Danh mục này gồm các mặt hàng có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, cuộcsống và sức khoẻ của con người và động, thực vật, ảnh hưởng đến các giá trị lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ, và cả một s
Trang 1TÌNH HÌNH HỘI NHẬP AFTA VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CHÍNH CỦA VIỆT NAM KHI HỘI NHẬP AFTA
Như mục 1.2 ở chương I đã nêu về các mục tiêu kinh tế trực tiếp của AFTA
là tự do hóa thương mại, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện đểcác quốc gia thành viên thích ứng với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thayđổi, trong khuôn khổ AFTA đã có các quy định về chương trình ưu đãi thuế quan
có hiệu lực chung (CEPT), các quy định về tiêu chuẩn hàng hoá, cấp giấy xác nhậnxuất xứ hàng hoá, xoá bỏ quy định hạn chế đối với ngoại thương Đồng thời còn
có những hợp tác trong lĩnh vực hải quan, hợp tác về đầu tư, hợp tác công nghiệpcũng như phối hợp hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô Trên cơ sở những quy địnhchung nêu trên, mỗi quốc gia tiến hành cam kết và thực hiện các cam kết đó gắnvới điều kiện và trình độ phát triển cụ thể của mình
2.1.1 Tình hình thực hiện CEPT/AFTA của Việt Nam [6], [7], [49], [62]
Theo qui định của Hiệp định CEPT và Nghị định thư về việc tham gia củaViệt Nam vào Hiệp định CEPT, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện Chương trìnhCEPT như sau:
1) Bắt đầu thực hiện Chương trình CEPT từ 1/1/1996 và hoàn thành vào1/1/2006
2) Trước khi bắt đầu thực hiện Hiệp định CEPT, Việt Nam phải công bố các
danh mục thực hiện CEPT, bao gồm Danh mục Loại trừ hoàn toàn (General Exception List - GEL), Danh mục Loại trừ Tạm thời (Temporary Exclusion List - TEL) và Danh mục Cắt giảm thuế ngay (Inclusion List - IL) Ngoài ra, từ năm 1995
phải công bố Danh mục Nông sản chưa chế biến nhạy cảm và nhạy cảm cao
(Sensitive List - SL).
3) Để đảm bảo hiệu lực thi hành, các nước Thành viên ASEAN phải ban hànhvăn bản pháp lý công bố lịch trình cắt giảm thuế thực hiện Hiệp Định CEPT chotoàn bộ giai đoạn 10 năm (đối với Việt Nam là 1/1/1996 đến 1/1/2006)
Trang 24) Lịch trình cắt giảm thuế được quy định cụ thể như sau:
a) Đến cuối giai đoạn (1/1/2006), thuế suất đối với toàn bộ các mặt hàng trong Danh mục IL và TEL phải được cắt giảm xuống 0-5%
b) Đối với Danh mục IL: Đến 1/1/2001 các mặt hàng có thuế suất trên20% phải được giảm xuống bằng 20% theo công thức mỗi năm cắt giảm một lượngbằng 20% mức chênh lệch giữa thuế suất gốc và mức 20% Trong các năm tiếptheo tiếp tục cắt giảm cho đến khi đạt 0-5% vào 1/1/2006 Các mặt hàng có thuếsuất dưới 20% sẽ phải đạt thuế suất bằng 0-5% vào 1/1/2003
c) Đối với Danh mục TEL: Trong vòng 5 năm, bắt đầu từ 1/1/1999 vàkết thúc vào 1/1/2003, các mặt hàng thuộc TEL phải được đưa dần vào danh mụccắt giảm thuế, mỗi năm chuyển 20% số mặt hàng Sau khi được đưa vào Danh mục
IL, việc cắt giảm thuế phải được thực hiện ít nhất 2-3 năm một lần và mỗi lần giảmkhông ít hơn 5% Từ 1/1/2001, các mặt hàng có thuế suất trên 20% phải được giảmngay xuống 20% khi đưa vào cắt giảm Mỗi năm phải ban hành văn bản pháp lýthể hiện việc chuyển các mặt hàng và cắt giảm thuế đó
d) Các mặt hàng thuộc Danh mục SL bắt đầu giảm thuế từ 1/1/2004 vàkết thúc vào 1/1/2013 với thuế suất cuối cùng bằng 0-5%
Việc thực hiện Chương trình CEPT của Việt Nam được bắt đầu từ 1/1/1996
và kết thúc vào 1/1/2006.Tại thời điểm gia nhập, Việt Nam đã đệ trình với cácnước ASEAN 4 Danh mục hàng hoá theo quy định của Hiệp định CEPT Các danhmục này được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc đã được Uỷ ban Thường vụQuốc hội thông qua, đó là:
Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách;
Bảo hộ hợp lý cho nền sản xuất trong nước;
Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho nền sản xuất trong nước;
Hợp tác với các nước ASEAN trên cơ sở các quy định của Hiệp định CEPT để tranh thủ ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài
Trang 3Ngày 10/12/1995, tại Phiên họp thứ 8 của Hội đồng AFTA, Việt Nam đã
công bố các danh mục hàng hoá thực hiện CEPT1, cụ thể như sau2:
Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL): Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) là
danh mục các sản phẩm sẽ không đưa vào tham gia AFTA vì các lý do bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người
và động thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ học
Danh mục này gồm 213 nhóm mặt hàng, chiếm 6,6% tổng số mặt hàng của
Biểu thuế Nhập khẩu vào thời điểm công bố Tại Hội đồng AFTA-13, các nướcASEAN đã thực hiện chuyển một số lớn mặt hàng ra khỏi danh mục GEL ViệtNam đã nhiều lần rà soát và chuyển một số lớn các mặt hàng không đáp ứng Điều9B của Hiệp định CEPT ra khỏi Danh mục GEL Hiện nay, Danh mục GEL củaViệt Nam còn lại 132 dòng thuế và vẫn đang tiếp tục rà soát để chuyển dần ra khỏiGEL Danh mục này gồm các mặt hàng có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, cuộcsống và sức khoẻ của con người và động, thực vật, ảnh hưởng đến các giá trị lịch
sử, nghệ thuật, khảo cổ, và cả một số mặt hàng mà hiện ta đang nhập khẩu nhiều từcác nước ASEAN mà không có khả năng xuất khẩu và đang có thuế suất cao trongbiểu thuế, gồm các mặt hàng sau :
- Thuốc phiện và các chế phẩm từ thuốc phiện, xì gà, thuốc lá và rượu có nồng độ dưới 80%, rượu mạnh;
- Các loại xỉ và tro;
- Các loại xăng dầu (trừ dầu thô);
- Các loại thuốc nổ, thuốc phóng, các loại pháo;
- Các loại lốp bơm hơi cũ;
- Các loại thiết bị điện thoại, điện báo, hữu tuyến vô tuyến, các loại thiết bịrada, các loại máy thu sóng dùng cho điện thoại điện báo;
- Các loại ô tô dưới 16 chỗ ngồi, các loại ô tô và phương tiện tự hành có taylái nghịch Xe máy và phụ tùng xe máy có dung tích xi lanh dưới 250 cc;
- Các loại vũ khí, khí tài quân sự
1 Các danh mục n y ày được xây dựng trên cơ sở biểu thuế cũ (trước khi áp dụng Biểu thuế mới thực hiện Luật Thuế xuất - nhập khẩu 1999) gồm tổng cộng 3220 dòng thuế.
