Dựa trên cơ sở lý thuyết về kiểu học, trong quá trình giảng dạy người GV cần quan tâm đến các kiểu học của HS, hướng dẫn cách học và ôn tập kiến thức phù hợp với từng kiểu học hoặc xây[r]
Trang 1HƯỚNG DẪN ÔN TẬP DỰA TRÊN CÁC KIỂU HỌC
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
ThS Hoàng Thanh Tú – Khoa Sư phạm, ĐH Quốc gia Hà Nội
(Điện thoại: 0912.153496) Tạp chí Giáo dục số 208 kì 2 tháng 2-2009
Trong quá trình dạy học, việc giảng dạy của giáo viên (GV) và việc học tập của học sinh (HS) là hai khâu của một quá trình thống nhất Lý thuyết về các kiểu học (Learning Style Theory) nhấn mạnh đến thực tế là các cá nhân thu nhận và xử lý thông tin theo rất nhiều cách thức khác nhau Chính vì vậy hiệu quả của việc học tập không chỉ phụ thuộc vào phương pháp dạy mà còn chịu ảnh hưởng của chính kiểu học (hay phong cách học tập) của mỗi người Trên thực tế các giáo viên quan tâm nhiều đến nội dung, phương pháp dạy mà chưa dành sự chú ý đúng mức việc hướng dẫn HS phương pháp học phù hợp, hiệu quả Các cuộc điều tra, phỏng vấn những năm gần đây cho thấy nhiều HS không yêu thích môn Lịch sử thậm chí sợ môn Lịch sử vì không biết cách học Bài viết tập trung vào phân tích những ứng dụng của Lý thuyết về các kiểu học trong việc xác định kiểu học của HS Từ đó giúp GV lựa chọn phương pháp dạy
và hướng dẫn HS cách học, cách ôn tập kiến thức phù hợp với kiểu học để thành công
1 Vận dụng Lý thuyết về các kiểu học (Learning Style Theory) nhằm xác định kiểu học của học sinh:
Lý thuyết về các kiểu học được xây dựng trên cơ sở của hai lý thuyết học tập cơ bản là: lý thuyết về kiểu nhận thức (Cognitive Style Theory) và lý thuyết về bán cầu não (Brain Lateralization Theory):
- Lý thuyết về kiểu nhận thức cho rằng con người tiếp nhận thông tin bằng những cách khác nhau dựa trên các đặc điểm vốn có hay học được Do vậy mỗi người
sẽ tích hợp vốn tri thức của mình dựa trên tiền đề là những kinh nghiệm đã trải qua Lý thuyết về kiểu nhận thức cũng chỉ rõ sự đa dạng của tư duy nhận thức của con người như có kiểu tư duy độc lập hoặc phụ thuộc, tư duy phân tích hay tổng hợp…
- Lý thuyết về bán cầu não cho rằng não người có hai phần khác nhau với những chức năng khác nhau điều khiển, hai cách tư duy khác nhau của con người Mỗi
cá nhân sẽ có sự nổi trội về một kiểu nhất định hoặc sử dụng tổng thể bộ não và cân bằng trong việc sử dụng cả hai bán cầu
Dựa trên cơ sở lý thuyết về kiểu nhận thức và bán cầu não các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về kiểu học (hay phong cách học tập) “Kiểu học là những đặc điểm nhận thức, tình cảm hoặc sinh lý có ảnh hưởng đến cách người học thu nhận kiến thức, tương tác hoặc thích ứng với môi trường học tập” Theo Dunn & Dunn – những
Trang 2chuyên gia nghiên cứu về kiểu học trong nhiều năm: “Kiểu học là cách người học bắt đầu tập trung, xử lý, tiếp thu và nhớ được kiến thức mới và khó”1 Định nghĩa của Dunn mang tính khái quát và trở nên phổ biến, được gọi là mô hình kiểu học Dunn và Dunn
Dựa vào các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu kiểu học là cách thức mà người học thường sử dụng để tiếp thu, ghi nhớ kiến thức theo thói quen tư duy và dưới tác động của môi trường học tập Lý thuyết về các kiểu học rất có ý nghĩa trong việc
giúp người GV quan tâm đến việc xác định kiểu học của HS, hiểu được đối tượng người học của mình làm cơ sở cho việc lựa chọn cách dạy, hướng dẫn HS cách học phù hợp hoặc điều chỉnh khi cần thiết nhằm tạo ra một môi trường học tập thuận lợi cho người học
