Trước mắt, phát triển bền vững ngành thủy sản đề cập đến 3 lĩnh vực là khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường nguồn lợi thủy sản; ở mỗi lĩnh vực đều đánh giá sự phát
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN TRỌNG THẢO - TRẦN VĂN HÀO
BÀI GIẢNG NGHỀ CÁ BỀN VỮNG
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
KHÁNH HÒA – 10/2018
Trang 2MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN VIỆT NAM 3
1.1 Mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên, con người và môi trường 3
1.1.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của môi trường 3
1.1.2 Vai trò của tài nguyên thiên nhiên đối với phát triển kinh tế – xã hội 5
1.1.3 Quan hệ giữa con người, tài nguyên thiên nhiên và môi trường 5
1.2 Tài nguyên biển và nguồn lợi thủy sản Việt Nam 5
1.2.1 Khái quát về tài nguyên biển và đại dương 5
1.2.2 Khái quát về nguồn lợi sinh vật biển và đại dương 7
1.2.3 Khái quát về đặc trưng môi trường biển và nguồn lợi thủy sản Việt Nam 8
c) Các hệ sinh thái đặc trưng 9
a) Phân bố theo tầng nước 9
1.3 Tầm quan trọng của môi trường biển và nguồn lợi thủy sản trong chiến lược phát triển kinh tế biển 11
1.3.1 Vai trò của biển và đại dương 11
1.3.2 Chiến lược phát triển kinh tế biển 11
1.3.3 Ngành thủy sản với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo 14 1.4 Thực trạng suy thoái môi trường, nguồn lợi thủy sản Biển Đông và công tác điều tra, đánh giá, dự báo nguồn lợi 16
1.4.1 Thực trạng suy thoái môi trường và suy giảm nguồn lợi thủy sản Biển Đông 16
1.4.2 Công tác điều tra, nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi 24
CHƯƠNG 2 NGHỀ CÁ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 26
2.1 Khái niệm về phát triển bền vững, quan hệ giữa môi trường và sự phát triển bền vững 26
2.1.1 Những quan điểm về sự phát triển và môi trường 26
2.1.2 Khái niệm về phát triển bền vững 28
2.1.3 Chỉ số phát triển bền vững 29
2.1.4 Nguyên tắc phát triển bền vững 30
2.1.5 Quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững 33
2.1.6 Phát triển bền vững kinh tế biển 34
2.2 Khái niệm nghề cá bền vững 35
2.2.1 Khái niệm 35
2.2.2 Một số yếu tố chính cấu thành nghề cá bền vững 40
2.3 Đặc điểm chung của nghề cá bền vững 41
2.4 Đặc điểm, hiện trạng và công tác quản lí nghề cá Việt Nam 41
2.4.1 Đặc điểm nghề cá Việt Nam 41
2.4.2 Hiện trạng nghề cá Việt Nam 42
2.4.3 Định hướng phát triển ngành thủy sản 47
2.5 Xu hướng chung về quản lý nghề cá trên Thế giới 53
CHƯƠNG 3 QUẢN LÝ NGHỀ CÁ BỀN VỮNG 57
3.1 Chính sách quản lý nghề cá tại Việt Nam 57
3.2 Công cụ/biện pháp trong quản lý nghề cá bền vững 57
3.2.1 Quản lý kỹ thuật (Technical Control) 57
3.2.2 Quản lý đầu vào và Quản lý đầu ra (Input & Output Controls) 58
3.3 Các giải pháp trong quản lý nghề cá bền vững 62
3.3.1 Theo dõi, Kiểm soát và Giám sát (MCS) 62
3.3.2 Đồng quản lý (Co-Management) 64
3.3.3 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng (Community-Based Fishery Management - CBFM) 69
3.3.4 Trao quyền (Fishing rights) & Tự quản lý (Autonomous) 72
Trang 33.3.5 Quản lý nghề cá thích ứng với biến đổi khí hậu (Fishery Management in Climate
Change Adaptations) 73
3.3.6 Quản lý nghề cá theo hướng tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach for Fishery Management - EAFM) 74
3.3.7 Quản lý nghề cá theo hướng tiếp cận thận trọng (Precautionary Approaches to Fishery Management - PAFM) 75
3.3.8 Bộ quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm (FAO Code of Conducts) 76
3.3.9 Biện pháp quản lý & bảo tồn (CMMs) của các tổ chức nghề cá khu vực 79
3.3.10 Trách nhiệm Xã hội (CSR) & Môi trường 80
3.3.11 Tiêu chuẩn / Quy chuẩn & Chứng nhận / Chứng chỉ 81
3.3.12 Khai thác IUU và Cảnh báo thương mại (Thẻ vàng, thẻ đỏ) 84
CHƯƠNG 4 GIỚI THIỆU CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ BỀN VỮNG 93
4.1 Các mô hình đồng quản lý 93
4.1.1 Mô hình ĐQL tại Vịnh Bang Sapan, Thái Lan 93
4.1.2 Mô hình ĐQL tại đầm phá Tam Giang – Cầu Hai 94
4.1.3 Mô hình ĐQL đầm Nha Phu 97
4.2 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng 100
4.2.1 Mô hình quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng tại tỉnh Iwate, Nhật Bản 100
4.2.2 Mô hình quản lý nguồn lợi nghêu dựa vào cộng đồng tại Bến Tre 101
Tài liệu tham khảo 104
Trang 4MỞ ĐẦU
Ngành thủy sản là một ngành kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi tự nhiên tái tạo được, việc sự dụng các nguồn tài nguyên này một cách bền vững không chỉ đảm bảo cho phát triển đất nước ngày nay mà còn để cho muôn đời con cháu phát triển đất nước sau này Trước mắt, phát triển bền vững ngành thủy sản đề cập đến 3 lĩnh vực là khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường nguồn lợi thủy sản; ở mỗi lĩnh vực đều đánh giá sự phát triển bền vững trên các yếu tố: kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường nguồn lợi và đánh giá việc thực hiện các thể chế chính sách đã được ban hành liên quan đến hoạt động thủy sản Bài giảng này giúp cho sinh viên nắm vững các định nghĩa, khái niệm liên quan đến tài nguyên – môi trường và con người sử dụng chúng; nhất là tài nguyên thủy sản và môi trường biển trong chiến lược phát triển bền vững
Vấn đề suy thoái môi trường và suy giảm nguồn lợi thủy sản đã được đề cập trong học phần “ Ngư trường – nguồn lợi thủy sản”, trong nội dung này chỉ khái quát hóa trên
cơ sở Báo cáo của các Hợp phần thuộc Dự án Chống suy thoái môi trường Biển Đông và Vịnh Thái Lan nhằm phục hồi môi trường và nguồn lợi Thủy sản tại Biển Đông mang tính bền vững
Phát triển bền vững là lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ ở Việt Nam nói chung
và ngành Thủy sản nói riêng, những nội dung liên quan đến nghề cá và sự phát triển bền vững dựa trên Báo cáo trong khuôn khổ “Chương trình Quỷ Ủy thác Toàn cầu của Nhật Bản dành cho Phát triển Thủy sản Bền vững nghề cá Việt Nam và Ngân hàng Thế giới”
và các Báo cáo tại hội thảo Quốc gia về “Phát triển Bền vững Nghề cá Việt Nam: Vấn đề
và cách tiếp cận” năm 2006 Ngoài những kiến thức về thực trạng nghề cá Việt Nam được giảng giải, cập nhật trong Học phần Ngư trường – nguồn lợi thủy sản
Quản lí nghề cá bền vững dựa trên đặc điểm và chức năng của một nghề cá bền vững với cơ sở pháp lí và thực tiển của nghề cá; bao gồm quản lí tổng hợp Khai thác thủy sản, nghề nuôi thủy sản, thương mại và dịch vụ thủy sản
Như vậy, bài giảng là khái quát và tổng hợp các kiến thức về môi trường – con người – tài nguyên thiên nhiên, ngư trường - nguồn lợi thủy sản và thực trạng môi trường biền; hiện trạng nghề cá - nghề nuôi thủy sản và giải pháp quản lí Từ đó lựa chọn các mô hình quản lí bền vững có thể vận dụng vào thực tế quản lí nghề cá cho từng địa phương hay cả nước
Bài giảng được biên soạn trên cơ sở rà soát Chương trình học phần, nên không tránh khỏi sai sót, mong nhận được đóng góp để Bài giảng được hoàn chỉnh hơn
Trân trọng cảm ơn!
Nhóm tác giả
Trang 5CHƯƠNG 1 MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN VIỆT NAM 1.1 Mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên, con người và môi trường
1.1.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của môi trường
Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo nhiều quan điểm và sự khái quát khác nhau Đặc biệt môi trường được hiểu theo nghĩa rộng là môi trường của tất cả chúng ta, của tất cả loài người trên trái đất, liên quan đến tài nguyên đất, nước, dân cư, không khí, tài nguyên sinh vật, các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người
Ngày 5/6/1972 Hội nghị đầu tiên mang tính toàn cầu (113 quốc gia tham dự) của Liên hiệp quốc về Môi trường con ngừời được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) đã thông qua bản Kế hoạch hành động về Môi trường và khuyến nghị thành lập Chương
trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP: United Nations Environmenal Programme) Sau Hội nghị này, con người đã bắt đầu nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan
trọng của môi trường đối với cuộc sống của con người, và từ đó đã nâng cao nhận thức của con người lên một tầm cao mới đối với việc bảo vệ môi trường, nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng đối với cách sống và hành động của mình phải như thế nào để môi trường không bị phá hủy
+ Theo “Luật bảo vệ Môi trường” (sửa đổi) “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Hình 1.1: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên Trái đất trở thành nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ một số điều kiện môi trường thuận lợi đặc biệt như: nhiệt độ không khí không quá cao, nồng độ ôxy và các khí khác tương đối ổn định, điều kiện khí hậu phù hợp cho sự tồn tại và phát triển của sự sống, sự cân bằng hợp lý nước ở các đại dương và đất liền Tất cả các điều kiện đó cho đến nay chưa tìm thấy trên một hành tinh nào khác trong và ngoài hệ mặt trời Những điều đó xảy ra nhờ hoạt động của hệ thống các thành phần môi trường trái đất như khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển và thạch quyển
Như vậy, môi trường có các chức năng cơ bản sau:
- Là không gian sống của con người và các loài sinh vật, là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người
Trang 6- Đồng thời cũng là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình Tuy nhiên, việc phát thải nguồn ô nhiễm và khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái đất Phế thải do con người tạo ra trong quá trình sản xuất và tiêu dùng được đưa trở lại môi trường Tại đây, hoạt động của vi sinh vật và các thành phần môi trường sẽ chuyển phế thải trở thành các dạng ban đầu trong một chu trình sinh địa hoá phức tạp Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải của môi trường là có giới hạn Khi lượng phế thải vượt quá giới hạn tiếp nhận và phân huỷ chất thải, thì chất lượng môi trường sẽ bị suy giảm, môi trường có thể bị ô nhiễm
- Môi trường còn là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người, bởi vì chính môi trường Trái đất là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người
Ngoài ra môi trường còn cung cấp các yếu tố mang tính chất báo động hay cảnh báo các nguy hiểm đối với con người và sinh vật sống trên Trái đất như các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xẩy ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, động đất Đồng thời môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gien, các loài động, thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và
nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác
Môi trường thực hiện vai trò:
- Biến đổi lý hoá: pha loãng, phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng mặt trời, sự tách chiết các vật thải và độc tố của các thành phần môi trường
- Biến đổi sinh hoá: sự hấp thụ các chất dư thừa, sự tuần hoàn của chu trình cacbon, chu trình nitơ, phân huỷ chất thải nhờ vi khuẩn, vi sinh vật