2 Số liệu về các danh mục n y ày được lấy từ "Lịch trình giảm thuế của Việt Nam để thực hiện Khu vực Mậu dịch
Tự do ASEAN - AFTA" do Bộ T i chính ban h nh (này ày ội bộ) tháng 2/1998, Nh xu ày ất bản t i chính ày
Trang 4- Các loại văn hoá phẩm đồi truỵ, phản động, đồ chơi trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục và trật tự an toàn xã hội
- Các loại hoá chất, dược phẩm độc hại, các chất phế thải, các đồ tiêu dùng
xã hội đã qua sử dụng,
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL): là danh mục gồm các sản phẩm mà các
nước chưa sẵn sàng cắt giảm thuế ngay Trong vòng 5 năm, bắt đầu từ 1/1/1999 vàkết thúc vào 1/1/2003, các mặt hàng thuộc TEL phải được đưa dần vào danh mụccắt giảm thuế, mỗi năm chuyển 20% số mặt hàng Sau khi được đưa vào Danh mục
IL, việc cắt giảm thuế phải được thực hiện ít nhất 2-3 năm một lần và mỗi lần giảmkhông ít hơn 5% Đến 1/1/2003, các mặt hàng có thuế suất trên 20% phải đượcgiảm xuống 20% Mỗi năm ban hành văn bản pháp lý thể hiện việc chuyển các mặthàng và cắt giảm thuế đó
Hiện nay Danh mục này gồm 1890 dòng thuế, chiếm 30% tổng số mặt hàngtrong Biểu thuế nhập khẩu và chủ yếu gồm các mặt hàng có thuế suất trên 20% vàmột số mặt hàng tuy có thuế suất thấp hơn 20% nhưng trước mắt cần thiết phải bảo
hộ hoặc các mặt hàng đang được áp dụng các biện pháp phi thuế khác
- Các loại ô tô (trừ các loại ô tô dưới 16 chỗ ngồi);
- Xe đạp, các loại đồ chơi trẻ em;
- Các loại máy gia dụng (như máy giặt, máy điều hòa, quạt điện, );
- Các loại mỹ phẩm và các mặt hàng tiêu dùng;
- Các loại vải sợi và hàng may mặc;
- Các loại sắt, thép;
- Các sản phẩm cơ khí thông dụng
Danh mục cắt giảm thuế quan (IL): là danh mục các sản phẩm mà các nước
thành viên đã sẵn sàng cắt giảm thuế Việc cắt giảm thuế của các sản phẩm thuộcDanh mục này được chia thành 2 lộ trình: lộ trình cắt giảm bình thường và lộ trìnhcắt giảm nhanh
+ Lộ trình cắt giảm bình thường (normal track): Việc cắt giảm thuế xuống 5% sẽ được thực hiện trong vòng 10 năm Đối với các sản phẩm có thuế suất lớnhơn 20%, trong vòng 5 năm đầu thuế suất phải được giảm xuống 20%, mỗi năm
Trang 50-cắt giảm một lượng như nhau, để từ đó 0-cắt giảm xuống 0-5% trong vòng 5 nămcòn lại.
+ Lộ trình cắt giảm nhanh (fast track): Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ tư đãxác định 15 nhóm mặt hàng cần giảm thuế nhanh trong vòng 7 năm, đó là: dầuthực vật, hóa chất, phân bón, sản phẩm cao su, giấy và bột giấy, đồ gỗ và songmây, đá quý và đồ trang sức, xi măng, dược phẩm, chất dẻo, các sản phẩm bằng da,hàng dệt, các sản phẩm gốm và thủy tinh, điện cực đồng, hàng điện tử
Việt Nam không tham gia lộ trình cắt giảm nhanh
Danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL): gồm các mặt hàng nông
sản chưa chế biến mà từng nước cho là nhạy cảm đối với nền kinh tế của mình,không đưa vào diện cắt giảm thuế ngay Danh mục SL này gồm 51 dòng thuế, chủyếu bao gồm các mặt hàng nông sản chưa chế biến có yêu cầu bảo hộ cao như: cácloại thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc, gạo lức, đường mía, Các mặt hàngnày hiện đang được áp dụng các biện pháp phi quan thuế như quản lý theo hạnngạch, quản lý của Bộ chuyên ngành,
Tình hình thực hiện cắt giảm thuế thực tế hàng năm:
Việt Nam không công bố chương trình cắt giảm thuế thực hiện CEPT đốivới Danh mục IL cho toàn bộ giai đoạn 10 năm 1996-2006 mà chỉ thực hiện công
bố danh mục hàng hóa tham gia CEPT và cắt giảm thuế cho từng năm Cụ thể việcthực hiện CEPT của Việt Nam từ năm 1996 đến nay như sau:
Năm 1996 là năm đầu tiên Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế theo Chương
trình CEPT, theo Nghị định 91/CP ngày 18/12/1995 của Chính phủ, 8753 mặt hàng
đã được đưa vào Danh mục mặt hàng tham gia CEPT của Việt Nam Danh mụcnày gồm các mặt hàng đã có thuế suất thông thường bằng 0-5% Đây mới chỉ làbước đưa các mặt hàng vào thực hiện CEPT chứ chưa thực hiện cắt giảm thuế trênthực tế
Năm 1997, bằng Nghị định 82/CP ngày 13/12/1996, Chính phủ Việt Nam đã
thực hiện đưa 1496 mặt hàng vào thực hiện CEPT (trong đó có 875 mặt hàng đãđưa vào năm 1996, và 621 mặt hàng mới được đưa thêm) Các mặt hàng được đưavào năm 1997 phần lớn đã có thuế suất thông thường bằng 0-5% hoặc nhỏ hơn
3 Số liệu n y ày được rút ra từ Danh mục CEPT 1998 sau khi đã chi tiết hoá một số dòng thuê trong Biểu thuế Số mặt h ng th ày ực tế của Danh mục CEPT 1996 tại thời điểm công bố thấp hơn con số n y m ày ột chút.
Trang 620% Cũng như đối với năm 1996, đây mới chỉ là việc đưa mặt hàng vào Chươngtrình CEPT chứ thực sự chưa thực hiện cắt giảm thuế trên thực tế.
Năm 1998, Chương trình CEPT của Việt Nam được thực hiện theo Nghị
định số 15/1998/NĐ-CP ngày 12/3/1998 của Chính phủ Danh mục CEPT 1998gồm 1633 mặt hàng, trong đó có 1496 mặt hàng đã được đưa vào từ năm 1996 -
1997 và 137 mặt hàng mới Do có việc tách mã số của một số mặt hàng được thựchiện trong năm 1998, tổng số mặt hàng của Danh mục này được nâng lên thành
1719, chiếm hơn 1/2 toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu của Việt nam Trong số 137 mặthàng được đưa vào Danh mục 1998, phần lớn là các mặt hàng có thế mạnh xuấtkhẩu của Việt nam như: một số loại rau, quả, chè, cà phê, quần áo, hàng maymặc có thuế nhập khẩu khá cao vào thời điểm đó
Năm 1999: Danh mục hàng hoá của Việt Nam thực hiện CEPT năm 1999
được ban hành kèm theo Nghị định số 14/1999/NĐ-CP ngày 23/3/1998 của Chínhphủ Danh mục CEPT 1999 gồm 3591 mặt hàng, tăng 1949 mặt hàng so với Danhmục CEPT 1998 Số mặt hàng tăng lên này bao gồm cả các mặt hàng được chuyểnvào từ Danh mục Loại trừ tạm thời (TEL) theo qui định và cả những mặt hàng tănglên do việc chi tiết hoá một số mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu vừa qua
Năm 2000: Danh mục hàng hoá của Việt Nam thực hiện CEPT năm 2000
được ban hành kèm theo Nghị định số 9/2000/NĐ-CP ngày 21/3/2000 của Chínhphủ Danh mục CEPT 2000 gồm 4234 mặt hàng, trong đó có 3591 mặt hàng đãđưa vào thực hiện chương trình CEPT từ năm 1999 trở về trước và 643 mặt hàngmới chuyển từ Danh mục Loại trừ tạm thời (Danh mục TEL) sang Danh mục Cắtgiảm (IL) để thực hiện Chương trình CEPT từ năm 2000
Trong năm 2001, Danh mục hàng hoá của Việt Nam thực hiện CEPT năm
