Thực chất của việc xây dựng VHCS là công khai, minh bạch về thủ tục trong giải quyết các công việc cho các tổ chức, công dân, cũng như về các quy định quyền lợi, nghĩa vụ[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN PHƯƠNG ANH
KHO BẠC NHÀ NƯỚC HẢI DƯƠNG VỚI “VĂN MINH, VĂN HÓA NGHỀ” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
_
TRẦN PHƯƠNG ANH
KHO BẠC NHÀ NƯỚC HẢI DƯƠNG VỚI “VĂN MINH, VĂN HÓA NGHỀ” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ MINH CƯƠNG
Hà Nội – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tô i Các số liê ̣u, kết luâ ̣n được đưa ra trong luâ ̣n văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày trong bản luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ
Trần Phương Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ của PGS.TS Đỗ Minh Cương, người đã luôn tận tâm, trách nhiệm, nhiệt tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu của mình
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Đại Học Kinh Tế - ĐH Quốc gia Hà Nội đã tận tình chỉ dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, những người bạn và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, hỗ trợ và động viên tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ
Trần Phương Anh
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [5] - là quan điểm xuyên suốt
trong nhiều văn kiện của Đảng Văn hoá thuộc về kiến trúc thượng tầng của
xã hội, được đặt ngang hàng với chính trị - kinh tế - xã hội và tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội, có quan hệ mật thiết với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển Vì vậy, việc xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc luôn là nguyên tắc, là yêu cầu trong xây dựng các văn bản pháp luật của Nhà nước
Chính trị, xã hội phải được giải phóng thì văn hoá mới được giải phóng Chính trị giải phóng mở đường cho văn hoá phát triển, xây dựng kinh
tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hoá Văn hoá không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị; văn hoá phục vụ chính trị, thúc đẩy và xây dựng kinh tế
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định:
“Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân” Điều đó thể hiện tính văn hoá phải được thể hiện trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
Để triển khai giai đoạn 2 của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2006 - 2010, trong đó xác định việc xây dựng Quy chế Văn hoá công sở (VHCS) là một trong những nội dung của đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở, trong đó đặc biệt chú trọng mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 là 100% cán bộ, công chức (CBCC) hành chính phải được trang bị kiến thức về VHCS
Trang 6Thực chất của việc xây dựng VHCS là công khai, minh bạch về thủ tục trong giải quyết các công việc cho các tổ chức, công dân, cũng như về các quy định quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm CBCC trong hoạt động công vụ; xây dựng lề lối, mối quan hệ làm việc thật sự khoa học, hiệu quả, thiết thực nhằm bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong cơ quan nhà nước; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sự tương trợ, đồng thuận và trách nhiệm của mọi CBCC; xây dựng VHCS nhằm đáp ứng yêu cầu chung của CBCC, đó là được làm việc, được đánh giá, đãi ngộ và phát triển trong môi trường dân chủ, công bằng theo tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không sợ thiếu mà chỉ sợ không công bằng” Mặt khác, xây dựng VHCS còn là một đòi hỏi khách quan đối với Nhà nước trong điều kiện nước
ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
Như vậy, trong phạm vi rộng, văn hoá phải phục vụ chính trị - xã hội, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế, tác động tích cực trở lại đối với kinh
tế - chính trị - xã hội như một động lực quan trọng Còn trong phạm vi hẹp, đối với hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) cũng vậy, văn hoá phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, đáp ứng được nhu cầu cao nhất là hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững truyền thống đoàn kết, không ngừng hoàn thiện và phát triển, thực hiện tốt mục tiêu lâu dài của toàn hệ thống là: “Duy trì ổn định, hoàn thiện chức năng, hiện đại hoá công nghệ, phát triển nguồn nhân lực”
KBNN là một đơn vị hành chính nhà nước, đòi hỏi cũng phải xây dựng VHCS (VHCS) như những đơn vị hành chính khác theo yêu cầu chung của
Đảng, Nhà nước và xã hội KBNN đã ban hành 10 Điều kỷ luật quy định thực
hiện thống nhất trong toàn hệ thống, trong đó có Điều 8 quy định mọi CBCC KBNN phải thực hiện “Văn minh, văn hoá nghề Kho bạc” Tuy nhiên, chưa
có văn bản nào quy định Văn minh, văn hóa nghề kho bạc là như thế nào nên
Trang 7mỗi nơi, mỗi CBCC hiểu khác nhau, việc chấp hành và kết quả cũng khác nhau Để khắc phục sự thiếu đồng bộ và thống nhất đó, KBNN đã nghiên cứu
và ban hành Tiêu thức “Văn minh, văn hóa nghề kho bạc” theo Quyết định số 831/QĐ-KBNN ngày 10/10/2006 của Tổng Giám đốc KBNN để phổ biến, quán triệt thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống
Nhằm đánh giá những mặt tích cực và những mặt hạn chế trong quá trình thực hiện Tiêu thức “Văn minh, văn hóa nghề kho bạc” tại KBNN Hải Dương, tìm hiểu nguyên nhân của những mặt còn hạn chế, yếu kém và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển tính văn minh, văn hóa trong công sở tại KBNN Hải Dương trong thời gian tới, tôi xin lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Kho bạc Nhà nước Hải Dương với „Văn minh, văn hoá
nghề‟ trong giai đoạn hiện nay”
2 Câu hỏi nghiên cứu
1 “Văn minh, văn hóa nghề kho bạc” là gì? Vai trò, tác dụng của nó trong công tác quản trị tổ chức KBNN hiện nay
