Bên cạnh đó, thông qua phương pháp phân tích nhân tố chính EFA Exploratory Factor Analysis luận văn đã chỉ ra 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu trong xây dựng định hướn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Cán bộ Hướng dẫn khoa học : PGS.TS LƯƠNG ĐỨC LONG
Cán bộ chấm phản biện 1: TS TRẦN ĐỨC HỌC
Cán bộ chấm phản biện 2: TS ĐẶNG THỊ TRANG
Luận Văn Thạc Sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ Trường
Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh
TPHCM, ngày 19 tháng 01 năm 2018
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
1 PGS TS PHẠM HỒNG LUÂN
2 TS TRẦN ĐỨC HỌC
3 TS ĐẶNG THỊ TRANG
4 TS NGUYỄN ANH THƯ
5 TS CHU VIỆT CƯỜNG
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA
Trang 3- -oOo -
TP HCM, ngày 11 tháng 12 năm 2017
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: CHÂU BẢO NGỌC
Ngày tháng năm sinh: 27 - 07 - 1987
Chuyên ngành : QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MSHV: 1570103 Nơi sinh: Long An
MN: 60 58 03 02
1- TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC QUYẾT ĐỊNH LỰA
CHỌN VẬT LIỆU TRONG XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
9 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu định hướng xây dựng bền vững
9 Đánh giá, xếp hạng, xác định nhóm nhân tố chính của các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu định hướng xây dựng bền vững
9 Xây dựng mô hình AHP bằng phần mềm Expert Choice giúp lựa chọn vật liệu xây dựng định hướng bền vững
9 Đề xuất các giải pháp lựa chọn vật liệu xây dựng định hướng phát triển bền vững
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 10/07/2015
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 03/12/2017
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS LƯƠNG ĐỨC LONG
TPHCM, ngày 11 tháng 12 năm 2017
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN
PGS.TS LƯƠNG ĐỨC LONG PGS.TS LƯƠNG ĐỨC LONG
TRƯỞNG KHOA
Trang 4Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến đến PGS TS Lương Đức Long, Thầy đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn Những ý kiến góp ý, hướng dẫn của Thầy là rất quan trọng cho thành công của luận văn này
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng – bộ môn Thi Công và Quản lý Xây dựng đã truyền đạt những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian tôi học chương trình cao học
Xin cảm ơn các anh chị, bạn bè cùng lớp 2015 và những người bạn, anh chị
em đồng nghiệp đã chia sẻ kinh nghiệm và dành thời gian hỗ trợ tôi thực hiện tốt giai đoạn khảo sát dữ liệu trước khi tiến hành nghiên cứu Các chia sẻ về kiến thức
và kinh nghiệm của các anh chị, các bạn đã được ghi nhận vào thành quả của luận văn Và tôi xin cảm ơn công ty Structerre nơi tôi đang làm việc đã tạo điều kiện
thuận lợi về mặt thời gian để hỗ trợ tôi hoàn thành tốt luận văn
Và cuối cùng, tôi xin đặc biệt cảm ơn đến những người thân trong Gia Đình
đã luôn đồng hành, động viên hỗ trợ về mọi mặt để tôi yên tâm hoàn thành tốt luận
văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 12 năm 2017
Châu Bảo Ngọc
Trang 5TÓM TẮT
Để khắc phục tình trạng ngành xây dựng hiện đang gây ra những vấn đề về môi trường, tiêu thụ quá nhiều tài nguyên và các hoạt động trong xây dựng gây ô nhiễm môi trường xung quanh,… thì phát triển bền vững là một yêu cầu cấp thiết Trong đó, vật liệu đóng vai trò chủ yếu, ảnh hưởng nhiều đến tổng chi phí của công trình và sức khỏe của người sử dụng Do đó, để ngành xây dựng hướng tới định hướng bền vững thì việc lựa chọn vật liệu đóng góp vai trò rất lớn để đảm bảo mục tiêu này
Luận văn này trình bày kết quả cuộc khảo sát về những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu trong xây dựng phát triển bền vững Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát và phân tích số liệu thống kê Kết quả khảo sát đã xếp hạng được những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu xây dựng (VLXD) theo định hướng phát triển bền vững Bên cạnh đó, thông qua phương pháp phân tích nhân tố chính EFA (Exploratory Factor Analysis) luận văn
đã chỉ ra 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu trong xây dựng định hướng phát triển bền vững có liên quan đến môi trường, chi phí, thiết kế/kỹ thuật/thi công, văn hóa – xã hội và nhóm các nhân tố khác
Tiếp theo luận văn đã xây dựng mô hình cấu trúc thứ bậc AHP để lựa chọn vật liệu trong xây dựng định hướng phát triển bền vững Nhằm hỗ trợ chủ đầu tư, thiết kế, thi công,… trong quá trình lựa chọn vật liệu bền vững một cách nhanh chóng và đạt được sự thống nhất giữa các bên liên quan Mô hình được áp dụng vào quá trình lựa chọn gạch không nung trong dự án thực tế để kiểm tra tính ứng dụng
và nhằm cải tiến quy trình đề xuất được hoàn thiện hơn
Trang 6
ABSTRACT
To overcome the environmental problems caused by the construction industry, excessive consumption of resources and construction activities that pollute the surrounding environment, sustainable development is a necessary requirement And in construction, building material always affects greatly on the total construction cost and human health and safety Therefore, material selection plays a very important role in ensuring sustainability in the construction industry
This thesis presents the results of a survey on the factors influencing the choice of materials in sustainable construction development The survey was conducted through survey questionnaires and statistical analysis Survey results have ranked the factors affecting the selection of building materials according to their contributions to achieving sustainability objectives In addition, through the application of Exploratory Factor Analysis (EFA), the paper identifies five groups
of factors that influence the selection of materials for sustainable development in terms of cost, design, engineering and construction, socio-cultural and other factors
This is followed up with an Analytic Hierarchy Process (AHP) designed to build a material selection model geared towards sustainable development This model provides decision-makers (investor, design, construction, etc.) with an effective decision-making tool for selecting materials quickly and avoiding inconsistencies between project participants Finally, the model is used in the selection of unbaked bricks for an actual project to test applicability and to improve the proposed process
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS
TS Lương Đức Long Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được thu thập từ quá trình khảo sát thực tế và được công bố theo đúng quy định
Tp.HCM, ngày 11 tháng 12 năm 2017
Châu Bảo Ngọc
Trang 8MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 9
1.1 Giới thiệu chung: 9
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu: 13
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu: 17
1.4 Phạm vi nghiên cứu: 17
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 19
2.1 Các định nghĩa: 19
2.1.1 Phát triển bền vững: 19
2.1.2 Xây dựng: 19
2.1.3 Vật liệu xây dựng: 20
2.1.4 Vật liệu hướng đến xây dựng bền vững: 21
2.2 Các nghiên cứu trước đây: 22
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Quy trình nghiên cứu: 29