2001 được ban hành kèm theo Nghị định số 28/2001/NĐ-CP ngày 6/6/2001 củaChính phủ Danh mục CEPT 2001 gồm 4.933 mặt hàng, chiếm 77% tổng số mặthàng trong Biểu thuế nhập khẩu, trong đó có 4.233 mặt hàng đã đưa vào thực hiệnchương trình CEPT từ năm 2000 trở về trước và 700 mặt hàng mới chuyển từDanh mục Loại trừ tạm thời (Danh mục TEL) sang Danh mục Cắt giảm (IL) đểthực hiện Chương trình CEPT từ năm 2001 Trong 4.933 dòng thuế, 3.228 dòngthuế chiếm 65% danh mục IL đã có thuế suất 0-5%
Đến năm 2002, Việt Nam đã chuyển 5.550 dòng thuế vào Danh mục cắt
Trang 7giảm thuế ngay (IL) trên tổng số khoảng 6.523 dòng thuế của Biểu thuế nhập khẩu.Thuế suất bình quân CEPT/AFTA của các dòng thuế đang nằm trong Danh mục IL
đã cắt giảm xuống 7,3% so với mức thuế suất bình quân MFN là 13,5%
Còn khoảng 760 dòng thuế đang nằm trong Danh mục Loại trừ tạm thời(TEL) và sẽ được chuyển vào Danh mục IL vào năm 2003 Danh mục hàng nôngsản chưa chế biến nhạy cảm (SL) của Việt Nam bao gồm 53 dòng thuế Danh mụcLoại trừ hoàn toàn (GE) bao gồm 155 dòng thuế
Những thành tựu đạt được trong việc thực hiện CEPT:
Đảm bảo tốt lịch trình và chất lượng thực thi các cam kết kinh tế thương mại:
-Với việc thực hiện cắt giảm hơn 4200 dòng thuế trên tổng số 6210 dòng thuế
mà Việt Nam cắt giảm theo Hiệp định CEPT chỉ trong vòng 5 năm, xúc tiến chuẩn
bị cho Vòng đàm phán thứ hai về dịch vụ, tăng cường đàm phán và ký kết các Hiệpđịnh riêng rẽ về hợp tác thương mại và đầu tư với các quốc gia trong AFTA, xúctiến điều chỉnh luật pháp và và mở cửa thị trường… là những thành tựu đạt đượcbằng những nỗ lực hết sức to lớn của Việt nam chỉ trong một thời gian hết sứcngắn Điều này cũng chứng tỏ với thế giới rằng, việc Việt nam hoàn thành các camkết theo khuôn khổ ASEAN vào năm 2006 là hoàn toàn khả thi
Thực hiện tốt các cam kết về tự do hoá, thuận lợi hoá về đầu tư trongkhuôn khổ ASEAN và AFTA, tích cực cải thiện môi trường đầu tư, chính sách đầu
tư để tranh thủ thêm nguồn vốn từ ASEAN Với tư cách là nước luân phiên giữ ghếchủ tịch, năm 1998 Việt nam đã tích cực góp phần xây dựng “Kế hoạch hành động
Hà nội” rút ngắn được lịch trình thành lập Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) cũngnhư đã có những thành công nhất định trong việc tăng cường hợp tác đầu tư vớicác thành viên khác trong ASEAN Kết quả của việc xúc tiến thực hiện các camkết này đã cho thấy, chỉ tính riêng giai đoạn 1996 - 2000 (giai đoạn Việt nam đãbắt đầu thực hiện các cam kết trong ASEAN), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoViệt Nam tăng từ 7091 triệu USD lên đến mức 11991 triệu USD Trong số này, cácnước trong ASEAN đóng góp khoảng 28% (Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tưvào Việt nam chiếm trên 18% tổng vốn FDI tại Việt Nam)
Bảng 3 - Đầu tư trực tiếp (FDI) của các nước ASEAN vào Việt Nam
(1995 – 2001) chỉ tính các dự án còn hiệu lực
Trang 8Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Vụ Quản lý dự án - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Từ năm 1996 đến nay, Việt Nam đã thực hiện 5 lần đưa các mặt hàngvào diện cắt giảm thuế để thực hiện CEPT, nhưng những năm đầu 1996 - 1997chúng ta mới chủ yếu đưa các mặt hàng vào tham gia CEPT chứ chưa thực sự thựchiện cắt giảm thuế, chỉ từ năm 1998 Việt Nam mới thực sự có những bước cắtgiảm đầu tiên Theo Ban Thư ký ASEAN, trong năm 2000, mức thuế quan bìnhquân thực hiện CEPT của Việt nam đạt 3,4% so với mức 3,9% năm 1999, đây làmức giảm đáng kể So với mức thuế bình quân gia quyền theo kim ngạch thươngmại cho tất cả các dòng thuế trên 11% thì chúng ta đã thực hiện thuế theo CEPTchỉ thấp bằng 1/ 3 của mức thuế suất bình quân hiện hành áp dụng chung cho cácnước có quan hệ thương mại với Việt Nam Để có thể đánh giá mức độ thực hiệncác cam kết về thuế quan và phi thuế quan mà Việt Nam thực hiện trong khuônkhổ của Hiệp định CEPT, chúng ta cần so sánh những thành tựu của Việt Namtrong lĩnh vực này tính đến năm 2000 với các nước khác trong cùng khu vực theobảng dưới đây:
Trang 9Bảng 4 - Tình hình thực hiện Hiệp định CEPT năm 2000 của các nước ASEAN
21 2.126 - 2.987 35 - - 984 3.523
-202 69 90 63 108 27 120 - 219 134
14 4 88 73 21 62 - 7 51 50
6.492 7.252 3.551 9.228 5.472 5.695 5.859 9.110 4.827 6.821
Nguồn: Uỷ ban quốc gia về hợp tác KTQT - Việt Nam và các tổ chức KTQT
Như vậy, số liệu trên chỉ rõ, về tổng thể tình hình thuế quan thực hiện theoHiệp định CEPT của ta vẫn còn rất chậm so với các nước trong ASEAN – 6, chỉvượt Campuchia Do vậy, chúng ta sẽ còn phải nỗ lực rất nhiều trong thời gian tớiđây
2.1.2 Tình hình thực hiện dỡ bỏ hàng rào phi quan thuế (NTBs)
Theo quy định của Hiệp định CEPT: Các biện pháp hạn chế định lượng sẽđược dỡ bỏ khi thuế suất của một mặt hàng giảm xuống dưới 20% và các hàng ràophi thuế quan khác sẽ được loại bỏ dần trong vòng 5 năm tiếp theo nhưng khôngmuộn hơn năm 2006
Trang 10Như vậy, việc dỡ bỏ các biện pháp hạn chế định lượng sẽ được thực hiệntheo Lịch trình cắt giảm thuế Dự thảo Lịch trình cắt giảm thuế thực hiện CEPTcho cả giai đoạn 2001-2006 nói trên được xây dựng có tính đến cả việc dỡ bỏ cácbiện pháp hạn chế định lượng Các hàng rào phi thuế khác sẽ được giải quyết trongkhuôn khổ hài hoà chung của ASEAN.
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TỪ KHI DIỄN RA TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AFTA
2.2.1 Tình hình khai thác lợi ích của chương trình CEPT/AFTA của các doanh nghiệp
Để được hưởng những ưu đãi về thuế nhập khẩu theo Chương trình CEPT,các sản phẩm cần phải thoả mãn các nguyên tắc sau:
Phải là sản phẩm đồng thời có trong danh mục cắt giảm thuế của cả nước xuất khẩu và nhập khẩu,
Sản phẩm đó phải có thuế suất dưới 20%
Phải đáp ứng có ít nhất 40% thành phần của sản phẩm có hàm lượng xuất xứ
từ các nước ASEAN
Công thức 40% hàm lượng xuất xứ từ các nước ASEAN được tính như sau:
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các
sản phẩm là đầu vào nhập khẩu từ
nước không phải là thành viên
ASEAN
+
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào không xác định được xuất xứ
Trang 11kim ngạch xuất khẩu của Việt nam sang ASEAN, trong khi đó tỉ trọng này ở cácnước ASEAN là 1%
2.2.2 Tình hình doanh nghiệp tham gia thực hiện AICO
Tốc độ thực hiện AICO ở các nước ASEAN chậm hơn so với dự kiến banđầu, một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực Cácđơn xin thành lập cơ cấu AICO phần lớn tập trung vào các lĩnh vực ôtô, xe máy,điện và điện tử, chế biến thực phẩm