- Biến đổi sinh học: chuyển hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá, v.v
- Cân bằng và giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
+ Môi trường phải được đặt trong mối quan hệ với các hoạt động của con người theo quan điểm phát triển bền vững Với quan điểm này, việc bảo vệ môi trường toàn cầu
là trách nhiệm của mọi quốc gia, nhằm duy trì một thế giới phát triển bền vững, nó trở thành hệ thống đánh giá giá trị của một xã hội đương đại
Như đã trình bày ở trên, vì môi trường là một khái niệm rất rộng nên các thành phần môi trường sẽ được cụ thể hóa hoặc sẽ được phân loại ở các cấp với quy mô khác nhau căn cứ vào đối tượng, lĩnh vực và mục đích nghiên cứu
+ Như vậy, tài nguyên – con người – môi trường không thể tách rời mà là một thể thống nhất;
Trang 7+ Nghề cá bền vững chỉ nghiên cứu về tài nguyên biển, chủ yếu là tài nguyên thủy sản gắn với môi trường biển và con người sử dụng chúng có trách nhiệm
1.1.2 Vai trò của tài nguyên thiên nhiên đối với phát triển kinh tế – xã hội
+ Tài nguyên thiên nhiên là một nguồn lực to lớn để phát triển kinh tế Theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế thì tài nguyên thiên nhiên là một trong 4 yếu tố cấu thành nguồn lực
cơ bản phát triển kinh tế: người lao động, vốn, khoa học công nghệ và nguồn tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở thúc đẩy nông nghiệp, công nghiệp phát triển, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển
+ Khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý sẽ cung cấp ổn định và lâu dài nguồn năng lượng, nguyên vật liệu cho sản xuất công nghiệp, nông nghiêp, công nghệ chế biến, tiêu dùng… Nó là yếu tố quan trọng cho tích lũy và tăng trưởng xã hội
1.1.3 Quan hệ giữa con người, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Con người khai thác tài nguyên trong thiên nhiên (tạo ra của cải vật chất) phục vụ cho cuộc sống của mình Dân số tăng nhanh, nhu cầu khai thác tài nguyên ngày càng lớn Chính điều này đã tác động mạnh mẽ vào môi trường tự nhiên, làm cho môi trường nhanh chống xuống cấp và ngày càng xấu đi, kết quả dẫn đến sự suy thoái môi trường Quan hệ giữa con người khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường cần phải duy trì và được điều chỉnh trên nguyên tắc phát triển bền vững
Quan hệ giữa con người khai thác tài nguyên biển và bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản cũng cần phải được điều chỉnh trên nguyên tắc phát triển bền vững
1.2 Tài nguyên biển và nguồn lợi thủy sản Việt Nam
1.2.1 Khái quát về tài nguyên biển và đại dương
Biển và đại dương chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất với độ sâu trung bình là
Hình 1.2 Quan hệ con người, môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Môi trường và sinh thái
Nhu cầu tiêu dùng, phát triển
Phương tiện khai thác
Con người
Tài nguyên thiên nhiên
Trang 83.710m, độ sâu cực đại là 11.023m; tổng thể tích nước là 1.370 triệu km3 Biển và đại dương là những hệ sinh thái khổng lồ, cùng với lục địa, khí quyển, tạo nên sự “cân bằng“
ổn định cho toàn sinh quyển và hành tinh
Biển và đại dương không phải là một hệ đồng nhất, mà bao gồm nhiều bộ phận khác biệt nhau bởi các nét riêng của mình; đồng thời phân bố ở những vĩ độ khác nhau, bị chia cắt bởi những lục địa khác nhau, và còn khác nhau bởi các mối tương tác với lục địa, với khí quyển Tại mỗi vùng, tác động của con người lên biển cũng hoàn toàn không giống nhau nên hậu quả mà biển chịu cũng khác nhau
Theo quan điểm truyền thống phù hợp với đặc tính sinh thái và giá trị sử dụng, người ta chia biển thành các vùng sinh thái: vùng đáy và vùng có tầng nước
Men theo độ sâu thềm đáy, biển gồm vùng nước thềm lục địa ứng với độ sâu từ 0÷khoảng 200m, tiếp đó là dốc lục địa từ 200m÷3.000m, đến đáy đại dương trên 3.000m Theo tầng nước, lớp trên cùng tương ứng với độ sâu 200m gọi là tầng nước bề mặt, lớp có đủ ánh sáng nhất (lớp chiếu sáng) là lớp nước trên tầng mặt sâu 100m – nơi tập trung năng suất sơ cấp Dưới lớp này là lớp nước thiếu và không đủ ánh sáng, sự đa dạng
và sản lượng sinh học đều giảm
Vùng nước có giới hạn từ ven bờ ra tới mặt phẳng đứng qua mép thềm lục địa là vùng gần bờ Ngoài giới hạn vùng gần bờ là vùng khơi đại dương
Mặc dù vùng thềm, dốc lục địa chỉ chiếm khoảng 20% tổng diện tích đại dương, song đã cung cấp cho nhân loại tới 90% tổng sản lượng hải sản
Vùng ven bờ (coastal zone) bao gồm cả phần đất liền ven biển - nơi chịu ảnh hưởng của thủy triều và vùng nước thềm lục địa Vùng này gồm hàng loạt các sinh cảnh đặc trưng:
- Đồng bằng ven biển, các bãi cá, bãi cát
- Đầm lầy ven biển
- Các hệ của sông, đầm nước mặn hay đầm nước lợ
- Rừng ngập mặn ven biển
- Các hải đảo, các thềm lục địa
- Các đảo san hô
Do sự phân hóa về nơi sống, vùng ven bờ là nơi có sự sống đa dạng nhất và tài nguyên thiên nhiên hay nguồn lợi sinh vật nói riêng rất giàu có Chính vì vậy vùng ven
bờ là địa bàn kinh tế quan trọng bậc nhất Ở đây có 2/3 nhân loại sinh sống trong 60% số thành phố trên thế giới Biển và đại dương là kho chứa tài nguyên của nhân loại trong đó có:
- Tài nguyên sinh vật;
- Các hóa chất và các khoáng sản;
- Nguồn nhiên liệu hóa thạch chủ yếu là dầu mỏ và khí đốt;
Trang 9- Nguồn năng lượng sạch được khai thác từ địa nhiệt, năng lượng thủy triều, gió
- Điều kiện phát triển hàng hải;
- Những danh lam thắng cảnh, bãi tắm, tài nguyên du lịch
Ngay từ rất sớm, con người đã biết khai thác những thế mạnh của biển Những đội thương thuyền lớn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh đã vượt biển đến những vùng đất mới của Viễn Đông, Ấn Độ Dương, Châu Mỹ, Châu Úc Đến thế kỷ XVIII, những mưu
đồ xâm lược lục địa để mở mang thương trường và vơ vét tài nguyên càng trở nên mạnh
mẽ đều thông qua con đường biển
1.2.2 Khái quát về nguồn lợi sinh vật biển và đại dương
Nguồn lợi sinh vật biển có lẽ được con người biết đến và khai thác sớm nhất bắt đầu từ vùng nước ven bờ, sau đó mở rộng ra các vùng khơi đại dương mênh mông
Cho đến nay, đời sống của các loài sinh vật biển cũng đang còn nhiều bí ẩn, song những khảo sát lớn nhất của thế giới đã chỉ ra rằng: sinh vật sống trong biển và đại dương rất đa dạng, từ các loài vi sinh vật đến thú bậc cao
Động vật và thực vật có tới 200.000 loài Nhiều nhóm loài trở thành đối tượng quan
trọng của con người như thân mềm, giáp xác, cá, thú biển Tất nhiên, cái mà con người chưa biết hết hoặc chưa khai thác là những lòai hỗ trợ, duy trì cho sự giàu có và tính ổn định của biển và đại dương
Theo những đánh giá của các nhà hải dương học thì sản lượng sinh học (sinh khối)
của biển và đại dương rất đáng kể
Thực vật nỗi đạt đến 550 tỉ tấn, động vật nỗi 53 tỉ tấn, thực vật đáy 0,2 tỉ tấn, động vật đáy 3 tỉ tấn, các động vật tự bơi (cá, mực, thú biển…) đạt 0,2 tỉ tấn
Năng suất sinh học của biển và đại dương giàu có nhất ở ôn đới, phân bố không đều, phụ thuộc vào vĩ độ địa lý, ở tầng nước mặt và vùng biển ven bờ Ngoài những khu vực đó, năng suất sinh học giảm
Con người khai thác nguồn lợi sinh vật biển trước hết là bằng nghề cá Hiện nay
cá cung cấp gần 6% lượng đạm tiêu thụ cho con người Nếu tính cả lượng đạm gián tiếp
ở dạng bột cá dùng trong chăn nuôi thì cá thỏa mãn khoảng 24% tổng lượng đạm trên
toàn thế giới
Trong tổng số trên 19.000 loài cá đã xác định được thì khoảng 9.000 loài là đối tượng khai thác, tuy nhiên trong chúng chỉ có 22 loài cho sản lượng đánh bắt trên 100.000 tấn/năm
Trong lịch sử nghề cá thế giới, vào năm 1950 tổng sản lượng khai thác là 20 triệu tấn/năm, năm 1970 đạt 70 triệu tấn/năm, năm 1985 đạt 84 triệu tấn/năm; nhưng từ đó
đến nay sản lượng không tăng được nữa mặc dù phương tiện tàu thuyền và trang thiết bị, ngư cụ hiện đại hơn và số lượng phương tiện cũng tăng Đây là dấu hiệu của việc khai
Trang 10thác đã đạt đến ngưỡng của khả năng phục hồi nguồn lợi Sản lượng các sản phẩm ngoài
cá như thân mềm, tôm, cua, mực thú biển và rong tảo vẫn đang tăng
Nếu giữ mức tiêu thụ sản phẩm thủy sản như hiện nay và mức khai thác cho phép
là 100 triệu tấn/năm thì nhân loại thiếu khoảng 30 triệu tấn mỗi năm do dân số tăng
nhiều Để bổ sung cho sự thiếu hụt đó, chỉ có biện pháp là đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản
1.2.3 Khái quát về đặc trưng môi trường biển và nguồn lợi thủy sản Việt Nam
1.2.3.1 Đặc trưng môi trường biển và đa dạng sinh học
Vùng biển Việt Nam phát triển kế thừa trên khung cấu trúc địa chất phức tạp, hoạt hóa nên địa hình bờ và đáy biển ở đây cũng phức tạp và đa dạng Địa hình đáy biển là yếu tố tự nhiên quan trọng đối với sự phân bố, cư trú của nhiều sinh vật biển, ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp khai thác hải sản
a) Đặc trưng hình thái bờ biển
Dải bờ biển Việt Nam kéo dài từ Móng Cái đến Hà Tiên trên chiều dài khoảng 3.260km, không kể các đảo Do cắt qua các khu vực tự nhiên về cấu trúc địa chất đường
bờ, tính chất chung của phần lục địa ven biển và phần biển ven bờ có thể chia ra các khu vực dải bờ biển khác nhau
+ Khu vực Móng Cái - Đồ Sơn;
+ Khu vực Đồ Sơn - Lạch Trường;
+ Khu vực Lạch Trường - Hải Vân;
+ Khu vực Hải Vân - Vũng Tàu;
+ Khu vực Vũng Tàu - Hà Tiên
b) Điều kiện tự nhiên
Với chiều dài 3.260km vùng biển Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ (80N÷230N) nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á Vị trí địa lý cũng như những đặc trưng về lịch sử phát triển địa chất, điều kiện khí hậu, thủy lý hóa học đã tạo nên một môi trường sống liên quan chặt chẽ với đời sống sinh vật ở vùng biển này
Biển Việt Nam mang tính chất một vùng biển rìa với hai kiểu địa hình chính: Địa hình đồng bằng của thềm lục địa rìa tây Biển Đông và địa hình núi ở vùng sâu phía đông
và đông nam Thềm lục địa trải rộng ở khu vực vịnh Bắc Bộ, vùng biển Đông Nam Bộ và vịnh Thái Lan, độ sâu chỉ trong khoảng 40 ÷ 100m, có địa hình tương đối bằng phẳng Khu vực có địa hình núi tạo nên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các đảo san hô hoặc núi lửa có chỏm san hô ở độ sâu 2.000÷4.000m Tính chất biển nông của vùng thềm lục địa cộng với tính chất quần đảo vùng biển sâu tiếp giáp cũng như các sinh cảnh khác nhau của các hệ sinh thái đặc trưng nhiệt đới ven biển như rừng ngập mặn, rạn san hô, đầm phá, cửa sông, doi cát đã tạo nên cảnh quan đặc biệt đa dạng cho vùng biển Việt Nam có liên quan chặt chẽ tới tính đa dạng của sinh vật biển Việt Nam
Một đặc điểm tự nhiên khác có ý nghĩa quyết định đối với đời sống sinh vật biển
Trang 11của biển Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa Việt Nam nằm trong vùng biển nhiệt đới gió mùa, đường đẳng nhiệt 200C (đường ranh giới giữa hai vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới) chạy qua nữa phía Bắc vịnh Bắc bộ, đã tạo nên sự phức tạp của môi trường sống và
sự đa dạng của khu hệ sinh vật ở đây rất khác với vùng biển phía Nam
c) Các hệ sinh thái đặc trưng
+ Rừng ngập mặn;
+ Rạn san hô
+ Cỏ biển (Seagrass)