3.2 Thu thập dữ liệu 31
3.2.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn VLXD định hướng bền vững 31
3.2.2 Thiết kế bảng câu hỏi 34
3.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 38
3.2.4 Phương pháp định lượng AHP (Analytical Hierarchy Process) 39
CHƯƠNG 4 THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 46
4.1 Thu thập số liệu: 46
4.2 Phân tích đặc điểm của mẫu nghiên cứu: 46
4.2.1 Số năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng 46
4.2.2 Vai trò của người được khảo sát trong dự án xây dựng 47
4.2.3 Vai trò công ty của các đối tượng tham gia khảo sát 47
4.2.4 Loại hình công ty của đối tượng tham gia khảo sát 48
4.2.5 Vị trí công tác của đối tượng tham gia khảo sát 49
4.3 Kiểm định Cronbach’s Alpha: 50
4.3.1 Cronbach alpha các nhóm liên quan đến Môi trường 51
4.3.2 Cronbach alpha các nhóm liên quan đến Chi phí 51
4.3.3 Cronbach alpha các nhóm liên quan đến Thiết kế/kỹ thuật/thi công 52
4.3.4 Cronbach alpha các nhóm liên quan đến Văn hóa – Xã hội 52
4.3.5 Cronbach alpha các nhóm liên quan Khác 53
4.4 Phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysic): 54
4.5 Thứ tự các nhân tố theo giá trị mean 60
4.5.1 Phân tích năm nhân tố ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn VLXD bền vững 62
CHƯƠNG 5 : XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP LỰA CHỌN VLXD BỀN VỮNG 65
Trang 95.1 Một số cơ chế của Nhà nước về sử dụng VLXD, gạch không nung trong công
trình 65
5.2 Thông tin ba loại gạch không nung 68
5.2.1 Vật liệu A: Gạch bê tông khí chưng áp AAC 68
5.2.2 Vật liệu B: Gạch bê tông bọt CLC (Cellular Lightweight Concrete) 74
5.2.3 Vật liệu C: Gạch xi măng cốt liệu hay còn gọi là gạch block 77
5.3 Xây dựng mô hình lựa chọn VLXD bền vững 80
5.3.1 Bước 1: Xác định vấn đề và mục tiêu giải quyết 80
5.3.2 Bước 2: Xây dựng mô hình cấu trúc thứ bậc 82
5.3.3 Bước 3: Xây dựng một tập hợp các ma trận so sánh cặp 87
5.3.4 Bước 4: Chuyển đổi các so sánh thành trọng số và kiểm tra sự nhất quán các so sánh của người ra quyết định 90
5.3.5 Bước 5: Dùng trọng số để tính điểm các lựa chọn 93
5.3.6 Bước 6: Phân tích độ nhạy 96
5.3.7 Bước 7: Đưa ra quyết định cuối cùng 100
5.4 Đánh giá về áp dụng mô hình và đề xuất hướng cải tiến 101
5.5 Đề xuất các giải pháp lựa chọn VLXD định hướng phát triển bền vững 102
CHƯƠNG 6 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
6.1 Kết luận 104
6.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 105
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn VLXD bền vững từ các nghiên
cứu trước, các tài liệu liên quan và ý kiến chuyên gia 31
Bảng 3.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn VLXD bền vững trong bảng câu hỏi khảo sát 36
Bảng 3.2: Bảng thang đo đánh giá 9 mức độ 40
Bảng 3.3: Hệ số ngẫu nhiên RI 44
Bảng 4.1 Bảng tóm tắt số năm kinh nghiệm của dữ liệu 46
Bảng 4.2 Bảng tóm tắt vai trò của người tham gia trong dự án xây dựng 47
Bảng 4.3 Bảng tóm tắt vai trò công ty của các đối tượng tham gia khảo sát 47
Bảng 4.4 Bảng tóm tắt loại hình công ty của đối tượng tham gia khảo sát 48
Bảng 4.5 Bảng tóm tắt vị trí công tác đối tượng tham gia khảo sát 49
Bảng 4.6 Hệ số Cronbach alpha các nhóm 51
Bảng 4.7 Hệ số Cronbach alpha các nhóm liên quan đến môi trường 51
Bảng 4.8 Hệ số Cronbach alpha các nhóm liên quan đến chi phí 51
Bảng 4.9 Hệ số Cronbach alpha các nhóm liên quan đến thiết kế/kỹ thuật/ thi công 52 Bảng 4.10 Hệ số Cronbach alpha các nhóm liên quan đến văn hóa – xã hội 52
Bảng 4.11 Hệ số Cronbach alpha các nhóm liên quan khác 53
Bảng 4.12 Bảng kiểm định KMO và Bartlet’s test 56
Bảng 4.13 Bảng phương sai trích 56
Bảng 4.14 Bảng ma trận xoay kết quả EFA của các thang đo 57
Bảng 4.15 Bảng thứ tự các nhân tố theo giá trị tmean 61
Bảng 5.1 Bảng ký hiệu 3 loại gạch không nung 68
Bảng 5.2 Bảng so sánh gạch bê tông khí chưng áp và gạch đất sét nung 70
Trang 11Bảng 5.3 Bảng so sánh gạch xi măng cốt liệu và gạch đất sét nung 78 Bảng 5.4 Bảng ký hiệu các tiêu chí trong mô hình quyết định lựa chọn VLXD bền vững 82
Trang 12DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 29
Hình 3.2 Sơ đồ các bước thực hiện mô hình AHP [14] 45
Hình 4.1: Các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn VLXD bền vững 59
Hình 5.1 Hình ảnh gạch bê tông khí chưng áp AAC 69
Hình 5.2: Thông số kỹ thuật gạch bê tông khí chưng áp 70
Hình 5.3 Hình ảnh gạch bê tông bọt CLC 75
Hình 5.4 Hình ảnh thông số kỹ thuật gạch bê tông bọt CLC 75
Hình 5.5 Hình ảnh gạch xi măng cốt liệu (gạch block) 78
Hình 5.5 Cấu trúc thứ bậc các tiêu chí trong lựa chọn VLXD bền vững 85
Hình 5.6 Sơ đồ thứ bậc các nhóm nhân tố 86
Hình 5.7 Sơ đồ thứ bậc các nhóm nhân tố liên quan về môi trường 86
Hình 5.8 Nhập vật liệu A vào mô hình 86
Hình 5.10 Ma trận so sánh cặp giữa các nhóm nhân tố - đánh giá của chủ đầu tư 87
Hình 5.11 Ma trận so sánh cặp giữa các nhóm nhân tố theo đánh giá kết hợp các bên tham gia 88
Hình 5.12 Ma trận so sánh cặp giữa các tiêu chí trong nhóm nhân tố về môi trường – giá trị combined 88
Hình 13 Ma trận so sánh cặp giữa các tiêu chí trong nhóm nhân tố về chi phí –giá trị combined 88
Hình 5.14 Ma trận so sánh cặp giữa các tiêu chí trong nhóm nhân tố về thiết kế/kỹ thuật/thi công –giá trị combined 89
Hình 5.15 Ma trận so sánh cặp giữa các tiêu chí trong nhóm nhân tố về văn hóa-xã hội –giá trị combined 89
Trang 13Hình 5.16 Ma trận so sánh cặp giữa các tiêu chí trong nhóm nhân tố về văn hóa-xã
hội –giá trị combined 90
Hình 5.17 Giá trị chỉ số nhất quán các nhóm nhân tố – giá trị combined 90
Hình 5.18 Giá trị chỉ số nhất quán các tiêu chí trong nhóm liên quan về môi trường – giá trị combined 90
Hình 5.19 Giá trị chỉ số nhất quán các tiêu chí trong nhóm liên quan về chi phí – giá trị combined 91
Hình 5.20 Giá trị chỉ số nhất quán các tiêu chí trong nhóm liên quan về thiết kế/kỹ thuật/thi công – giá trị combined 91
Hình 5.21 Giá trị chỉ số nhất quán các tiêu chí trong nhóm liên quan về văn hóa-xã hội – giá trị combined 92
Hình 5.22 Giá trị chỉ số nhất quán các tiêu chí trong nhóm liên quan khác – giá trị combined 92
Hình 5.23 Tổng hợp trọng số các nhân tố – giá trị combined 93
Hình 5.24 Số liệu đánh giá về ba loại gạch không nung với tiêu chí M1- đánh giá của chủ đầu tư 94
Hình 5.25 Số liệu đánh giá về ba loại gạch không nung với tiêu chí M1 – tổng hợp ý kiến chủ đầu tư, thiết kế, thi công 94
Hình 5.26 Kết quả lựa chọn vật liệu 95
Hình 5.27 Kết quả lựa chọn vật liệu với % các nhóm nhân tố liên quan 96
Hình 5.28 Năm dạng đồ thị phân tích độ nhạy trong Expert choice 97
Hình 5.29 Kết quả lựa chọn vật liệu với nhóm nhân tố môi trường mức 100% 97
Hình 5.30 Kết quả lựa chọn vật liệu với nhóm nhân tố chi phí mức 100% 98
Hình 5.31 Kết quả lựa chọn vật liệu với nhóm nhân tố thiết kế/kỹ thuật/thi công mức 100% 98
Hình 5.32 Kết quả lựa chọn vật liệu với nhóm nhân tố văn hóa – xã hội mức 100% 99
Trang 14Hình 5.33 Kết quả lựa chọn vật liệu với nhóm nhân tố khác mức 100% 99
Trang 15DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VLXD: Vật liệu xây dựng
EFA: Phân tích nhân tố chính (Exploratory Factor Analysic)
AHP: Phương pháp phân tích định lượng (Analytical Hierarchy Process)
ACC: Autoclaved Aerated Concrete
