-Và đề tài này thực hiện tốt sẽ rất thuận lợi cho tôi khi thực hiện kiểu bài nghị luận một tác phẩm (truyện) hoặc đoạn trích (bởi phương pháp hướng dẫn giống nhưng cách phân tích nội d[r]
Trang 1Phần mở đầu I.Bối cảnh của đề tài
Trong bài mở đầu “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” ban hành kèm theo Quyết định số 2001/ QĐ- TTg của Thủ tướng chính phủ ngày
28-12-2001, có nhận định: “sau gần 15 năm đổi mới , giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng còn yếu kém, bất cập Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001-2010 xác định mục tiêu, giải pháp và các bước đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, xây dựng một nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực , nâng cao dân trí ,đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010” Như vậy, nhà trường bậc Trung học cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngoài việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, cần phải chú ý phát hiện, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu xã hội Để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, cùng với các bộ môn khác thì môn Ngữ văn cũng là bộ môn khoa học nhưng đồng thời cũng là bộ môn nghệ thuật dùng chất liệu vạn năng là ngôn ngữ, là tiếng mẹ đẻ của dân tộc giúp học sinh thấy được sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt Điều quan trọng là xây dựng vẻ đẹp con người với chân-thiện-mĩ : bồi dưỡng các em có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải, sự công bằng; căm ghét cái xấu, cái ác…Do đó, công tác bồi dưỡng học sinh có năng khiếu văn rất được quan tâm
Từ khi được thành lập (tháng 9-2001) đến nay, Trường Trung học cơ sở Châu Hưng bên cạnh việc đầu tư, phụ đạo học sinh yếu, đẩy mạnh chất lượng đại trà, thì công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được xem là công tác mũi nhọn trong nhà trường Chính vì thế, nhiều năm qua, trường luôn là lá cờ đầu trong Huyện về số lượng, chất lượng học sinh giỏi cấp Huyện,Tỉnh.Trường được phụ huynh học sinh tín nhiệm, tin tưởng; học sinh an tâm học tập, đầu tư nhiều vào môn chuyên để đạt kết quả tốt trong các kì thi học sinh giỏi
Là một giáo viên giảng dạy môn ngữ Văn, tôi được nhà trường giao cho nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi hàng năm, cho nên tôi luôn tìm tòi, nghiên
Trang 2cứu, đào sâu, thu thập tài liệu, hệ thống hóa, mở rộng nâng cao kiến thức…Vì thế cho đến hôm nay, ít nhiều tôi cũng có một vài kinh nghiệm trong công tác quan trọng này
II.Lý do chọn đề tài
Từ khi thực hiện chương trình đổi mới sách giáo khoa thì kiểu bài nghị luận một tác phẩm văn học nói chung và nghị luận một tác phẩm thơ nói riêng thời lượng ít, số tiết thực hành hạn chế ( theo phân phối chương trình chỉ có năm tiết kể cả hai tiết viết bài tại lớp và một tiết trả bài viết) nên chưa có thời gian để rèn luyện học sinh thành thạo kĩ năng viết kiểu bài này, tiến tới viết đúng, viết hay
Xuất phát từ vấn đề trên mà từ lâu học sinh lười tư duy, sáng tạo trong viết bài, các em thường “trông cậy” vào các bài tập làm văn mẫu đã hướng dẫn sẵn của Thầy (cô) hay trong các sách giải đề văn, sách học tốt văn
Hơn thế nữa, một số phụ huynh học sinh vẫn còn suy nghĩ thiển cận, sai quan điểm là học văn chỉ cần “tán nhuyễn” là đủ rồi, hay học tủ với cách học thuộc lòng bài văn mẫu, cho nên các bậc phụ huynh ( kể cả các em học sinh) chỉ “chạy” thầy học thêm các môn: Toán, Lí, Hóa, Tiếng Anh mà quên lãng kĩ năng làm văn và quên rằng làm văn tốt là cơ sở để diễn đạt và học tốt các bộ môn khác trong nhà trường
Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn, tôi rất trăn trở và suy nghĩ với mong ước góp một phần vào việc nâng cao việc học phân môn Tập làm văn, nhằm giúp các em học sinh có một phương pháp tự làm văn, rồi tiến đến viết đúng, viết hay và viết sáng tạo Từ đó, các em có cơ sở học tốt ở các bậc, các cấp cao hơn