+ Vũng biển (vũng, vịnh, đầm phá)
1.2.3.2 Đặc trưng phân bố cá biển Việt Nam
Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài cá có giá trị kinh
tế Theo những đánh giá mới nhất, trữ lượng cá biển trong toàn vùng biển là 4,2 triệu tấn, trong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850 nghìn cá đáy,
700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương
Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 - 70 nghìn tấn/năm); hằng năm có thể khai thác từ 45 đến 50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ v.v Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai, v.v
a) Phân bố theo tầng nước
Dựa trên đặc điểm sinh thái có thể chia cá biển Việt Nam thành 4 nhóm sau:
+ Nhóm cá nổi;
+ Nhóm cá gần đáy;
+ Nhóm cá đáy;
+ Nhóm cá rạn san hô
b) Phân bố theo mùa
Chế độ gió mùa đã ảnh hưởng đến các điều kiện khí hậu thủy văn của biển Việt Nam và nó đã tác động đến sự phân bố và di cư của cá biển Từ đó đã hình thành nên hai mùa khai thác cá biển là "vụ cá Bắc" và "vụ cá Nam" "Vụ cá Bắc" là mùa khai thác trong thời kỳ gió mùa Đông bắc Loại nghề khai thác chính là nghề lưới kéo đáy đánh cá tập trung xuống tầng nước gần đáy và đáy do ảnh hưởng của gió Đông bắc "Vụ cá Nam" là mùa khai thác các loài cá nổi di cư vào vùng gần bờ trong mùa gió Tây nam Tính chất mùa thể hiện rõ rệt nhất là vịnh Bắc bộ
c) Phân bố theo vùng
Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên (độ sâu, chất đáy, dòng chảy ) của vùng bờ
Trang 12và thêm lục địa Việt Nam đã tạo nên sự phân bố của cá không giống nhau Có thể chia biển Việt Nam ra làm hai kiểu địa hình và tương ứng là sự phân bố của cá
- Địa hình biển sâu: đó là vùng biển Trung bộ Việt Nam Đặc điểm tự nhiên của
vùng này là có độ sâu lớn (đường đẳng sâu 200m có khi cách bờ 20 hải lý), độ dốc đáy biển lớn và không bằng phẳng, ít chịu ảnh hưởng của các sông lớn mà chịu ảnh hưởng của các dòng hải lưu Do đó thành phần cá đáy ở đây thấp hơn so với vùng biển khác (chỉ
có khoảng 50 loài thường gặp) và phân bố rất phân tán Về cá nổi, vùng này gồm các loài
cá nổi gần bờ như cá Trích, cá Cơm, cá Nục và cá nổi đại dương như cá Chuồn, cá Ngừ, cá Bạc Má, Thu Thường phân bố ở độ sâu trên 200m và chỉ vào gần bờ để sinh sản trong khoảng tháng 4-8 Vì vậy trong vùng biển Trung Bộ, nghề cá nổi chiếm ưu thế hơn nghề cá đáy
- Địa hình biển nông: bao gồm vịnh Bắc bộ, Đông Nam bộ và vịnh Thái Lan Đặc
điểm của vùng này là độ sâu nói chung không quá 100 m, phổ biến là 20-30 m, đáy tương đối bằng phẳng, chịu ảnh hưởng nhiều của hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long, tạo ra vùng nước giàu chất dinh dưỡng Do điều kiện như vậy nên cá ở đây chủ yếu là cá tầng đáy và cá nổi ven bờ phân bố tương đối đều trong vùng biển, ít có hiện tượng tập trung thành đàn lớn
d) Di cư thẳng đứng ngày đêm
Đối với hầu hết các loài thuộc nhóm cá nổi, nhóm cá gần đáy đều có hiện tượng di
cư thẳng đứng ngày đêm Nhóm cá nổi gần bờ khi tập trung xuống tầng gần đáy thì trở thành đối tượng đánh bắt của nghề kéo đáy còn khi đi lên các tầng nước trên mặt biển thì
nó trở thành đối tượng của các nghề đánh cá nổi như lưới kéo tầng giữa, lưới mành, lưới vây Ban ngày, các loài cá nổi gần bờ tập trung xuống tầng đáy thành đàn còn ban đêm nổi lên các tầng nước trên và phân bố rải rác thành lớp như ở cá Nục, cá Trích Có 7 dạng tập trung của cá thành đàn di cư:
- Cá phân tán trong các tầng nước riêng lẻ thành các nhóm nhỏ hoặc lẫn với sinh vật phù du hoặc các lớp cá con;
- Lớp cá con hoặc cá nhỏ;
- Lớp cá hình thành do cá nổi lên từ tầng đáy do hiện tượng di cư ngày đêm;
- Đàn cá nhỏ của các loài cá nhỏ
- Đàn cá vừa của các loài cá nổi;
- Đàn cá lớn của các loài cá nổi;
- Đàn cá sát đáy của các loài cá đáy
Tổng số đàn cá gặp trong mùa gió Đông Bắc (mùa đông) nhiều hơn trong mùa gió Tây Nam, trung bình lớn gấp 2 lần Nhưng số đàn lớn nổi nhiều nhất ở vùng gần bờ và các đảo trong quá trình đi đẻ trong mùa lại nhiều hơn mùa đông Phần lớn các đàn cá đều gặp ở tầng nước trên, càng xuống sâu càng ít gặp Các đàn cá nổi xuất hiện ở độ sâu từ 20
Trang 13- 50m nước (57%), vùng ven bờ có độ sâu nhỏ hơn 20m nước có 16,5% và vùng 50 - 100m nước có 23,5% tổng số đàn cá Trong cùng một vùng biển ban ngày cá tập trung thành từng đàn nhiều hơn và ban đêm sống phân tán hơn ban ngày
Cá đáy thường phân bố thành cụm ở sát đáy, đôi khi tập trung thành đàn lớn, tập tính đàn của cá đáy chưa được nghiên cứu đầy đủ
1.3 Tầm quan trọng của môi trường biển và nguồn lợi thủy sản trong chiến lược phát triển kinh tế biển
1.3.1 Vai trò của biển và đại dương
Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng và của thế giới nói chung Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh
về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao
Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ‘‘Thế kỷ của đại dương‘‘, bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển
Biển và đại dương là những kho nước vô tận, cung cấp cho các lục địa một lượng hơi nước rất lớn, sinh ra mây mưa để duy trì cuộc sống của con người, sinh vật trên Trái Đất và có tác dụng điều hoà khí hậu
Biển và đại dương còn là những kho tài nguyên, thực phẩm vô cùng quý giá Tài nguyên sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng trăm ngàn loài động vật, thực vật và vi sinh vật Đây là kho thực phẩm vô cùng quý giá, đặc biệt là ở các vùng thềm lục địa Bên cạnh các loài hải sản quen thuộc dùng làm thực phẩm như cá, tôm, cua, mực ; ở các biển và đại dương vùng cực, còn có các loài động vật lớn như cá voi, cá mập, báo biển, gấu biển là nguồn cung cấp thịt, mỡ, da và lông quý cho công nghiệp Thực vật ở biển và đại dương có các loài rong và tảo đủ màu sắc, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm và công nghiệp hoá chất
1.3.2 Chiến lược phát triển kinh tế biển
Có thể khẳng định, tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển của nước ta có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước
Ngoài dầu khí và cảng biển, nguồn lợi hải sản với chủng loại rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên, một số vùng biển nước ta thường xảy ra thiên tai với cường độ lớn và tần suất cao làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân vùng ven biển cũng như trong việc khai thác tiềm năng kinh tế biển
Bên cạnh đó, quy mô phát triển kinh tế biển nước ta còn khá nhỏ, manh mún, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành, nghề chưa hợp lý, mới chỉ phát triển trên một diện hẹp; chưa chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết để đủ sức vươn ra vùng biển quốc tế
Trang 14Trong khai thác, đánh bắt, chế biến nguồn lợi kinh tế biển vẫn đang chủ yếu là sản xuất nhỏ; với hệ thống hạ tầng còn thiếu thốn, yếu kém, chưa đồng bộ; cùng với đang thiếu những cảng biển lớn với dịch vụ hậu cần quy mô, hệ thống những cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ biển, các cơ sở dự báo thiên tai từ biển đang bộc lộ những yếu kém, bất cập v.v…
Đặc biệt, công tác hợp tác quốc tế về biển còn nhiều hạn chế, trong khi tranh chấp giữa các nước liên quan đến biển Đông còn diễn ra phức tạp
Theo dự báo của Liên hợp quốc, đến năm 2025, thế giới sẽ mất đi 70 triệu héc ta đất canh tác do bị ngập mặn hay bị chìm trong nước biển Do đó, những dự án chiến lược khai thác biển, biến biển cả thành nơi phát triển nông nghiệp đang được các quốc gia và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, xây dựng
Là một quốc gia có biển, đảo, Việt Nam cũng không nằm ngoài nguy cơ này, nên hết sức quan tâm đến việc xây dựng chiến lược phát triển biển
1.3.2.1 Định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng -
an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
1.3.2.2 Chiến lược phát triển kinh tế biển
Mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh
Mục tiêu cụ thể là xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% tổng GDP của cả nước
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển; có thu nhập bình quân đầu người cao gấp 2 lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước
Trang 15Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển Với những định hướng chiến lược cụ thể
về phát triển kinh tế biển đến năm 2020 trên một số lĩnh vực quan trọng dưới đây
Về kinh tế - xã hội: Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo
vệ môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển gắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng tuyến đường ven biển, trong đó có một số đoạn cao tốc và các tuyến vận tải cao tốc trên biển
Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế
để ra biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước Đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tế biển, ven biển gồm: khai thác, chế biến dầu khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến hải sản; phát triển du lịch biển và kinh tế hải đảo; xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển
Trước mắt, sẽ tập trung đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho người dân hoạt động, sinh sống trên biển, đảo và ở những vùng thường bị thiên tai
Về chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ
vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc
Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển
Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân
ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, phát triển kinh tế kết hợp làm nhiệm
vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc
Về phát triển khoa học - công nghệ biển: Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ
biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoa học - công nghệ, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tài nguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ cho nghiên cứu và khai thác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đất nước
Trang 16Về xây dựng kết cấu hạ tầng biển: Phát triển mạnh hệ thống cảng biển quốc gia,
xây dựng đồng bộ một số cảng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở cả ba miền của đất nước, tạo những của mở lớn vươn ra biển thông thương với thế giới
Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật, sớm khắc phục tình trạng lạc hậu về trình độ kỹ thuật - công nghệ các cảng; tăng nhanh năng lực bốc xếp hàng hoá, giảm thiểu tối đa chi phí, bảo đảm có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế
Sớm hoàn chỉnh khai thác có hiệu quả hệ thống sân bay ven biển, xây dựng tuyến đường ven biển và đường cao tốc Bắc - Nam trên biển v.v…
