả thi; có sự lúng túng về pháp lý dẫn đến rất khó khai thác, sử dụng tài sản, đất đai và vốn (có nguồn gốc ngân sách) trong các đơn vị thuộc trường ĐH công lập để góp vốn triển khai kinh doanh, trong khi phần lớn các doanh nghiệp này hoạt động theo mô hình TNHH
Ngoài ra, còn có vướng mắc và lúng túng đối với các trường công lập và doanh nghiệp trong trường bởi các quy định chưa rõ ràng trong thực tiễn về sử dụng vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước và tài sản, đất đai của nhà nước giao để hình thành doanh nghiệp theo mô hình góp vốn đối với công ty TNHH nhiều thành viên và công ty cổ phần
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Để thúc đẩy tinh thần doanh nghiệp trong viên chức giảng dạy và đổi mới tổ chức điều hành trường ĐH công lập theo hướng phát triển ĐH doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, qua nghiên cứu thực trạng 4 trường ĐH khối kỹ thuật ở Việt Nam, tác giả đề xuất một số khuyến nghị như sau đây
Đối với Chính phủ:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách để định hướng và điều chỉnh hoạt động liên kết giữa trường
ĐH và doanh nghiệp theo hướng: đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư cho hoạt động giáo dục; tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường ĐH; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hợp tác nghiên cứu và phát triển công nghệ
- Tạo lập kênh giao tiếp hay mạng lưới liên kết giữa các doanh nghiệp và các trường ĐH để thực hiện vai trò thu thập, cập nhật dữ liệu, cung cấp các thông tin tư vấn giữa hai bên về NCKH và nhu cầu phát triển sản phẩm, ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, kinh doanh
- Cải thiện cơ chế hỗ trợ đối với tổ chức, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp triển khai ứng dụng công nghệ, sản phẩm mới từ các hoạt động nghiên cứu của ĐH; đồng thời, cần có các chương
hoạt động NCKH và chuyển giao Mặt
khác, các đơn vị vẫn có thể khai thác mặt
bằng, thiết bị, tài sản công khi phục vụ
lợi ích cộng đồng, nghiên cứu và phát
triển công nghệ tuân theo Luật Công sản
để thương mại hóa các kết quả nghiên
cứu Đặc biệt, lợi thế về uy tín của nhà
trường khi làm việc với các cá nhân, tổ
chức, cơ quan chức năng và lợi thế khi
khai thác mạng lưới cựu sinh viên, học
viên thành đạt là những yếu tố thuận lợi
của các đơn vị hoạt động với danh nghĩa
thuộc trường ĐH
Đối với các doanh nghiệp, điểm giống
như các trung tâm, viện trực thuộc là có
cơ quan chủ quản là trường ĐH, nhưng có
cơ chế hợp tác độc lập hơn (không phải
là đơn vị sự nghiệp có thu), phải thuê địa
điểm, mặt bằng, thiết bị (nếu khai thác)
Tuy nhiên, điểm thuận lợi hơn các doanh
nghiệp bên ngoài trường ĐH là sự gắn
bó với các nhà khoa học và môi trường
học thuật Do vậy, các công ty này có thế
mạnh trong đổi mới, chuyển giao thương
mại hóa công nghệ và triển khai các dự
án khởi nghiệp kinh doanh gắn với giải
pháp, sản phẩm công nghệ mới và đổi
mới sáng tạo
Thứ bảy, những thách thức, khó khăn, vướng
mắc chủ yếu trong hoạt động kinh doanh:
- Thách thức: Hội nhập với khu vực
và cạnh tranh ngày càng gay gắt trong
các lĩnh vực sản phẩm và dịch vụ, trong
khi các đơn vị và doanh nghiệp trong
các nhà trường thiếu thông tin kết nối thị
trường so với các tập đoàn, doanh nghiệp
lớn vì tính “đóng kín” của các trường
ĐH Mặt khác, các công ty trong các
trường ĐH công lập hoạt động ở quy mô
nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính chưa mạnh
so với các doanh nghiệp đang hoạt động
trên thị trường
Một thách thức lớn nữa liên quan đến
môi trường và thể chế là sự ảnh hưởng
của tính “hàn lâm” và quản lý hành
chính trong trường ĐH công lập vẫn tồn
tại trong tương lai gần Điều này dẫn
đến tính năng động của các công ty trực
thuộc trường có hạn chế hơn với các
doanh nghiệp bên ngoài
- Khó khăn, vướng mắc: Khó khăn
chung mà doanh nghiệp và đơn vị trong
các trường ĐH gặp phải chủ yếu xung
quanh việc chưa phát huy các thế mạnh
về chuyển giao, thương mại hóa kết quả
nghiên cứu Cụ thể là: thị trường công
nghệ chưa phát triển; các doanh nghiệp
bên ngoài chưa có thói quen tìm đến các
Trang 9- Cần có chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, xúc tiến thành lập doanh nghiệp theo mô hình công ty cổ phần do công ty TNHH của trường sở hữu toàn bộ hay một phần vốn để thu hút tiềm năng của các cá nhân, bộ phận trong nhà trường khai thác kết quả nghiên cứu, ý tưởng kinh doanh, hợp tác, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp có uy tín để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thuộc trường
- Chủ động mời các nhà quản lý, nhà quản trị giỏi tham gia vào hoạt động đào tạo, nghiên cứu của nhà trường và làm việc tại các đơn vị kinh doanh Đồng thời, quan tâm lựa chọn và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có tinh thần doanh thương, có khát vọng kinh doanh để tham gia các chương trình, dự án khởi nghiệp và phát triển
ý tưởng thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu KHCN tại các đơn vị này
- Các trường ĐH cần tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về khởi nghiệp kinh doanh, thúc đẩy tinh thần doanh nghiệp cho đội ngũ cán bộ giảng viên và viên chức; đồng thời quan tâm việc bồi dưỡng nâng cao năng lực pháp luật, quản trị tổ chức, quản lý doanh nghiệp và kinh doanh cho các cán bộ tham gia các công ty, đơn vị kinh doanh trong nhà trường.