III.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trong các đề thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh những năm qua, kiểu bài nghị luận một bài thơ, đoạn thơ được xem là quan trọng, mặc dù đến học
kì II, học sinh lớp 9 mới được học
Nghị luận về tác phẩm thơ gồm:
Trang 3- Phân tích một vấn đề có liên quan trong tác phẩm
Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tôi chỉ trình bày phương pháp phân tích một bài thơ (đoạn thơ) mà tôi đã áp dụng bồi dưỡng học sinh giỏi khối 9 tại trường Trung học cơ sở Châu Hưng để cùng nhau trao đổi, học tập kinh nghiệm với đồng nghiệp
IV.Mục đích nghiên cứu
Học văn không phải là một việc đơn giản như xưa nay có một số người từng quan niệm Học văn đã khó, làm văn lại càng không đơn giản chút nào
Từ kiến thức về lí thuyết làm văn, kiến thức về văn học sử, về những tác phẩm
là cả một quá trình – một khoảng cách khá xa Do đó, làm văn không những đòi hỏi chúng ta có kiến thức về văn học, vốn sống thực tế mà phải trang bị kiến thức về lí thuyết làm văn, có năng lực cảm thụ văn học, biết nhận xét, đánh giá…
Giúp học sinh đam mê, yêu thích học văn, tránh hiện tượng bài mẫu, phải có “cái riêng” sáng tạo là sự khẳng định mình trong mỗi bài viết để đạt hiệu quả cao nhất
V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
- Học sinh có năng lực cảm nhận và chỉ ra được cái hay, cái đẹp của một bài thơ (đoạn thơ) trong từng giai đoạn văn học một cách chính xác, sâu sắc ở bình diện rộng
-Khả năng diễn đạt, tạo lập văn bản và trình bày những suy nghĩ về tình cảm cũng như những hiểu biết của bản thân về tác phẩm, biết nâng cao, vận dụng linh hoạt kiến thức đã học
-Rút ngắn khoảng cách giữa lí thuyết và thực hành một bài tập làm văn,
Trang 4tạo bước vững chắc cho học sinh có cơ sở viết bài văn khi bước vào cấp Trung học phổ thông
Phần nội dung I/ Cơ sở lý luận
Môn Ngữ Văn trong nhà trường có vai trò, vị trí hết sức quan trọng, phát triển năng lực nghe-nói-đọc-viết, giúp học sinh có tri thức cần thiết chuẩn
bị bước vào cuộc sống, bởi “Văn học là nhân học” Đến với văn học, chúng ta
sẽ hiểu đời, hiểu người hơn và đặc biệt sống tốt đẹp hơn dù ở bất cứ vị trí nào trong xã hội
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là hoạt động chuyên môn thường xuyên của ngành giáo dục, trong đó bồi dưỡng học sinh giỏi văn được xem là công tác mũi nhọn trong nhà trường cùng với các môn học khác Người giáo viên hướng dẫn học sinh phài có kĩ năng và nắm vững phương pháp làm văn nghị luận ở lớp 9, sẽ xóa đi quan niệm “học văn” không quan trọng bằng học các môn khoa học tự nhiên
II Thực trạng của vấn đề
Với chương trình thay sách, đổi mới phương pháp dạy học thì kiểu bài nghị luận về một tác phẩm thơ (đoạn thơ), học sinh khối 9 chỉ được học trong HKII Điều đáng nói ở đây là theo phân phối chương trình thì chỉ vỏn vẹn có một tiết luyện nói, số bài viết cho kiểu bài này theo quy định nhất định (có một bài) Do đó, học sinh không có thời gian, điều kiện để luyện kĩ năng viết, cảm thụ thơ; nhất là không biết cách mở bài, kết bài và thân bài sẽ viết “cái gì”
và viết như thế nào? v v Dẫn đến kết quả “đau lòng” là học sinh viết còn sơ sài, đơn giản, thậm chí các em rất “ngại” và rất “ngán” viết bài tập làm văn
Để định hướng cho học sinh biết phương pháp làm bài văn nghị luận về tác phẩm thơ (đoạn thơ), người giáo viên không chỉ cung cấp kiến thức phần đọc- hiểu văn bản, mà còn phải hướng dẫn các em làm đúng các bước cần thiết khi làm bài:
- Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý
Trang 5- Bước 2: Lập dàn ý
-Bước 3: Viết bài văn hoàn chỉnh
-Bước 4: Đọc lại bài và sửa chữa