1.3.3 Ngành thủy sản với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài 3.260 km, với trên 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và vùng biển, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế rộng gấp hơn 3 lần diện tích đất liền Tài nguyên hải sản của vùng biển nước ta khá phong phú và đa dạng, với hơn 2.000 loài sinh vật biển, đảm bảo trữ lượng khai thác hằng năm gần 2 triệu tấn; cộng với các điều kiện thủy văn và hệ thống sông ngòi, kênh rạch, đầm phá, ao hồ rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, tạo nên những thế mạnh, tiềm năng trong phát triển kinh tế biển của đất nước Phát triển kinh tế biển, mở rộng phạm vi hoạt động kinh tế trên vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của nước ta
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để vừa khai thác nguồn lợi biển vừa khẳng định chủ quyền và nâng cao khả năng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải
Nhận thức rõ vị trí chiến lược của biển và vai trò quan trọng của ngành Thủy sản đối với sự nghiệp phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, những năm qua, ngành Thủy sản đã từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, bền bỉ phấn đấu, phát triển từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ, vươn lên trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nghề cá Việt Nam đã đạt được vị trí cao trong cộng đồng nghề cá thế giới, đứng thứ 12 về khai thác thủy sản, thứ 3 về nuôi thủy sản và thứ 7 về giá trị xuất khẩu thủy sản Hàng chục cảng cá đã được xây dựng và đưa vào sử dụng tại các địa phương ven biển và nhiều đảo lớn trên các vùng biển của đất nước Sự phát triển nhanh, bền vững của kinh tế thủy sản, đặc biệt là sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất, nuôi trồng, khai thác thủy sản và các cơ sở hạ tầng nghề cá đã giúp cho đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của bà con ngư dân được cải thiện rõ rệt; đồng thời, góp phần bảo vệ chủ quyền biển dảo
Theo Chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2020 đã đề ra, ngành Thủy sản
xác định phương hướng chiến lược phát triển trong giai đoạn tới là:
Trang 17Tập trung phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm theo phương thức khoa học, hiệu quả và bền vững môi trường Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác, đánh bắt hải sản xa bờ; chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảo quản, chế biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước Mở rộng và nâng cấp các cơ sở
hạ tầng, dịch vụ nghề cá Bảo vệ và giữ gìn môi trường sinh thái biển, sông, nước, bảo đảm tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản
Để thực hiện mục tiêu đề ra, Ngành tập trung thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, nhất là những ngành khai thác ven bờ và những nghề đánh bắt hủy diệt nguồn lợi thủy sản (bằng vật liệu nổ), có định hướng chuyển đổi nghề cụ thể và chính sách khuyến khích thực hiện; gắn khai thác, nuôi trồng thủy sản với bảo vệ, phát triển nguồn hải sản và môi trường biển Chương trình tổng thể phát triển khai thác xa bờ, bao gồm: các giải pháp đồng bộ về cơ cấu tàu, thuyền, nghề hợp lý; điều tra đánh giá nguồn lợi; thông tin, dự báo ngư trường; dịch vụ hậu cần nghề cá; nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao phương pháp và công nghệ khai thác tiên tiến; đào tạo nguồn nhân lực quản
lý và khai thác hải sản có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường quốc tế, khu vực và trong nước Thiết lập và đưa vào vận hành có hiệu quả hệ thống giám sát tàu
cá, nắm bắt kịp thời thông tin phục vụ công tác tìm kiếm, cứu nạn, bảo đảm an toàn sản xuất cho ngư dân Trong phát triển nuôi trồng thủy sản, chú trọng các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, đầu tư công nghệ, kỹ thuật nuôi, giống, chế biến, làm tiền đề cho thực hiện chuyển đổi nghề nghiệp, giảm áp lực khai thác nguồn lợi ven bờ Lựa chọn, phát triển các mô hình quản lý nghề cá bền vững, phù hợp với thực tế
Thủy sản là một ngành kinh tế quốc dân quan trọng, hoạt động trải rộng trên khắp các vùng biển và ven biển của Tổ quốc, luôn có quan hệ mật thiết với vấn đề bảo vệ nguồn lợi biển, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên hướng biển, nên sự phát triển của Ngành luôn gắn bó hữu cơ với việc xây dựng tiềm lực quốc phòng-an ninh trên từng vùng biển, ven biển, hải đảo và của cả nước; cụ thể hóa trong các hoạt động kiểm tra, giám sát, thực thi pháp luật, hoạt động phối hợp cứu hộ, cứu nạn và giữ gìn an ninh, trật tự trên biển
Các giải pháp:
1 Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động điều tra, nghiên cứu nguồn lợi hải sản để làm luận cứ cho việc phát triển đội tàu, thuyền và cơ sở hạ tầng nghề cá; đồng thời, làm cơ sở cho việc tìm kiếm, phát triển các công nghệ khai thác tiên tiến Tổ chức khai thác hợp lý
đi đôi với dịch vụ hậu cần, tiêu thụ sản phẩm trên biển kết hợp với tổ chức các phương án bảo vệ sản xuất và bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển, đảo và ven biển của đất nước
2 Đẩy mạnh chương trình phát triển khai thác xa bờ, tập trung phát triển nhanh đội tàu đánh bắt xa bờ; chú trọng hỗ trợ bà con ngư dân đổi mới công nghệ kết hợp với
Trang 18đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng Đồng thời, có cơ chế, chính sách thích hợp để hỗ trợ, tập trung xây dựng các đội tàu đánh bắt cá Việt Nam đủ sức vươn ra khai khác ngoài khơi và tham gia bảo vệ chủ quyền biển khi có tình huống xảy ra
3 Tích cực cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở nghề cá; giảm các rủi ro về kinh tế cũng như những rủi ro do thiên tai gây ra Song song với hoạt động đóng mới và cải hoán tàu đánh cá để đủ sức vươn ra xa bờ, cần coi trọng xây dựng thêm các cảng cá
và các cơ sở chế biến thủy sản trên biển, đảo
4 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho ngư dân, giúp họ nâng cao nhận thức về nghề cá có trách nhiệm Tăng cường các đội tàu kiểm ngư của các địa phương để giám sát việc thực thi pháp luật, bảo vệ nguồn lợi trên biển
5 Tiếp tục đẩy mạnh chương trình phát triển kinh tế thủy sản tại các đảo; xây dựng các đảo lớn thành các trung tâm dịch vụ nghề cá trên biển, khi cần, có khả năng trở thành cơ sở bảo đảm hậu cần phục vụ các hoạt động tác chiến trên biển Xây dựng, ban hành chính sách thu hút và khuyến khích để đưa nhân dân ra định cư, lao động, sản xuất trên các đảo, nhằm bổ sung lực lượng phát triển kinh tế thủy sản và quản lý, bảo vệ biển, đảo Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển, các ngành, địa phương ven biển xây dựng các phương án tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, xử lý các thảm họa thiên tai, môi trường, chống cướp biển, bảo đảm an toàn sản xuất cho ngư dân trên biển, đảo
7 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển, tham gia thực hiện Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982 mà nước ta tham gia; cam kết thực hành nghề cá có trách nhiệm và nghề cá bền vững Tăng cường năng lực đội tàu, thuyền để tham gia khai thác ở vùng đánh cá chung
8 Các lực lượng khai thác hải sản ngoài khơi cần có sự phối hợp chặt chẽ theo sự chỉ đạo tập trung, thống nhất từ Trung ương tới cơ sở; góp phần giữ vững hòa bình và ổn định ở Biển Đông
1.4 Thực trạng suy thoái môi trường, nguồn lợi thủy sản Biển Đông và công tác
điều tra, đánh giá, dự báo nguồn lợi
1.4.1 Thực trạng suy thoái môi trường và suy giảm nguồn lợi thủy sản Biển Đông
1.4.1.1 Suy thoái môi trường biển Đông
Ô nhiễm biển, các hình thức hủy hoại cảnh quan, nơi cư trú, và khai thác biển quá mức là những nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái các hệ sinh thái và suy kiệt nguồn lợi hải sản trong thời gian qua, thậm chí tới mức báo động
Trong thời gian qua, các hoạt động chính gây hủy hoại trực tiếp các hệ sinh thái biển ven bờ là: nuôi đắp đầm nuôi, ao nuôi, san lấp xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác khoáng sản
Trang 19Trên thực tế, nhiều hệ sinh thái ven biển bị suy thoái, đang làm giảm năng suất và
đa dạng sinh học Biến đổi khí hậu và tác động của con người làm mất đi nhiều bãi triều, thảm cỏ biển và rạn san hô Rừng ngập mặn bị hủy hoại nặng nề do chiến tranh, do người dân lấy củi, khai hoang, nuôi trồng thủy sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, và do cả xói
lở bờ biển Cả nước năm 1943 có khoảng 400 nghìn ha, đến nay chỉ còn khoảng 252.000ha, chủ yếu là rừng thứ sinh và rừng trồng lại
Diện tích bãi biển, vùng triều giảm mạnh do xói lở và khai thác cát Trong các năm 1998 - 2008, diện tích san lấp lên tới 3.100 ha từ Cửa Ông đến Đồ Sơn để xây dựng
cơ sở hạ tầng, các khu dân cư và công nghiệp Hoạt động của con người đã làm thay đổi hình thái địa hình và biến dạng cảnh quan tự nhiên
Cảnh quan tự nhiên trên mặt và dưới đáy biển nhiều nơi đang bị huỷ hoại làm mất
vẻ đẹp, vẻ hài hoà tự nhiên, làm giảm chất lượng môi trường sống và ảnh hưởng đến giá trị tài nguyên du lịch sinh thái
Đặc biệt, nhiều rạn san hô và thảm cỏ biển bị hủy hoại do bùn đục, ngọt hoá, sóng bão, nhiễm bẩn và các hoạt động khai thác huỷ diệt như cào xới nền đáy, dùng thuốc nổ, hoá chất khai thác thuỷ sản Đáng chú ý, san hô đã từng chết hàng loạt do nhiệt độ tăng đột ngột vào những năm El-nino (điển hình là ở Bạch Long Vĩ năm 1997-1998), chết do
ô nhiễm chất độc (do đánh cá bằng cyanua ở Cô Tô năm 2007, do xả thải cyanua và phenol trong vụ Formosa từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế năm 2016) San hô cũng rất
dễ bị phá hủy do đánh cá bằng mìn và neo đậu của tàu thuyền
Gần đây, độ phủ các rạn san hô giảm nhanh, hiện chỉ còn khoảng khoảng 1.122
km2, tập trung ở ven biển Trung Bộ và vùng biển Trường Sa, Hoàng Sa Các rạn san hô
đã bị giảm sút cả về chất lượng và độ che phủ Riêng ở vùng biển miền Bắc, diện tích rạn san hô đã giảm từ 1/4 đến ½; 85% số rạn san hô còn sống đều có chất lượng không tốt hoặc xấu
Trong số 10 vùng tập trung cỏ biển lớn như Tam Giang, Phú Quốc, một số vùng cũng đã bị suy giảm đáng kể Đến nay có khoảng 20% rạn có độ phủ san hô sống nghèo (độ phủ 0-25%), 60% thuộc loại thấp (26-50%), 17% còn tốt (51-75%) và chỉ có 3% rất tốt (trên 75%)
4.1.1.2 Các Dự án nhằm giảm suy thoái môi trường Biển Đông
a) Dự án ngăn ngừa xu hướng suy thoái môi trường Biển Đông và Vịnh Thái Lan:
Có 7 nước tham gia: Camphuchia, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippin, Trung Quốc và Việt Nam Dự án có 6 Hợp phần: San hô, rừng ngập mặn, cỏ biển, đất ngập nước, ô nhiễm từ đất liền và hợp phần Thủy sản đước triển khai từ năm 2002
Trang 20Hình 1.3: San hô
Hình 1.4: Rừng ngập mặn
Hình 1.5: Đất ngập nước
Trang 21Hình 1.6: Cỏ biển Hình 1.7: Ô nhiểm từ đất liền
b) Dự án Đảo ngược xu thế suy thoái môi trường biển Đông
Đứng trước suy thoái nghiêm trọng môi trường biển Đông, Cơ quan Ðiều phối các biển Đông Á (COBSEA) đã vận động các nước thành viên, các tổ chức quốc tế tiếp tục khởi động Dự án “Đảo ngược xu thế suy thoái môi trường toàn cầu tại vùng biển Đông
và Vịnh Thái Lan” mà Bộ TN&MT là cơ quan đầu mối thực hiện Đây là dự án triển khai nối tiếp Chương trình hành động Chiến lược Biển Đông của COBSEA với sự tham gia của 7 nước thành viên: Campuchia, Trung Quốc, Indonexia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam
+ Việt Nam cùng quốc tế tích cực cải thiện môi trường biển
Đánh giá về nỗ lực của Việt Nam trong việc cùng COBSEA và các nước trong khu vục ngăn chặn suy thoái môi trường biển: Việt Nam là thành viên của COBSSEA từ năm 1994 và đã tham gia rất nhiều sáng kiến của COBSEA nhằm bảo vệ và ngăn chặn suy thoái môi trường biển Có thể kế tới dự án quản lý rạn san hô ICRAN, một dự án xử
lý, ngăn chặn suy thoái rạn san hô biển bằng việc sử dụng các bản đồ như một công cụ để quản lý đối tượng này Một dự án khác là Dự án Green Fin cũng góp phần cải thiện các hoạt động về lặn biển tại Việt Nam và quản trị đại dương với Bộ Luật ứng xử GF được áp dụng đối với các chính sách quản lý tài nguyên và du lịch
Việt Nam cũng tham gia thực hiện việc áp dụng quy hoạch không gian biển và ngăn ngừa xói lở bờ biển và những vấn đề quan trọng phải giải quyết trong khu vực Việt Nam đã tham gia rất nhiều dự án biển Đông do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ nhằm tăng cường quản lý môi trường sống và đa dạng sinh học có liên quan Các hệ sinh thái mà các dự án hướng tới phục hồi, bảo vệ bao gồm rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san
hô và đất ngập nước vùng bờ và từng bước kiểm soát, giải quyết được những tác động nguồn thải từ lục địa vào đại dương
Dự án lần này sẽ tiếp tục hướng tới mục tiêu hỗ trợ các quốc gia tham gia hành động bảo vệ môi trường biển bằng việc hoàn thiện văn kiện dự án đệ trình lên Quỹ Môi trường toàn cầu và cơ quan điều phối, từ đó, thông qua các trình hành động chiến lược về biển và môi trường biển vùng bờ trong khu vực biển Đông, với 3 hợp phần đó là: Hợp phần 1, Giảm suy thoái môi trường sống bằng việc quản lý môi trường sống vùng bờ sinh vật biển Đông; Hợp phần 2, Tăng cường kế hoạch hành động quản lý môi trường sống vùng bờ và ô nhiễm đất để giảm suy thoái môi trường biển Đông; Hợp phần 3, Tổng hợp
và hợp tác thực hiện chiến lược biển Đông cấp khu vực và cấp quốc gia
+ Ngăn chặn đà suy thoái bằng hành động ưu tiên
Mặc dù, chúng ta đã thực hiện khá nhiều dự án, chương trình hành động cụ thể, tuy vậy, do tính chất dàn trải, nên mọi hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển chưa thực sự được giải quyết triệt để Để thực hiện hành động “đảo ngược” xu thế ô nhiễm
Trang 22biển hiện nay, các chuyên gia phân tích, cần phải xác định một số nhiệm vụ ưu tiên để tập trung giải quyết Theo đó, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay là quản lý và xử lý nguồn thải làm ô nhiễm môi trường vùng bờ
Một vùng biển mang tính đa dạng sinh học cao và diễn ra sôi động các hoạt động kinh tế cũng đang trên đà suy thoái cần được ưu tiên phục hồi đó là vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam Bởi lẽ, vùng đất ngập nước có rất nhiều chức năng đặc biệt quan trọng như: chức năng điều tiết nguồn nước ngầm; lắng đọng trầm tích, độc tố; tích lũy chất dinh dưỡng, điều hòa vi khí hậu, hạn chế lũ lụt, sản xuất sinh khối, duy trì đa dạng sinh học và chắn sóng, gió, bão, ổn định bờ chống xói lở và hạn chế sóng thần Hiện, vùng đất ngập nước quan trọng này có 25% được sử dụng mục đích nuôi trồng thủy sản Tuy vậy, hiện, vẫn chưa có quy chế quản lý đất ngập nước riêng phù hợp với đặc thù của từng loại hình đất ngập nước Điều này, dẫn tới việc khai thác sử dụng nguồn tài nguyên đất ngập nước ven biển đang diễn ra một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch Việc người dân tự ý khai hoang để nuôi trồng thủy sản, mở rộng các khu dân cư, đô thị hóa, khu công nghiệp, phát triển giao thông phá vỡ quy hoạch… làm cho diện tích đất ngập nước tự nhiên bị thu hẹp, tài nguyên suy giảm, xói lở, bồi tụ, môi trường bị ô nhiễm nghiễm trọng đặc biệt là ô nhiễm dầu và kim loại nặng
Ngoài ra, việc bảo vệ các loài san hô, thảm cỏ biển, nơi cư trú của các loài và đa dạng sinh học cũng đang rất cần có những giải pháp bảo vệ hữu hiệu Bởi lẽ, trong vòng
10 – 15 năm gần đây, số lượng san hô, thảm cỏ biển đã giảm tới 50% trên vùng biển Việt Nam (theo điều tra thực tế và chụp ảnh vệ tinh) do khai thác quá mức và ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu làm nhiệt độ nước biển tăng…
Để thực thi hành động này, theo các chuyên gia nghiên cứu biển, cần có giải pháp quản lý nguồn thải từ các lưu vực sông ra biển; quản lý vùng đất ngập nước bằng quy hoạch cụ thể và tích cực tham gia các điều ước quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên
có liên quan đến đất ngập nước vùng bờ Đối với việc bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn cần củng cố đầu mối quốc gia mạng lưới các tỉnh ven biển, đảo có rừng ngập mặn, tăng cường hợp tác quốc tế, ứng dụng KHCN trồng rừng ngập mặn ở những nơi khó trồng, đồng thời, có cơ chế giám sát biến động rạn san hô, thảm cỏ biển để có chính sách tác động kịp thời
1.4.1.3 Suy giảm nguồn lợi thủy sản
Ở các vùng cửa sông, vũng vịnh, đầm phá, nơi có các bãi giống, bãi đẻ của các loài sinh vật biển, có nguy cơ bị ô nhiễm đã làm giảm tài nguyên sinh học, ảnh hưởng đến cả nghề cá ven biển và ngoài khơi Nguồn lợi cá biển giảm rõ rệt do khai thác quá mức và huỷ diệt bằng mìn, điện và hoá chất độc hại, mất bãi giống, bãi đẻ và ô nhiễm Sản lượng và cường lực khai thác liên tục giảm từ 0,92tấn/cv vào năm 1990, chỉ còn 0,35tấn/cv vào năm 2003
Trang 23Các đập chứa lớn trên lưu vực cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng các ven bờ Chẳng hạn, đập Hoà Bình làm mất bãi đẻ và chặn đường di cư đi đẻ của nhiều loài cá kinh tế sống ở biển như cá mòi, cá cháy, làm giảm 42.600 tấn trong tổng số 185500 tấn trữ lượng cá biển bị giảm ở phần vịnh Bắc Bộ thuộc Việt Nam Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở nhiều khu vực cửa sông ven biển Trung Bộ, nơi phổ biến các đập trên lưu vực trữ nước tưới và sinh hoạt
Nguyên nhân chính khiến nguồn lợi thủy sản ven bờ cạn kiệt là khai thác quá mức, thể hiện ở năng suất đánh bắt và kích thước của các loài cá đều bị giảm Thành phần sản lượng cũng biến đổi nghiêm trọng, tỷ lệ các loài cá có giá trị cao truyền thống như cá hồng, cá song, cá chim, tôm he… giảm mạnh, thay vào đó là những loài cá tạp, cá kém chất lượng
Sự suy giảm đa dạng sinh học còn thể hiện ở sự giảm số lượng loài sinh vật có ý nghĩa kinh tế Nhằm bảo vệ và phát huy nguồn lợi tài nguyên biển, trong thời gian tới cần: Đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến trong khai thác tiềm năng và bảo vệ tài nguyên – môi trường biển Đó là các giải pháp xây dựng công trình trên biển, dự báo, thăm dò khoáng sản và nguồn lợi nghề cá (ứng dụng công nghệ vệ tinh màu nước dự báo ngư trường), nuôi trồng thuỷ sản hiệu xuất cao không gây ô nhiễm, giải quyết vấn đề nước ngọt cho vùng ven biển và các đảo xa bờ, phát triển các nguồn năng lượng sạch nguồn gốc từ biển (gió, sóng, thuỷ triều, dòng chảy biển ), tách chiết các hợp chất thiên nhiên có giá trị cao từ nguồn vật liệu biển và chế biến các sản phẩm biển
Bên cạnh đó, cần phát triển du lịch biển gắn với các khu bảo tồn biển như là một quốc sách phát triển bền vững Các khu này, ngoài duy trì các giá trị về tự nhiên, đa dạng sinh học và khoa học, còn mang lại những lợi ích kinh tế to lớn nhờ hỗ trợ cho du lịch sinh thái và nghề cá
1.4.1.3 Một số tác động chính của con người làm suy thoái môi trường và suy giảm nguồn lợi thủy sản
a) Hoạt động khai thác thủy sản
Việc khai thác nguồn lợi thủy sản đã góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia, nâng cao đời sống, tăng thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cho đa phần dân cư ven biển Tuy nhiên, sự gia tăng hoạt động khai thác hải sản đã làm suy thoái chất lượng môi trường biển, trong thời gian qua áp lực đánh bắt hải sản trên các vùng biển cũng tăng lên,
đã ảnh hưởng đến trữ lượng các đàn cá Hiện nay, nhu cầu sử dụng hải sản trên thế giới
đã tăng vượt quá sản lượng khai thác hàng năm làm gia tăng áp lực đánh bắt Sự khai thác quá mức đã làm giảm nguồn lợi cá của nhiều ngư trường Do cường độ khai thác quá cao đã dẫn tới sự suy giảm kích thước quần thể, giảm tính đa dạng sinh học và tính kết đàn và thích nghi của cá cũng giảm theo Hầu hết các đàn cá đáy đã bị đánh bắt và nhiều đàn đang bị suy giảm, một số đàn cá di cư không còn khả năng phục hồi số lượng quần
Trang 24thể và lâm vào tình trạng bị đe dọa nghiêm trọng Nhiều ngư trường đang gặp rủi ro do sự suy thoái nơi cư trú, sự ô nhiễm vùng nước và sự can thiệp khác của con người
Gần đây, việc buôn bán, xuất khẩu cá cảnh biển đã phát triển mạnh ở nhiều thành phố lớn và nhiều quốc gia, kéo theo việc đánh bắt cá quá mức trên các rạn san hô, các bãi
đá ngầm dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái tự nhiên các quần xã sinh vật biển ven bờ Việc sử dụng các loại nghề, ngư cụ đánh bắt cá có tính hủy diệt đã ảnh hưởng lớn đến khả năng phục hồi quần thể như dùng chất nổ, xung điện, chất độc v.v Một số ngư cụ có những ảnh hưởng có hại đối với các loài không phải là đối tượng khai thác như các loài rùa biển, các loài chim, các loài thú biển và các loài động vật không xương sống khác b) Hoạt động nuôi trồng thủy sản
Với hệ sinh thái đầm phá, vũng, vịnh ven biển và hệ thống sông ngòi dày đặc, với khoảng 114 cửa biển từ những con sông lớn đổ ra tạo nên sự thuận lợi phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản Với đặc tính này, vùng ven bờ là nơi thích hợp cho việc nuôi trồng các loài hải sản cũng như các loài thủy sản nước ngọt Việc nuôi trồng thuỷ sản có
ý nghĩa lớn trong việc cung cấp protein và giảm thiểu đói nghèo cho người dân sống vùng ven bờ Tuy nhiên, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản cũng đem lại nhiều tác hại về mặt môi trường và sinh thái Để phát triển nuôi trồng thuỷ sản các vùng đất thấp ven bờ như rừng ngập mặn, đất nông nghiệp, các bãi triều đã bị chuyển đổi thành các ao, đìa nuôi tôm Sự suy thoái rừng ngập mặn đã ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển tự nhiên Mọi người đều biết rằng rừng ngập mặn có vai trò trong việc chống xói mòn, hạn chế tốc độ dòng chảy, duy trì chất lượng nước ven bờ, là nơi sinh sản, ươm nở, sinh sống của nhiều loài thủy sản Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong việc lắng đọng các chất lơ lửng và góp phần tạo ra chuỗi thức ăn bổ sung quan trọng cho các loài thuỷ sản tự nhiên
Hoạt động nuôi trồng thủy sản thải ra môi trường nhiều loại thuốc độc, thuốc kháng sinh, thuốc kích thích, chất cặn bả gây ra những ảnh hưởng và hủy hoại đến hệ sinh thái cỏ biển Cỏ biển là những thực vật bậc cao, sống thích nghi hoàn toàn ngập nước trong môi trường biển Chúng thường mọc thành những cánh đồng rộng lớn trên nền đáy của vùng nước nông ven bờ
Các thảm cỏ biển được coi như những hệ sinh thái nhiệt đới có năng suất cao, vì vậy cùng với hệ sinh thái rừng ngập mặn, các thảm cỏ biển đóng vai trò quan trọng đối với