Theo số liệu thống kê của Bộ Công nghiệp, đến ngày 1/8/2002, đã có 105 đơnxin thành lập cơ cấu AICO trong các nước ASEAN, trong đó có 92 đơn đã đượcxét duyệt với trị giá trao đổi 1,14 tỷ/năm Việt Nam đã xét duyệt cho thành lập 2 cơcấu AICO điện tử là AICO Sony và AICO Samsung;
Trong thời gian qua, việc tham gia Chương trình AICO ở Việt Nam tiến triểnchậm, có thể kể một số nguyên nhân sau:
Các doanh nghiệp Việt Nam (100% vốn Việt Nam) chưa hiểu biết nhiều,chưa quan tâm thích đáng đến Chương trình AICO;
Một số doanh nghiệp Việt Nam đã có hiểu biết và mong muốn tham giaAICO, nhưng do hạn chế về điều kiện giao lưu, quan hệ quốc tế nên chưa tìm đượcđối tác ở các nước ASEAN khác;
Các công ty 100% vốn nước ngoài thường có điều kiện tìm được đối tác ởcác nước ASEAN khác, nhưng lại không đủ tiêu chuẩn về cổ phần quốc gia;
Các công ty liên doanh có đủ điều kiện về cổ phần quốc gia thì tỷ lệ nội địahóa, tức là giá trị bộ phận cấu thành sản xuất tại Việt Nam, lại quá thấp nên không
có sản phẩm để trao đổi với các công ty ASEAN
Với việc miễn trừ điều kiện 30% cổ phần quốc gia, hy vọng sẽ có nhiềudoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ sớm tham gia Chương trình này
2.2.3 Tình hình mở rộng thị trường giữa Việt Nam với các nước ASEAN [29], [35], [45], [50], [55], [62]
Trang 12Tận dụng được các cơ hội về tự do hoá thương mại trong khuôn khổ ASEAN
để cải thiện thâm hụt cán cân thương mại Kể từ khi tham gia vào khối ASEAN,cán cân thương mại giữa Việt Nam và các nước thành viên trong khối khôngngừng tăng mạnh do tác động tức thời của quá trình tự do hoá, thuận lợi hoáthương mại mà các nước thành viên trong khối dành cho nhau Kim ngạch xuấtkhẩu trong vòng 5 năm qua của Việt Nam sang ASEAN đã tăng hơn 2 lần, từ 1,112
tỷ USD năm 1995 lên đến 2,612 tỷ USD năm 2000, chiếm 18% tổng kim ngạchxuất khẩu
Các mặt hàng xuất của Việt Nam sang các nước ASEAN chủ yếu là dầu thô,hàng may mặc, da giày và hàng nông sản đã tăng mạnh và trở thành nguồn thungoại tệ chủ yếu của nước ta Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu của Việt Namtrong ASEAN là các nước như Singapore (chiếm 2/3 tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu của Việt Nam trong ASEAN) Do mở rộng buôn bán với các nước thành viêntrong ASEAN, tình trạng nhập siêu cũng dần được kiểm soát
Bảng 5 - Kim ngạch Xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước ASEAN
Năm Xuất khẩu(Tỷ US$) Nhập khẩu(Tỷ US$) Tổng số (Tỷ US$)
Trang 13Bảng 6 - Xuất nhập khẩu và nhập siêu của Việt nam qua các năm 1995 - 2000
Năm Xuất khẩu
(triệu USD)
Tăng, Giảm (%)
Nhập khẩu (triệu USD)
Tăng, Giảm (%)
Nhập siêu (triệu USD)
Tỷ lệ nhập siêu (%)
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt nam, Kinh tế 2000 – 2001, Việt nam và Thế giới [50]
Thời gian gần đây, tốc độ tăng kim ngạch buôn bán của Việt Nam với cácnước ASEAN đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm vào khoảng 25%/ năm Doanh sốbuôn bán với ASEAN chiếm 1/3 tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam Câuhỏi đặt ra là liệu với AFTA tốc độ tăng cũng như tỷ trọng của kim ngạch buôn bánvới ASEAN có tăng lên đáng kể không và nếu có thì ảnh hưởng ra sao đối với sảnxuất trong nước? Để trả lời câu hỏi cần xem xét cụ thể cơ cấu buôn bán của Việtnam với các nước ASEAN
Thứ nhất, xét về cán cân buôn bán, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
ASEAN chiếm chừng 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, còn kim ngạchnhập khẩu từ ASEAN lại chiếm tới chừng 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu Như vậy,với ASEAN Việt Nam luôn ở thế nhập siêu Mặc dù xuất khẩu đã gia tăng, đặc biệtnhờ mặt hàng chủ lực là dầu thô xuất sang Singapore, triển vọng gia tăng xuất khẩucủa Việt Nam sang các nước ASEAN chưa có những hứa hẹn thay đổi mạnh do cơcấu mặt hàng xuất khẩu
Trang 14Thứ hai, xét về cơ cấu mặt hàng, Việt Nam xuất sang các nước ASEAN gồm:
dầu thô, gạo, lạc, đậu, cao su, chè, ngô, hạt điều, tiêu, rau quả tươi, thuỷ sản, thép,
gỗ, than, thiếc, da thuộc, hàng thủ công Rất nhiều các mặt hàng nông sản chưa chếbiến này được các nước ASEAN xếp vào Danh mục hàng nông sản chưa chế biếnnhạy cảm và nhạy cảm cao để làm chậm quá trình giảm thuế Số các mặt hàngnông sản được các nước thành viên ASEAN bổ sung vào CEPT để áp dụng việccắt giảm thuế ngay chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ, trong khi những mặt hàng chủ đạo
là dầu thô và nông sản chưa chế biến chiếm hầu hết kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam Tác động kích thích chủ yếu của CEPT là đối với các hàng công nghiệp chếbiến, bởi vì mức cắt giảm thuế suất lớn chính là đối với các mặt hàng này Nhưvậy, những nước có trình độ phát triển cao hơn như Singapore và Malaysia có ưuthế hơn trong việc bành trướng hàng hoá của mình khi những hàng rào thuế quan
và phi thuế quan được rỡ bỏ và cắt giảm
Sự chênh lệch về mức thuế hiện hành và mức thuế suất dưới 5% sau khi thựchiện AFTA đối với những mặt hàng công nghiệp chế biến mà Việt Nam có thểtăng cường xuất khẩu trong tương lai gần như đồ nhựa, da, cao su, dệt may, đáquí… cũng không lớn
Như vậy, với cơ cấu xuất khẩu như hiện nay, lợi ích mà Việt Nam thu được từAFTA không đáng kể Nếu như cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăngmạnh những sản phẩm công nghiệp chế biến thì sự cắt giảm đáng kể về thuế có thểtrở thành một kích thích tốt đối với các doanh nghiệp sản xuất cho xuất khẩu Tuynhiên, sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam so với các nước ASEAN trên thịtrường nước này còn rất yếu ớt, bởi vì những hàng hoá công nghiệp mà Việt Namđang và sẽ sản xuất cũng tương tự như các hàng hoá của các nước ASEAN
Với trình độ công nghệ thua kém hơn (và ngay cả tương đương trong tươnglai) thì Việt Nam chỉ có thể cạnh tranh trên thị trường ASEAN dựa trên tính độcđáo của chủng loại và mẫu mã hàng hoá Vì vậy việc giảm thuế nhập khẩu của cácnước ASEAN sẽ không làm tăng rõ rệt sức cạnh tranh của hàng hoá Việt nam trêncác thị trường này
Thứ ba, xét về bạn hàng, 2/3 doanh số buôn bán của Việt Nam với ASEAN là
thực hiện với Singapore Hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu qua Singapore và đượctái xuất tiếp tục sang các nước khác Singapore là cảng trung chuyển chứ không
Trang 15phải là điểm tiêu dùng Vốn dĩ đã từ lâu là một cảng tự do, hệ thống thuế suất củaSingapore thấp, 98% tổng số mặt hàng (5708 mặt hàng) của Singapore hiện đã nằmtrong CEPT với thuế suất bình quân bằng 0%, tức miễn thuế hoàn toàn.