Nếu học sinh thực hiện đúng theo quy trình trên, sẽ rất dễ dàng trong việc nâng cao, mở rộng phương pháp phân tích tác phẩm.Từ đó,các em không còn “ngán”, còn “ngại” nữa, mà thay vào đó là các em rất thích viết văn, vì đây là dịp để các em bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình; các em xem đây là một việc làm nhẹ nhàng , thoải mái thì bài viết sẽ có chiều sâu, có cái mới, sự sáng tạo riêng thuộc về nhận thức của chính người viết
III Các biện pháp thực hiện
A.Tìm hiểu đề, tìm ý trong bài nghị luận một bài thơ (đoạn thơ)
1.Tìm hiểu đề
Đề bài phân tích tác phẩm gồm 3 yêu cầu:
-Yêu cầu về thể loại
-Yêu cầu về vấn đề cần phân tích
-Yêu cầu về giới hạn nội dung vấn đề cần phân tích
a.Yêu cầu về thể loại
Thể loại thường được thể hiện qua các từ ngữ trong đề bài:
-Phân tích…
-Cảm nhận của em về…
-Phân tích và phát biểu cảm nghĩ về…
-Tác giả gửi gắm điều gì qua…
-Cảnh và tình trong bài thơ được thể hiện…
b.Yêu cầu về vấn đề cần phân tích
-Vấn đề cần phân tích thường được thể hiện rõ ở đề bài
-Đôi khi vấn đề cần phân tích không nêu ra thì người viết phải tự tìm
c.Yêu cầu về giới hạn nội dung
Đề bài bình luận thường yêu cầu phân tích cả bài thơ, một đoạn thơ, hoặc một vài khía cạnh của vấn đề… Xác định đúng 3 yêu cầu trên giúp học sinh
Trang 6tránh lạc đề, lạc hướng
Ví dụ:
Đề: Phân tích bài thơ “Mùa xân nho nhỏ” của Thanh Hải
a.Thể loại: phân tích tác phẩm
b.Nội dung:
-Vẻ đẹp mùa xuân xứ Huế
-Ước nguyện chân thành của nhà thơ trong việc làm đẹp mùa xuân đất nước
c.Giới hạn nội dung: phân tích cả bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải
2.Tìm ý: Người viết dựa vào nội dung của tác phẩm, tự đặt ra những câu
hỏi xoáy sâu vào vấn đề trọng tâm và trả lời Ví dụ:
-Bài thơ sáng tác trong hoàn cảnh nào?
-Phân tích bài thơ (đoạn thơ) gồm bao nhiêu nội dung?
-Nội dung nào là trọng tâm, quan trọng nhất?
-Tác giả sử dụng những biện pháp nghệ thuật gì?
B.Tập làm dàn ý:
Có 2 cách lập dàn ý:
-Kiểu dàn ý đại cương
-Kiểu dàn ý chi tiết
Tuy nhiên, giáo viên khuyến khích học sinh lập dàn ý chi tiết vì sau khi lập dàn ý xong, học sinh rất dễ dàng khi bắt tay vào viết bài hoàn chỉnh
1.Mở bài:
-Giới thiệu tác phẩm, tác giả, hoàn cảnh…
-Đánh giá sơ bộ giá trị nội dung và nghệ thuật
-Viết lại bài thơ (bài thơ ngắn), đoạn thơ
2.Thân bài:
-Ý 1 …(nghệ thuật → nội dung)
-Ý 2 …(nghệ thuật → nội dung)
Trang 7……
3.Kết bài:
-Đánh giá nội dung về bài thơ (đoạn thơ)
-Rút ra bài học (nếu có)
Ví dụ:
Đề: Phân tích khổ thơ đầu trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận
*/ Mở bài:
-Giới thiệu bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận
-Hoàn cảnh: 1958 khi tác giả đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh
-Đánh giá sơ bộ:
+Nghệ thuật: thể thơ mới, trữ tình
+Nội dung: ca ngợi con người lao động trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc
-Viết lại khổ thơ
*/ Thân bài:
a.Ý 1: cảnh hoàn hôn trên biển
-“Mặt trời xuống biển như hòn lửa”
+Nghệ thuật: so sánh độc đáo
+Nội dung: cảnh hoàng hôn trên biển đẹp rực rỡ
-“Sóng đã cài then đêm sập cửa”
+Nghệ thuật: nhân hóa bất ngờ
+Nội dung: cảnh thiên nhiên và con người đi vào trạng thái nghỉ ngơi →Huy Cận vẽ lên một bức tranh thật đẹp với màu sắc đỏ rực của vầng thái dương tạo thành một phong cảnh huy hoàng, rực rỡ
b.Ý 2: Người lao động hăng say, lạc quan:
-“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”
+Nghệ thuật đối lập giữa cảnh yên lặng của trời đất, vũ trụ và cảnh ồn
ào náo nhiệt của đoàn thuyền đánh cá bắt đầu ra khơi
Trang 8+Nội dung: ca ngợi tinh thần nhiệt tình, hăng say của các ngư dân
-“Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
+Nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, tưởng tượng
+Nội dung: ca ngợi tinh thần lạc quan, vui tươi của người lao động làm chủ biển cả, đất nước