vùng ven biển Các thảm cỏ biển thực hiện các chức năng cơ học và sinh học đối với vùng
nước ven bờ như làm ổn định tầng dáy và môi trừơng biển, chống xói lỡ bờ, nơi dự trữ thức ăn cho các thủy vực, nơi cư trú và vườn ươm ấu thể của các loài hải sản có giá trị Trong quá trình hoạt động, nuôi trồng thuỷ sản tạo ra các tác động tiêu cực đối với môi trường như việc dư thừa thức ăn làm thay đổi cấu trúc chuỗi thức ăn tự nhiên, một số nhóm sinh vật đáy có thể bị chết do hàm lượng oxygen trong tầng đáy bị suy giảm do quá trình phân huỷ của vi sinh vật Một trong những tác động lớn của việc nuôi trồng thủy
Trang 25sản thâm canh là việc sử dụng hóa chất, các loại thuốc thủy sản, thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản, các chất này có tác động gây ô nhiễm hoặc phá hủy môi trường
Ngoài ra còn các hoạt động khác cũng gây suy thoái môi trường biển và suy giảm nguồn lợi thủy sản, nhất là nguồn lợi ven bờ như:
c) Hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác dầu khí
d) Hoạt động vận tải biển;
e) Phát triển đô thị, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ du lịch:
Tốc độ đô thị hóa càng nhanh là nguyên nhân gây nên các vấn đề môi trường ở vùng biển ven bờ như: chất thải rắn, rác thải, nước thải chưa được xử lý thải trực tiếp ra sông và đổ vào biển Việc cải tạo, xây dựng bến cảng, kho hàng, xây dựng các công trình kinh tế có thể gây nên sự phá huỷ và gia tăng sự xói mòn bờ biển Quá trình đô thị hóa dẫn đến nhu cầu mở rộng đất, san lắp mặt bằng, lấn biển ở vùng ven bờ gây nên sự xâm hại các hệ sinh thái…Sản xuất công nghiệp phát triển cũng thải ra môi trường nước thải, chất thải rắn gây ô nhiễm hệ sinh thải thủy vực, ô nhiễm bờ biển, sông ngòi Do sự phát triển các khu công nghiệp đòi hỏi phải gia tăng nhu cầu nguyên vật liệu xây dựng, nhu cầu nơi ở, nhu cầu giải trí vì thế làm phát sinh việc lấn chiếm các vùng đất ven bờ để xây dựng thành phố mới, bến cảng, cầu tàu Hậu quả là thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, làm xói lở bờ sông, bờ biển làm gia tăng áp lực lên các hệ sinh thái khu vực ven bờ, làm cho môi trường ven biển ngày càng xấu đi
Tác động tiêu cực của nông nghiệp đối với môi trường biển gồm việc gây ô nhiễm biển từ các hoá chất dùng trong nông nghiệp Lượng chất thải trong nông nghiệp như chế phẩm phục vụ nuôi tôm, cá, gia súc, gia cầm; dư lượng các loại thuốc kích thích, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật được thải trực tiếp vào biển không qua xử lý hoặc thải vào sông rồi đổ ra biển gây ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm chất độc, làm giảm lượng oxy trong nước, làm mất nơi cư trú của các loài sinh vật biển
Vùng ven bờ là điều kiện lý tưởng để phát triển tiềm năng du lịch, nghĩ mát và nghỉ dưỡng Hiện nay du lịch biển, du lịch tham quan quanh các đảo ven bờ đang phát triển khá mạnh Bên cạnh những lợi ích đem lại, du lịch và giải trí đang gây ra những tác động
Hình 1.8 Nuôi thủy sản lồng bè và trong ao đìa
Trang 26ảnh hưởng đến môi trường ven bờ, làm giảm chất lượng môi trường biển Hiện tại du lịch
đã khai thác quá mức và sử dụng không hợp lý nguồn lợi và tài nguyên biển, biểu hiện như: săn bắn biển, khai thác cá cảnh phục vụ khách du lịch, khai thác các đặc sản chưa đến tuổi trưởng thành, đặc biệt một số sinh vật quý hiếm, phá hủy hệ sinh thái rạn san hô; xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động du lịch giải trí không theo quy hoạch tạo ra mối đe dọa lớn đối với môi trường tự nhiên ven biển Hoạt động tham quan, du lịch cũng làm ảnh hưởng đến sinh cảnh tự nhiên, nơi cư trú và sinh sản của một
số loài sinh sống ở các bãi rạn, khu rừng ngập mặn, vùng đất ngập nước ven bờ, làm giảm sự đa dạng sinh học do ô nhiễm và phá hủy môi trường sống từ các hoạt động du lịch đem lại
1.4.2 Công tác điều tra, nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi
1.4.2.1 Kết quả nghiên cứu nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam
Trải qua 3 giai đoạn phát triển (trước năm 1954, từ năm 1954-1975 và từ năm
1976 đến nay), công tác điều tra, nghiên cứu biển Việt Nam đã không ngừng gặt hái được những thành quả đáng kể Đặc biệt là giai đoạn từ sau khi đất nước thống nhất, tình hình nghiên cứu biển nói chung và nguồn lợi sinh vật biển nói riêng đã có những bước tiến khá mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng như: Nghiên cứu tổng thể hệ sinh thái biển, đánh giá cơ bản tiềm năng sinh vật biển, ứng dụng công nghệ sinh học bảo vệ tài nguyên biển, đánh giá nguy cơ đe dọa tài nguyên sinh vật và hủy hoại hệ sinh thái biển, quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn biển…
Cùng với các nghiên cứu tổng thể về hệ sinh biển, các nhà khoa học cũng đã có những nghiên cứu cơ bản về tiềm năng tài nguyên sinh vật biển Kết quả đáng chú ý là đã xác định được danh mục gần 12.000 loài sinh vật biển Việt Nam, bao gồm cả động và thực vật Đã chứng minh nguồn lợi hải sản Việt Nam phong phú đa dạng bao gồm khoảng trên 2.000 loài cá, gần 6.000 loài động vật đáy, 653 loài tảo, 5 loài rùa, 12 loài rắn biển Trong đó, có một số nhóm sinh vật biển có giá trị kinh tế quan trọng như cá, tôm, mực… đã được xác định khu vực phân bố, trữ lượng và khả năng khai thác Trữ lượng cá đáy và cá nổi khoảng 3,0 -3,5 triệu tấn (chưa kể cá nổi di cư xa, cá sống ở ven các đảo ), với khả năng khai thác khoảng 1,5 – 1,7 triệu tấn Bên cạnh đó, nghiên cứu đa dạng hóa về sản phẩm biển đang là hướng đi rất tích cực, nhằm giảm bớt áp lực lên các đối tượng khai thác truyền thống Các loài thân mềm (ngao, nghêu, tu hài, hàu, vẹm, ốc hương…) đang được coi là đối tượng khai thác, nuôi trồng chỉ đứng sau cá Đặc biệt, nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học biển bảo vệ tài nguyên biển đã đạt được những kết quả khả quan Một số biện pháp sử dụng các loài sinh vật có ích để bảo vệ môi trường cho từng khu vực hẹp đã bắt đầu có hiệu lực
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng thường xuyên chú ý đến việc đánh giá mức suy giảm nguồn lợi ven bờ và các nguy cơ đe dọa đến tài nguyên sinh vật, hủy hoại các hệ
Trang 27sinh thái biển Việt Nam như sức ép dân số, các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, hiện tượng biến đổi khí hậu, tình trạng sử dụng các phương tiện khai thác mang tính hủy diệt, đánh bắt bằng ngư cụ có kích thước mắt lưới quá nhỏ, khai thác vào các bãi cá đẻ hay các vùng sinh trưởng của cá con…
1.4.2.2 Kết quả điều tra đánh giá nguồn lợi hải sản
Dự án “Điều tra tổng thể hiện trạng và biến động nguồn lợi hải sản” do Viện NC Hải sản đảm nhiệm đã thực hiện các chuyến điều tra đánh giá hiện trạng các nhóm nguồn lợi cá nổi lớn, cá nổi nhỏ và hải sản tầng đáy giai đoạn 2011-2013 Kết quả như sau:
Về thành phần loài, tổng hợp kết quả từ các chuyến điều tra nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam bằng lưới rê, câu vàng, lưới kéo đáy và lưới kéo trung tầng trong giai đoạn 2011-2013 đã thống kê được 911 loài hải sản, thuộc 462 giống nằm trong 191 họ Ngoài ra, 63 loài/nhóm loài chưa xác định được tên khoa học Trong đó, nhóm cá đáy có
số loài phong phú nhất (351 loài), sau đó đến cá rạn (244 loài) và cá nổi (168 loài) Kết quả điều tra cũng cho thấy mùa gió Đông Bắc có số lượng họ/giống/loài nhiều hơn ở mùa gió Tây Nam
Trữ lượng nguồn lợi hải sản được tổng hợp từ các kết quả điều tra, đánh giá bằng các phương pháp diện tích, phương pháp thủy âm, phương pháp phân tích quần thể ảo từ các nguồn số liệu điều tra độc lập nghề cá kết hợp với số liệu sinh học nghề cá Tổng trữ lượng nguồn lợi hải sản biển Việt Nam ước tính trung bình khoảng 4,25 triệu tấn Trong
đó, trữ lượng cá nổi nhỏ ước tính trung bình khoảng 2,65 triệu tấn (chiếm 62,4% tổng trữ lượng); hải sản tầng đáy khoảng 487 ngàn tấn (chiếm 11,5%); giáp xác 79 ngàn tấn (chiếm 1,9%); cá rạn san hô (2,6 ngàn tấn, chiếm 0,1%); cá nổi lớn (1.031 ngàn tấn, chiếm 24,3%)
Tổng trữ lượng nguồn lợi thấp hơn so với kết quả đánh giá trữ lượng nguồn lợi hải sản giai đoạn 2000-2005 Nguồn lợi cá nổi nhỏ có sự biến động khá rõ giữa các vùng, với chiều hướng hơi tăng lên ở vùng vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ và Đông Nam Bộ; Vùng biển Tây Nam Bộ, trữ lượng cá nổi nhỏ chỉ còn khoảng một nửa so với giai đoạn 2000-2005 Nguồn lợi cá nổi lớn tương đối ổn định với tổng trữ lượng ước tính tương đương với giai đoạn 2000-2005 Nguồn lợi hải sản tầng đáy cũng thấp hơn so với trước đây Khả năng khai thác ước tính khoảng 1,75 triệu tấn Trong đó, khả năng khai thác của cá nổi nhỏ 1,06 triệu tấn; hải sản tầng đáy 244 ngàn tấn; giáp xác (tôm, cua) là 32 ngàn tấn; cá rạn san hô (tại 19 đảo) là 1,3 ngàn tấn và cá nổi lớn là 412 ngàn tấn
Theo đánh giá của Viện nghiên cứu hải sản, xu thế giảm nguồn lợi hải sản đã đặt
ra yêu cầu phải giảm áp lực khai thác thông qua giảm đội tàu khai thác tầng đáy, duy trì khai thác xa bờ, khoanh vùng hạn chế khai thác, khai thác theo mùa vụ Do sự biến động thường xuyên về nguồn lợi, hàng năm cần tiến hành điều tra, tăng cường nghiên cứu sinh thái học và làm tốt công tác dự báo môi trường bên cạnh tăng cường năng lực điều tra
Trang 282.1.1 Những quan điểm về sự phát triển và môi trường
2.1.1.1 Quan điểm trước đây về “phát triển hay môi trường”
“Môi trường hay phát triển“ - Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, đã có một thời, nhất là trong và sau cuộc cách mạng công nghiệp, phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu, được coi là tiêu chí số một, nó đã lấn át tất cả những yếu tố khác của sự phát triển: xã hội, văn hóa, môi trường, quyền con nguời v.v
Thậm chí, khuynh hướng “phát triển với bất cứ giá nào” được ưu tiên, sự phát triển
tự phát đó đã trở nên thịnh hành, gây ra những hậu quả hết sức tai hại cho cả vấn đề môi trường lẫn các hoạt động xã hội, văn hóa
Ngay cả trong thời điểm khi mà cuộc chạy đua phát triển giữa các quốc gia, giữa các khu vực kinh tế của thế giới đang diễn ra ngày càng gay gắt, khốc liệt, thì khuynh hướng
“phát triển với bất cứ giá nào” vẫn được tôn sùng trên thực tế, đặc biệt là ở các nước đang phải đối đầu với nghèo đói, lạc hậu, kinh tế chậm phát triển Trong bối cảnh đó, người ta
dễ có khuynh hướng hy sinh môi trường và các yếu tố khác cho phát triển kinh tế
Đã có thời kỳ, một số người, một số quốc gia quá sốt ruột trước tình trạng lạc hậu, kém phát triển của nước mình thường lập luận rằng “cứ tập trung phát triển kinh tế trước
Trang 29đã, mọi vấn đề rồi sẽ giải quyết sau” Kết quả của ý tưởng này là môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, làm cơ sở của phát triển bị thu hẹp lại; tài nguyên của môi trường bị giảm sút về số lượng và chất luợng, trong điều kiện dân số ngày càng tăng lên, chính là nguyên nhân gây nên sự nghèo khó, cùng cực của con người