2 Thực tế thực hiện Tiêu thức “Văn minh, văn hóa nghề” ở KBNN Hải Dương diễn ra như thế nào?
3 Cần có quan điểm, giải pháp nào để hoàn thiện và hiện thực hóa quá trình này?
3 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, “Văn hóa tổ chức” ngày càng được coi trọng, nó được coi là kim chỉ nam hành động giúp định hướng đúng đắn và định hình phong cách, bản sắc riêng của tổ chức, giúp cho
tổ chức có thể nhanh chóng hội nhập và hội nhập thuận lợi với xu hướng chung của các nước trong khu vực và trên thế giới
Mặc dù vậy, VHCS - một hình thái của văn hóa tổ chức – lại chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều ở nước ta Học viện Hành chính Quốc gia có phát
Trang 8hành giáo trình “Kỹ thuật tổ chức công sở” (2002) dùng để giảng dạy trong nhà trường với tư cách là một môn học Còn lại chủ yếu là các bài viết, đề tài, chuyên đề rải rác trên các tạp chí chuyên ngành, như “Văn hóa tổ chức và một số giải pháp phát triển văn hóa công sở” của tác giả Trần Thị Thanh Thủy trên tạp chí Tổ chức Nhà nước (2006), Đề tài khoa học “Văn hóa công sở” của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (tháng 12/2006)…
VHCS, nói một cách khái quát là các hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ của mình với người khác, bao gồm
cả những quy định chính thức, được ghi nhận thành văn bản và những quy định bất thành văn của một cơ quan, đơn vị hành chính Do vậy, đây là một vấn đề mà các nhà khoa học, các nhà văn hóa và các nhà quản lý đặc biệt quan tâm Đã có một số công trình khoa học được đăng tải trên các giáo trình, sách chuyên khảo, luận văn, tạp chí… dưới các góc độ khác nhau có liên quan đến vấn đề “VHCS”, cụ thể:
- Võ Nguyên Giáp, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hoá Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1998;
- Trần Quốc Hải, “Đổi mới tư duy trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước tháng 9/ 2000;
- Nguyễn Trọng Điều, Đinh Văn Mậu, “Giao tiếp ứng xử hành chính”, NXB Công an nhân dân, năm 2002;
- Trần Quốc Hải, “Cải cách các chương trình đào tạo công vụ hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, năm 2004;
- Du Long, “Văn hóa công chức”, Báo tuổi trẻ Chủ Nhật, năm 2004;
- Trịnh Thanh Hà, “Những vấn đề cần được giải quyết trong việc xây dựng văn hoá ứng xử công vụ”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 9 năm 2007;
- Trịnh Thanh Hà, “Văn hoá ứng xử công vụ - Khái quát từ thực tiễn lịch sử”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 9 năm 2007;
Trang 9Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề VHCS trong các cơ quan hành chính ở nước ta hiện nay, đặc biệt về quá trình hiện thực hóa các tiêu thức văn minh, văn hóa nghề của
hệ thống KBNN, cụ thể là tại một đơn vị KBNN cấp tỉnh thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới Chính vì vậy, luận văn đã tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số lý luận chung từ các công trình nghiên cứu về VHCS trước đây có nội dung gần với đề tài nhưng đảm bảo không có sự trùng lắp với các công trình nghiên cứu khác
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Nhằm nâng cao tính văn minh, văn hóa trong công sở tại KBNN Hải Dương trên cơ sở lý luận về VHCS và Tiêu thức “Văn minh, văn hóa nghề kho bạc”
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích đã đề ra ở trên, luận văn cần thực hiện:
+ Nghiên cứu, tổng hợp cơ sở lý luận của luận văn để tạo ra nền tảng, phương pháp nghiên cứu và đánh giá thực trạng VHCS tại KBNN Hải Dương;
+ Thực hiện khảo sát và đánh giá thực trạng đối tượng nghiên cứu; + Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh thực hiện Tiêu thức “Văn minh, văn hóa nghề kho bạc” tại KBNN Hải Dương
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình thực hiện Tiêu thức “Văn minh, văn hóa
nghề” tại KBNN Hải Dương (thực chất là xem xét thực trạng VHCS - mà nghĩa hẹp là các tiêu thức, tiêu chí cụ thể được ban hành - tại đơn vị)
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại trụ sở KBNN Hải Dương
Trang 10+ Phạm vi thời gian: từ khi Tiêu thức “Văn minh, văn hóa nghề kho bạc” được ban hành (2006) cho đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã được nghiên cứu ở mức độ tiểu luận năm 2010, do yêu cầu nâng cấp, hoàn thiện ở mức độ luận văn cho nên đã được bổ sung số liệu, dữ liệu nhưng đảm bảo không có sự trùng lắp đề tài
Một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn:
- Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật và sử dụng phương pháp của nhiều môn khoa học khác nhau như văn hóa học, quản trị học…
- Phương pháp phân tích định tính, tổng hợp, kết hợp với nghiên cứu
mô tả;
- Phương pháp quan sát: quan sát trực tiếp những biểu hiện văn hóa diễn ra tại KBNN Hải Dương;
- Phương pháp chuyên gia: hỏi ý kiến và thảo luận với Ban Lãnh đạo, Chủ tịch và Ban chấp hành Công đoàn, Ban chấp hành Đoàn Thanh niên KBNN Hải Dương về thực trạng và phương hướng phát triển “Văn minh, văn hóa nghề kho bạc” tại đơn vị trong thời gian tới;
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
Nguồn dữ liệu sơ cấp: là nguồn dữ liệu thu thập được thông qua điều tra, khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi đối với 120 CBCC đang công tác tại KBNN Hải Dương và 120 khách hàng đến giao dịch tại KBNN Hải Dương
Nguồn dữ liệu thứ cấp: được trích từ Báo cáo tích lũy các chỉ tiêu hoạt động từ năm 1990-2014 của KBNN Hải Dương và một số dữ liệu khai thác từ các phòng chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị (phòng Tổ chức cán bộ, phòng Tổng hợp…)
Trang 11DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
1 Đào Văn Chúc (1997), Văn hoá học, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội
2 Đỗ Minh Cương (2001), Văn hoá kinh doanh và triết lý kinh doanh, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội
3 Đỗ Minh Cương (1998), “Văn hoá - nội lực và mô thức phát triển kinh tế -
xã hội”, Tạp chí Giáo dục lý luận (số 3)
4 Vũ Cao Đàm (2009), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa
học và Kỹ thuật
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006
7 Nguyễn Trọng Điều, Đinh Văn Mậu (2002), “Giao tiếp ứng xử hành chính”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội
8 Võ Nguyên Giáp (1998), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hoá Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
9 Trịnh Thanh Hà, (2007), “Những vấn đề cần được giải quyết trong
việc xây dựng văn hoá ứng xử công vụ”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước
(số 9)
10 Trịnh Thanh Hà, (2007), “Văn hoá ứng xử công vụ - Khái quát từ
thực tiễn lịch sử”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước (số 9)
11 Trần Quốc Hải, (2000), “Đổi mới tư duy trong đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức Nhà nước”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước (số 9)
12 Trần Quốc Hải, (2004), “Cải cách các chương trình đào tạo công vụ
hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước (số 12)
13 Phan Thanh Hội, Phan Thăng (2001), Quản Trị Học, NXB Thống Kê
Trang 1214 KBNN (2007), Văn hoá công sở và giao tiếp hành chính, NXB Tài chính,
Hà Nội
15 Du Long, (2004), “Văn hóa công chức”, Báo tuổi trẻ Chủ Nhật,
16 Nguyễn Viết Lộc (2009), "Văn hoá tổ chức ĐHQGHN trong bối cảnh đổi
mới và hội nhập", Tạp chí khoa học, chuyên san Kinh tế và kinh doanh (số
4)
17 Quyết định số 129/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 về Ban hành Quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước
18 PGS.TS Hồ Sỹ Quý (1999), "Tìm hiểu về văn hoá và văn minh", NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Website:
19 http://pailema.edu.vn