Mỗi người có một hệ thần kinh với những đặc điểm nổi trội riêng vì thế mỗi người sẽ có một kiểu học riêng Các kiểu học được phân chia thành nhiều loại dựa trên những quan điểm khác nhau Tuy nhiên cách phân loại phổ biến nhất thường được gắn với cách phân loại của tâm lý học, chia ra thành 7 loại là: kiểu học ngôn ngữ, kiểu học lôgic, kiểu học hình ảnh, kiểu học âm thanh, kiểu học hoạt động, kiểu học nhóm và kiểu học độc lập; thể hiện ở sơ đồ dưới đây:
Những biểu hiện bên ngoài của các kiểu học được thể hiện như sau:
- Học sinh có kiểu học ngôn ngữ (Verbal Style) thường thích nói hoặc viết
trong quá trình học tập Khi học Lịch sử những học sinh này thường có thiên hướng đọc lên thành lời hoặc viết đi viết lại những điều cần học ra giấy nhiều lần để có thể nhớ được
- Học sinh có kiểu học lôgic (Logical Style) thường nổi trội về bán cầu não trái,
thích tìm hiểu mối quan hệ giữa các thông tin, sắp xếp theo thứ tự trong một hệ thống hoặc luôn đưa ra những lập luận giải thích cho những khái niệm trừu tượng hoặc các
Trang 3vấn đề mang tính phức tạp Trong thực tế những HS có kiểu học lô gic thường rất nhanh trong việc trả lời các câu hỏi mang tính suy luận, hoàn thành các bài tập kiểu ghép nối thông tin, sắp xếp các sự kiện theo tiến trình lịch sử hoặc tham gia các trò chơi kiểu xếp hình, trò chơi ô chữ…
-Thường nổi trội về não phải, những học sinh có kiểu học hình ảnh (Visual
Style) thu nhận thông tin dễ dàng qua các hình ảnh, hình vẽ hoặc sơ đồ, biểu đồ… Những học sinh này thích vẽ, thích màu sắc và có khả năng quan sát, thu nhận hình ảnh trực giác cũng như tưởng tượng tốt Khi học lịch sử các em thích học qua quan sát tranh ảnh, bản đồ, thích xem phim… Do vậy việc ghi nhớ cũng như tái hiện lại kiến thức trở nên dễ dàng hơn khi giáo viên sử dụng các phương tiện nghe nhìn trong việc tạo nên sự liên kết với những kiến thức đã học
- Kiểu học âm thanh (Aural Style) thường thuộc về những học sinh thích hát,
thích nghe nhạc hoặc có thói quen được học trong môi trường có âm nhạc Những học sinh này có khả năng nhớ rất nhanh các giai điệu của các bản nhạc, các âm thanh và tưởng tượng ra hình ảnh từ âm thanh nghe được Do vậy âm nhạc thường tạo cho các
em có tâm trạng thoải mái và có động lực học tập tốt hơn
- Những học sinh có kiểu học hoạt động (Physical Style) thích đi lại, vận động
cơ thể trong khi học hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp (ví dụ cử động tay, nháy mắt, lắc đầu…) HS có kiểu học này thường thích được tham gia các hoạt động học tập hoặc trò chơi vận động trong khi học trên lớp, thích tự học trong tư thế đi đi lại lại hơn là ngồi yên một chỗ
- Kiểu học nhóm (Social Style) là của những học sinh thích học theo nhóm hoặc
học cùng với những người khác Những học sinh này có thiên hướng thích chia sẻ, giúp đỡ và hợp tác với bạn học trong quá trình học tập Có nhiều em còn thích được làm trong một nhóm mà mình được là người chỉ huy, liên kết các thành viên khác
- Trái với kiểu học nhóm, kiểu học độc lập (Solitary Style) là của những học
sinh có thiên hướng tập trung, tự mình thể hiện hoặc cảm nhận và tiếp cận các vấn đề theo quan điểm của mình Những học sinh này thích học tập trong môi trường yên tĩnh, thích tự lập trong mọi công việc và mong muốn được thực hiện những nhiệm vụ mang tính nghiên cứu, được tự lập kế hoạch và tự hoàn thành sản phẩm mang tính cá nhân
Các kiểu học trên có thể xác định được thông qua các biểu hiện bên ngoài của học sinh song chúng ta có thể xác định chính xác xem người học có kiểu học nào nổi trội hay pha trộn của các kiểu trên bằng cách sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm điều tra
Trang 4chuẩn quốc tế về kiểu học (gồm 70 câu) và xử lý kết quả bằng phần mềm trên trang web: http://www.learning-styles-online.com
Xác định kiểu học của học sinh là rất cần thiết, định hướng cho giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh cách tự học, tự ôn tập phù hợp với kiểu học nổi trội hoặc hướng dẫn cho học sinh cách học hiệu quả
2 Hướng dẫn ôn tập dựa trên các kiểu học khác nhau trong dạy học Lịch
sử ở trường THPT:
Dựa trên cơ sở lý thuyết về kiểu học, trong quá trình giảng dạy người GV cần quan tâm đến các kiểu học của HS, hướng dẫn cách học và ôn tập kiến thức phù hợp với từng kiểu học hoặc xây dựng các cách thức chỉ dẫn để liên kết các kiểu học với nhau Trên cơ sở đó HS ý thức về kiểu học của mình và lựa chọn cách tự ôn tập hiệu quả nhất
Đối với những HS có kiểu học ngôn ngữ, GV hướng dẫn các em ôn bài bằng cách đọc to thông tin có ngữ điệu phù hợp hơn là đọc với giọng đều đều buồn tẻ Khi
HS trả lời câu hỏi, GV cần hướng dẫn cách trình bày vấn đề mạch lạc, rõ ràng Để giúp các em kết hợp được cả hai kĩ năng nói và viết, GV hướng dẫn ôn tập theo các cách như sau:
- Lựa chọn “Điểm nhấn” nhằm xác định những nội dung quan trọng đã được
học trong một bài, một chương hay một phần chương trình HS gạch chân những ý chính hoặc tóm tắt bằng những từ khóa, tóm tắt thành một câu theo ý hiểu của mình1
- Lập bảng niên biểu tổng kết, hệ thống hóa các sự kiện lịch sử cơ bản sau khi
học xong một bài, một chương hoặc một phần chương trình môn học Bảng niên biểu cần được định hướng thông tin để HS điền nội dung phù hợp Ví dụ: Lập bảng niên biểu về các mốc quan trọng trong diễn biến của các cuộc Cách mạng tư sản (Từ giữa thế kỉ XVI – cuối thế kỉ XIX) theo mẫu:
Tên cuộc cách mạng Sự kiện mở đầu Sự kiện đánh dấu cách mạng
đạt đỉnh cao
Sự kiện kết thúc
Hà Lan
…
GV cũng có thể thiết kế bảng niên biểu trống để HS tự chọn sự kiện cơ bản và trình bày nội dung liên quan
Trang 5- Trình bày theo đề cương trống: GV cung cấp đề cương với dàn ý rõ ràng thể
hiện nội dung của một bài, chương hoặc một vấn đề có tính khái quát và yêu cầu HS điền những kiến thức đã học vào phần để trống Theo cách này giúp HS tái hiện và sắp xếp những nội dung cơ bản nhất vào một khung kiến thức phù hợp, dễ nhớ và dễ hiểu
Đề cương trống có hai loại:
Đề cương khái quát: thể hiện các đề mục với các chủ đề khái quát Ví dụ: Đề cương cho Bài 9 – “Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng (1917-1921)” (Lịch sử Lớp 11 – Chương trình cơ bản) được thiết kế như sau:
1 Nguyên nhân nước Nga tiến hành hai cuộc cách mạng trong năm 1917
………
2 Diễn biến của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
………
3 Cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền Xô viết
………
4 Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
………
Đề cương chi tiết cung cấp tên các chủ đề khái quát và những chủ đề nhỏ hơn
Ví dụ: Đề cương ôn tập cho phần Lịch sử Việt Nam từ 1897-1914 (Lịch sử Lớp 11):
1 Chính sách khai thác, bóc lột của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế xã hôi Việt Nam:
a Về kinh tế:
b Sự phân hóa xã hội:
2 Hai xu hướng cứu nước mới ở Việt Nam đầu thế kỉ XX:
a Điều kiện khách quan và chủ quan dẫn đến sự nảy sinh xu hướng vận động cứu nước đầu thế kỉ XX:………
b Phan Bội Châu và xu hướng bạo động:………
c Phan Châu Trinh và xu hướng cải cách dân chủ: ………
d So sánh điểm giống và khác nhau giữa hai xu hướng cứu nước đầu thế kỉ XX:
………
Đề cương trống có thể dùng ở cuối giờ học, khi kết thúc một chương nhằm đánh giá kết quả học tập của HS về nội dung của bài hoặc chương đã học Tuy nhiên
GV cần chỉ dẫn rõ ràng về mức độ mà HS phải thực hiện (Ví dụ: tóm tắt trong khoảng 3-5 câu hoặc 5-10 dòng…); thời gian hoàn thành Ở một mức yêu cầu cao hơn, GV hướng dẫn HS tự lập đề cương để ôn tập kiến thức đã học