CLC: Cellular Lightweight Concrete
TP.HCM: thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu chung:
Xây dựng là một ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng như trong việc phát triển cơ sở hạ tầng “Xây dựng” là thuật ngữ được sử dụng để mô tả hoạt động tạo
ra cơ sở hạ tầng, cấu trúc thượng tầng và các cơ sở liên quan, bao gồm các công trình kỹ thuật dân dụng và các dự án xây dựng mới (không chỉ giới hạn trong nhóm nhà dân dụng), cũng như duy trì và sữa chữa các cơ sở hiện có [17]
Năm 2016, giá trị sản xuất ngành Xây dựng theo giá hiện hành ước đạt khoảng 1.089,3 nghìn tỷ đồng, tăng 10,4% so với năm 2015 đạt 104% kế hoạch năm; tính theo giá
so sánh năm 2010 đạt khoảng 862,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với năm 2015 Theo giá
so sánh năm 2010, giá trị tăng thêm của ngành Xây dựng năm 2016 đạt khoảng 189,2 nghìn
tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2015, chiếm tỷ trọng 6,19% GDP cả nước (năm 2015 chiếm 5,97% GDP) Tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 36,6%, tăng 0,9% so với năm 2015, đạt 99,5% kế hoạch năm; tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung xây dựng đô thị đạt 100%, quy hoạch phân khu đạt khoảng 75%, tăng 3% so với năm 2015, quy hoạch chi tiết đạt khoảng 35%, tăng 2% so với năm 2015, đều đạt kế hoạch năm; quy hoạch xây dựng nông thôn đạt 99%, tăng 1% so với năm 2015, thấp hơn kế hoạch đề ra là 100% [2]
Ngành xây dựng tạo ra các cơ sở hạ tầng, công trình nhà ở, các công trình kỹ thuật
và các công trình khác… đây là một phần môi trường sống của con người, do đó có ảnh hưởng lớn đến điều kiện sống, phúc lợi và sự phát triển của con người, thông qua đó có các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến phát triển bền vững Ngoài ra, hoạt động xây dựng cũng
sử dụng nhiều nguồn lực tự nhiên, sử dụng đến 50% khối lượng nguyên liệu thô khai thác từ
vỏ Trái Đất, đồng thời tạo ra một lượng đáng kể chất thải khí và rắn, đặc biệt là lượng phát thải khí CO2, gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường cũng như chất lượng sống của con người [7] Xây dựng đã bị cáo buộc gây ra các vấn đề môi trường, từ việc tiêu thụ quá nhiều tài nguyên toàn cầu và các hoạt động xây dựng gây ô nhiễm môi trường xung quanh
và gây cạn kiệt tài nguyên môi trường…[18]
Trang 17Khi bước vào thế kỷ thứ 21, không một ngành công nghiệp nào phải đối mặt với một thách thức lớn hơn ngành xây dựng Đây là thời điểm có sự thay đổi lớn, trong một thị trường ngày càng cạnh tranh và có công nghệ phức tạp Cùng với tiến bộ về kỹ thuật, cần phải cải thiện về môi trường của cả sản phẩm và quy trình Sự bền vững kém ngày càng không thể chấp nhận được đối với khách hàng xã hội và các chuyên gia xây dựng [23]
Vì vậy để đảm bảo có một tương lai an toàn hơn, phồn vinh hơn chỉ có một con đường là giải quyết một cách cân đối các vấn đề môi trường và phát triển theo định hướng phát triển bền vững và xây dựng cũng không nằm ngoại lệ Phát triển bền vững là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ của thế giới và cũng là một mục tiêu hàng đầu trong phát triển
Trang 18(Nguồn: Bài giảng Phát triển bền vững & kiến trúc bền vững – TS.KTS Lê Thị Hồng
Na-Khoa KTXD – Trường Đại Học Bách Na-Khoa Tp.HCM)
* Các nguyên tắc của một xã hội bền vững:
- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất
- Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo
- Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của Trái đất
- Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
- Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
- Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo
vệ
- Xây dựng khối liên minh toàn cầu
Trang 19( Theo chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) trong tác phẩm
“Hãy cứu lấy Trái đất – Chiến lược cho một cuộc sống bền vững” năm 1991)
* Ở các nước phát triển, các quan điểm chính trong việc thực hiện xây dựng bền vững bao gồm:
- Giảm thiểu việc sử dụng các nguồn năng lượng và việc làm suy kiệt các nguồn lực
tự nhiên
- Bảo tồn các khu vực tự nhiên và sự đa dạng sinh thái
- Duy trì chất lượng của môi trường nhân tạo và quản lý môi trường sống (trong nhà) lành mạnh [7]
* Chiến lược xây dựng bền vững:
Xây dựng bền vững là tập hợp các định hướng theo đó một ngành công nghiệp có lợi nhuận và cạnh tranh cung cấp tài sản xây dựng (toà nhà, kết cấu, hỗ trợ cơ cấu hạ tầng
và các khu vực xung quanh) mà:
- Nâng cao chất lượng cuộc sống và mang lại sự hài lòng của khách hàng
- Cung cấp tính linh hoạt và tiềm năng để phục vụ cho những thay đổi của người
sử dụng trong tương lai
- Cung cấp và hỗ trợ mong muốn của môi trường tự nhiên và xã hội
- Tối đa hoá việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực [23]
* Công trình xây dựng định hướng phát triển bền vững, vì vậy cần đáp ứng các nhu cầu sau:
- Công trình có khả năng thân thiện với môi trường
- Công trình tiết kiệm năng lượng
- Công trình sử dụng vật liệu xây dựng có khả năng tái chế, tái tạo sau khi công trình hết hạn sử dụng
- Công trình đảm bảo các điều kiện trước mắt mà không ảnh hưởng đến tương lai
Trang 20- Công trình đảm bảo bền vững về mặt xã hội, sự giàu có về tinh thần và văn hóa,
sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu:
Ngành xây dựng nói chung đang và luôn luôn tạo ra cơ sở vật chất để phát triển đô thị, phát triển quốc gia Sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước không thể thực hiện thi công được nếu ngành xây dựng không khởi sắc Trong nhiều thập kỷ qua, đất nước
đã chuyển mình, đổi mới, hội nhập, … và nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước đã “thay da, đổi thịt” rất nhiều Tuy nhiên, để Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp, hiện đại, còn phải đổi mới hơn nữa, hội nhập trọn vẹn và tất cả các ngành, trong đó ngành xây dựng phải
có bước đột phá – theo hướng bền vững, đó là đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của nhiều thế hệ sau [6]
Ngành công nghiệp xây dựng ngày càng phát triển mạnh mẽ đóng góp lớn vào nền kinh tế cả nước, cũng như phát triển cơ sở vật chất hạ tầng, đáp ứng nhu cầu nhà ở ngày càng hiện đại theo nhu cầu của con người Đô thị hóa ngày càng phát triển, các chất thải của con người ngày càng nhiều góp phần làm biến đổi hệ sinh thái môi trường Do đó, cần phải cân bằng các hoạt động cũng như mục tiêu phát triển làm sao cho hệ sinh thái ổn định trong tất cả các ngành nghề Một tầm nhìn dài hạn dành cho ngành xây dựng là không thể thiếu cho bất kỳ quốc gia nào Vấn đề đặt ra là trong quá trình thiết kế, chuẩn bị xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng, nhà ở phải hướng tới việc phát triển lâu dài không làm ảnh hưởng môi trường và lựa chọn vật liệu xây dựng là một vấn đề cần quan tâm, chú trọng
Trong công tác xây dựng VLXD chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chi phí dự án Theo một số nghiên cứu, VLXD chiếm khoảng 20-50% trong tổng chi phí dự án, đôi khi có thể tăng lên đến 60% Vật liệu là một trong các yếu tố quyết định đến chất lượng, giá thành và thời gian thi công công trình Và tại Iraq, ngành xây dựng được coi là một trong những ngành quan trọng nhất đối với nền kinh tế quốc dân [21]