trình, dự án hỗ trợ phát triển đối với các doanh nghiệp
trong ĐH
- Ban hành cơ chế tài chính riêng, phù hợp với các
đơn vị KHCN, doanh nghiệp khởi nghiệp và vườn ươm
công nghệ trong trường ĐH, không chỉ bao gồm tài
chính có yếu tố rủi ro cao như quỹ đầu tư, mà cần sự ưu
tiên cao từ các quỹ hỗ trợ của Nhà nước để hỗ trợ các
bước thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ban đầu
ở nhà trường
Đối với các trường ĐH công lập:
- Kết hợp hài hòa các lợi ích và trách nhiệm trong
triển khai hợp tác theo hướng: nhà trường ưu tiên
nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, chia sẻ nguồn lực
và tư vấn về các vấn đề của đơn vị kinh doanh; ngược
lại, các đơn vị cần xây dựng chiến lược phát triển gắn
với chiến lược NCKH của trường, có kế hoạch chủ
động tiếp nhận kết quả để thương mại hóa, phát triển
sản phẩm, đồng thời làm tốt vai trò là nhà cung cấp
thông tin, phản biện để các khoa, nhà khoa học trong
trường nắm được nhu cầu của thị trường
- Xây dựng các chính sách, cơ chế và các quy định
về hình thức, nội dung, cơ chế hợp tác và đãi ngộ để
khuyến khích nhà khoa học tích cực khai thác, hợp tác
với doanh nghiệp song song với việc đăng ký, xác lập
và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh
nghiệp; có cơ chế để nhà khoa học không nên chỉ quan
tâm đến bảo vệ tài sản trí tuệ hay bản quyền, mà duy
trì việc thường xuyên chia sẻ thông tin, ý tưởng thông
qua các hoạt động chung với các đơn vị kinh doanh để
xây dựng hợp tác lâu dài có tính chiến lược
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Hữu Đức và cộng sự (2018) Tiếp cận giáo dục đại học 4.0 - Các đặc trưng và tiêu chí
đánh giá, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu chính sách và quản lý, 34(4)
2 Đinh Văn Toàn (2019a) Phát triển doanh nghiệp trong trường đại học và những gợi ý chính
sách về đổi mới quản trị đại học ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh,
35(1), 1-14
3 Đinh Văn Toàn (2019b) Tinh thần doanh nghiệp trong quản trị và điều hành trường đại học:
Kinh nghiệm từ đại học Auckland, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 23, tháng 8/2019
4 Trường Đại học Mỏ - Địa chất (2019) Báo cáo tổng hết hoạt động doanh nghiệp quý 1 năm 2019
5 Trường Đại học Thủy lợi (2018) Báo cáo tổng kết năm 2018
6 Trường Đại học Xây dựng (2019) Báo cáo tổng kết năm 2018
7 BK-Holdings (2019) Giới thiệu chung, truy cập từ
http://www.bkholdings.com.vn/vn/Gioi-thieu.html
8 Dalmarco G., Hulsink W (2018) Creating entrepreneurial university in an emerging country:
Evidence from Brazil, Technological Forecasting and Social Change, Elsevier, 135(C), 99-111
9 Etzkowitz , H., Leydesdorff, L (2000) The dynamics of innovation: from National systems
and Mode 2 to a Triple Helix of university-industry-government relations, Research policy, 29,
109-123
10 Gibb A (2012) Exploring the synergistic potential in entrepreneurial university development:
towards the building of a strategic framework, Annals of Innovation & Entrepreneurship, 3(1)
11 Jahangir, F.Y., Meisam, M., Mahmoud, M., Aidin, S (2014) Institutional Factors Affecting Academic Entrepreneurship: The Case of University of Tehran The Case of University of Tehran,
Economic Analysis, 47(1-2), 139-159
12 Yokoyama K (2006) Entrepreneurialism in Japanese and UK Universities: Governance,
Management, Leadership and Funding, Higher Education, 52(3), 523-555