Cách lập bảng niên biểu hoặc liên kết thông tin lập theo đề cương như trên cũng rất phù hợp với những HS có kiểu học lô gic Lập bảng niên biểu, bảng so sánh, tổng hợp hay thiết kế dàn ý, đề cương rèn cho các em cách ôn tập ghi nhớ kiến thức đã học trong mối liên hệ mang tính hệ thống, lô gic
Trang 6GV còn có thể hướng dẫn những HS có kiểu học lô gic và hình ảnh tự ôn tập bằng cách sơ đồ hóa những kiến thức đã học Dựa vào cấu trúc sơ đồ để thiết kế:
đường trục thời gian (Timelines), chuỗi sự kiện (Chain of Events), sơ đồ mạng (Spider Maps) và sơ đồ hình cây (Tree Graphs) nhằm hướng dẫn HS tái hiện, tổng kết và khái
quát hóa kiến thức đã học:
- Đường trục thời gian đánh dấu các sự kiện quan trọng của một giai đoạn theo tiến trình lịch sử Ví dụ: Thiết kế đường trục thời gian có mốc mở đầu và yêu cầu HS hoàn chỉnh bằng cách điền những sự kiện cơ bản của Lịch sử thế giới hiện đại với mốc thời gian tương ứng:
Cách mạng tháng Mười Nga
1917
- Sơ đồ chuỗi sự kiện được thiết kế để tổng kết, ôn tập các sự kiện trong mối liên hệ nhân quả với nhau Ví dụ:
- Sơ đồ mạng được thiết kế với một đỉnh ở trung tâm và các mũi tên định hướng nối với các đỉnh nhánh thể hiện mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử Sơ đồ mạng phù hợp với việc ôn tập kiến thức theo chủ đề hoặc giải thích khái niệm lịch sử Đỉnh trung tâm sẽ thể hiện chủ đề khái quát hoặc khái niệm còn các đỉnh nhánh sẽ thể hiện nội dung chi tiết liên quan Ví dụ: Sơ đồ mạng được thiết kế cho chủ đề ôn tập: “Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai” (Lịch sử lớp 12)1:
Quy luật
phát triển
không đều
của CNTB
Mâu thuẫn gay gắt giữa các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918)
Phân chia thuộc địa không đồng đều giữa các nước đế quốc
Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945)
Trang 7Hội nghị I-an-ta
Hội nghị Pôt-xđam Quyết định Hệ qu¶
- Sơ đồ hình cây có một hoặc nhiều đỉnh gốc kết nối với các đỉnh phân nhánh bằng các mũi tên định hướng thể hiện nội dung về sự chuyển biến kinh tế, phân hoá các giai cấp trong xã hội, hệ quả của một cuộc cách mạng Ví dụ: Sơ đồ về sự phân hoá giai cấp trong xã hội Tây Âu thời hậu kì trung đại (Lịch sử Lớp 10) được thiết kế như sau:
Những quyết định quan trọng Hệ quả
Tăng lữ, quý
tộc phong kiến
Nông nô
Thợ thủ công,
thương nhân
Hưởng đặc quyền, bổng lộc phong kiến
Kinh doanh kiểu TBCN
Bị rào đất, cướp ruộng
Bị tước đoạt tư liệu sản xuất, phá sản
Kinh doanh và trở nên giàu có
Tăng lữ, quý tộc phong kiến
Quý tộc mới
Lao động làm thuê
(Giai cấp vô sản)
Chủ ngân hàng, chủ đồn
điền, chủ xưởng (Giai
Thời gian: tháng 2/1945
Tham dự: nguyên thủ ba
cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh
(Xtalin, Rudơven, Sớcsin)
Địa điểm: I-an-ta (Liên Xô)
Tiêu diệt chủ nghĩa phát xít
Thành lập tổ chức Liên hợp quốc
Thỏa thuận về việc đóng quân, phân chia phạm vi ảnh hưởng
Một trật tự thế giới mới
được hình thành – trật tự hai cực I-an-ta
Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai- Hội nghị I-an-ta và Pôt-xđam
Thời gian: tháng 7, 8 -1945
Tham dự: Nguyên thủ ba
cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh
(Xtalin, Truman Sớcsin)
Địa điểm: Pôt-xđam (Đức)
Giải quyết vấn đề nước Đức
Thỏa thuận phân chia các khu vực chiếm đóng và kiểm soát nước Đức
Trên lãnh thổ Đức hình thành hai nhà nước Đức với chế độ chính trị và con đường phát triển khác nhau