Xây dựng là một ngành công nghiệp sử dụng khối lượng vật liệu nhiều nhất Đây cũng là ngành sử dụng lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên như cốt liệu, khoáng sản,
Trang 21đất, nước, năng lượng, cây xanh,… lớn nhất để xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông,… Đồng thời ngành này cũng thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải như chất thải rắn, khí gây hiệu ứng nhà kính, tiếng ồn,… gây ô nhiễm môi trường [9]
* Một số ví dụ về xây dựng gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng:
- Amian trong bêtông gây ưng thư phổi
- Hóa chất trong sơn gây ung thư, đột biến gen, dị ứng, mất trí nhớ
- Tấm cách ly (cách nhiệt, cách điện, chống thấm) có thể chứa các sợi thủy tinh và chất formaldehyde gây hại tới sức khỏe nếu bị hít vào phổi
- Gỗ dán có chứa nhiều vụn gỗ, bột gỗ có thể gây hại cho phổi Ngoài ra, các hóa chất dán gỗ có nhiều formaldehyde và một số thành phần độc hại khác gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe
* Một số ví dụ về xây dựng gây ảnh hưởng tới môi trường:
- Sự khai thác bừa bãi các nguyên liệu (rừng, đá, cát, kim loại hiếm,…) dẫn tới cạn kiệt các nguồn tài nguyên và gây hại tới môi trường sống của con người, động vật và thực vật Ví dụ khai thác cát gây sạt lở bờ sông, nhà cửa người dân
ở An Giang,…
- Các vật liệu xây dựng đa số khó phân hủy trong môi trường tự nhiên, khó tái chế Nhiều vật liệu có chứa hóa chất độc hại mà nếu bị thải ra ngoài thiên nhiên
sẽ gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất
- Quá trình sản xuất các vật liệu xây dựng dùng nhiều chất độc hại cho môi trường
- Lãng phí năng lượng trong quá trình sử dụng
* Một số ví dụ về xây dựng gây ảnh hưởng tới xã hội:
- Sử dụng nhân lực chưa đủ tuổi lao động, lao động không giấy phép
- Không thực hiện đầy đủ chính sách lao động đã được luật định
- An toàn lao động và sức khỏe của người lao động chưa được quan tâm đúng mức Hàng năm tại Việt Nam, xây dựng là lĩnh vực có số người chết và bị thương nhiều nhất so với các lĩnh vực khác
Trang 22- Môi trường, nguồn nước, đất bị ô nhiễm gây ảnh hưởng tới sinh thái môi trường, đời sống và sức khỏe cộng đồng dân cư [5]
Từ đó nhận thấy rằng xây dựng ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống con người, môi trường và xã hội Vì vậy, xây dựng bền vững là xu thế thay đổi tất yếu trong lĩnh vực xây dựng hiện nay Để góp phần bảo vệ môi trường sống hiện tại và cho các thế hệ tiếp theo vấn
đề nghiên cứu và sử dụng các loại vật liệu mới thân thiện với môi trường, hạn chế tàn phá thiên nhiên là điều cấp thiết Điều này đặc biệt quan trọng đối với ngành xây dựng [9]
Và trên thế giới đang diễn biến sự thay đổi khí hậu, nóng lên toàn cầu Bên cạnh những đóng góp khác, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên làm vật liệu xây dựng tiêu thụ năng lượng, gây suy thoái môi trường và góp phần làm nóng toàn cầu Các tòa nhà đang tiêu thụ năng lượng lớn nhất và phát thải khí nhà kính ở các nước phát triển và đang phát triển Do đó cần phải có những thay đổi khẩn cấp liên quan đến việc tiết kiệm năng lượng, kiểm soát khí thải, sản xuất và ứng dụng vật liệu xây dựng Cần có những gợi ý về việc sử dụng các nguồn tái tạo, tái chế và tái sử dụng vật liệu xây dựng Và làm thế nào các kiến trúc sư và nhà thiết kế xây dựng có thể làm giảm lượng khí thải carbon phát ra từ vật liệu xây dựng [22] Và để kết hợp chặt chẽ tính bền vững trong quá trình lựa chọn vật liệu đòi hỏi phải đánh giá đến các hậu quả xã hội, kinh tế, kỹ thuật, cảm quan và môi trường của các lựa chọn vật liệu tiềm năng [19]
* Quan điểm xây dựng bền vững của Việt Nam tập trung vào các khía cạnh:
- Sử dụng năng lượng có hiệu quả trong công trình;
- Môi trường sống nhân tạo lành mạnh trong công trình xây dựng;
- Phát triển và sử dụng vật liệu xây dựng phải đảm bảo tính bền vững;
- Đảm bảo vệ sinh môi trường trong các hoạt động thi công xây dựng và giảm thiểu tác động đến môi trường và quản lý chất thải;
- Đô thị hoá bền vững, phát triển các đô thị xanh, phát triển đô thị bền vững [7]
Nhiều tiêu chuẩn lựa chọn được các bên quan tâm, tuy nhiên những tiêu chí chưa được sắp xếp một cách hệ thống, phù hợp với từng loại dự án để phù hợp với định hướng phát triển bền vững Và trên thực tế nhiều quyết định lựa chọn vật liệu được đưa ra mà
Trang 23không có một phương pháp hay thảo luận chính thức, chưa có sự thống nhất giữa các bên tham gia, do đó thường tạo ra xung đột và lãng phí trong quá trình thiết kế [20]
Và có một số định hướng sử dụng các loại vật liệu sản xuất tại địa phương hoặc tái
sử dụng, tuy nhiên điều cần quan tâm là các vật liệu này có tốt hơn cho môi trường hay không, bao gồm mức độ tác động lên môi trường, tính phù hợp với thiết kế, chi phí, nguồn gốc thành phần vật liệu, quy trình sản xuất và phương thức vận tải, và nhiều yếu tố khác Điều này gợi ý sự cần thiết phải phát triển một phương thức lựa chọn vật liệu có tính hệ thống cho phép các kiến trúc sư xác định và ưu tiên các tiêu chí có liên quan để đánh giá được một cách hiệu quả, chính xác và cân bằng giữa các vấn đề kỹ thuật, môi trường, kinh
tế và hiệu suất trong quy trình đánh giá và lựa chọn vật liệu Do đó, để tiếp cận một cách có cấu trúc và toàn diện hơn trong quá trình thiết kế ra quyết định, đồng thời tạo thuận lợi cho việc so sánh và chọn ra loại vật liệu tốt nhất trong các danh mục vật liệu khác nhau, điều quan trọng là người ra quyết định (kiến trúc sư, nhà thiết kế hoặc người chỉ định) phải xem xét toàn diện mọi yếu tố và biến số ảnh hưởng [19]
Hoạt động xây dựng và sản phẩm xây dựng có một tác động đáng kể đến môi trường
và xã hội vì nó tiêu thụ một lượng lớn tài nguyên trong cả hai giai đoạn thi công và vận hành, bao gồm cả năng lượng và nước, và tạo ra chất thải lớn, gây ô nhiễm không khí và nước, và đóng góp khoảng một phần ba tổng lượng thí khải nhà kính Tín hiệu tích cực là, cộng đồng đang bắt đầu nhận ra tác động của các phương pháp xây dựng thông thường và đang chuyển hướng sang phát triển bền vững trong xây dựng [12]
Ở Việt Nam hiện nay, khi lựa chọn vật liệu các bên liên quan chưa có phương pháp khoa học, thường là bàn bạc định tính, kinh nghiệm Hơn thế nữa, khi tham gia quá trình lựa chọn các bên thường không có sự nhìn nhận, phối hợp hiệu quả về lựa chọn vật liệu xây dựng Chưa có giải pháp để phối hợp giữa các bên liên quan: kiến trúc sư tìm và đề xuất các loại vật liệu; quản lý dự án phân tích sự phù hợp và chủ đầu tư cảm nhận lợi ích khi lựa chọn vật liệu định hướng phát triển bền vững
Do đó, để ngành xây dựng hướng tới định hướng phát triển bền vững thì việc lựa chọn vật liệu xây dựng đóng góp vai trò rất lớn để bảo đảm mục tiêu này Với đề tài
Trang 24“Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc quyết định lựa chọn vật liệu trong xây
dựng phát triển bền vững”, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
- Lựa chọn vật liệu xây dựng định hướng phát triển bền vững để làm gì? Có ích lợi như thế nào và tầm quan trọng của việc lựa chọn vật liệu xây dựng? Những thuận lợi, khó khăn nào trong việc lựa chọn vật liệu xây dựng?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu xây dựng hướng đến phát triển bền vững?
- Mô hình phù hợp để lựa chọn vật liệu xây dựng bền vững?
- Các giải pháp nào để các bên tham gia (kiến trúc sư, quản lý dự án, chủ đầu tư) thực hiện lựa chọn vật liệu xây dựng hiệu quả phù hợp với phát triển bền vững?
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu này thực hiện với các mục tiêu:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu xây dựng bền vững
- Đánh giá, xếp hạng, xác định nhóm nhân tố chính của các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu định hướng phát triển xây dựng bền vững
- Xây dựng mô hình lựa chọn vật liệu xây dựng bền vững dựa vào AHP
- Đề xuất các giải pháp lựa chọn vật liệu xây dựng định hướng phát triển bền vững
1.4 Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các chuyên gia về xây dựng định hướng phát triển bền vững; các kiến trúc sư, kỹ sư, nhà thầu, tư vấn, chủ đầu tư có hiểu biết, có quan tâm về vật liệu xây dựng định hướng phát triển bền vững
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Các dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu dự kiến thu thập và phân tích trong thời gian từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện đối với các công trình xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh, trong giai đoạn thiết kế, lên ý tưởng, lựa chọn vật liệu xây dựng cho công trình
Trang 25- Quan điểm phân tích trong nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên quan điểm của các kiến trúc sư, nhà thiết kế, kỹ sư xây dựng và các đơn vị tư vấn thiết kế hướng tới mục tiêu phát triển xây dựng bền vững
Trang 26CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 Các định nghĩa:
2.1.1 Phát triển bền vững:
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học
Phát triển bền vững là “ sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển của thế hệ tương lai” Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội, … phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa
3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội – môi trường [1]
Phát triển bền vững là một khái niệm nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Và xây dựng bền vững được coi là việc ngành xây dựng thực hiện các hoạt động của mình theo hướng phát triển bền vững Do có đặc điểm khác nhau, các quốc gia thuộc hai nhóm phát triển và đang phát triển có những cách tiếp cận khác nhau về phát triển bền vững, từ đó về xây dựng bền vững [7]
2.1.2 Xây dựng:
Xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở Hoạt động xây dựng khác với hoạt động sản xuất ở chỗ sản xuất tạo một lượng
Trang 27lớn sản phẩm với những chi tiết giống nhau, còn xây dựng nhắm tới những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt Tại những nước phát triển, ngành công nghiệp xây dựng đóng góp từ 6-9% Tổng sản phẩm nội địa Hoạt động xây dựng bắt đầu bằng việc lên kế hoạch, thiết kế, lập dự toán và thi công tới khi dự án hoàn tất
và sẵn sàng đưa vào sử dụng [4]
Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình [4]
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác [4]
Xây dựng bền vững được coi là việc ngành xây dựng thực hiện các hoạt động của mình theo định hướng phát triển bền vững Định nghĩa xây dựng bền vững như là “việc sáng tạo và quản lý một cách có trách nhiệm môi trường nhân tạo lành mạnh dựa trên các nguyên tắc về sử dụng nguồn lực hiệu quả và nguyên tắc về sinh thái” được trình bày trong Hội thảo quốc tế lần thứ nhất về xây dựng bền vững năm 1994 tại Tampa, Floria, Mỹ được coi là điểm xuất phát để xem xét khái niệm này một cách chính xác hơn. [7]
Quan điểm xây dựng bền vững của Việt Nam tập trung vào các khía cạnh chính sau:
sử dụng năng lượng có hiệu quả trong công trình; môi trường sống nhân tạo lành mạnh trong công trình xây dựng; phát triển và sử dụng VLXD phải đảm bảo tính bền vững; đảm bảo bảo vệ môi trường trong các hoạt động thi công xây dựng và giảm thiểu tác động đến môi trường của các công trình xây dựng thông qua đánh giá tác động môi trường và quản lý chất rắn; đô thị hóa bền vững, phát triển các đô thị xanh, phát triển bền vững [7]
2.1.3 Vật liệu xây dựng:
Trang 28Vật liệu xây dựng là bất kỳ vật liệu được sử dụng cho mục đích xây dựng Nhiều chất hiện diện trong tự nhiên, chẳng hạn như đất sét, đá, cát, và gỗ, thậm chí cành cây và lá,
đã được sử dụng để xây dựng các tòa nhà Ngoài các vật liệu tự nhiên, nhiều sản phẩm nhân tạo được sử dụng, một số tổng hợp ít hoặc nhiều Sản xuất các vật liệu xây dựng là một ngành công nghiệp được thiết lập ở nhiều nước và việc sử dụng các vật liệu này thường được tách ra thành các ngành nghề chuyên môn cụ thể, chẳng hạn như nghề mộc, cách nhiệt, hệ thống ống nước, và công việc lợp mái Chúng cung cấp thành phần của nơi sinh hoạt và các cấu trúc bao gồm cả nhà [3]
2.1.4 Vật liệu hướng đến xây dựng bền vững:
Một vật liệu bền vững là: không làm triệt tiêu (không làm cạn) các tài nguyên (tự nhiên) không thể tái tạo, việc sử dụng không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Trên thực
tế thì hai mục tiêu này không đạt được, nhưng định hướng là:
Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên bằng cách:
- Tránh sử dụng các vật liệu khan hiếm (không tái tạo), như than bùn và đá vôi bị phong hóa
- Tạo ít chất thải
- Sử dụng vật liệu tái tạo…
Sử dụng vật liệu xây dựng giảm tác động đến môi trường bằng cách:
- Sử dụng vật liệu ít tốn kém năng lượng để sản xuất
- Vật liệu ít tốn kém vận chuyển
- Ngăn chặn chất thải đi vào bãi chôn lấp
- Thiết kế và xây dựng các vật liệu dễ dàng tái sử dụng và tái chế khi công trình hết hạn sử dụng
- Tiết kiệm năng lượng, giảm khí thải [27]
Ngoài ra, còn có một số ý kiến:
- Tận dụng các nguyên vật liệu có sẵn từ thiên nhiên và địa phương sẽ giảm tối đa chi phí sản xuất, vận chuyển
Trang 29- Cần quản lý việc khai thác những vật liệu mà sự khai thác ảnh hưởng tới môi trường sinh thái (ví dụ: gỗ)
- Vật liệu phải bền và đảm bảo được các yêu cầu kỹ thuật trong thiết kế
- Vật liệu có thể tái sử dụng hoặc tái chế được Ví dụ: tái chế thép trong bêtông cốt thép; bê tông qua sử dụng có thể được đập nhô ra để đắp đường
- Không có chất độc hại tới môi trường và người sử dụng
- Tuổi thọ của vật liệu xây dựng trong một chi tiết phải phù hợp và thống nhất với các chi tiết khác (tuân theo khái niệm xuống cấp đồng thời) [5]
2.2 Các nghiên cứu trước đây:
++ Ở nước ngoài:
Grace nói rằng ngành xây dựng là một trong những ngành sử dụng nhiều tài nguyên
và cũng là một trong những ngành gây ra ô nhiễm lớn nhất cho môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo Xã hội không chỉ quan tâm đến tăng trưởng và phát triển kinh tế mà còn quan tâm đến những ảnh hưởng lâu dài đến mức sống của thế hệ hiện tại và tương lai Sự phát triển bền vững chắc chắn là vấn đề quan trọng trong các quyết định của dự án [18]
Theo Ibuchim Ogunkah and Junli Yang (2012), lựa chọn vật liệu là một công việc phức tạp và tinh tế đòi hỏi sự cân nhắc trên một số lượng lớn các lựa chọn vật liệu hiện có Người kiến trúc sư cần xem xét rất nhiều yếu tố khi cân nhắc giữa các nhóm vật liệu xây dựng khác nhau Để giúp cho quá trình lựa chọn vật liệu được dễ dàng hơn, bài viết này nhắm vào một khía cạnh của các mục tiêu nghiên cứu: các yếu tố hoặc biến số liên quan cần thiết để phát triển một quy trình lựa chọn vật liệu có tính hệ thống và hiệu quả Bài báo thảo luận về việc áp dụng các tiêu chí để đánh giá định lượng và lựa chọn vật liệu xây dựng thay thế tốt nhất, sử dụng mô hình AHP (Analytic Hultarchy Process) Mục đích là để phát triển
bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định dựa trên sự phân tích nhiều yếu tố để giúp các kiến trúc sư xem xét các hệ quả của từng lựa chọn nhằm đánh giá vật liệu đó có khả năng hướng tới mục tiêu bền vững hay không [19]
Một nghiên cứu của Paz Aroyo et al, các đội thiết kế phải có nhiều quyết định trong việc thiết kế tòa nhà, bao gồm cả việc chọn vật liệu Bên cạnh những sản phẩm và vật liệu
Trang 30xây dựng ngày càng tăng và sự tham gia của nhiều cổ đông, việc đưa ra quyết định phức tạp hơn, quan tâm hơn đến khía cạnh môi trường và xã hội trong sự lựa chọn của họ Nghiên cứu này cung cấp một cách tiếp cận có hệ thống cũng như những lời khuyên thiết thực cho các nhà ra quyết định phương pháp lựa chọn theo lợi thế (CBA), tạo môi trường minh bạch
và hợp tác để đưa ra quyết định Bài báo này đóng góp vào vốn kiến thức chung bằng cách
mô tả cách sử dụng CBA để (1) tích hợp nhiều quan điểm, (2) xác định các yếu tố bền vững
có liên quan, (3) tạo ra sự minh bạch trong thương mại, (4) ghi lại lý do quyết định, (5) tách riêng giá trị khỏi chi phí, (6) tổ chức các yếu tố phụ thuộc vào vị trí, và (7) kết hợp các vấn
đề về chuỗi cung ứng CBA là một phương pháp có giá trị bổ sung vào hộp công cụ của các đội thiết kế xác định chọn vật liệu bền vững toàn cầu [20]
Đối tượng nghiên cứu chính của Dr Entisar K Al-Geelawee et al, là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu xây dựng theo nguyên tắc bền vững Nghiên cứu gồm có hai giai đoạn, giai đoạn đầu tiên bao gồm nghiên cứu lý thuyết về vật liệu xây dựng bền vững và đặc điểm của chúng; giai đoạn thứ hai bao gồm một nghiên cứu thực tế
để xác định tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu xây dựng Kết quả nghiên cứu thực tế cho thấy các tiêu chí môi trường có tầm quan trọng cao so với các tiêu chí kinh tế trong số các yếu tố đã được xác định, và các tiêu chí xã hội được ưu tiên hàng đầu trong việc lựa chọn vật liệu xây dựng Đề xuất phương pháp việc sử dụng các phương pháp ra quyết định đa tiêu chí và AHP trong việc lựa chọn vật liệu xây dựng [21]
Nghiên cứu của Peter và Paul được tiến hành bằng cách sử dụng các tài liệu nghiên cứu về sự bền vững, tham khảo ý kiến của chuyên gia, phát bảng câu hỏi khảo sát và phân tích thống kê dữ liệu Có tổng cộng 490 bảng câu hỏi được gửi tới người tham gia gồm 390 kiến trúc sư và 100 nhà thiết kế xây dựng Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS và excel để phân tích dữ liệu Kết quả phân tích cho thấy có sáu yếu tố tiềm ẩn từ các tiêu chí: có hai yếu tố nằm trong nhóm kinh tế - xã hội (chi phí vòng đời và lợi ích xã hội), ba yếu tố nằm trong nhóm môi trường (tác động môi trường, hiệu quả nguồn tài nguyên và giảm thiểu chất thải) và yếu tố còn lại thuộc nhóm kỹ thuật (khả năng thực hiện) Các yếu tố bắt nguồn từ cuộc khảo sát thông qua ý kiến chuyên gia, chúng tượng trưng cho các tiêu chí bền vững nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội, kỹ thuật và môi trường trong việc đánh giá và lựa chọn vật
Trang 31liệu xây dựng Nghiên cứu này chỉ là bước khởi đầu theo hướng xây dựng mô hình hỗ trợ quyết định giúp các chuyên gia xây dựng đưa ra các quyết định hợp lý về những hậu quả môi trường của các lựa chọn của họ Giai đoạn tiếp theo sẽ sử dụng các tiêu chí để xây dựng
mô hình hỗ trợ quyết định lựa chọn vật liệu xây dựng bền vững [23]
Theo Kannan Govindan, đô thị hóa toàn cầu đã dẫn tới sự phát triển nhanh chóng trong ngành xây dựng Vì vấn đề về cạn kiệt tài nguyên và mối quan tâm về môi trường, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu khám phá các chiến lược xây dựng bền vững tại UAE Trong các các chiến lược này là việc lựa chọn các vật liệu bền vững đóng vai trò quan trọng trong môi trường tòa nhà Mục đích chính của bài báo này là đánh giá vật liệu xây dựng bền vững tốt nhất dựa trên các chỉ số bền vững thông qua phương pháp tích hợp ra quyết định MCDM với sự kiểm tra đặc biệt của UAE Vật liệu tốt nhất được đánh giá bằng phương pháp tích hợp ra quyết định MCDM bao gồm: DANP và TOPSIS Những kết luận chính của nghiên cứu này được tóm tắt như sau: (i) Các chỉ tiêu bền vững được lựa chọn để chọn vật liệu xây dựng bền vững tốt nhất; (ii) Chỉ số bền vững nhất là khả năng tái chế và tái sử dụng; (iii) Vật liệu bền vững phù hợp nhất được tìm thấy như gạch len trong số các lựa chọn khác [28]
Theo Robin Spence and Helen Mulligan ngành xây dựng cùng với các ngành công nghiệp vật liệu khai thác rất nhiều tài nguyên thiên nhiên Do đó, ngành công nghiệp này đóng góp rất lớn vào con đường phát triển không bền vững của nền kinh tế toàn cầu Để giảm sự không bền vững môi trường của hoạt động xây dựng trên toàn thế giới, cần tìm ra cách giảm bớt nguyên liệu đầu vào, vận hành hiệu quả hơn về nguồn tài nguyên, tìm ra các vật liệu thay thế gây hại cho môi trường ít hơn, kéo dài tuổi thọ của công trình Một số thay đổi cần thiết để đạt được các mục tiêu này là: tăng cường nghiên cứu sử dụng các chất thải khoáng sản và nông nghiệp, đặc biệt là nghiên cứu chứng tỏ việc sử dụng các loại vật liệu này là có hiệu quả; giảm sử dụng vật liệu trong thiết kế và xây dựng, xem xét năng lượng thể hiện trong thiết kế, giảm việc sử dụng vật liệu lãng phí trên công trường cũng như tận dụng các loại vật liệu có thể tái chế, thiết kế xem xét việc sử dụng các loại vật liệu có thể tái chế, nâng cao khả năng thích ứng và tuổi thọ của công trình; giảm sử dụng năng lượng trong các tòa nhà trong suốt vòng đời của công trình, tránh việc vận chuyển vật liệu đi tới công trình quá xa,… Và các chính phủ trên thế giới cần phải có hành động, đồng thời hỗ trợ
Trang 32những thay đổi trong ngành xây dựng và kiểm soát hoạt động môi trường Và bài báo đã lập luận về lâu dài việc áp đặt phí môi trường có thể sẽ hiệu quả hơn trong quy định Các loại phí cần xem xét như thuế thải khí carbon, phí xử lý chất thải,… Mặc dù những phí đó có thể làm gia tăng chi phí xây dựng nhưng chúng sẽ là động lực tốt nhất cho các ngành công nghiệp phát triển các công nghệ có ảnh hưởng thấp cần thiết cho tương lai Các chính phủ các nước cần tăng cường giáo dục về các vấn đề môi trường, đặc biệt trong việc hình thành các chuyên gia và phát triển các chương trình nghiên cứu hiệu quả để phát triển sự hiểu biết mới về các vấn đề và kỹ thuật mới để có biện pháp khắc phục đối với những vấn đề nêu trên [29]
Làm thế nào chúng ta có thể phát triển và sản xuất các sản phẩm bền vững hơn? Lennart đã đánh giá các phương pháp cũng như trình bày các mô hình về cách phát triển các sản phẩm bền vững Đưa ra các phương pháp khác nhau để tạo ra các sản phẩm với tác động môi trường thấp nhất có thể, cũng như các nguyên tắc cho việc phát triển sản phẩm với sự liên quan đặc biệt đến việc lựa chọn vật liệu, thiết kế, các vật liệu đang sử dụng và vật liệu tái chế Đánh giá vòng đời, tác động môi trường, môi trường kinh tế, không gian môi trường, liên lạc thị trường, khía cạnh văn hoá, thời trang và xu hướng cũng được xem xét Các hướng dẫn về phát triển sản phẩm bền vững được trình bày đặc biệt về vật liệu, thiết kế và sinh thái Mô tả về lựa chọn vật liệu và các mô hình thiết kế dựa trên một xã hội bền vững Một tương lai bền vững hơn có thể đạt được bằng cách sản xuất các sản phẩm bền vững hơn giúp giảm bớt tác động đến môi trường Vật liệu và thiết kế luôn là những lĩnh vực rất quan trọng khi phát triển các sản phẩm bền vững hơn Nỗ lực để đạt được sự bền vững hơn là một điều kiện cần thiết nếu chúng ta muốn bảo vệ trái đất cho các thế hệ tiếp theo Sự phát triển, nghiên cứu và phổ biến thông tin sẽ rất quan trọng cho tương lai để nhận được các sản phẩm bền vững hơn, đặc biệt là do nhu cầu thị trường để phát triển các sản phẩm bền vững thành công [30]
Với C Thormark giảm thiểu việc sử dụng năng lượng là một nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng bền vững Hạn chế sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tối đa hoá tiềm năng tái chế là một nhiệm vụ quan trọng khác cần được xem xét Và cần phải quan tâm đến việc lựa chọn vật liệu xây dựng Bài báo này cho thấy sự lựa chọn vật liệu có thể ảnh
Trang 33hưởng đến cả tiềm năng năng lượng và tái chế trong một trong những dự án nhà ở hiệu quả nhất ở Thụy Điển Việc giảm tổng lượng năng lượng sử dụng trong các tòa nhà, điều quan trọng trong giai đoạn thiết kế các tòa nhà không chỉ làm giảm nhu cầu năng lượng hoạt động mà còn chú ý đến việc lựa chọn vật liệu xây dựng cũng như tái chế Và không nên bỏ qua tầm quan trọng của việc bảo trì [31]
Oo và Lim (2011) chỉ ra rằng phần lớn các nhà thầu đã bắt đầu thừa nhận phát triển bền vững là một xu hướng cần được đáp ứng trong tương lai Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa thái độ của các nhà thầu Singapore về phát triển bền vững môi trường [32]
Theo Kibert, một trong những điểm nổi bật của tính bền vững là nhấn mạnh vào tư
duy tầm xa Nó ngầm nhắc đến những tác động của việc ra quyết sách xã hội đương đại mà
có thể có những hậu quả tiêu cực cho các dân tộc tương lai Ngược lại của việc đưa ra quyết định bền vững có thể được gọi là 'ra quyết định một lần', trong đó các đại biểu xem xét quyết định trong điều kiện hạn chế và không đề cập đến những ảnh hưởng về tầm xa Ngay
cả các dự án xanh mà cho là gây ra những tác động môi trường thấp hơn chỉ mang lại những lợi ích ngắn hạn mà không cần quan tâm đến chất lượng cuộc sống của các thế hệ tương lai
Ví dụ, Hội đồng Công trình Xanh Hoa Kỳ đã phát triển một hệ thống đánh giá tòa nhà được biết như là Lãnh đạo trong Thiết kế Năng lượng và Môi trường (LEED), với một khía cạnh
là giảm các hiệu ứng đảo nhiệt bằng cách sử dụng các vật liệu màu sáng cho mái, làm giảm việc xây dựng trong và ngoài nhiệt độ bằng phản xạ bức xạ tới trở lại không gian Thực tiễn dẫn đến việc lựa chọn các vật liệu nhiệt dẻo cho mục đích này, trong khi hiệu quả phản ánh năng lượng, phải được thay thế mỗi 20 năm mà không có khách hàng tiềm năng để tái chế Kết quả tức thì là vấn đề thải bỏ đáng kể Kết quả lâu dài là nguồn tài nguyên cạn kiệt và một lượng lớn chất thải sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của các nhóm tương lai của thế giới Tư duy "không tắt" cơ bản này cũng áp dụng cho một loạt các sản phẩm xây dựng như lót thảm, trần nhà và tường thạch cao Họ có thể có những lợi ích ngay lập tức nhưng tạo ra những vấn đề trong tương lai Một nguyên tắc của việc ra quyết định bền vững sẽ cung cấp một lý do để xem xét lại xu hướng suy nghĩ ngắn hạn, thay thế nó bằng cách tiếp
cận sẽ cung cấp tối đa cả lợi ích ngắn hạn và dài hạn [33]
++ Quan điểm về xây dựng phát triển ở Việt Nam:
Trang 34Phạm Sơn Tùng với bài báo về xây dựng bền vững, cho rằng để tuân theo quy luật của phát triển bền vững, xây dựng bền vững không những phải đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật mà còn phải đáp ứng được các yêu cầu về xã hội, môi trường, sức khỏe, kinh tế Bài báo đã đề xuất một số phương thức giúp phát triển xây dựng bền vững như về khái niệm xuống cấp đồng thời, cần có tiêu chuẩn quốc gia về xây dựng bền vững, vấn đề trong chi phí, thiết kế, vật liệu xây dựng, thi công, sử dụng, bảo dưỡng và phá hủy [5]
Nguyễn Thế Quân, quan điểm về phát triển bền vững, xây dựng trên thế giới và ở Việt Nam, theo bài báo những người hoạt động trong ngành xây dựng cần nhận thức rằng các vấn đề mà việc thực hiện xây dựng bền vững ở các quốc gia phải đối mặt bao gồm các vấn đề về vật chất có liên quan đến nguồn lực, các vấn đề sinh thái có liên quan đến cuộc sống của loài người và các vấn đề xã hội bao gồm các khía cạnh về chính trị - xã hội, kinh
tế - xã hội và văn hóa – xã hội [7]
Trương Quỳnh Châu et al với xây dựng bền vững tại Việt Nam: nhận thức và mức
độ thực hiện, kết quả bài báo cho thấy nhận thức chung về xây dựng bền vững đang được gia tăng trong cộng đồng xây dựng Tuy nhiên, vẫn còn những quan điểm cố hữu còn tồn tại, đặc biệt là việc e ngại chi phí tăng cao do áp dụng các tiêu chuẩn xanh mà chưa xem xét đến lợi ích lâu dài trong cả vòng đời sử dụng công trình Đa số người tham gia cho rằng mức độ thực hiện xây dựng xanh tại Việt Nam đang ở mức thấp, nguyên nhân bởi thiếu các chế tài và quy định rõ ràng từ chính phủ, tiếp theo là sự e ngại về vốn đầu tư tăng cao Vì vậy, cần nhiều nỗ lực hơn nữa để thúc đẩy sự thực hiện xây dựng xanh cũng như khuyến khích các hoạt động và chiến lược hướng đến một môi trường xây dựng bền vững [12]
Theo bài báo về cơ chế phát triển bền vững ngành xây dựng của Nguyễn Văn Hiệp
[6], phát triển bền vững là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới và mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó Phát triển bền vững ngành xây dựng cũng không đi ngoại mục tiêu trên là phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai Nhiều nội dung cần đề cập đến và đề xuất cơ chế để thực hiện, bài báo nêu ra là: công khai, minh bạch các dự án mời gọi đầu tư; công khai, minh bạch của thị trường bất động sản, nét kiến trúc đậm đà bản
Trang 35sắc dân tộc, nguồn nhân lực cho ngành xây dựng phát triển bền vững, vai trò của Hội nghề nghiệp chuyên ngành xây dựng, các cơ chế khác để ngành xây dựng phát triển bền vững
Nguyễn Quang Trung et al, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến công trình xanh tại
Đà Nẵng phát triển bền vững ngày càng được áp dụng rộng rãi và trở thành yêu cầu quan trọng trong các công trình xây dựng trên thế giới, đặt biệt là ở các nước phát triển Việc áp dụng các bộ tiêu chuẩn, các tiêu chí đánh giá về công trình bền vững tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn và thách thức, trong đó tính phổ biến và nhận thức của người dân về tầm quan trọng của phát triển vẫn còn nhiều hạn chế Bài báo này tìm hiểu , xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc quyết định xây dựng công trình xanh tại Đà Nẵng [13]
Tiếp theo là vật liệu “xanh” và bền vững – xu hướng để phát triển xây dựng của Đào Văn Đông, các công trình xây dựng chiếm vị thế quan trọng trong tiến hành xây dựng và phát triển đất nước Hiệu quả kinh tế của một công trình xây dựng tùy thuộc rất nhiều vào tuổi thọ mà nó có thể đạt được nhưng tuổi thọ công trình lại tùy thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn hợp lý các vật liệu có tính bền vững, và với điều kiện khai thác và tác động của môi trường Bài báo đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề quan tâm tới các yếu tố tác động đến môi trường của việc lựa chọn, thiết kế và sử dụng vật liệu trong xây dựng để đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, việc nâng cao độ bền của vật liệu và lựa chọn hợp
lý vật liệu đảm bảo tuổi thọ khai thác lâu dài là việc làm cần thiết [9]
++ Một số loại VLXD bền vững:
- Vật liệu xây gồm có bê tông khí chưng áp, bê tông bọt, gạch trấu,
- Vật liệu lợp: ngói trấu, ngói xi măng cát, tấm lợp nhựa các loại, tấm cách nhiệt túi khí chống nóng,…
- Sản phẩm kính tiết kiệm năng lượng: kính low – E, kính kiểm soát nhiệt, …
- Sản phẩm sơn: sơn Hi-pec
- Gỗ, tre, xi măng xanh
Trang 36CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu:
có kinh nghiệm
Thiết kế bảng câu hỏi và khảo sát thử
Thiết kế bảng câu hỏi chính thức và
khảo sát đại trà
Thu thập dữ liệu từ các bảng câu hỏi
Kết luận
Xử lý và phân tích số liệu khảo sát
Xây dựng mô hình AHP lựa chọn vật tư, vật liệu xây dựng bền vững
Đánh giá và phân tích kết quả
Đề xuất các giải pháp Mục tiêu 1,2
Mục tiêu 3
Mục tiêu 4
Tổng quan các
nghiên cứu và tài
liệu liên quan
Trang 37Quá trình nghiên cứu được tóm tắt ở các bước sau:
- Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Xác định được vấn đề là bước quan trọng đầu tiên vì xác định vấn đề đúng mới có thể tiến hành nghiên cứu đúng
Và mục tiêu là xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật tư, VLXD định hướng phát triển bền vững
- Trên cơ sở các định nghĩa và các kết quả nghiên cứu được tham khảo từ các nghiên cứu trước đây và từ các nhà nghiên cứu và tham khảo ý kiến của chuyên gia về xây dựng bền vững lập danh sách các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn vật
tư, vật liệu xây dựng định hướng phát triển bền vững
- Thiết kế bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi sơ bộ sẽ được thiết kế từ mục tiêu và danh sách các yếu tố được lập, bảng câu hỏi cần được khảo sát thử nghiệm trước khi khảo sát đại trà chính thức Việc khảo sát thử nghiệm thông qua các chuyên gia, những người có kinh nghiệm để được góp ý, chỉnh sửa thành bảng câu hỏi hoàn chỉnh Dữ liệu thu thập về từ các bảng trả lời khảo sát phải đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy và chính xác là cơ sở để phân tích đưa ra kết quả chính xác phù hợp với mục tiêu của nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu: Sau khi chỉnh sửa bảng câu hỏi hoàn thành thì tiến hành khảo sát chính thức và thu thập dữ liệu Các phiếu khảo sát sẽ được phát tới những đối tượng tham gia trong lĩnh vực xây dựng có hiểu biết về phát triển xây dựng bền vững Dữ liệu thu về sẽ được kiểm duyệt và phân tích dữ liệu
- Phân tích dữ liệu: dữ liệu sau khi được nhập và kiểm duyệt sẽ tiến hành phân tích với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS Sử dụng thống kê mô tả để đánh giá mức độ của các yếu tố
- Thiết lập cấu trúc thứ bậc, xây dựng mô hình AHP (với sự hỗ trợ của phần mềm expert choice) về việc chọn VLXD định hướng phát triển bền vững
- Đề xuất các giải pháp để giúp các bên liên quan (Chủ đầu tư, thiết kế, thi công, ) tham gia thực hiện lựa chọn VLXD định hướng phát triển bền vững
- Kết luận
Trang 383.2 Thu thập dữ liệu
3.2.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn VLXD định hướng bền vững
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn VLXD định hướng phát triển bền vững từ các nghiên cứu trước đây, các tài liệu liên quan và ý kiến của các chuyên gia về xây dựng bền vững
Bảng 3.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn VLXD bền vững từ các nghiên
cứu trước, các tài liệu liên quan và ý kiến chuyên gia
Góp phần bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất
lượng sử dụng của VLXD bền vững
[5] [21][23][28]
Khả năng thân thiện với môi trường của VLXD
bền vững (bảo vệ và giảm tác động có hại tới
môi trường, )
[5] [7] [9] [12] [19] [21][23]
[27] [29] [30]
Đáp ứng quy định/yêu cầu về vệ sinh môi
trường, quản lý chất thải trong các hoạt động thi
Giảm thiểu việc sử dụng các nguồn năng lượng
(công trình tiết kiệm năng lượng)
Trang 39Chi phí bảo quản vật liệu khi công trình sử dụng
Đảm bảo yêu cầu kỹ thuật về các tính năng:
cách âm, cách nhiệt, chống ẩm, chống cháy,…
[5] [19][21] [23][28]
Sự quen thuộc, kinh nghiệm của nhà thầu thi
công với VLXD bền vững được lựa chọn
Chuyên gia
Sự đáp ứng về tay nghề của công nhân khi công
trình sử dụng VLXD bền vững
[23], Chuyên gia
Khả năng đáp ứng về máy móc, thiết bị của đơn
vị thi công khi xây dựng với VLXD bền vững
Hệ thống kiểm soát chất lượng của nhà thầu thi
công khi công trình sử dụng VLXD bền vững
[5], Chuyên gia
Khả năng bảo trì công trình khi sử dụng VLXD
bền vững
[19][23][31]
Trang 40Biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường
của đơn vị thi công công trình sử dụng VLXD
bền vững
[5] [7] [21]
Sự hiểu biết về loại VLXD bền vững (dự kiến
được sử dụng) của chủ đầu tư, Ban Quản lý Dự
Án, đơn vị Thiết kế, Nhà thầu Thi công
Chuyên gia
Các quan điểm, sở thích thẩm mỹ, thị hiếu của
khách hàng
[19][21][30]
Cơ chế chính sách của cơ quan nhà nước, chính
quyền địa phương đối với việc sử dụng VLXD
bền vững cho các công trình (định hướng, sự
ủng hộ, )
[5][19][29]
Các vấn đề về an toàn lao động và sức khoẻ của
người lao động, người dân xung quanh công
Góp phần nâng cao ý thức của người dân về vấn
đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Chuyên gia
Khuyến khích phát triển các ngành nghề liên
quan đến VLXD bền vững tại địa phương
Chuyên gia
Sự thống nhất (có sự đánh giá và phối hợp hiệu
quả) về tiêu chí lựa chọn VLXD bền vững giữa
các bên liên quan (Ban Quản lý dự án, chủ đầu
tư, thiết kế, nhà thầu, )
[20]
Khả năng sử dụng linh hoạt của loại VLXD bền
vững cho nhiều công trình tương tự khác
Chuyên gia
Khả năng phù hợp với khí hậu khắc nghiệt của
vùng miền (mưa, nắng nóng, ) của VLXD bền
vững
Chuyên gia
Những vấn đề chưa đáp ứng hoàn toàn của
VLXD bền vững gây khó khăn khi sử dụng cho
công trình (ví dụ gạch không nung gây nứt
Chuyên gia