Sự nghèo đói ở các nước kém phát triển đã khiến cho các quốc gia này chỉ có con đường phát triển duy nhất là khai thác tài nguyên quốc gia càng nhiều càng tốt, kết quả là nguồn tài nguyên bị cạn kiệt Tấm thảm kịch ở một số nước Châu Phi (như Xomali, Etiopia, Uganda, Ruanda v.v.) là một bằng chứng cho sự “ô nhiễm do nghèo đói”
(pollution of Poverty)
Ngược lại với khuynh hướng trên, đã tồn tại khuynh hướng “tăng trưởng bằng
không hoặc âm” (Zero or Negative growth) để bảo vệ các nguồn tài nguyên hữu hạn,
hoặc “chủ nghĩa bảo vệ” thực hiện chủ trương không can thiệp các nguồn tài nguyên sinh
học để bảo vệ chúng; hay “chủ nghĩa bảo tồn” (conservationism) chủ trương không đụng
chạm vào thiên nhiên, nhất là các địa bàn chưa được điều tra, nghiên cứu đầy đủ Tất cả những khuynh hướng, quan điểm trên đều là không tưởng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, nơi mà tài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn cơ bản cho mọi hoạt động phát triển của con người
Lý thuyết không tưởng về “đình chỉ phát triển” thường xuất hiện ở các nước phát triển, bởi vì trước đây và ngay cả hiện nay phần lớn các nguồn tài nguyên của các nước đang phát triển bị khai thác lạm dụng, tiêu thụ quá mức để phục vụ cho các lợi ích của
các nước công nghiệp phát triển và chính tại đây lại xảy ra hiện tượng “ô nhiễm do giàu có” (Pollution of Affluence)
Như vậy, tình trạng thiếu lương thực, nước uống, nhà ở, thuốc men, vệ sinh, nghèo
đói, mù chữ, thiên tai ở các nước đang phát triển, hay nói cách khác là hiện tượng “ô nhiễm do nghèo đói” có một phần bắt nguồn từ “ô nhiễm do giàu có”
Từ những điều trình bày ở trên, ta thấy: phát triển và môi trường không phải là hai vấn đề luôn tồn tại và mâu thuẩn nhau theo kiểu loại trừ, có cái này thì không có cái kia
Do đó, không thể chấp nhận rằng cách đặt vấn đề “phát triển hay môi trường”, mà phải đặt vấn đề “phát triển và môi trường”, nghĩa là phải lựa chọn và coi trọng cả hai, không
hy sinh cái này vì cái kia
2.1.1.2 Quan điểm về “phát triển và môi trường”
Tiếp cận các hệ thống phát triển và tổng hợp các lý luận về sự phát triển trước đó,
hai nhà môi trường học người Canada là Jacobs và Sadler (1990) đã trình bày mối quan
hệ biện chứng giữa phát triển và môi trường trong sơ đồ dưới đây:
Trang 30
Mô hình quan hệ giữa phát triển kinh tế – xã hội – môi trường còn được UNESCO
trình bày dưới dạng một tam giác có các đỉnh là: Kinh tế - Xã hội - Môi trường
2.1.2 Khái niệm về phát triển bền vững
Hiện nay, trên thế giới cho rất nhiều định nghĩa về phát triển bền vững, trong đó, định nghĩa của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) hay còn gọi là “Uỷ
ban Brundtland” của Liên hợp quốc (UN) được sử dụng rộng rãi nhất Theo đó, “Phát triển bền vững là sự phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu hiện tại của con người, lại vừa không xâm phạm đến lợi ích và làm tổn hại đến sự thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai” Phát triển bền vững là một phương hướng phát triển được các quốc gia trên
thế giới ngày nay hướng tới Đó là xu thế tất yếu và là niềm hy vọng của con người
Theo nhà kinh tế học Herman Daly (WB) thì: “Một thế giới bền vững là một thế giới không sử dụng các tài nguyên tái tạo (như nước, thổ nhưỡng, sinh vật) nhanh hơn khả năng tự tái tạo của chúng Một xã hội bền vững cũng không sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo (như khoáng sản, nhiên liệu hóa thạch, quặng mỏ…) nhanh hơn
Hình 2.1 Quan hệ môi trường - xã hội - kinh tế
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
Trang 31quá trình tìm ra những loại thay thế chúng và không thải ra môi trường các chất độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và vô hiệu hóa chúng”
Trong báo cáo của Brundtland về môi trường và phát triển đã đưa ra định nghĩa
như sau:“Phát triển bền vững là một loại phát triển lành mạnh vừa đáp ứng được nhu
cầu hiện tại của con người, lại vừa không xâm phạm đến lợi ích và làm tổn hại đến sự thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Như vậy, có thể thấy:“Phát triển bền vững là một sự phát triển lành mạnh, trong đó
sự phát triển của cá nhân này không làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác, sự phát triển của cá nhân không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng, sự phát triển của cộng đồng người này không làm thiệt hại đến lợi ích cộng đồng người khác, sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ mai sau và sự phát triển của loài người không đe dọa sự sống hoặc làm suy giảm nơi sinh sống của các loài khác trên hành tinh (các loài cộng sinh) Bởi vì sự sống còn của con người là dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng của các loài khác, dựa trên cơ sở duy trì được sản lượng, năng suất tự nhiên, khả năng phục hồi và sự đa dạng của sinh quyển”
Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc sau:
1- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng;
2- Cải thiện chất lượng cuộc sống con người;
3- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất;
4- Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo;
5- Tôn trọng khả năng chịu đựng của Trái đất;
6- Thay đổi thói quen và tập tục cá nhân;
7- Cộng đồng nâng cao tính trách nhiệm quản lý môi trường;
8- Thống nhất hành động quốc gia về phát triển và bảo vệ môi trường;
9- Xây dựng khối liên minh toàn cầu
2.1.3 Chỉ số phát triển bền vững
Khái niệm “Phát triển bền vững” như đã trình bày ở trên, là một khái niệm rất rộng
mang tính tổng hợp rất cao Để đo mức độ bền vững của sự phát triển, người ta có thể
dùng các chỉ số phát triển con người HDI (Human Developed Index) do UNDP (Human Developing Report -1992) đưa ra, bao gồm các chỉ số cơ bản sau đây:
+ GNP (Gross National Product – Tổng sản phẩm quốc dân) bình quân/đầu người
+ Chỉ số phản ánh trình độ dân trí (tỉ lệ người biết chữ, tỉ lệ người có học vấn các cấp, trình độ tin học) nghệ thuật, văn hóa, thẩm mỹ v.v
+ Chỉ số phản ảnh sự tiến bộ xã hội về chăm sóc y tế: sức khỏe, tuổi thọ, chăm sóc sức khỏe ban đầu trẻ em, y tế cộng đồng v.v
Trang 32+ Ngoài ra, đôi khi còn sử dụng chỉ số tự do con người HFI (Human Free Index)
như: việc làm, nhà ở, tôn trọng quyền con người, tự do, an sinh, không có bạo lực v.v Tuy nhiên, so với phát triển kinh tế đơn thuần, phát triển bền vững là một bài toán cực khó, không phải lúc nào cũng có thể giải quyết một cách tối ưu được Song, phát triển bền vững luôn được coi trọng, luôn được đánh giá là một phương pháp phát triển lành mạnh và có giá trị nhất Phát triển bền vững luôn là tiêu chí, mong muốn và là định hướng phấn đấu cho các quốc gia
2.1.4 Nguyên tắc phát triển bền vững
Phát triển bền vững là xu thế tất yếu của con người trong quá trình phát triển của xã hội Đây là lối thoát duy nhất để duy trì sự sống trên hành tinh trước những biến đổi ngày càng khắc nghiệt của tự nhiên Tuyên bố chung tại hội nghị thượng đỉnh về Môi trường
và Phát triển (1992 tại Rio de Janero, Braxin), đã đồng thuận về quan điểm phát triển bền vững gồm 27 nguyên tắc cơ bản dưới đây:
1 Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoà với thiên nhiên
2 Phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc của Luật pháp Quốc tế Các quốc gia có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo những chính sách về môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm đảm bảo rằng những hoạt động trong phạm vi quyền hạn và kiểm soát của mình không gây tác hại gì đến môi trường của các quốc gia khác hoặc những khu vực ngoài phạm vi quyền hạn quốc gia
3 Cần phải thực hiện phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về phát triển và môi trường của các thế hệ hiện nay và tương lai
4 Để thực hiện được sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết phải là bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó
5 Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ nghèo nàn như một yêu cầu không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững để giảm những chênh lệch về mức sống và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đại đa số nhân dân trên thế giới
6 Cần dành sự ưu tiên đặc biệt cho các nhu cầu của các nước đang phát triển, nhất
là các nước kém phát triển nhất và những nước dễ bị tổn hại về môi trường; những hoạt động quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát triển cũng nên chú ý đến quyền lợi và yêu cầu của tất cả các nước
7 Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần "chung lưng đấu cật toàn cầu để gìn giữ, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái của Trái đất Vì sự đóng góp khác nhau vào việc làm thoái hoá môi trường toàn cầu, các quốc gia có những trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau Các nước phát triển công nhận trách nhiệm của họ
Trang 33trong các nỗ lực quốc tế về phát triển bền vững do những áp lực mà xã hội của họ gây ra cho môi trường toàn cầu và do những công nghệ và những nguồn tài chính của họ chi phối, điều khiển
8 Để đạt được sự phát triển bền vững và chất lượng cao hơn cho mọi người, các quốc gia nên giảm dần và loại trừ những phương thức sản xuất và tiêu dùng không bền vững và đẩy mạnh những chính sách dân số thích hợp
9 Các quốc gia nên hợp tác để củng cố, xây dựng năng lực hội sinh cho phát triển bền vững bằng cách nâng cao sự hiểu biết khoa học thông qua trao đổi kiến thức khoa học và công nghệ và bằng cách đẩy mạnh sự phát triển và thích nghi, truyền bá và chuyển giao công nghệ, kể cả những công nghệ mới và cải tiến
10 Các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của dân chúng
có liên quan và ở cấp độ thích hợp Ở cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân có quyền được các
nhà chức trách cung cấp các thông tin thích hợp liên quan đến môi trường, bao gồm
những thông tin về những nguyên liệu và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng và cơ hội tham gia vào quá trình quyết định Các quốc gia cần khuyến khích, tuyên truyền và tạo đều kiện cho sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến những thông tin rộng rãi Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bản luật pháp và hành chính kể cả uốn nắn và sửa chữa
11 Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, các tiêu chuẩn môi trường, những mục tiêu quản ý và những ưu tiên phải phản ánh nội dung môi trường và phát triển mà chúng gắn với Những tiêu chuẩn mà một vài nước áp dụng có thể không phù hợp và gây tổn phí về kinh tế - xã hội không biện minh được cho các nước khác, nhất
là các nước đang phát triển
12 Các nước nên hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế thế giới thoáng và giúp
đỡ nhau dẫn đến sự phát triển kinh tế và phát triển bền vững ở tất cả các nước, để nhằm đúng hơn vào những vấn đề thoái hoá môi trường
13 Những biện pháp chính sách về thương mại với những mục đích môi trường không nên trở thành một phương tiện phân biệt đối xử độc đoán hay vô lý hoặc một sự ngăn cản trá hình đối với thương mại quốc tế Cần tránh những hoạt động đơn phương để giải quyết những vấn đề thách thức của môi trường ngoài phạm vi quyền hạn của những nước nhập cảng Những biện pháp môi trường nhằm giải quyết những vấn đề môi trường ngoài biên giới hay toàn cầu dựa trên sự nhất trí quốc tế cao nhất có thể đạt được
14 Các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường cho những nạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác Các quốc gia cũng cần hợp tác một cách khẩn trương và kiên quyết hơn để phát triển hơn nữa luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường về những tác hại môi trường do những hoạt động trong
Trang 34phạm vi quyền hạn hay kiểm soát của họ gây ra cho những vùng ngoài phạm vi quyền hạn của họ
15 Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự thay thế và chuyển giao các quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nào gây nên sự thoái hoá môi trường nghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khoẻ con người
16 Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cận ngăn ngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia Ở chỗ nào có nguy cơ gây tác hại nghiêm trọng hay không sửa chữa được thì không thể nêu lý do là thiếu sự chắc chắn khoa học hoàn toàn để trì hoãn áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn sự thoái hoá môi trường
17 Các nhà chức trách của mỗi quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá những chi phí môi trường và sử dụng các biện pháp kinh tế căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức tới quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế
18 Đối với những hoạt động có thể gây những tác động xấu tới môi trường cần có
sự đánh giá như một công cụ quốc gia về tác động môi trường và tuân theo quyết định của một cơ quan quốc gia có thẩm quyền
19 Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứ một thiên tai nào hay tình hình khẩn cấp nào có thể gây những tác hại đột ngột đối với môi trường của nước đó Cộng đồng quốc tế phải ra sức giúp các quốc gia bị tai hoạ này
20 Các quốc gia cần phải thông báo trước, kịp thời và cung cấp thông tin có liên quan cho các quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng về những hoạt động có thể gây ảnh hưởng xấu đáng kể đến môi trường vượt ra ngoài biên giới và cần tham khảo ý kiến của các quốc gia này sớm và có thiện ý
21 Phụ nữ có một vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường Do đó, việc họ tham gia đầy đủ là cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững
22 Cần huy động tinh thần sáng tạo, những lý tưởng và sự can đảm của thanh niên thế giới nhằm tạo nên một sự chung lưng đấu cật để đạt được sự phát triển bền vững và đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người
23 Nhân dân bản xứ, những cộng đồng của họ và các cộng đồng khác của địa phương có vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường về sự hiểu biết và
tập tục truyền thống của họ Các quốc gia nên công nhận và ủng hộ thích đáng bản sắc
văn hoá và những mối quan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệu quả vào việc thực hiện một sự phát triển bền vững
24 Môi trường và tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc bị áp bức, bị thống trị và
bị chiếm đóng cần phải được bảo vệ
Trang 3525 Chiến tranh vốn dĩ là yếu tố phá hoại sự phát triển bền vững Do đó, các quốc gia cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ môi trường trong thời gian có xung đột
vũ trang và hợp tác để phát triển môi trường hơn nữa
26 Hoà bình, Phát triển và Bảo vệ môi trường phụ thuộc nhau và không thể chia cắt được Các quốc gia cần phải giải quyết mọi bất hoà về môi trường một cách hoà bình và bằng các biện pháp thích hợp theo Hiến chương Liên hợp quốc
27 Mọi quốc gia và dân tộc cần hợp tác có thiện ý với tinh thần chung lưng đấu cật trong việc thực hiện các nguyên tắc được thể hiện trong bản tuyên bố này và trong sự
phát triển hơn nữa luật pháp quốc tế trong lĩnh vực phát triển bền vững
2.1.5 Quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững
Sau Hội nghị Thượng đỉnh của Trái đất, 1992: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành đặc trưng cơ bản của thời đại và là quốc sách của mọi quốc gia: Phát
triển đất nước phải theo hướng phát triển bền vững, nghĩa là môi trường và phát triển
kinh tế xã hội phải được gắn chặt với nhau
Theo Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển bền vững được trình bày trong
tài liệu “Tương lai chung của chúng ta” (1987) thì: “Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi mà trong nó sự khai thác tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng phát triển kỹ thuật và sự thay đổi về luật pháp đều làm hài hoà và gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu và khát vọng của nhân loại trong cả hiện tại và tương lai”
Hay:“Phát triển bền vững đòi hỏi làm ra nhiều hơn, tiêu phí ít hơn: tài nguyên ít hơn, tiêu thụ năng lượng ít hơn, phát sinh chất thải ít hơn Điều đó đòi hỏi sự hình thành quá trình sản xuất và thiết bị mới, mở rộng sử dụng vật liệu và khả năng tái chế, phát triển các sản phẩm có khả năng tái sinh Phát triển bền vững đòi hỏi tập trung vào phát triển công nghệ sạch để khống chế ô nhiễm đầu nguồn hơn là xử lý cuối đường ống”
Phát triển kinh tế phải dựa trên nền tảng xã hội tiến bộ và một môi trường lành mạnh (cả tự nhiên và xã hội) Sự phát triển kinh tế phải quay lại phục vụ cho con người, tạo cơ hội cho con người phát triển, sản xuất xã hội có khả năng bù đắp những sản phẩm không tái tạo và tạo ra nhiều sản phẩm thay thế đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người
Xã hội phát triển phải dựa trên một nền kinh tế vững chắc có sức sản xuất cao, chất lượng cuộc sống luôn được nâng cao, con người được tự do phát triển năng lực của bản thân trong một môi trường lành mạnh, không độc hại, không bạo lực và phong phú
về tính đa dạng sinh học
Trang 362.1.6 Phát triển bền vững kinh tế biển
2.1.6.1 Thách thức
Đi cùng với tiềm năng, cơ hội phát triển, lĩnh vực phát triển kinh tế biển cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức như: ô nhiễm vùng bờ, phát triển nóng không gian biển, quy hoạch tổng thể
a) Ô nhiễm khu vực biển ven bờ
Hiện có từ 70% đến 80% lượng rác thải trên biển có nguồn gốc từ nội địa khi các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu dân cư xả nước thải, chất thải rắn không qua
xử lý ra các con sông ở vùng đồng bằng ven biển hoặc xả thẳng ra biển Đơn cử, chỉ riêng trong quá trình nuôi trồng thủy sản cũng làm phát sinh đáng kể lượng chất thải rắn trực tiếp ra biển, nguồn thải chủ yếu là các loại phân bón, thức ăn nhân tạo sử dụng trong nuôi trồng Bình quân một ha nuôi tôm sẽ thải ra môi trường khoảng 5 tấn chất thải rắn và hàng chục nghìn m3 nước thải trong một vụ nuôi Với tổng diện tích nuôi tôm hơn 600 nghìn ha, mỗi năm sẽ thải ra môi trường gần 3 triệu tấn chất thải rắn Cụ thể: Tại các tỉnh
từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, trên 37.000 ha đã được khai thác đưa vào nuôi trồng thủy sản (chiếm 30-35% diện tích nước mặn lợ) Phần lớn cơ sở đã đi vào nuôi trên quy
mô công nghiệp dẫn tới các nơi cư trú sinh vật, bãi đẻ, bãi giống bị hủy diệt, dịch bệnh xuất hiện tràn lan…
Một nguyên nhân gây ô nhiễm biển nữa là tràn dầu Tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn
đã làm gia tăng rất mạnh lượng tiêu thụ xăng dầu Lợi ích kinh tế dẫn đến tình trạng khai thác dầu quá mức Trong khi đó, lượng dầu rất lớn bị rò rỉ ra môi trường biển do hoạt động của các tàu và do các sự cố hư hỏng hay đắm tàu trở dầu, do sự cố tại lỗ khoan thăm
dò và dàn khoan khai thác dầu Đáng chú ý là các vụ tràn dầu nghiêm trọng những năm gần đây có xu hướng gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường biển, đặc biệt là vùng nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó, vùng biển nước ta có hàng trăm giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí, ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, trung bình mỗi năm hoạt động này còn phát sinh 5.600 tấn rác thải dầu khí, trong đó có 20% đến 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và nơi xử lý Đó là chưa kể tình trạng
ô nhiễm dầu do khai thác và vận chuyển dầu khí trên biển không ngừng gia tăng
Hàng năm, trên 100 con sông ở nước ta thải ra biển 880 km3 nước và 270-300 triệu tấn phù sa, kéo theo nhiều chất có thể gây ô nhiễm biển như các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim loại nặng và nhiều chất độc hại từ các khu dân cư tập trung, các khu công nghiệp và đô thị, các khu nuôi trồng thủy sản ven biển và các vùng sản xuất nông nghiệp Năm 2010, lượng chất thải đã gia tăng rất lớn ở các vùng nước ven bờ, trong đó dầu khoảng 35.160 tấn/ngày, nitơ tổng số 26-52 tấn/ngày và tổng amoni 15-30 tấn/ngày Báo cáo hiện trạng môi trường đã chỉ ra rằng chất lượng môi trường biển và vùng ven biển tiếp tục bị suy giảm Nước biển của một số khu vực có biểu hiện bị axit hóa do độ pH
Trang 37trong nước biển tầng mặt biến đổi Nước biển ven bờ có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ, kẽm, một số chủng thuốc bảo vệ thực vật Hiện tượng thủy triều đỏ xuất hiện tại vùng biển Nam Trung bộ, đặc biệt tại Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận làm chết các loại tôm cá đang nuôi trồng tại vùng này Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên của loài bị phá hủy, gây tổn thất lớn về đa dạng sinh học vùng bờ Khoảng 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam
b) Phát triển nóng các không gian biển
Cùng với sự phát triển kinh tế, các mảnh đất sát biển được coi là mảnh đất vàng Các hoạt động ở khu vực này vô cùng sôi động, đi dọc ven biển nhiều khu công nghiệp hiện đại gắn liền với các cảng biển nước sâu, các khu resort, sân gofl, nghỉ dưỡng phục
vụ du lịch đã phần nào thay đổi bộ mặt các khu vực ven biển Các khu vực trước kia là các làng chài nghèo ven biển, đồi cát hoang vu nay được thay đổi mới Những điều này
đã phần nào mang lại đời sống mới cho bộ phận các cư dân ven biển Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển đó là nhiều bất cập Đầu tiên là các công trình này làm giảm quyền được tiếp cận của người dân tới biển khi các công trình ven biển hiện nay phần lớn phục vụ cho mục đích du lịch, phát triển công nghiệp… Trong khi đó, một trong những nguyên tắc được công nhận đó là tài nguyên biển là tài nguyên chia sẻ, việc độc chiếm không gian ven biển của các khu công nghiệp, khu resort, sân gofl… làm nảy sinh nhiều khó khăn cho người dân khi muốn ra biển Nhiều khu vực, người dân phải đi xa hàng chục
Trang 40Chúng ta không thể kiểm soát được lượng cá chết tự nhiên M Tuy nhiên lượng cá đánh bắt có thể được kiểm soát, và rất cần thiết cho các hỗ trợ cho các cá thể mới sinh ra phát triển
[Cite your source here.]
“ Chúng ta có thể sử dụng nguồn lợi thủy
sản bền vững qua cách quản lí phù hợp”
Hình 2.3 Sơ đồ nghề cá bền vững