*/ Kết bài:
-Đánh giá chung:
+Nghệ thuật: giọng phấn khởi, tự hào bút pháp lãng mạn
+Nội dung: ca ngợi thiên nhiên và con người lao động
-Bài học: xây dựng đất nước giàu đẹp
C.Viết bài:
1.Cách viết phần mở bài:
Là phần trước nhất đến với người đọc, gây cho người đọc cảm giác ấn tượng ban đầu về bài viết, tạo âm hưởng chung toàn bài Do đó, mở bài thường rất khó viết , M.Gorki nói “khó hơn cả là phần đầu, cụ thể là câu đầu.Cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của cả tác phẩm và người
ta thường tìm nó rất lâu”
a.Cấu tạo phần mở bài:
-Gợi mở vào đề (mở bài lung khởi, gián tiếp)
+Xuất xứ của đề, của một nhận định…
+Lý do đưa đến bài viết
+Đưa ra một mẫu chuyện, một so sánh, một liên tưởng, một danh ngôn, một câu tục ngữ, ca dao, một trích dẫn văn thơ
-Giới thiệu vấn đề (phần trọng tâm) sẽ được giải quyết ở phần thân bài +Nội dung vấn đề
+Xác định phương hướng, phương pháp, phạm vi, mức độ giới hạn của vấn đề (nếu có)
(Nếu mở bài chỉ có phần này là kiểu mở bài trực khởi, trực tiếp)
-Viết lại câu thơ (đoạn thơ)…
Trang 9*Lưu ý: nên viết ngắn gọn, khéo léo, có sức thu hút, gợi hứng thú
b.Thực hành:
Ví dụ 1: Phân tích 8 câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du
Mở bài lung khởi (gián tiếp):
“Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời nghìn thu”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du-Tố Hữu) Tiếng thơ trữ tình độc đáo trong “Truyện Kiều” như tiếng mẹ ru, như non nước vọng lời nghìn thu.Tiếng thơ của đại thi hào Nguyễn Du đã vang động đất trời khi phơi bày cuộc sống khốn khổ, cùng cực của nhân dân dưới thời phong kiến thối nát Xúc động nhất là tiếng thơ của Tố Như đã làm sống dậy hình ảnh một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời bị vùi dập, được diễn tả rõ nét qua bức tranh tả cảnh ngụ tình:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
………
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
Ví dụ 2: Phân tích bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương
Mở bài trực khởi (trực tiếp):
“Bánh trôi nước” là một trong những bài thơ xuất sắc của nền văn học cổ.Tác phẩm được nữ văn sĩ Hồ Xuân Hương sáng tác vào thời kì chế độ phong kiến mục ruỗng, làm cho nhân dân vô cùng khốn khổ nhất là người phụ
nữ Đây là bài thơ trữ tình độc đáo gây nhiều xúc động cho người đọc bởi bà chúa thơ Nôm bênh vực, ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ bằng những câu thơ sinh động:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
………
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
2.Cách viết phần thân bài:
Trang 10a.Cấu tạo phần thân bài:
-Thân bài là phần trọng tâm có nhiệm vụ:
+Phát triển những ý chính đã nêu ở phần mở bài
+Duy trì sự chú ý của người đọc
-Thân bài thường gồm nhiều đoạn:
+Các đoạn thường được cấu tạo theo kiểu diễn dịch, quy nạp-tổng-phân-hợp, so sánh, tương phản
+Các đoạn được trình bày theo hệ thống logic (trình bày theo vấn đề hay theo luận điểm)
- Khi phân tích 1 bài thơ (đoạn thơ), chúng ta phân tích cả 2 mặt nội dung
và nghệ thuật Như thế, chúng ta thực hiện phần thân bài theo các kiểu sau: +Kiểu 1: phân tích nghệ thuật → phân tích nội dung
+Kiểu 2: phân tích nội dung → phân tích nghệ thuật
+Kiểu 3: phân tích nghệ thuật → bình nội dung
+Kiểu 4: bình nghệ thuật → phân tích nội dung
b.Thực hành:
Đề: Phân tích 4 câu thơ sau trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải
“Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
Phân tích theo kiểu 3:
“Một mùa xuân nho nhỏ
………
Dù là khi tóc bạc”
Nhịp điệu khổ thơ dồn dập, lôi cuốn bằng điệp từ “dù là” lặp đi lặp lại như các đợt sóng vỗ liên tiếp vào bờ.Thanh Hải như muốn thúc giục tất cả chúng ta phải góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước