1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH HOÁ

22 464 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và nội dung của kế hoạch hoá
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 30,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như trong cơ chế tập trung nội dung của kế hoạch hoá mới chỉ dừng lại ở kế hoạch, một nộidung trong các nội dung của kế hoạch hoá, thì nay nội dung của kế hoạch hoá được mở rộng, bao

Trang 1

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ NỘI DUNG CỦA

KẾ HOẠCH HOÁ

I NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

1 Khái luận nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (về phương diện lý luận ) là nền kinh tếvận hành theo cơ chế thị trường, trong đó việc giả quyết các vấn đề lớn của nềnkinh tế như sản xuất cái gì?, sản xuất như nào?, sản xuất cho ai?, sản xuất ở đâu?được quyết định bởi thị trường, thông qua các quy luật của thị trường như quy luậtcung cầu, quy luật giá trị, …

2 đặc điểm

- Vế vấn đề sở hữu, chúng ta thực hiện nền kinh tế đa thành phần ứng vớimỗi thành phần là một loại hình sở hữu khác nhau như sở hữu Nhà nước, sở hữu tưnhân, sở hữu tập thể,…như vậy thông qua việc nhận thức lại, nhận thức đúngchúng ta đã thực hiện đúng với thực tế đòi hỏi cho sự phát triển hơn ít nhất là trongvấn đề sở hữu,

- Về vai trò của Nhà nước, Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế,thực hiện phát triển thị trường cũng như thực hiện các giải pháp – biện pháp thúcđẩy, khuyến khích thị trường, cơ chế thị trường phát triển Tạo ra một cơ chế: Nhànước điều tiết thị trường và thị trường điều tiết sản xuất, Nhà nước thực hiện điềutiết thị trường thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như luật pháp, các chính sách,

kế hoạch hoá (một công cụ duy nhất tác động mền dẻo vào nền kinh tế, ),…Thịtrường thực hiện giải quyết các vấn đề lớn của nền kinh tế thông qua các quy luậtcủa thị trường,…

Tóm lại: Nhà nước ta thực hiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhànước Vậy thực chất nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp

Trang 2

II.NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Cùng với sự đổi mới một cách toàn diện, thì kế hoạch hoá cũng khôngngừng được đổi mới theo hướng ngày càng hoàn thiện về mọi mặt Nếu như trong

cơ chế tập trung nội dung của kế hoạch hoá mới chỉ dừng lại ở kế hoạch, một nộidung trong các nội dung của kế hoạch hoá, thì nay nội dung của kế hoạch hoá được

mở rộng, bao chùm toàn bộ các mặt của đời sống xã hội, từ tầm vĩ mô tới vi mô,tạo thành một mạch liên tục từ đường lối phát triển của đất nước, từ các quan điểmphát triển cho tới cấp công ty ( chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh),…Mặc dù kế hoạch hoá được đổi mới, nội dung được mở rộng hơn, sâu sắc hơn,…nhưng xét về mục đích của kế hoạch hoá thì không bao giờ thay đổi, nó vẫn là việcnhận thức các quy luật khách quan, vân dụng các quy luật vào trong quá trình pháttriển để thúc đẩy, rút ngắn thời kỳ phát triển nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân,đem lại mức sống cao cho nhân dân, đem lại tiến bộ xã hội,

1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

a Khái luận chung về chiến lược phát triển kinh tế – xã hội

Chiến lược có thể hiểu là những mưu tính, những quyết sách về các vấn đềlớn, các vấn đề trọng đại, các vấn đề có tính chất toàn cục và lâu dài của một quộcgia, một tổ chức Tuỳ theo cách đặt vấn đề, phạm vi của chiến lược mà người ta cóthể có các loại chiến lược khác nhau ở tầm vĩ mô ta có các chiến lược phát triểnkinh tế, chiến lược phát triển xã hội, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,chiến lược quân sự,… ở tầm vi mô ta có chiện lược kinh doanh như chiến khác biệthoá,… Tuy nhiên ở đây chỉ xin được đề cập tới chiến lược ở tầm vĩ mô

Chiến lược phát triển kinh tế là chiến lược mà mục tiêu của nó là nhằm vàocác vấn đề về kinh tế, nhấn mạnh đặc biệt vào các mục tiêu kinh tế, đi sâu vào quátrình tái sản xuất xã hội, cụ thể là đi vào giải quyết các vấn đề như cơ cấu kinh tế

Trang 3

(cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu theo sở hữu, ), thể chế kinh tế (pháp luật, cơ cấu tổchức,…),… trong đó đặc biệt quan tâm tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế Trên cơ

sở đó hinh thành nên các chiến lược khác nhau như chiến lược phát triển ngànhnào đó (ngành công nghiệp, nông nghiêp,…) chiến lược phát triển hướng nội,chiến lược phát triển hướng ngoại,…Chiến lược phát triển kinh tế thường xuất hiện

và rất được coi trọng trông giai đoạn đầu của sự phát triển, vì trong giai đoạn đầucủa sự phát triển thì con người thường đặt các mục tiêu kinh tế nên hàng đầu, hơnnữa giải quyết vấn đề kinh tế là giải quyết được điều kiện cần của sự phát triển,…

Chiến lược phát triển xã hội là chiến lược mà trong đó việc đạt được cácmục tiêu về xã hội được đặt nên hàng đầu, đối tượng của các chiến lược phát triển

xã hội là hướng vào con người, hướng vào sự phát triển toàn diện của con người

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là chiến lược đi liền với mục tiêu pháttriển kinh tế là các mục tiêu về xã hội , môi trường chiến lược phát triển kinh tế –

xã hội thực chất là tổng hợp sự phân tích đánh giá lựa chọn về các căn cứ, cácquan điểm, các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của một đất nước trong mộtthời gian dài và đưa ra những chính sách, thể chế cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu

đề ra,…

Trang 4

b Đặc điểm

Tính lâu dai ( tính định hướng dài hạn ): Chiến lược thường được xác định

trong một khoảng thời gian dài, khoảng từ 10 – 20 năm vì bản chất của chiến lược

là có tính định hướng, các mục tiêu có tính chất tổng quát, tính toàn cục cho sựphát triển của đất nước,…Để giải quyết các vấn đề lớn này đỏi hỏi phải có thờigian

Tính toàn diện: Các vấn đề, các mục tiêu được đề cập trong chiến lược phát

triển thường mang nặng tinh định tính, tính toàn cục Phản ánh một cách toàn diệnmọi mặt của đời sống xã hội như các vấn đề về kinh tế, các vấn đề về văn hoá,…

Tính hệ thống: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là hệ thống bao gồm

nhiều chiến lược hợp thành Theo cấp quản lý thì có chiến lược quốc gia như chiếnlược quốc gia về quân sự, chiến lược quốc gia về phát triển một ngành công nghiệpmũi nhọn,…; các chiến lược địa phương như chiến lược phát triển ngành nôngnghiệp của một tỉnh nào đó,…; các chiến lược phát triển các ngành ( thuộc sự quản

lý của các bộ ) như chiến lược phát triển từ năm 2001 tới năm 2010 của nghànhcông nghiệp,…; các chiến lược cấp công ty ( chiến lược kinh doanh ) Tính hệthống được thể hiện trong tất cả các nội dung củâ chiến lược, từ việc xác định cácmục tiêu, các quan điểm phát triển, các nội dung củâ chiến lược cho tới khi thựchiện và đi vào tổng kết đánh giá hiệu quả của chiến lược, tính hệ thống là một đặctrưng của chiến lược và thể hiện tập trung ở tính thống nhất, tính toàn diện, tínhcân đối trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội …

Tính hiệu quả: Vấn đề hiệu quả là vấn đề có tính chất quy luật phổ biến nó

biểu hiện ở sự nâng cao hiệu quả của đời sông xã hội về mọi mặt về cả vật chất lẫntinh thần Để đảm bảo đặc trưng này thì việc lựa chọn các bước đi, các chính sách,các giải pháp nhằm huy động các nguồn lực thực hiện mục tiêu chiến lược tínhtoán và cân nhắc trên nguyên tắc hiệu quả,…

Trang 5

Tính mềm: chiến lược phải bảo đảm tính năng động, tính linh hoạt nghĩa là

phải có nhiều phương án khác nhau, các phương án này hoàn toàn có thể thay thếcho nhau, bảo đảm kịp thời sửa đổi theo những biến động lớn của thực tế kháchquan (bảo đảm điều chỉnh theo các phương án thích hợp)…

Tính đột phá: Như chúng ta đều biết nhân quả là tất yếu, như vậy thì trong quá

trình phát triển, sự phát triển luôn là “tích số” nó không phải là phép “cộng” thuầntuý Trong phát triển của một con người cũng như của một tập thể hay một xã hộithì cái chủ quan của con người luôn luôn là cái quyết định đặc biệt là trong việctạo ra bước nhảy cho sự phát triển Như vậy thì chiến lược với tư cách là hoạtđộng chủ quan của Nhà nước phải luôn có tính đột phá, phải là công cụ đem cáichủ quan của cả xã hội quyết định sự phát triển của mình, cụ thể la việc đạt đượcmuc tiêu của chiến lược phải là việc đạt được sự phát triển có tính chất nhảy vọt,

có tính chất bước ngoặt, phải là sự đạt được một lượng lớn về mặt chất của sự pháttriển

c.Nội dung của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội

Các quan điểm phát triển Là những tư tưởng có tính chất chỉ đạo, chủ đạo.Thể hiện định hướng chủ đạo nhất, các quan điểm này có tính chất bước ngoặt,bước nhảy lớn Nó tạo nên động lực của toàn bộ quá trình phát triển Các quanđiểm phát triển hợp thành một hệ thống gọi là hệ thống các quan điểm phát triển ,

hệ thống này thể hiện rõ mục đích cuối cùng của sự phát triển , thể hiện rõ mô hìnhphát triển (Việt Nam trong những khủng hoảng trước khi đổi mới về thực chất làkhủng hoảng về mô hình phát triển ), thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội, thểhiện cách thức đạt được mục đích ví dụ: trong chiến lược phát triển kinh tế – xãhội của Việt Nam từ 1990 tới 2000 ta có 5 quan điểm chủ yếu sau:

Một là: quan điểm định hướng xã hội chủ nghĩa, thực chất là khẳng định lại,nhất quán lại đường lối xã hội chủ nghĩa Thông qua quan điểm này cho phép ta

Trang 6

xác định cơ cấu nền kinh tế là nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sởhữu khác nhau; kết hợp phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội

Hai là: quan điểm về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vậnđộng theo cơ thị trường và có sự quản lý vĩ mô của nhà nước

Ba là: quan điểm về thực hiện nền kinh tế mở, thực hiện mở cửa nền kinh tế,đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tếthế giới Ta xác định quan hệ –tham gia kinh tế với tất cả các nước, các tổ chứcquốc tế trên quan điểm hợp tác đôi bên cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền độc lậpdân tộc và toàn vẹn lãnh thổ,

Bốn là: quan điểm về hiệu quả kinh tế – xã hội, coi hiệu quả kinh tế – xã hội

là tư tưởng, quan điểm quan trọng nhất của sự phát triển, các đơn vị sản xuất kinhdoanh phải có hiệu quả, phải có lãi, phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm với Nhànước và với xã hội theo luật định

Năm là: quan điểm kêt hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với ổnđịnh - đổi mới chính trị tăng cường củng cố an ninh quốc phòng, giữ vững an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội …

c Xác định các mục tiêu của chiến lược

Mục tiêu phát triển của chiến lược là mức phấn đấu cần đạt được trong thời

kỳ chiến lược Nó biểu hiện những biến đổi quan trọng của nên kinh tế một cáchtoàn diện mục tiêu của chiến lược bao gồm hai phần: phần định tính và phần địnhlượng

Về mặt định tính: thường được mô ta bằng lời văn trong đó mô tả sự phát

triển chủ yếu của một quốc gia về mọi phương diện như về trình độ hiện đại hoácủa nền kinh tế, trình độ phát triển của nền kinh tế khi kết thúc thời kỳ chiến lược ,

Trang 7

Về mặt định lượng: thường được biểu hiện bằng con số như tới năm 2000

tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9 –10% Trong xu thế chung của kế hoạch hoá thìcac mục tiêu mang nặng tính chất định lượng (tới mức tối đa mà điều kiện chophép) vì trước đây ta thường xác định phần định lượng quá cao trong các mục tiêu,

Yêu cầu Trung tâm Thương mại Truyền hình:

Việc xác định mục tiêu phát triển phải xuất phát từ khả năng thực tế, từ cácđòi hỏi của cuộc sống cũng như các đòi hỏi của thời đại Hướng tới việc khôngngừng nâng cao đời sống xã hội, làm thay đổi bộ mặt xã hội nhằm mục tiêu gópphần vào việc đạt được tiến bộ xã hội về bản thân các mục tiêu phải bảo đảm tínhhiện thực, tính mềm dẻo, tính linh hoạt,…cụ thể như trong chiến lược 1990- 2000chúng ta đã xác định mục tiêu như sau:

Về mặt định tính: thực hiện dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn

minh từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội Phát triển con người một cách toàn diện(lấy chiến lược phát triển con người làm trung tâm), tập trung giải quyết vấn đề vềmôi trường, môi trường sống,…

Về mặt định lượng: phấn đấu đạt mức tăng trưởng cả thời kỳ chiến lược là

6,8%, tới năm 2000 thu nhập bình quân trên đầu người tăng gấp đôi,

d Các giải pháp và các chính sách trong chiến lược

Thực chất của các giải pháp và các chính sách là các hướng dẫn cụ thể vềcác cách thức thực hiện, nhằm đảm bảo việc đạt được các mục tiêu đã đề ra vấn đềvới việt nam hiện nay là xây dựng các giải pháp, chính sách hướng vào việc đổimới và hoàn thiện cơ chế vận hành kinh tế cụ thể là chúng ta đang hoàn thiện một

cơ chế: cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nghĩa là chúng ta đã - đangđổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý, cơ chế thị trường thông qua việc tổ chức lại, cơ

Trang 8

cấu lại chủ thể quản lý,… việc xây dựng, hình thành và phát triển các thị trườngnhư thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ,…về cơ bản ta có các chính sách,các giải pháp sau:

 Các chính sách về tổ chức bộ máy cán bộ, các chính sách nay có tínhchất quyết định vì vai trò to lớn của tổ chức, tính hai mặt của tổ chức,…

 Các chính sách - giải pháp về tăng cường kinh tế đối ngoại nhằmhướng dẫn các phương châm hoạt động thực hiện quan hệ kinh tế với nước ngoài,giải quyết các vấn đề xuất – nhập khẩu, các vấn đề về cán cân thanh toán quốc tế,

e Vai trò của chiến lược

Chiến lược làm căn cứ để hoạch định các quy hoạch, kế hoạch phát triển

kinh tế – xã hội việc xây dựng, thực hiện, quản lý các quy hoạch, kế hoạch phát

triển kinh tế – xã hội phải xuất phát từ chiến lược; chiến lược còn là cương lĩnh hành động của quản lý xã hội Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay việc quản lý

nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì Đảng ta xác định quản lý bằng phápluật, bằng các chính sách, bằng kế hoạch và thông qua kế hoạch Trong đó chúng taxác định kế hoạch là một công cụ quan trọng để quản lý; Ngoài ra chiến lược còn

là một bước cụ thể hoá đường lối, cụ thể hoá các quan điểm phát triển, là cầu lối

giữa đường lối phát triển của Nhà nước với thực diện của đời sống xã hội,

2 Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội

Trang 9

a khái niệm: Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội là sự bố chí chiến lược

về mặt thời gian và đặc biệt về mặt không gian Nó xác định các khung vĩ mô vềmặt không gian và thời gian cho sự phát triển kinh tế – xã hội của một đất nướctrong một thời gian tương đối dài, nhằm chủ động hướng tới mục tiêu của chiếnlược một cách có hiệu quả cao nhất Thực chất quy hoạch là một bước cụ thể củachiến lược, quy hoạch giống chiến lược ở chỗ nó vẫn mang tính chất định hướngphát triển Tuy nhiên nó cụ thể hơn chiến lược, rõ ràng hơn chiến lược cả về mụctiêu lẫn các biện pháp, nó xác định rõ không gian và bố trí theo không gian, nó bảođảm những luận chứng ở mức độ chi tiết hơn Để đảm bảo tính chất này thì đòi hỏiphải đánh giá chính xác mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội, tự nhiên và môitrường, an ninh quốc phòng Từ đó rút ra các ưu thế, các lợi thế, các mặt đặc trưngcủa đất nước, của vùng, của ngành để phát huy cũng như tìm ra các hạn chế đểkhác phục,…Để đảm bảo đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng, đầy đủ mọi khía cạnhkhác nhau của các nguồn lực cho sự phát triển, đỏi hỏi phải xây dựng nhiềuphương án quy hoạch và đưa ra luận chứng cho phương án tối ưu

b Nội dung của quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội

Về cơ bản nội dung của quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội (gọi tắt là quyhoạch phát triển ) có các nội dung sau: quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội; quyhoạch ngành; quy hoạch vùng

Quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội mục đích là xác định các mục tiêu và bốtrí không gian các ngành kinh tế ở mức độ tổng thể Quốc gia, nó đòi hỏi phải phântích vùng kinh tế, xác định các vùng trọng điểm, các vùng không trọng điểm để cócác chính sách cũng như giải pháp và quan điểm phát triển từng vùng, xây dựngcác mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội như mục tiêu về tăng trưởng (g), mục tiêu

về việc làm, các mục tiêu về kết cấu hạ tầng(kết cấu hạ tầng về kinh tế về xã hội),

Trang 10

các mục tiêu về phát triển nguồn nhân lực, về các nguồn lực cho sự phát triển,…cho từng vùng cụ thể.

Quy hoạch ngành: xuất phát từ các quy hoạch tổng thể ngành, các chiến lượcphát triển ngành, các quan điểm phát triển Thực hiện phân tích tiềm lực kinh tế –

xã hội của đất nước, của ngành rút ra nét đặc trưng, đặc thù, điểm mạnh – yếu củangành Căn cứ vào đó xây dựng các mục tiêu phát triển ngành như mục tiêu về tốc

độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu ngành,… sau đó xác định nhu cầu về các nguồnlực cho ngành Xây dựng, xác định thực hiện các chương trình- dự án triển khaiquy hoạch, kế hoạch của ngành Xây dựng các phương án phát triển cho một sốphân ngành quan trọng để từ đó rút ra “thái độ” và cách “cư sử” với từng ngành cụthể như phải phát triển ngành cực tăng trưởng, soá bỏ những ngành đã đi vào suythoái, vì “sinh, bệnh, lão, tử” là tất yếu

Quy hoạch phát triển vùng là quy hoạch trong đó xây dựng các mục tiêu và

bố trí không gian các ngành trong vùng, cũng thực hiện phân ra các tiểu vùng, khuvực trọng điểm trong vùng( giống như trong quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hộiquốc gia )

Vai trò của quy hoạch

Quy hoạch là cụ thể hoá chiến lược về việc phân bố phát triển kinh tế – xãhội về mặt không gian trong thời kỳ quy hoạch, là cầu lối giữa chiến lược và kếhoạch, là một khâu quan trọng trong toàn bộ quy trình kế hoạch hoá, là cơ sở, căn

cứ để xây dựng – thực hiện- quản lý các kế hoạch cũng như các chương trình- dựán

3 kế hoạch phát triển

3.1 khái niệm

Trang 11

Kế hoạch phát triển là sự cụ thể hoá các chiến lược, các quy hoạch theo mức

độ thời gian nhất định, nó thể hiện ở việc hình thành nên các chỉ tiêu mục tiêu, cácchỉ tiêu biện pháp và các chỉ tiêu cân đối cũng như các giải pháp, chính sách thíchhợp vận hành trong thời kỳ kế hoạch

Đặt trong mỗi quan hệ với chiến lược và quy hoạch thì kế hoạch có mức độthời gian ngắn hơn, như trong 5 năm, 3 năm, 1 năm, theo quý, tháng Thôngthường ở tầm vĩ mô người ta xây dựng – thực hiện kế hoạch 5 năm và cụ thể của

kế hoạch 5 năm là kế hoạch hàng năm (1 năm); Mức độ định lượng, cụ thể ở kếhoạch cao hơn trong chiến lược cũng như trong quy hoạch, có thể nói trong quytrình kế hoạch hoá thì tính định lượng là một đặc trưng của kế hoạch, do đó kếhoạch có tính cứng nhắc hơn, tính sơ cứng, chi tiết hơn , chặt chẽ hơn cũng nhưtính hiệu quả cao hơn chiến lược, quy hoạch

3.2 Hệ thống kế hoạch phát triển

a Theo phạm vi và theo cấp quản lý

Kê hoạch phát triển quốc gia: là kế hoạch mà đối tượng, vấn đề mà kế hoạch

đi vào giải quyết là các vấn đề của toàn bộ nền kinh tế – xã hội về mọi mặt Trong

đó xác định các mục tiêu chung cho toàn bộ nền kinh tế, mục tiêu chung cho toàn

xã hội cùng với các mục tiêu về môi trường và các giải pháp, chính sách phát triểntoàn bộ nền kinh tế

Kê hoạch phát triển ngành, lĩnh vực: là cụ thể háo Kê hoạch phát triển quốcgia đối với các vấn đề, các lĩnh vực, các phần có liên quan tới ngành Bên cạnh đócòn phải thành lập phần phát triển riêng của từng ngành, lĩnh vực cụ thể như xâydựng các Kê hoạch phát triển các ngành mũi nhọn, Kế hoạch phát triển các ngànhmới, Kê hoạch chuyển hướng cho các ngành không có khả năng phát triển ,…

Ngày đăng: 30/10/2013, 13:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w