Với các nước khác như Indonesia, Thailand, Philippines, hàng xuất khẩu củaViệt Nam chủ yếu là nông sản chưa chế biến Những nước này cũng xuất khẩuhàng nông sản rất mạnh và nhiều mặt hàng nông sản chưa chế biến hiện đều đượccác nước này xếp trong danh mục hàng nông sản nhạy cảm để chưa phải thực hiệncắt giảm thuế Việt Nam hiện chỉ mới xuất khẩu sang các nước đó những hàng hoámang tính chất bổ sung cho cơ câú của các nước đó, chứ chưa phải các hàng hoámang tính chất cạnh tranh
Có thể nhận xét rằng CEPT chưa làm thay đổi cục diện của xuất khẩu ViệtNam sang ASEAN Chỉ khi mà Việt Nam chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất vàxuất khẩu theo hướng sản xuất ra những hàng hoá nằm trong danh mục cắt giảmthuế của CEPT, thì các doanh nghiệp Việt Nam mới có thêm được thuận lợi về yếu
tố giá khi muốn xuất khẩu sang ASEAN Song theo nhận định của nhiều chuyêngia, sức cạnh tranh về giá không phải là yếu tố hàng đầu trong cuộc cạnh tranh củaViệt Nam trên thị trường ASEAN
Đối với việc xuất khẩu sang thị trường các nước ngoài ASEAN thì lợi ích mà
AFTA mang lại cho sản xuất của Việt Nam là giảm giá thành sản xuất, nhờ muađược vật tư đầu vào với giá hạ hơn từ các nước ASEAN Tuy nhiên, cũng cần thấy
là các nước ASEAN khác cũng xuất khẩu sang thị trường thế giới những hàng hoátương tự như của Việt Nam, và với AFTA họ cũng được hưởng những lợi ích tương
tự, nhờ vậy cũng tăng được sức cạnh tranh tương tự Việt Nam
Đối với nhập khẩu: Việt Nam nhập từ ASEAN chủ yếu là những nguyên vật
liệu ding cho sản xuất và hàng công nghiệp như nhôm, xi măng, hoá chất, hàngđiện tử, phân hoá học, thuốc chữa bệnh, giấy, xăng dầu, thuốc trừ sâu, nhựa, thép,các phương tiện vận chuyển Những mặt hàng này Việt Nam đã bắt đầu sản xuấtđược một phần nhưng hiện tại còn kém sức cạnh tranh so với các nước ASEANbởi thua về chất lượng, chủng loại và cả số lượng Vì thế, các nước này đang cốgắng chiếm lấy một thị phần lớn hơn ở Việt Nam
Hơn một nửa tổng số nhóm mặt hàng mà thuế xuất nhập khẩu hiện thấp hơnmức 5% Đó là những hàng hoá vật tư phục vụ sản xuất hoặc hàng tiêu dùng thiết
Trang 16yếu Việc thực hiện AFTA sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nước ASEANtrong việc nâng cao sức cạnh tranh về giá cả so với hàng hoá Việt Nam, chiếm ưuthế hơn về giá cả và về các thủ tục hải quan so với hàng hoá của các nước ngoàiASEAN (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật) cùng cạnh tranh trên thịtrường Việt Nam Chiếm lấy một thị phần ở Việt Nam là điều mà các nhà kinhdoanh nước ngoài quan tâm hàng đầu, bởi vì thị trường Việt Nam có tiềm năng lớn
về dung lượng
Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế thấp hơn các nước ASEAN khác, sứccạnh tranh của hàng hoá rất yếu ớt, nên đang và sẽ đứng trước những thách thức vôcùng lớn khi tham gia AFTA Hiện tại, hàng hoá nhập khẩu đang tràn ngập thịtrường, làm điêu đứng không ít hàng công nghiệp như dệt, giày dép, hàng cơ khí,
đồ điện dân dụng, sứ, thuỷ tinh, thép cán… thậm chí cả khi hàng rào thuế quanđang còn được duy trì khá cao Đặc biệt đáng lo ngại là các ngành có hàm lượngvốn và kỹ thuật cao, bởi vì sự chênh lệch về trình độ hiện tại là rất rõ rệt Khi màhàng rào bảo hộ bị cắt bỏ thì các ngành sản xuất trong nước chắc chắn sẽ chịunhững sức ép lớn hơn nhiều lần, có nguy cơ bị hàng hoá nước ngoài lấn át ngay tạithị trường nội địa
Cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam và một số nước ASEAN khôngkhác nhau nhiều Có rất nhiều mặt hàng cùng sản xuất, có thể cạnh tranh nhau trênthị trường Việt Nam và thị trường ngoài ASEAN như các loại nông sản chưa chếbiến và đã chế biến, ôtô, xe máy, xe đạp, máy móc gia dụng (máy giặt, điều hoà,quạt điện), sắt thép, các sản phẩm cơ khí thông dụng, hàng dệt và may, đồ chơi trẻ
em, mỹ phẩm
Tham gia AFTA sẽ làm cho các xí nghiệp trong nước phải sớm bị đặt trongmột môi trường cạnh tranh quốc tế, nhưng vấn đề này có ảnh hưởng tích cực đếnnhững sản phẩm công nghiệp mà Việt Nam có lợi thế so sánh trước mắt Hiện naythuế nhập khẩu của những mặt hàng này là khoảng 50% đến 60%, đủ để xí nghiệptrong nước cạnh tranh với hàng nhập Những kinh nghiệm của Nhật và một sốnước Châu Á cho thấy, nếu bảo hộ kéo dài quá lâu, các ngành đó sẽ không pháttriển lành mạnh và không thể trở thành lợi thế so sánh để cạnh tranh trên thị trườngthế giới
Trang 17Do đó, dù có gia nhập AFTA hay không, Việt Nam cũng cần từng bước giảmmức thuế quan Lịch cắt giảm thuế quan mà CEPT qui định rất phù hợp với chiếnlược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu mà trước mắt là trong các ngành cóhàm lượng lao động cao, các ngành chế biến nông - lâm - thuỷ sản Nhìn từ góc độnày, ta thấy việc gia nhập AFTA sẽ giúp Việt Nam có thêm cơ hội để thâm nhậpvào thị trường các nước ASEAN khác, đồng thời giúp Việt Nam vươn ra thị trườngthế giới.
Điều này sẽ là một tác nhân quan trọng không những thúc đẩy việc cải tiến kỹthuật công nghệ và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất, mà hơnthế, còn bắt buộc chúng ta điều chỉnh cơ cấu sản xuất, nếu cần phải ngừng sản xuấtnhững mặt hàng không đủ sức cạnh tranh
Các doanh nghiệp Việt Nam phải đuổi kịp và vượt các nước ASEAN về chấtlượng, mẫu mã, giá cả hàng hoá trong vòng 5 - 8 năm tới, nếu không thì sẽ bị phásản và trao thị trường Việt Nam cho các đối thủ láng giềng
Mức độ ảnh hưởng của AFTA đối với khả năng cạnh tranh của một số lĩnh
vực chủ yếu [28], [41], [45], [62]
Đối với mặt hàng gạo:
Hiện nay các nước Malaysia, Philippines, Indonesia đang để mặt hàng gạotrong danh mục các mặt hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm cao, trừ Thái lanxếp gạo trong danh mục cắt giảm thuế ngay và Singapore đã có thuế nhập khẩu ởmức 0% Các mặt hàng của danh mục này chỉ bắt đầu đưa vào cắt giảm từ 2010 vàkết thúc vào năm 2020 nên tuy Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu gạo trongASEAN nhưng trong những năm tới cho đến 2010 sẽ không có khả năng đượchưởng ưu đãi của các nước khác theo CEPT nếu Việt Nam đưa gạo vào thực hiệnvới một tiến trình giảm sớm
Đối với mặt hàng cà phê:
Do những lợi thế nhất định của Việt Nam trong việc sản xuất và xuất khẩu càphê, hiện nay các mặt hàng cà phê đã được xếp trong danh mục cắt giảm Tuynhiên, nhìn chung cà phê sơ chế được các nước để trong danh mục loại trừ tạm thời
và có thuế suất cao (40 đến 70%), trừ Indonesia xếp trong danh mục cắt giảm thuế
và đã giảm thuế từ 25% xuống 20% và Thái lan để trong danh mục các mặt hàng
Trang 18nông sản chưa chế biến nhạy cảm Cà phê chế biến được phần lớn các nước đểtrong danh mục cắt giảm, ngoại trừ một số mặt hàng cà phê chế biến của Brunei,Philippines và Malaysia được để trong danh mục loại trừ tạm thời.
Đối với mặt hàng chè:
Nhìn chung các nước thành viên ASEAN (trừ Thái lan) đều đưa các sản phẩmchè chế biến vào trong danh mục cắt giảm ngay Do đó, để mở rộng khả năng xuấtkhẩu chè của Việt nam, phần lớn các sản phẩm chè đã được xếp trong danh mụccắt giảm ngay
Đối với mặt hàng rau quả:
Đối với việc thực hiện CEPT, hầu hết các sản phẩm rau quả chế biến đềuđược các nước ASEAN đưa vào danh mục cắt giảm để thực hiện theo một tiếntrình giảm thuế bình thường Nhiều sản phẩm của Philippines và một số của Tháilan (phần nhiều là sản phẩm chế biến từ quả), nước ép của Indonesia được để trongdanh mục loại trừ tạm thời Tuy nhiên, chỉ có Indonesia là có lịch trình giảm chậmnhất đối với nước quả ép Các sản phẩm loại này của Thái lan tuy có mức thuế suấtcao nhưng Thái lan đang áp dụng tiến trình giảm khá nhanh
Mặc dù với những hạn chế hiện nay về trang thiết bị, ngành chế biến rau quảcủa Việt Nam vẫn cần được xác định là một ngành có tiềm năng và cần được tậptrung phát triển vì một số lý do sau:
Đây là những mặt hàng luôn có nhu cầu tiêu dùng lớn trên thị trường trongnước cùng như thế giới
Đây là một ngành sản xuất tạo công ăn việc làm cho nguồn nhân công dồidào của Việt Nam
Tạo điều kiện nâng cao doanh số xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
Không đòi hỏi thời gian đầu tư quá lâu
Đối với mặt hàng thuỷ sản:
Hiện nay, hầu hết các nước ASEAN đều đưa các mặt hàng hải sản vào trongdanh mục cắt giảm ngay với một lịch trình giảm thuế rất tích cực cho các mặt hàngcòn có thuế suất cao và rất nhiều mặt hàng trong nhóm này đã có thuế suất 0%.Trong buôn bán của Việt Nam đối với các nước ASEAN, kim ngạch xuất khẩu
Trang 19thủy sản của Việt Nam sang các nước này (chủ yếu là Singapore và Thái lan).Trong khi đó nhập khẩu thuỷ sản chủ yếu là cá đông lạnh và cá khô từ Thái lan làkhông đáng kể.
