1. Trang chủ
  2. » Toán

Khu du lịch “Công Viên Biển Xanh” huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa những thách thức đối với đa dạng sinh học trong phát triển bền vững

11 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 217,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế Khu du lịch “Công Viên Biển Xanh” được cấp phép đầu tư xây dựng tại xã Hải Bình và quần đảo Hòn Mê (huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa), đây là một trong số không nhiều khu du[r]

Trang 1

Khu du lịch “Công Viên Biển Xanh” huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa những thách thức

đối với đa dạng sinh học trong phát triển bền vững

Lê Trần Chấn Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học Trần Thị Thúy Vân

Viện Địa lý

Phát huy thế mạnh, tiềm năng lợi thế về cảnh quan, điều kiện tự nhiên của tỉnh Thanh Hóa nói chung của khu vực huyện Tĩnh Gia nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi phát triển du lịch Chính vì thế Khu du lịch “Công Viên Biển Xanh” được cấp phép đầu tư xây dựng tại xã Hải Bình và quần đảo Hòn Mê (huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa), đây là một trong số không nhiều khu du lịch hấp dẫn của Việt Nam, có bãi biển đẹp (thoải, nước trong, cát mịn), có vùng triều, rạn san hô nhiều màu sắc, có núi (đa dạng phong phú về thành phần loài)…Đây sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước

Tuy nhiên để đi vào khai thác, phát triển bền vững thì bên cạnh cũng là những thách thức đối với đa dạng sinh học ở vùng biển này.Trên cơ sở phân tích hiện trạng, tiềm năng đa dạng sinh học khu du lịch từ đó đưa ra biện pháp giảm thiểu tránh những tác động tiêu cực của Công viên du lịch biển xanh đối với đa dạng sinh học trong phát triển bền vững

"Blue Sea Park" resort in Tinh Gia district, Thanh Hoa province, and thechallenges for

biodiversity in sustainable development

Tinh Gia district in particular, as well as Thanh Hoa province in general, hasgreat advantages

of landscape and natural conditions for tourism development Profited by these, the "Blue Sea Park" resort has been permitted to be constructed in Hải Bình commune and Hòn Mê archipelago (Tinh Gia district, Thanh Hoa province), where is one of the most attractive placesin Vietnam with beautiful gentle beach, clear water and fine sands, colorful coral reefs, mountains (diversity of species composition), etc This will be a destination attracting both domestic and foreign tourists

However the putting in operation of “Blue Sea Park" resortmay result in some adverse effects

on biodiversity, especially marine biodiversity, in the area Based on analyses of current and potential biodiversity, several measures are proposed to mitigate these effects for sustainable development

Trang 2

1 Mở đầu

Khu du lịch “Công Viên Biển Xanh” là khu du lịch sinh thái cao cấp với sản phẩm du lịch là nghỉ dưỡng, kinh doanh nhà hàng ăn uống các đặc sản biển, dịch vụ tham quan các hòn đảo nhỏ thuộc đảo Hòn Mê bằng thuyền du lịch Khu du lịch “Công Viên Biển Xanh” gồm 2 khu vực:

Khu vực 1: Khu vực đất liền thuộc thôn Tân Vinh, Tân Hải và Nam Hải thuộc xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa Khu vực này để xây dựng khách sạn, nhà hàng, biệt thự nghỉ dưỡng, nhà ở liền kề

Khu vực 2: Khu vực quần đảo Hòn Mê, khu vực này gồm 9 đảo lớn nhỏ khác nhau, trong đó đảo chính là Hòn Mê diện tích khoảng 420ha, cách đất liên khoảng 10km về phía nam tỉnh Thanh Hóa Đây là một trong 16 khu bảo tồn thiên nhiên biển được đề xuất trong quy hoạch

hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2020 Khu vực này nhằm thực hiện việc nuôi trồng thủy hải sản kết hợp với dịch vụ tham quan, khám phá thiên nhiên tại các đảo gồm Hòn Bung,

2 Hòn Diêm, Hòn Cháy, Hòn Ruộc, Hòn Miệng, Hòn Buồm, 3 Hòn Sổ, Hòn Sập, Hòn Nếu trong, Hòn Nếu ngoai, Hòn Bò, Hòn Vàng, Hòn Sảnh, Hòn Đót Tổng diện tích khoảng 459ha mặt nước Khu đảo sẽ được đầu tư xây dựng các trạm dừng nghỉ, các khu nhà ở, nhà quản lý nuôi trồng thủy sản

Có thể khẳng định đây là một trong số không nhiều khu du lịch của nước ta hội tụ được nhiều yếu tố hấp dẫn du khách như bãi biển đẹp, thoải, nước trong, cát mịn; có núi với đỉnh cao nhất là 261m so với mực nước biển, được che phủ bởi thảm thực vật rừng phong phú, đa dạng, vùng triều có rạn san đá, rạn san hô nhiều màu sắc, độ sâu tới 20m Công Viên Biển Xanh sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với du khách ngoài ra còn tạo thêm sản phẩm dịch vụ

du lịch cho tỉnh, tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương….Tuy nhiên Công Viên Biển Xanh khi đi vào khai thác, hoạt động không tránh khỏi những tác động đến đa dạng sinh học,

đó cũng chính là những thách thức đối với đa dạng sinh học đặc biệt đa dạng sinh học biển Trên cơ sở phân tích hiện trạng, tiềm năng đa dạng sinh học khu du lịch từ đó đưa ra biện pháp giảm thiểu tránh những tác động tiêu cực ở những khu vực nhạy cảm

2 Tiềm năng đa dạng sinh học (ĐDSH)

Tiềm năng ĐDSH của khu du lịch “Công Viên Biển Xanh” đa dạng phong phú về hệ sinh thái, thành phần loài cụ thể trình bày theo 2 khu vực, như sau:

2.1 Đa dạng sinh học khu vực 1:

a.Hệ sinh thái (HST)

1.HST khu dân cư

HST khu dân cư được đặc trưng bởi một số loài cây trồng để lấy quả như ổi (Psidium guijava), chuối (Musa paradisiaca), na (Annona squamosa), khế (Averrhoa carambola), vú sữa (Chrysophyllum cainito), hồng xiêm (Manilkara zapota); cây làm cảnh: hoa giấy (Brougainvillea spectabilis), bách tán (Araucaria heterophylla), si (Ficus benjamina), phù

Trang 3

dung (Hibiscus mutabilis), ngọc lan vàng (Michelia champaca); cây tạo bóng mát: bàng (Terminalia catappa), phượng vĩ (Delonix regia), gạo đỏ (Bombax ceiba), xà cừ (Khaya senegalensis)…Ngoài cây trồng còn có cây hoang dại như cúc tần (Pluchea indica), dứa dại (Pandanus tonkinensis), cứt lợn (Ageratum conyzoides), núc nác (Oroxylon indicum), ruối (Streblus aspera), cỏ lào (Chromlaena odoratum), cỏ gà (Cynodon dactylon)…

Tham gia vào HST này còn có một số loài động vật nuôi và động vật hoang dã Động vật nuôi chủ yếu là các loại gia cầm, gia súc Động vật hoang dã có một số loài như: chuột

nhà (Rattus flavipectus), chuột nhắt nhà (Mus musculus), chuột đàn (Rattus moniculus), chuột cống (Rattus norvegicus), dơi muỗi xám (Pipistrellus javanicus) Một số loài chim như chào mào (Pycnonotus jocosus), bông lau đít đỏ (Pycnonotus cafer), chích bông đuôi dài (Orthotomus sutorius), sẻ nhà (Passer montanus)… Bò sát có thằn lằn bóng đuôi dài (Mabuya longicaudata), rắn ráo thường (Ptyas korros), rắn nước (Xemochrophis piscata) Ếch nhái có cóc nhà (Bufo melanosticus), ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus), ngóe (Limnoneates limnocharis)…

2.HST rừng trồng

Cấu trúc rừng trồng đơn giản, rừng chỉ một tầng cây gỗ, cây trồng chủ yếu là keo lá

tràm (Acacia auriculiformis), keo tai tượng (Acacia magium), phi lao (Casuarina equisetifolia),…Các loài động vật hoang dã tương tự HST khu dân cư

3.HST trảng cây bụi, trảng cỏ

HST này có ở phần đất liền và trên đảo, diện tích nhỏ không liên tục do chỉ xuất hiện

những mảnh đất hoang hóa chưa sử dụng Các loài cây bụi chủ yếu là sim (Rhodomyrtus tomentosa), mua (Melastoma malabathricum), đơn nem (Maesa amiculata), bồ cu vẽ (Breynia fructicosa), bùng bục trắng (Mallotus alba)…Tầng cỏ gồm một số loài như cỏ may (Chrysopogon aciculatus), cỏ gà (Cynodon dactylon), cỏ lá tre (Microstegium vagans)…

Động vật gồm những loài thú nhỏ, có khả năng lẩn trốn nhanh để tránh bị các loài động vật nuôi và đánh bắt Vì diện tích HST này không lớn do đó các loài động vật hoang dã chỉ có số lượng cá thể rất ít

4 HST rừng thứ sinh cây lá rộng, nhiệt đới đang phục hồi

HST này chỉ có ở trên đảo Hòn Mê, cấu trúc 3 tầng: tầng cây gỗ có chiều cao từ

15-20m, các loài có mặt ở HST này gồm chân chim (Schefflera heptaphylla), sòi tía (Sapium discolor), trôm (Sterculia lanceolata)… phần lớn các loài cây này thân đều có nhiều nhánh

Tầng cây bụi cao 8m gồm một số loài thuộc các họ cà phê (Rubiaceae), trúc đào (Apocynaceae), cam (Rutaceae), ô rô (Acanthaceae), dâu tằm (Moraceae), thầu dầu (Euphorbiaceae)…Rừng đang trong giai đoạn phục hồi nên có nhiều dây leo, phần lớn là thân thảo thuộc các họ khoai lang (Convolvulaceae), bầu bí (Cucurbitaceae), nho (Vitaceae)…,

một số loài dây leo thân gố như dây giom bắc bộ (Melodinus tonkinensis), bàm bàm (Entada pursaetha)…Tầng cỏ quyết có một số đại diện như thông đất (Lycopodium cernuum), quyển

bá đơn bào tử (Sellaginella monospora), cỏ trấu (Apluda mutica), cỏ lá tre (Microstegium vagans)…

b Thành phần loài

Trang 4

1 Thành phần loài thực vật bậc cao có mạch

Các loài thực vật bậc cao có mạch trong vùng dự án được tổng hợptừ các nguồn tài liệu như Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập I đến tập III), Cây cỏ Việt Nam (tập I-III), Đánh giá ĐDSH các HST trên cạn khu vực dự án nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa cùng với khảo sát ngoài thực địa đã thống kê được có 274 loài thuộc 85 họ của 4 ngành Ngành Hạt trần có số loài ít nhất (chỉ có 3 loài), tiếp đến là ngành Thông đất có 4 loài, ngành Dương xỉ có 13 loài, ngành Hạt kín chiếm ưu thế với 254 loài trong đó có lớp Hai lá mầm

-198 loài và lớp Một lá mầm - 56 loài Sự vắng mặt của ngành Khuyết lá thông và ngành Cỏ tháp bút là điều dễ hiểu vì khu vực này không có rừng nguyên sinh và thủy vực nước ngọt, ngành Khuyết lá thông thường có ở các khu rừng nguyên sinh, ngành Cỏ tháp bút thường có ở những nơi có thủy vực nước ngọt

Toàn bộ số loài đã thống kê được đều là những loài có biên độ sinh thái rộng, ưa sáng, mọc nhanh, phổ biến khắp mọi nơi Không phát hiện được loài nào trong khu vực dự án nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN, Nghị định 32/2006 CP và Nghị định 160CP

2 Thành phần loài thú, chim, bò sát và ếch nhái

- Lớp thú có 14 loài thuộc 3 bộ, 7 họ và 11 giống

- Lớp Chim có 34 loài thuộc 3 bộ, 12 họ và 23 giống

- Lớp Bò sát có 6 loài thuộc 4 họ và 5 giống Trong số 6 loài bò sát, đáng chú ý có loài rắn lục mép trắng gặp trên đảo Hòn Mê là loài rắn độc nguy hiểm đối với người

- Lớp Ếch nhái có 8 loài thuộc 1 bộ, 3 họ và 6 giống Các loài ếch nhái đều là những loài phân

bố rộng trên phạm vi cả nước

3 Nguồn gen

Khu du lịch không có nguồn gen cây trồng, vật nuôi cũng như các nguồn gen động, thực vật hoang dã là bản địa, đặc hữu, quý hiếm Vấn đề quan trọng trước mắt và lâu dài chính là phải bảo vệ được thảm thực vật hiện có ở đảo Hòn Mê cũng như các đảo xung quanh,

để một mặt phát triển du lịch sinh thái, mặt khác góp phần làm phong phú tính ĐDSH Thảm thực vật là nơi cư trú, nguồn cung cấp thức ăn, cũng là nơi giữ gìn sự sống an toàn cho tất cả các loài động vật hoang dã Đặc biệt, thảm thực vật còn là yếu tố quan trọng đảm bảo nguồn cung cấp nước ngọt cho đảo

2.2 Đa dạng sinh học khu vực 2:

a Hệ sinh thái

1 HST vùng triều dạng đá

Đây là HST rất quan trọng ở quần đảo Hòn Mê, vùng triều đá chiếm hầu hết diện tích ven đảo, là nơi cư trú của rất nhiều loài sinh vật ven bờ, đặc biệt là nhóm ốc, giáp xác nhỏ và rong biển (Đặng Ngọc Thanh, 1990) Vùng cận triều thường có bào ngư, tôm hùm trong hang hốc Theo người dân cho biết vào tháng 4-5, khi rong biển phát triển cực thịnh, các thảm rong

mơ phủ kín vùng triều và cận triều Xét về tính ĐDSH thì vùng triều là một trong những sinh cảnh có sự ĐDSH cao, đặc biệt là vùng triều dạng đá

Trang 5

HST vùng triều là nơi cung cấp nhiều nguồn lợi kinh tế, cũng là nơi diễn ra sự trao đổi vật chất, năng lượng, tạo nên nguồn sinh khối lớn trong HST

HST vùng triều còn là nơi cung cấp năng suất sơ cấp cho vùng cửa sông, chủ yếu là thảm thực vật bao quanh cửa sông, làm tăng sự đa dạng của các nhóm loài sinh vật biển, bao gồm các loài hai mảnh vỏ, các loài rong, tảo biển…

Ngoài ra, HST vùng triều còn có vai trò to lớn, quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ ĐDSH

Có thể khẳng định, HST vùng triều đã góp phần quan trọng, là nền tảng, nguồn gốc cho việc hình thành và phát triển các HST vùng ven bờ

2 HST rạn san hô

Đây là HST quan trọng nhất của biển nhiệt đới, HST rạn san hô có năng suất sinh học

và tính đa dạng thuộc loại cao nhất trong các HST hiện có ở nước ta Đặc biệt, HST rạn san

hô có vẻ đẹp quyến rũ, tạo nên tiềm năng to lớn về du lịch Rạn san hô không chỉ cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao mà còn có giá trị lớn trong việc bảo tồn nguồn giống ven

bờ, tạo ra nguồn vật chất hữu cơ giàu có cung cấp cho chuỗi thức ăn của vùng biển ven bờ (Võ Sĩ Tuấn và nnk, 2005) Vùng quần đảo Hòn Mê có 36 loài san hô tạo rạn phân bố, nhiều chỗ chúng phát triển tập trung thành rạn kiểu patch reè (mảng đá ngầm) Trước năm 1993, san

hô đảo Hòn Mê phát triển khá tốt, kể cả nhóm san hô dạng cành là Acropora Sau một thời gian khảo sát lặp lại thấy rạn san hô đang bị suy thoái nghiêm trọng Nguyên nhân của quá trình suy thoái này có thể có nhiều nhưng rõ nhất là do hoạt động nổ mìn và còn có thể do hoạt động của nghề khai thác câu cá rạn Dây câu và lưỡi câu thường vướng vào các cành san

hô Mỏ neo thuyền câu cũng gây tổn thất không nhỏ Vì thể, nhiều vùng rạn san hô chỉ còn tồn tại nhóm san hô dạng khối thuộc giống Porites, phát triển khá tốt, tạo ra nơi sống rất thích hợp cho các loài cá chuyên sống hang hốc Đây cũng là một trong những lý do để giải thích vùng biển quần đảo Hòn Mê có nhiều cá song, cá mú Tuy nhiên, như đã nêu nếu không có các biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ các rạn san hô ở đây thì trong tương lai không xa nguồn lợi này sẽ bị ảnh hưởng (Viện Tài nguyên và Môi trường biển, 2009)

b Thành phần loài

1 Thành phần loài thực vật phù du

Đã xác định được khu hệ thực vật phù du vùng biển quần đảo Hòn Mê có 133 loài và dưới loài thuộc 53 chi, 31 họ, 10 bộ, 4 lớp và 4 ngành

-Ngành tảo Silic (Bacillariophyta) chiếm ưu thế về số loài với 75 loài và dưới loài (chiếm 56,4%) thuộc 32 chi, 15 họ, 2 bộ và 1 lớp Trong ngành tảo Silic các chi có nhiều loài là Chaetoceros 15 loài, Coscinodiscos 10 loài, Rhisozolenia 7 loài, Hemiaulus 3 loài Các chi còn lại chỉ có 1-2 loài

- Ngành tảo Giáp (Pyrrophyta) có số lượng loài lớn thứ hai 54 loài chiếm 40,6% thuộc 18 chi,

13 họ, 6 bộ và 1 lớp Chiếm ưu thế về số lượng loài trong ngành này là các chi Ceratium 13 loài, Protoperidinium 11 loài, Dinophysis 7 loài, Gonyaulax 4loài, Prorocentrum 3 loài Các chi khác chỉ có 1-2 loài

Trang 6

- Hai ngành tảo Kim (Silicoflagellata) và tảo Lam (Cyanophyta) mỗi ngành chỉ có 2 loài chiếm 1,5%

Về tính chất sinh thái của các loài thực vật phù du ở vùng biển Hòn Mê có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau đây:

- Nhóm loài phân bố ở các vùng biển khơi gồm: Coscinodiscus excentricus, C asteromphalus, C oculus-iridus, Asterolampra marylandica, Plamktoniella sol, Rhizosolenia bergonii, R robusta, Chaetoceros peruvianus, Thalassiothrix frauenfeldii…

- Nhóm loài phân bố ở vùng biển ven bờ gồm: Cyclotella striata, C jonesianus var commutata, Lauderia borealis, Leptocylindrus danicus…

- Nhóm loài phân bố rộng cả ngoài đại dương và gần bờ: Coscinodiscus gigas var praetexta, C centralis, C radiatus, Rhizosolenia alta,…

Ngoài ra còn gặp cả những loài thường phân bố ở vùng ôn đới và hàn đới, phát triển

với mật độ khá cao ở vùng biển Hòn Mê như: Chaetoceros socialis, Rhizosolenia delicatula Một số loài thường gặp ở các vùng cửa sông, nước lợ: Skeletonema costatum, Chaetoceros abnormis, Bacteriastrum hyalinum, Campylodiscus echneis…

2 Khu hệ động vật phù du

Tại vùng biển quần đảo Hòn Mê khu hệ động vật phù du đã xác định được 46 loài thuộc 29 giống, 26 họ, 8 bộ và 2 ngành, cụ thể như sau:

- Ngành Ruột khoang (Coelenterata) - 1 loài, chiếm 2,2%

- Ngành Annellida- 1 loài, chiếm 2,2%

- Ngành Chân khớp (Arthropoda) - 38 loài, chiếm 82,6%

- Ngành Hàm tơ (Chaetognatha) - 3 loài, chiếm 6,5%

- Ngành Thân mềm (Mollusca) - 1 loài, chiếm 2,2%

- Ngành Có bao (Tunicata) - 2 loài, chiếm 4,3%

Khu hệ động vật phù du quần đảo Hòn Mê có 4 nhóm sinh thái như sau:

- Nhóm loài biển khơi bao gồm các loài có nguồn gốc biển khơi, có khả năng thích nghi rộng Tuy nhiên, tại vùng biển Hòn Mê số lượng cá thể các loài này không lớn Đó là

các loài Canthocalamus pauper, Acrocalamus gibber, Eucalamus suborassus

- Nhóm loài ven bờ Đây là nhóm loài cơ bản chiếm ưu thế về số loài, số lượng cá thể

Đó là các loài: Paracalamus crasirostris, Centropages furcatus, Pontelina flumata và Sagitta delicata…

- Nhóm loài nước lợ: tuy có số lượng ít, song đó lá những loài đặc trưng cho vùng nước

lợ cửa sông, các loài thường gặp: Tortanus gracilis, Acartia pacifica…

- Nhóm loài phân bố rộng: gồm các loài có khả năng phân bố rất rộng, từ vùng nước lợ

đến nước mặn biển khơi Các loài thường gặp Oithona flumifera, O brevicornis, Corycaens speciosus…

3 Khu hệ rong biển

Trang 7

Rong biển là một hợp phần quan trọng trong nguồn lợi sinh vật biển Ở nước ta, sau năm 1954, Nhà nước đã bắt đầu chú ý đến công tác nghiên cứu rong biển và đạt được những kết quả quan trọng Tuy nhiên ở Hòn Mê còn ít được nghiên cứu, cho đến nay đã xác định được có 8 loài rong biển, trong 8 loài này có 7 loài thuộc ngành Tảo đỏ (Rhodophyta) và một loài thuộc ngành rong Nâu (Phaeophyta)

Theo mô tả của ngư dân, tại vùng biển này có thể có các chi rong biển có ý nghĩa khai thác, sử dụng cao và có sinh lượng lớn, đó là các chi rong mơ (Sargassum), rong guột (Caulerpa), rong đông (Hypnea) và rong mào gà (Laurencia)

Trong số 8 loài rong biển đã biết sự phân bố rộng phụ thuộc vào chất đáy, có 2 loài phân bố ở vùng triều thấp như Polysiphonia fragilis, Lobophora variegata, một số loài phân

bố rất rộng là Peyssonnelia calcea, Lobophora variegata Có 4 loài thuộc họ Corallinaceae

(Corallina officinalis, Lithophyllum okamurai, Lithothamnion erubescens và Hydrolithon reinboldii) thường gặp ở những nơi có đáy tương đối bằng phẳng, có nhiều vỏ sinh vật chết và

nước khá trong

4 Khu hệ san hô

Theo kết quả đã được công bố hiện nay tại vùng biển quần đảo Hòn Mê (Viện Tài nguyên và Môi trường biển, 2009) lớp san hô Anthozoa có 56 loài thuộc 30 giống, 14 họ, 4

bộ Trong số 4 bộ đã thu được mẫu, bộ san hô Cứng (Scleractinia) có tới 49 loài, chiếm tới 87,5% tổng số loài, bộ san hô Mềm (Clcyonacea) và bộ san hô Sừng (Gorgonacea) mỗi bộ có

3 loài (5,4%), bộ san hô đen (Anthipatharia) chỉ có loài dạng roi (1,8%)

Trong bộ san hô Cứng, họ có nhiều giống, loài nhất là họ san hô Khối (Faviidae) có 15 loài, 7 giống Xếp thứ hai là họ Acroporidae có 13 loài, 3 giống, tiếp theo là họ Poritidae có 6 loài 3 giống, họ Dendrophyllidae có 5 loài 3 giống, họ Mussidae có 3 loài 2 giống, các họ có 1 loài là Siderastreidae, Oculinidae và Merulinidae

Sự phân bố thành phần loài trên vùng biển quần đảo Hòn Mê rất khác nhau, nhiều nhất

ở Khe Khế (mặt tây của Hòn Mê) có 33 loài, chiếm 58,9% tổng số loài, đứng thứ hai là vụng Sồi có 26 loài (46,4%), đứng thứ ba là Hòn Miệng có 18 loài (32,1%), thứ tư là tây bắc Hòn

Mê có 9 loài (16,1%), ít nhất là vụng Nhà Đen chỉ có 6 loài (10,7%)

Hiện nay, kết quả khảo sát cho thấy, độ phủ san hô ở quần đảo Hòn Mê tương đối thấp, chỉ dưới 30% Nhìn chung rạn san hô ở vùng biển quần đảo Hòn Mê đang trong tình trạng suy thoái Tỉ lệ độ phủ san hô sống chủ yếu thuộc nhóm loài dạng khối (các giống Porites, Favia, Favites và Goniopora) Phía tây bắc có sự xuất hiện khá phong phú của nhóm san hô mềm (giống Sarcophyton), hình thành các tập đoàn khá lớn (đường kính tới 20-30m), phủ kín từng vạt kiểu da báo có diện tích từ 5-10m2

Trên các đám san hô chết (dạng cành gãy vụn) thường xuất hiện nhiều cầu gai và các loài rong sợi, rong vôi

Nhìn chung các rạn san hô ở Hòn mê đều nhỏ (trừ một số bãi ngầm rộng ở các vùng lân cận), hình thái không điển hình Có thể hình dung đó là các vạt rộng vài ba chục mét có độ sâu 6-7m ven theo bờ đảo San hô cành không nhiều San hô khối khá phát triển, chủ yếu là

Trang 8

tập đoàn dạng khối thấp Tuy nhiên, có thể gặp ở vùng biển Hòn Bảng nhiều tập đoàn Porites kích thước lớn

5 Khu hệ động vật đáy

Theo những tài liệu đã công bố, các loài động vật đáy ở quần đảo Hòn Mê thuộc 4 nhóm chính gồm: Giun đốt Annelida, Giáp xác Crustaceae, Thân mềm Mollusca và Da gai Echinodermata

Đã phát hiện được 141 loài thuộc 102 giống, 66 họ bao gồm:

- Ngành Giun đốt Annelida có lớp Giun nhiều tơ Polychaeta có 19 loài, 14 giống, 11 họ

- Ngành Chân đốt Arthropoda có lớp Giáp xác Crustacea có 19 loài, 18 giống, 11 họ

- Ngành Thân mềm Mollusca có 95 loài, 61 giống, 36 họ

- Ngành Da gai Echinodermata có 8 loài, 8 giống, 7 họ

Xét về cấu trúc thành phần loài động vật đáy của vùng biển quần đảo Hòn Mê cho thấy: Ngành Thân mềm có thành phần phong phú nhất chiếm 67,3% tổng số loài, hai ngành Giáp xác và Giun nhiều tơ có số loài đứng thứ 2 chiếm 13,5% tổng số loài Ngành Da gai có

số loài ít nhất chỉ có 5,7%

Xét về taxon bậc giống cho thấy, ngành Giun nhiều tơ có 1 giống Eucine đạt số loài cao nhất 3 loài Ba giống khác (Arbella, Chloeia, Amnotrypane) mỗi giống có 2 loài Số còn lại mỗi giống chỉ có 1 loài

Với 141 loài động vật đáy phát hiện được, chứng tỏ nguồn gen sinh vật đáy của vùng biển quanh đảo thuộc quần đảo Hòn Mê rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là có đến 95 loài thuộc ngành Thân mềm

Ngoài sự phong phú và đa dạng nguồn gen, khu hệ sinh vật đáy ở đây còn có nhiều

loài có giá trị kinh tế cao như: bào ngư hình bầu dục (Haliotis ovina), ốc xà cừ (Tubo marmoratus), vạm xanh (Mytilus viridis), sút (Anomalocardia squamosa), ngọc trai môi vàng (Pinctada margaritifera) Bên cạnh giá trị cung cấp thực phẩm, nhiều loài còn có giá trị làm

đồ mỹ nghệ dùng để khảm xà cừ như bào ngư, vẹm, trai ngọc, ốc đụn… Một số loài khác có

giá trị mỹ nghệ trực tiếp nhờ hình thù kỳ dị, độc đáo như ốc đụn (Trochs), ốc xà cừ (Turbo),

ốc bông (Cypraea), ốc gai (Muricidae), ốc tù và (Hemifusus tuba)…

6 Khu hệ cá

- Khu hệ cá rạn san hô

Theo kết quả nghiên cứu nhiều năm được công bố khu hệ cá san hô vùng biển quần đảo Hòn Mê (Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Văn Quân, 2005) có 55 loài thuộc 40 giống và 23 họ

Số loài cá tập trung chủ yếu vào họ cá Thia (Pomacentridae), chiếm khoảng 50% tổng số loài, tiếp theo là họ cá Sơn (Apogonidae) khoảng 25%, họ cá Sơn đá (Holocentridae) khoảng 20%, các họ còn lại chỉ chiếm khoảng 5%

-Khu hệ cá ngư trường

Ngư trường quần đảo Hòn Mê có hầu hết các loài cá kinh tế ở vịnh Bắc Bộ, đáng chú

ý có một số loài có tỉ trọng tương đối lớn về sản lượng như cá phèn 2 sọc (Upeneus

Trang 9

sulphureus) chiếm tới 24,45% tổng sản lượng đánh bắt được Cá Úc (Arius) chiếm 6,95%, cá phèn khoai (Epeneus sinensis) chiếm 4,21%, cá lượng ngắn (Nemipterus sp.) chiếm 3,57%, cá mối thường (Saurida tumbil) chiếm 3,2% Các loài cá này vừa có kích thước tương đối lớn,

vừa có mật độ tương đối cao so với các loài cá đáy khác, vì vậy chúng đóng vai trò quan trọng đối với ngư dân vùng biển Hòn Mê

3 Những thách thức đến đa dạng sinh học

Với tốc độ phát triển du lịch của tỉnh Thanh Hóa nói chung, du lịch biển nói riêng và đặc biệt là du lịch Công Viên Biển Xanh ở xã Hải Bình và quần đảo Hòn Mê thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ước tính sẽ:

Gia tăng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có sự gia tăng sử dụng và khai thác tài nguyên sinh vật, gia tăng khối lượng lớn các chất thải nhằm phục vụ phát triển

du lịch biển

Gia tăng lưu lượng khách du lịch đến tham quan nghỉ ngơi có thể gây ảnh hưởng đến các loài động thực vật cũng như hệ sinh thái làm ô nhiễm môi trường biển

Tàu thuyền đi lại nhiều giữa đất liền đến Hòn Mê và các đảo nhỏ xung quanh sẽ có lượng lớn nước thải đổ xuống biển sẽ gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển

Lượng dầu mỡ tàu thuyền thải ra có thể đe dọa đời sống của rạn san hô và các loài thủy sinh vật

Những hành vi do thiếu hiểu biết hoặc thiếu ý thức của du khách và các công ty du lịch có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái san hô như thả neo vùng rạn san hô gây phá hủy san

hô, xả rác ra vùng có san hô phân bố

Nhu cầu tiêu thụ hải sản quý hiếm tăng lên sẽ tăng sức ép khai thác lên các khu vực bãi tắm nếu không quản lý tốt cũng có thể ảnh hưởng đến rạn san hô

Những hoạt động thể thao giải trí dưới nước như mô tô nước, nhảy dù nước, lặn biển ngắm san hô cũng có thể gây ảnh hưởng đến rạn san hô

4 Một số giải pháp

Khu vực trên đảo thì trước tiên và lâu dài chính là phải bảo vệ được thảm thực vật hiện

có ở đảo Hòn Mê cũng như các đảo nhỏ xung quanh để một mặt phát triển du lịch sinh thái, mặt khác góp phần làm phong phú tính ĐDSH Thảm thực vật là nơi cư trú, nguồn cung cấp thức ăn, cũng là nơi giữ gìn sự sống an toàn cho tất cả các loài động vật hoang dã Đặc biệt, thảm thực vật còn là yếu tố quan trọng đảm bảo nguồn cung cấp nước ngọt cho đảo

Ở khu vực xây dựng khách sạn, nhà hàng thì cây xanh đóng vai trò rất quan trọng đối với khí hậu và môi trường Cây xanh có tác dụng che nắng, hấp thụ bức xạ mặt trời, giữ bụi

và lọc sạch không khí, giảm tiếng ồn, mặt khác còn tạo cảnh quan thẩm mỹ cho môi trường Với đặc điểm là một khu du lịch cao cấp nên cây xanh cần được quan tâm và tỷ lệ cây xanh sẽ phải đạt được 40% so với tổng diện tích đất của dự án Ngoài ra còn phải quan tâm đến việc trồng loại cây nào để phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và đặc trưng của khu vực

Trang 10

Khu vực xung quanh đảo Hòn Mê và các đảo nhỏ (khu vực mặt nước) chì chủ yếu là các rạn san hô nên rất cần phải bảo vệ không làm ảnh hưởng đến mật độ và chất lượng rạn san

hô cùng với một số loài sinh vật trong quần thể rạn thì cần phải xử lý triệt để tất cả các loại chất thải (nước thải, rác thải) ô nhiễm phát tán ra biển gây ảnh hưởng đến rạn san hô Ngoài ra cần phải giới hạn hoạt động thể thao dưới nước xa bờ như mô tô nước, nhảy dù nước, lặn biển ngắm san hô…

Tăng cường công tác tuyên truyền để du khách có ý thức bảo vệ ĐDSH, đặc biệt đối với một số HST nhạy cảm dễ bị tổn thường như HST rạn san hô

5 Kết luận

Khu du lịch“Công Viên Biển Xanh” tạo ra một khu vui chơi giải trí hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển, có các dịch vụ khép kín, tiện nghi sẽ thu hút được khách tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, phát huy được lợi thế của địa phương sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa gắn liền với bảo vệ an ninh, quốc phòng trên biển đảo

Khu du lịch Công Viên Biển Xanh có nhiều tiềm năng ĐDSH như: ĐDSH khu vực trên đảo và đất liền (đa dạng các HST, đa dạng thành phần loài thực vật, động vật); ĐDSH khu vực quần đảo Hòn Mê (đa dạng các HST, đa dạng loài động thực vật phù du, động thực vật đáy, đa dạng khu hệ cá, đa dạng rạn san hô) Bên cạnh đó sự phát triển khu du lịch cũng sẽ

có những thách thức không tránh khỏi đối với đa dạng sinh học đặc biệt là đa dạng sinh học biển, đó cũng chính những thách thức cho việc bảo vệ đa dạng sinh học trong khu du lịch Để khu du lịch đi vào hoạt động hiệu quả và bảo vệ, phát triển môi trường bền vững nên đưa ra một số giải pháp cụ thể cho từng khu vực

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), 2003-2005 Danh lục các loài Thực vật Việt Nam Tập II-III Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội

2 Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007 Sách đỏ Việt Nam Phần II Thực vật Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội

3 Lê Trọng Cúc (Chủ biên), 2001 Danh lục các loài Thực vật Việt Nam Tập I Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội

4 Lăng Văn Kẻng, 2009 Nghiên cứu hiện trạng rạn san hô quần đảo Hòn Mê, Nghi Sơn, Thanh Hóa Tài liệu lưu trữ Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Hải Phòng

5 Trần Ngọc Ninh, Lê Trần Chấn, 2008 Đánh giá đa dạng sinh học các hệ sinh thái trên cạn khu vực dự án nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa (phần thực vật)

6 Đặng Ngọc Thanh và ctv., 1990 Những đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái vùng triều Bắc Việt Nam Phương hướng sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn lợi Báo cáo đề tài 48B.04.02

Ngày đăng: 28/01/2021, 21:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w