Trang 8Ngoài việc sơ đồ hóa kiến thức, sử dụng tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu cũng rất phù hợp với những HS có kiểu học hình ảnh Những hình ảnh trực quan có tác dụng tạo sự liên tưởng hiệu quả với những gì đã học Tuy nhiên GV cần lưu ý quy trình sử dụng tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu trong hướng dẫn ôn tập khác trong dạy học kiến thức mới Căn cứ vào mục tiêu, nội dung kiến thức cần ôn tập, GV lựa chọn tranh ảnh, bản đồ, đoạn phim tư liệu phù hợp, xây dựng nhiệm vụ hoặc thiết kế câu hỏi, bài tập cho HS thực hiện.1
Sử dụng các đoạn phim tư liệu còn rất phù hợp với HS có kiểu học âm thanh
GV cần định hướng nhiệm vụ học tập rõ ràng cho HS trước khi xem phim Ví dụ: Sau khi xem đoạn phim tư liệu về “Diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh” trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 (Lịch sử Lớp 12), HS cần thực hiện nhiệm vụ như:
“Trình bày tóm tắt diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh?” theo hai cách: Trình bày miệng kết hợp sử dụng bản đồ, trình bày miệng kết hợp với hình ảnh trong phim (đoạn phim chỉ có hình ảnh và tắt âm thanh)
Những HS có kiểu học nhóm hoặc kiểu học vận động phù hợp với việc ôn tập kiến thức qua các hoạt động nhóm, trao đổi, thảo luận, thực hiện các bài tập cần phối hợp nhóm (ví dụ như: lập bảng, làm bài sưu tầm tư liệu lịch sử, thực hiện các dự án học tập…) và tham gia các trò chơi
GV cũng cần quan tâm đến những HS có kiểu học độc lập Những HS này thích hợp với cách lập dàn ý, thiết kế sơ đồ hoặc lập bảng tổng kết, bảng hệ thống GV cần tạo điều kiện để những HS này được thực hiện những nhiệm vụ có tính tự định hướng cao Tuy nhiên để việc học của các em trở nên hiệu quả GV không chỉ đưa ra các vấn
đề và định hướng hoạt động học tập hoặc nghiên cứu cá nhân mà còn phải hướng dẫn
HS biết cách trao đổi và chia sẻ ý kiến với thầy cô hoặc bạn bè khi cần thiết
Tóm lại, trong dạy học lịch sử GV thực hiện hai nhiệm vụ: củng cố, bổ sung, hoàn thiện những kiến thức đã tiếp nhận để làm cơ sở cho HS lĩnh hội kiến thức mới; cung cấp kiến thức mới 2 Do vậy hướng dẫn HS ôn tập kiến thức đã học là công việc
GV phải tiến hành thường xuyên trong quá trình dạy học LS Mục đích của việc ôn tập nhằm giúp HS không chỉ ghi nhớ mà còn có khả năng vận dụng những kiến thức đã học Từ đó mở rộng vốn hiểu biết của HS, phát triển các kỹ năng tư duy, kỹ năng sống
và giáo dục tư tưởng tình cảm, thái độ học tập đúng đắn đối với môn Lịch sử Trong
1 Hoàng Thanh Tú, Nguyễn Tiến Trình, “Sử dụng phim tư liệu trong dạy học lịch sử” Tạp chí Dạy và học ngày
Trang 9vai trò là người hỗ trợ và hướng dẫn HS thành công trong học tập, GV thừa nhận và tôn trọng các kiểu học khác nhau, đa dạng hóa các phương pháp dạy học cũng như đa dạng hóa nhiệm vụ học tập cho phù hợp với kiểu học phổ biến trong lớp cũng như các kiểu học riêng biệt
Hết
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 David A.Jacobsen, Paul Eggen, Donald Kauchak Methods for teaching 6th edition, Pearson Education, Ins., 2002, p.250
2 The Dunn and Dunn Model: http://www.geocities.com/~educationplace/Model.html
3 Hoàng Thanh Tú Một số kĩ thuật kiểm tra đánh giá vận dụng trong dạy học lịch sử ở
THPT Tạp chí Giáo dục số 156, kì 2 – tháng 2/2007, tr.28
4 Hoàng Thanh Tú, Tổ chức hoạt động ôn tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT Tạp chí
Dạy và học ngày nay, Số tháng 2/2007, tr.84
1 Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi Phương pháp dạy học lịch
sử, Tập II, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2002
5 Hoàng Thanh Tú, Nguyễn Tiến Trình, Sử dụng phim tư liệu trong dạy học lịch sử Tạp chí
Dạy và học ngày nay, số tháng 5/2007
Websites:
http://www.learning-styles-online.com
http://home.clara.net/darvill/revtips.htm#jigsaw#jigsaw