Ảnh hưởng của AFTA đối với một số ngành công nghiệp [20], [29], [45], [59]
Đối với ngành dệt may:
Tham gia CEPT, khả năng thâm nhập của các loại hàng ngoại vào thị trườngViệt Nam sẽ dễ dàng hơn và khi đó khả năng chống trả sự cạnh tranh của hàng hoácác nước ASEAN, đặc biệt là Indonesia - là nước có công nghiệp dệt rất phát triển,
sẽ càng phức tạp và khó khăn hơn Đối với lĩnh vực hàng may mặc, nhìn chung đãđược đổi mới khá nhiều về công nghệ và thiết bị, do đó chất lượng sản phẩm và giáthành có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực để đẩy mạnh xuất khẩu.Tuy nhiên, trong lĩnh vực này chủ yếu vẫn là gia công xuất khẩu Toàn bộ các mặthàng quần áo và hàng may sẵn mặc dù hiện đang có mức thuế suất cao nhưng đều
đã được để ở danh mục cắt giảm Tuy nhiên, mặt hàng này vẫn còn có thể gặp phảinhững vướng mắc về vấn đề hạn chế số lượng hàng nhập khẩu
Đối với ngành điện - điện tử:
Các nước ASEAN đã đi trước Việt Nam một bước trong việc phát triển ngànhđiện - điện tử Các nước ASEAN đã đưa các mặt hàng thuộc lĩnh vực này vào danhmục cắt giảm thuế ngay để đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm của mình Hiện nay,chỉ có một số ít các sản phẩm được các nước để trong danh mục loại trừ tạm thờivới một tiến trình giảm chậm như: các sản phẩm biến thế điện công suất thấp, thiết
bị âm thanh, ti vi, đèn neon và điện cực của Thái lan, máy phát điện công suất thấp,đèn hình, một số thiết bị đIện của Indonesia, đài, tivi của Philippines
Đối với ngành cơ khí đóng tầu:
Mặc dù là ngành được chính phủ quan tâm từ nhiều năm nay, song so vớitrình độ của các nước ASEAN thì Việt Nam vẫn còn yếu kém so với các nước như:Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái lan Đối với ngành này, phần lớn các mứcthuế áp dụng hiện nay cho tầu thuỷ nhập khẩu là 0% Để hỗ trợ lớn nhất cho ngànhđóng tầu trong nước, trong tiến trình thực hiện CEPT, các mức thuế sẽ được nânglên một cách phù hợp cho các sản phẩm đóng tàu mà trong nước có thể sản xuất,lắp ráp được và sau đó sẽ đưa vào lịch trình giảm thuế chậm nhất Đồng thời sẽ sửa
Trang 20đổi các mức thuế suất đối với linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện một cách hợp lý nhấttheo tỷ lệ nội địa hoá để tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất cácsản phẩm, linh kiện của ngành đóng tầu.
Đối với sản phẩm mỹ phẩm và chất tẩy rửa:
Hiện nay, sản xuất trong nước đối với mặt hàng mỹ phẩm và chất tẩy rửa đãđáp ứng đáng kể nhu cầu trong nước về chất lượng, mẫu mã và giá cả Tuy nhiên,phần lớn các chế phẩm dùng làm nguyên liệu cho đầu vào được nhập khẩu, màtrong đó một phần đáng kể từ ASEAN Hiện nay các nước ASEAN đều đã đưa cácmặt hàng này vào danh mục cắt giảm ngay, ngoại trừ chất tẩy rửa của Indonesiađược để trong danh mục loại trừ tạm thời Trên thực tế việc đưa các sản phẩm nàyvào danh mục cắt giảm thuế quan không ảnh hưởng nhiều đến khả năng cạnh tranhcủa các doanh nghiệp Việt Nam
Đối với ngành xi măng:
So sánh với khả năng cạnh tranh của các nước trong khu vực, xi măng sảnxuất trong nước sẽ phần nào có lợi thế về các chi phí vận tải, bảo hành và thị hiếutiêu dùng Song yếu tố quan trọng là giá thành sản xuất lại là một trong những mặtkhông thuận lợi của các doanh nghiệp Việt Nam và cần có một thời gian tương đốidài đầu tư thì ngành này mới có mặt bằng giá thành tương đương khu vực Hiệnnay, phần lớn các nước ASEAN đều đã đưa mặt hàng này vào danh mục cắt giảmvới tiến trình giảm nhanh, ngoại trừ Malaysia Hơn nữa, ngay với hàng rào bảo hộhiện nay, lượng xi măng nhập khẩu từ các nước ASEAN, đặc biệt từ Indonesia vàThái lan đã chiếm một tỷ trọng lớn Hiện mặt hàng này được Chính phủ đưa vàodanh mục giảm thuế chậm nhất
Thực tế thời gian qua đã cho thấy, ASEAN đóng một vai trò quan trọng trongcác hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt nam Tổng kim ngạch xuất nhập khẩugiữa Việt Nam và các nước ASEAN năm 2000 ước tính 7 tỷ USD, trong đó xuấtkhẩu đạt gần 3 tỷ USD chiếm 1/ 4 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tổng
số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàI FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam ướctính đạt gần 4 tỷ USD tính đến 2000, chiếm tỷ trọng gần 20% tổng số vốn FDI.Như vậy, những lợi ích to lớn thu được từ các quan hệ hợp tác kinh tế – thươngmại giữa Việt nam với các nước trong khối ASEAN cho thấy các nguồn lợi kinh tế
là những động lực lớn nhất thúc đẩy cho quá trình xúc tiến thực thi các cam kết của
Trang 21Việt Nam nhằm duy trì và gia tăng hơn nữa các lợi ích thu được từ quá trình liênkết kinh tế trong ASEAN.
2.2.4 Tình hình liên quan đến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam [20], [21], [23], [30], [34], [53]
Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 1999, khả năng cạnh tranhcủa các doanh nghiệp Việt Nam ở thứ hạng 48/59 nước được xem xét Phần lớnhàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đều có giá thành cao, chấtlượng không ổn định, mẫu mã chủng loại còn nghèo nàn, bao bì kém hấp dẫn, khảnăng giao hàng không chắc chắn Giải thích tình trạng này, hầu hết các doanhnghiệp đều đổ lỗi cho thiếu vốn và thiết bị lạc hậu Hơn 90% doanh nghiệp ViệtNam có quy mô vừa và nhỏ So sánh các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Namvới Hoa Kỳ về vốn bình quân/doanh nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hoa
Kỳ so với ta lớn hơn 500 lần; tương tự các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bảnhơn ta 300 lần, của Thái Lan hơn ta 150 lần [53]
Phần lớn các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, rất dễ bị tổn thươngtrước biến động của thị trường Hiện có gần 30% doanh nghiệp tư nhân có mứcvốn dưới 100 triệu đồng Số doanh nghiệp tư nhân có vốn 10 tỷ đồng trở lên chỉchiếm 1,0%, 100 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm 0,1% tổng số doanh nghiệp Nguồn vốn
tự có và tự tích luỹ cho đầu tư còn rất hạn chế Phần lớn họ phải đi vay từ bè bạn
và gia đình, từ khu vực phi chính thức Chỉ 1/3 số doanh nghiệp tư nhân vay đượcvốn từ hệ thống ngân hàng (chủ yếu là ngân hàng thương mại cổ phần) và nguồnvốn này chỉ chiếm chưa đầy 20% tổng số nguồn vốn vay của họ
Các doanh nghiệp Nhà nước tuy thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn vốnngân hàng nhưng phần đông cũng đang hoạt động trong tình trạng thiếu vốn, chiếmdụng vốn lẫn nhau Năm 2000, vốn bình quân của một Tổng công ty 91 là 3885 tỷđồng, trong đó 5 Tổng công ty có mức dưới quy định 1000 tỷ đồng (Công nghiệptàu thuỷ, cà phê, Lương thực miền Nam, Lương thực miền Bắc, thuốc lá) Trình độcông nghệ, thiết bị máy móc trong các doanh nghiệp Việt Nam rất lạc hậu so vớicác nước trong khu vực Máy móc, thiết bị thuộc nhiều thế hệ, chủng loại, nguồngốc khác nhau
Theo kết quả khảo sát của Bộ Khoa học - Công nghệ và môi trường, tạinhiều doanh nghiệp Nhà nước thuộc 7 ngành khác nhau, máy móc thiết bị của ta
Trang 22lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ 30 đến50% Thời gian khấu hao tài sản cố định kéo dài bình quân từ 10 đến 12 năm trongkhi mức khấu hao bình quân của thế giới chỉ từ 7 đến 8 năm Trình độ của các chủdoanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn rất hạn chế, đặc biệt là đối với các chủdoanh nghiệp tư nhân: chỉ có 31% đạt trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên Hơn60% số lao động trong các doanh nghiệp tư nhân chưa học hết lớp 10 và phần lớnlao động là thủ công
Xét trên cả hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, mối liên kết giữa các doanhnghiệp còn rất lỏng lẻo, chỉ cạnh tranh mà thiếu sự hợp tác phát triển, đặc biệt giữacác doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Ngay giữa cácthành viên trong một Tổng công ty cũng chưa có sự kết dính cần thiết Mối quan hệthầu phụ công nghiệp giữa một bên là các doanh nghiệp quy mô lớn với một bên làcác doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chỉ xuất hiện rất ít ở một số ngành vàquan hệ chưa thực sự mang tính phân công, hợp tác, chỉ đơn thuần là gia công -chế biến và thu mua sản phẩm Điều này phản ánh trình độ tổ chức sản xuất, phâncông và chuyên môn hoá sản xuất giữa các doanh nghiệp còn rất yếu, chưa trởthành một nhân tố để nâng cao sức cạnh tranh [53]
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào mức độđúng đắn trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh, mức độ vận dụng chính sáchtheo chiều hướng nào.Trước tiên là xem xét phản ứng của các doanh nghiệp đốivới môi trường kinh doanh có phản ánh ý muốn giảm chi phí, tăng lợi nhuận hay làchỉ muốn chạy chọt tìm kiếm siêu lợi nhuận
Khi nền tảng chính sách thúc đẩy tốt quá trình phân bố các nguồn lực thôngqua thị trường cạnh tranh bình đẳng và tạo dựng được áp lực cạnh tranh thông qua
mở cửa nền kinh tế Do vậy, điều cốt lõi cho các doanh nghiệp là phải nỗ lực cắtgiảm chi phí, nâng cao năng suất và vì vậy họ sẽ tồn tại và mở rộng được thịtrường, mở rộng được các hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, một khi các kích thíchcủa chính sách có thiên hướng bảo hộ và gây ra các méo mó thị trường, thì sẽ làhợp lý cho các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực theo tín hiệu của bảo hộ và tìmcách thu được “siêu lợi nhuận” nhờ những méo mó đó Điều đó có nghĩa các nguồnlực khan hiếm sẽ bị sử dụng sai lầm và lãng phí, kết quả là sẽ không đạt được tăngtrưởng cao và bền vững
Trang 23Kể từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới và mở cửa kinh tế, nhận thức của cácdoanh nghiệp Việt Nam đã có những thay đổi căn bản Việc xác định mức lương
và giá cả ngày một sát với định hướng của thị trường hơn Các doanh nghiệp đãvận dụng tốt các cơ hội thị trường để xuất khẩu và đa dạng hoá các hoạt động kinhdoanh Đối với những ràng buộc khắt khe hơn về tài chính và trở nên tự chủ trongquản lý, một số lượng đáng kể các doanh nghiệp Nhà nước đã nâng cao được chấtlượng kinh doanh
Hiện nay, vì sự không chắc chắn của chính sách và sự phân biệt đối xử, cácdoanh nghiệp tư nhân, nhìn chung đã hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ với khuvực kinh tế nhà nước hoặc dưới “ô” Nhà nước Hoạt động chạy chọt lợi ích vâyquanh khu vực kinh tế Nhà nước của tất cả các loại hình doanh nghiệp và khu vựckinh tế đang tăng lên Mặc dù số lượng các doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể,nhưng về chất, mức độ cạnh tranh vẫn còn nhiều yếu kém, điều này thể hiện:
Trình độ chung về công nghệ của các doanh nghiệp thấp (máy móc thiết bị ởtrình độ thấp hơn so với các nước tiên tiến từ 2 đến 4 thế hệ)
Thiếu kỹ thuật viên, kỹ sự và các nhà khoa học để có được một nền côngnghiệp tiên tiến; cơ sở và chi phí cho công tác nghiên cứu phát triển yếu
Chất lượng và số lượng của cơ sở vật chất hạ tầng thấp
Điều kiện kho bãi và hệ thống phân phối yếu kém
Mạng lưới viễn thông quốc tế còn nhiều hạn chế: tốc độ đường truyền chậm,cước phí đắt đỏ,…
Kỹ năng quản lý kinh doanh chung thấp (bao gồm cả chiến lược cạnh tranh,thiết kế và phát triển sản phẩm, kiểm tra chất lượng, hoạt động hợp tác tài chính,nguồn nhân lực và tiếp thị)
Năng suất lao động thấp
Thị trường lao động không hiệu quả và thiếu linh hoạt
Nền tảng hỗ trợ cho một nền kinh tế thị trường cạnh tranh yếu kém: Luậtpháp quá chú trọng đến sở hữu chứ không phải là tạo ra một sân chơi bình đẳng;Chưa có luật cạnh tranh, luật chống độc quyền; Còn nhiều tồn tại đối với môitrường pháp lý có liên quan đến các yếu tố sản xuất như đất đai và lao động
Trang 24Cuộc điều tra 65 doanh nghiệp công nghiệp thuộc các thành phần kinh tếkhác nhau trong lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn Hà Nội cho thấy sức cạnh tranhcủa các doanh nghiệp còn thấp, thể hiện:
Hàng hoá do các doanh nghiêp sản xuất có chất lượng chưa cao so với hànghoá các nước trong khu vực Phần lớn các ý kiến trả lời cho thấy, chất lượng hànghoá do Việt Nam sản xuất chỉ ngang bằng hoặc thấp hơn hàng hoá nhập khẩu từcác nước khu vực
Giá cả hàng hoá thường cao hơn giá cả sản phẩm cùng loại của nước ngoàinhập khẩu Nhiều nhân tố, nhất là chi phí hạ tầng cao, nguyên liệu nhập với giácao, thuế nhập khẩu nguyên liệu cao và công nghệ sản xuất lạc hậu, đã làm tăngchi phí sản xuất và tăng giá cả hàng hoá do các doanh nghiệp Việt nam sản xuất ra
Việc tổ chức thu thập thông tin và tiêu thụ sản phẩm còn yếu kém Trong sốcác doanh nghiệp điều tra, chỉ có khoảng 60% doanh nghiệp được điều tra có tổchức bộ phận nghiên cứu triển khai để xúc tiến xuất khẩu Hầu hết các doanhnghiệp Việt Nam hiện nay chưa có hệ thống cung cấp và đảm bảo thông tin về thịtrường, thị hiếu người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh quốc tế mà chủ yếu dựa vào
sự hỗ trợ cung cấp thông tin từ Nhà nước Theo kết quả điều tra, chỉ có 6,6% doanhnghiệp có kênh thông tin riêng từ chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài;5,4% doanh nghiệp nhận được thông tin từ đại diện thương mại Việt Nam ở nướcngoài; còn lại, phần lớn các doanh nghiệp thu thập thông tin không hệ thống,không cập nhật và không có giá trị ra quyết định cao từ các nguồn thông tin khác Các biện pháp tổ chức tiêu thụ như quảng cáo, khuếch trương thương hiệutrong và ngoài nước, dịch vụ sau bán hàng… chưa tốt nên khâu tiêu thụ hiện nayđang gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra tỷ lệ nhân viên làm việc cho bộ phậnmarketing cũng rất thấp, chỉ có 2,81% lao động của các doanh nghiệp, trong đó,doanh nghiệp Nhà nước có tỷ lệ thấp nhất là 1,24%, doanh nghiệp tư nhân là3,27%, doanh nghiệp liên doanh cao nhất là 15,39% Chính vì vậy khả năng đo độnhạy của thị trường, từ đó tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nướcgặp nhiều khó khăn
Khả năng mở rộng xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường nước ngoài còn rất hạnchế Hơn 60% ý kiến trả lời cho rằng, hàng hoá xuất ra là tiêu thụ trên thị trường
Trang 25nội địa Chỉ có 46,4% doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hiện nay trả lời có khảnăng mở rộng thị trường xuất khẩu.
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa thực sự tập trung đến quá trình chuẩn
bị và thực hiện AFTA và WTO Vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa hiểu biết về nộidung, yêu cầu, bước đi của gia nhập AFTA và WTO Hiện tại, hầu hết các doanhnghiệp chưa sử dụng mẫu D để hưởng thuế ưu đãi theo CEPT Các hình thức liênkết khác như đầu tư nội bộ ASEAN (AIA) và hợp tác công nghiệp ASEAN(AICO) được rất ít doanh nghiệp quan tâm mặc dù điều kiện tham gia vào AICO
đã được nới lỏng từ năm 1999
2.3 XEM XÉT NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM TỪ KHI DIỄN RA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP AFTA
2.3.1 Xem xét năng lực cạnh tranh quốc gia [20], [25], [38], [44], [45], [57]
Cho đến năm 1999, Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF (World EconomicsForum) đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia trên cơ sở sử dụng 8 nhóm tiêu chívới 155 chỉ tiêu, vừa kết hợp điều tra theo mẫu, vừa thăm dò ý kiến của 1500 công
ty trên thế giới
Trong các xếp hạng khác nhau sự khác biệt trong xếp hạng ở các nền kinh tếphát triển, có đủ số liệu thấp hơn nhiều so với xếp hạng của những nền kinh tếđang phát triển và đang chuyển đối
Tám nhóm tiêu chí của WEF gồm:
1- Độ mở cửa của nền kinh tế (17/ 100);
2- Vai trò và hiệu lực của Chính phủ (17/100);
3- Sự phát triển của hệ thống tài chính – tiền tệ;
4- Trình độ phát triển của công nghệ (11/100);
5- Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng (11/ 100);
6- Trình độ quản lý của doanh nghiệp (6/100);
7- Số lượng và chất lượng của lao động (15/100);
Trang 268- Trình độ phát triển của thể chế (6/100): bao gồm hiệu lực của các cơ quanbảo vệ pháp luật
Mỗi nhóm có trọng số nhất định (tỷ trọng phần trăm trong dấu ngoặc)
Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nền tảng vật chất cho công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội Đã chấp nhận xây dựng một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thịtrường, Nhà nước Việt Nam cũng như các doanh nghiệp phải tuân theo các cơ chếtrong nền kinh tế thị trường Chính các cơ chế đó điều khiển sự vận hành của nềnkinh tế; nó là một hệ thống cân bằng để đảm bảo cho thể chế kinh tế thị trường vậnđộng và phát triển
Cạnh tranh là một trong những qui luật của nền kinh tế thị trường; cạnhtranh là phương thức sống và tồn tại của các doanh nghiệp trong môi trường kinh
tế thị trường Thông qua cạnh tranh mà các sản phẩm mới ra đời để phục vụ chonhu cầu con người Cạnh tranh cũng buộc các hãng sản xuất phải điều chỉnh mứcgiá, qui mô và hình thức sản xuất cũng như phân phối để nhằm đạt được một kếtquả duy nhất là tồn tại trên thị trường Như vậy, chúng ta có thể khẳng định lạirằng cạnh tranh chính là phương thức sống và tồn tại của các doanh nghiệp trongmôi trường kinh tế thị trường
Phân tích các yếu tố trên của các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy yếu tốnào của Việt Nam cũng đều yếu kém hơn so với các nước trong khu vực Sau đây
là một số yếu tố đáng quan tâm:
Thứ nhất, độ mở cửa nền kinh tế: Hiện nay, Việt Nam đã tiến hành chính
sách mở cửa, nhưng sự mở cửa này còn thua xa so với các nước trong khu vực dotính không đồng bộ và thiếu nhất quán của các chính sách thương mại và chínhsách đầu tư Còn thiếu những giải pháp mạnh, những bước đi có tính chất đột phátrong việc phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại
Ví dụ, Trung Quốc đã hình thành các đặc khu kinh tế Trong các đặc khukinh tế, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài được hưởng một môi trườngđầu tư hoàn hảo như bất cứ các nước phát triển nào, chẳng hạn như Anh, Mỹ Cácdoanh nghiệp được quyền bảo vệ tài sản vĩnh viễn, được luân chuyển lợi nhuận của
họ đi bất cứ nước nào, được hưởng một chế độ an ninh hơn hẳn các khu vực khác.Những người sống và làm việc trong đặc khu kinh tế đều có giấy phép đặc biệt như
Trang 27một loại visa và do đó đã hạn chế được rất nhiều kẻ tội phạm vào khu vực này.Qua đó, ta thấy Trung Quốc đã tạo ra một điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp để
họ tập trung vào sản xuất và kinh doanh
Nhìn lại nước ta, ta thấy đến ngay cả các doanh nghiệp Việt Nam còn phảingại ngần về việc xin làm hộ chiếu khi muốn ra nước ngoài thăm quan và ký kếthợp đồng chứ chưa nói gì đến người nước ngoài Như vậy, khả năng cạnh tranhcủa các doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp trong khu vực xét về góc
độ độ mở cửa của nền kinh tế là yếu hơn
Thứ hai, vai trò của Chính phủ và năng lực của các cơ quan Chính phủ Vai
trò của Chính phủ thể hiện ở mức độ can thiệp của Chính phủ thông qua chính sáchtài khoá, chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân, còn năng lực của các cơquan Chính phủ thể hiện trong việc hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ hành chính công Tuy vai trò của Chính phủ đãđược cải thiện, năng lực của Chính phủ cũng từng bước được nâng cao nhưng vẫncòn nhiều yếu tố hạn chế và bất cập
Thứ ba, nguồn nhân lực: Việt Nam có gần 80 triệu dân Dân số Việt Nam
trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm 40% dân số Điều này có nghĩa là nước
ta có một nguồn nhân lực dồi dào Hơn nữa, nguồn nhân lực có giá rẻ Do đó, ViệtNam và các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có lợi thế cạnh tranh với các doanhnghiệp nước ngoài vì giá nhân công rẻ Và đây cũng là điểm mạnh để nước ta thuhút vốn đầu tư nước ngoài
Nhưng nếu phân tích yếu tố này một cách tổng thể, có sự so sánh với cácnước trong khu vực và kết quả thực tế khả năng của nguồn nhân lực nước ta, tathấy rằng nhân công Việt Nam rẻ (không rẻ hơn Trung Quốc) nhưng chất lượnglao động lại hoàn toàn thua kém so với các nước trong khu vực Kết quả thực tếcũng chứng minh: có rất nhiều người Việt Nam được xuất khẩu lao động sangnước ngoài đã bị trả về vì không đủ trình độ tối thiểu Ví dụ, đi làm người giúpviệc nhưng không biết sử dụng máy giặt đã làm cháy máy, là cháy quần áo Trongkhi đó số người đi lao động xuất khẩu của Philippines là gần 4 triệu; chất lượng laođộng của họ đủ để đáp ứng nhu cầu khách hàng thế giới Người Philippines coigiúp việc là một nghề và họ có trường đào tạo nghề này cũng rất qui củ như cáctrường dạy nghề khác
Trang 28Chỉ qua ba yếu tố trên, những yếu tố mà ta cho rằng là ta mạnh - cũng đãthấy được rằng năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn rất yếu so với các nướctrong khu vực và trên thế giới.
Là một nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường, từng bướchội nhập kinh tế quốc tế, chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam năm 1997
là 49/53 nước được xếp hạng, năm 1998 do các nước trong khu vực bị khủng hoảngkinh tế, Việt Nam xếp 39/53 nước, năm 1999 xếp 48/59 nước là những vị trí thấp.Cũng cần nói thêm, chỉ tiêu này chưa xét đến những nhân tố khác ảnh hưởng mạnhđến thu hút đầu tư nước ngoài như qui mô của nền kinh tế thị trường như trong trườnghợp của Trung Quốc Tuy Trung Quốc được xếp thứ hạng thấp (xếp thứ 41 năm 2000,thứ 32 năm 1999, thứ 28 năm 1998 và 29/53 năm 1997), song Trung Quốc vẫn thuhút đầu tư nước ngoài rất cao và ngày càng tăng
Từ năm 2000, WEF điều chỉnh lại các nhóm tiêu chí, gộp thành ba nhóm lớnlà: sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ, tài chính, quốc tế hoá, trong đó trọng sốcủa sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng mạnh từ 1/9 lên 1/3 Do thay đổinhư vậy, xếp hạng của Việt Nam chỉ còn 53/ 59 và năm 2001 xếp hạng 62/75nước Sự xếp hạng cụ thể của 8 khối tiêu chí lớn của Việt Nam năm 1999 như sau:
Bảng 7 - Xếp hạng của các khối tiêu chí của Việt Nam năm 1999