Kết hợp với mô hình ước lượng xác suất sai lệch BCTC cho thấy bằng chứng tồn tại quan hệ chặt chẽ giữa việc doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng trả nợ và sai lệch báo cáo tài chính. P[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Vấn đề minh bạch thông tin đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Trong đó, thông tin công
bố trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết là các thông tin quan trọng cốt lõi ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư của nhà đầu tư, quyết định cấp tín dụng của ngân hàng Hiện nay tại Việt Nam, các doanh nghiệp niêm yết cần phải nộp báo cáo tài chính theo năm đã qua kiểm toán đúng thời hạn để công bố chính thức trên trang thông tin của Ủy ban chứng khoán
Quy định chặt chẽ về thời hạn công bố thông tin báo cáo tài chính khiến các doanh nghiệp niêm yết để đảm bảo uy tín đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp cần công bố sớm nhất thông tin về báo cáo tài chính trên trang thông tin của mình khi kết thúc năm tài chính Các báo cáo tài chính được công bố sớm nhất này có thể chưa qua kiểm toán theo quy định Báo cáo tài chính chính thức của các doanh nghiệp được công bố bởi Ủy ban chứng khoán là báo cáo sau kiểm toán và có thể đã được chỉnh sửa những sai lệch so với báo cáo ban đầu Như vậy, trên thị trường sau khi các doanh nghiệp công bố báo cáo tài chính chính thức sẽ xuất hiện hai loại báo cáo Chúng ta có thể gọi hai loại báo cáo đó là báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán (hay là báo cáo sơ bộ và chính thức)
Trong thời gian giữa hai lần công bố báo cáo tài chính sơ bộ và chính thức, đối với mỗi doanh nghiệp niêm yết có một trong ba trường hợp xảy ra: không có sự chỉnh sửa, có một lần chỉnh sửa và có hai lần chỉnh sửa sai lệch báo cáo tài chính Lần chỉnh sửa thứ nhất có thể xuất hiện do doanh nghiệp tự điều chỉnh những sai sót trên báo cáo trước khi đưa ra kiểm toán (tương đương với việc kiểm toán nội bộ) Lần chỉnh sửa thứ hai có thể xuất hiện do yêu cầu của công ty kiểm toán
Một báo cáo tài chính rơi vào trạng thái sẽ có sai lệch hay không có sai lệch so với thực tế phụ thuộc vào các chỉ tiêu tài chính đã được công bố trên báo cáo Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng (đo bằng xác suất) xảy ra sự sai lệch báo cáo tài chính
và ước lượng khả năng này của mỗi báo cáo tài chính sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho nhà đầu tư, nhà quản trị rủi ro, cơ quan thuế cùng các bên liên quan Việc xử lý
Trang 2một cách khoa học những thông tin hậu nghiệm về sự sai lệch báo cáo tài chính trong cơ
sở dữ liệu đã có ở trên có thể sẽ mang đến những kết luận có ý nghĩa Vì vậy, tác giả lựa
chọn đề tài nghiên cứu “Phân loại và đánh số trạng thái sai lệch Báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam” để cung cấp thông tin
hỗ trợ cho sự đánh giá của ngân hàng thương mại, nhà đầu tư về tình hình tài chính của doanh nghiệp niêm yết Nếu các kết quả nghiên cứu đạt được sự thuyết phục và độ tin cậy về mặt khoa học thì nó có thể ứng dụng trong thực tiễn để góp phần thúc đẩy quá trình minh bạch BCTC của doanh nghiệp niêm yết, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng thương mại và nhà đầu tư
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: Tổng hợp các số liệu về sai lệch “báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong hai năm 2015 –
2016 để từ đó đưa ra nhận xét về thực trạng sai lệch báo cáo tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam. “ Từ đánh giá thực trạng, xây dựng mô hình phù hợp với “các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam“ năm 2015 – 2016 dựa trên các mô hình có sẵn và được chứng minh hiệu quả cao trong việc đánh giá sai lệch báo cáo tài chính và xác suất có nguy cơ mất khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu đề ra những mục tiêu chính cần đạt được sau khi tiến hành khai thác các thông tin trên các báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán
Xây dựng mô hình ước tính xác suất xảy ra sai lệch trong báo cáo tài chính và phân tích các nhân tố ảnh hưởng
Xác định ngưỡng xác suất sai lệch BCTC để phân loại BCTC có sai lệch đáng chú
ý (sai lệch trọng yếu) hay không
Xem xét ảnh hưởng của BCTC sai lệch lên xác suất có nguy cơ mất khả năng trả
nợ của doanh nghiệp
Đưa ra những mô hình cảnh báo và các chỉ báo nhận biết các dấu hiệu xảy ra sai lệch BCTC của doanh nghiệp
Đối tượng nghiên cứu: là các báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của 200 doanh nghiệp sản xuất niêm yết với sự đánh giá có và không có sai lệch của các nhà cung cấp thông tin như đã nêu trong phần lý do lựa chọn đề tài Đối tượng dẫn xuất là xác suất xảy ra sai lệch
Trang 3trong BCTC được ước lượng, còn gọi là biến số dẫn xuất
Phạm vi nghiên cứu: Tác giả sử dụng số liệu của 200 mẫu “báo cáo tài chính năm
2015 của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam“ trước và sau kiểm toán, số liệu của 200 mẫu báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán năm 2016 Trên các báo cáo tài chính trước kiểm toán năm 2015 đã có sự phân loại có sai lệch và không
có sai lệch báo cáo tài chính Các báo cáo tài chính năm 2016 là các báo cáo tài chính trước kiểm toán
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu định tính; Phương pháp phân
tổ thống kê; Phương pháp thống kê mô tả; Phương pháp so sánh;
Kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trạng thái sai lệch Báo cáo tài chính
Chương 2: Phân tích trạng thái sai lệch báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Kiến nghị đối với các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẠNG THÁI SAI LỆCH BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
1.1 Tổng quan về trạng thái sai lệch trong báo cáo tài chính
Khái niệm sai lệch báo cáo tài chính
Sai lệch trên báo cáo tài chính (FFS-Fraud Financial Statement) của doanh nghiệp là
sự khác biệt giữa các thông tin được công bố trên báo cáo tài chính với thông tin về các chỉ tiêu tài chính phản ánh hoạt động thực tế của doanh nghiệp Sai lệch báo cáo tài chính
có thể có nguyên nhân do sự sai sót không cố ý (mang tính khách quan) hoặc cố tình gian lận
Nguyên nhân của việc công bố báo cáo tài chính sai lệch thông tin
Sai lệch BCTC có thể xuất phát từ nguyên nhân kỹ thuật mà không phải do cố ý hoặc nguyên nhân xuất phát từ sự cố ý có 7 động cơ khiến các nhà quản trị thực hiện sai lệch: Hợp đồng thù lao; San bằng lợi nhuận nhằm đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững
Trang 4trong dài hạn; Tránh vi phạm hợp đồng cho vay; Để phát hành cổ phiếu ra công chúng; Đáp ứng kỳ vọng của thị trường; Chế độ luân chuyển nhà quản trị Có thể khái quát 7 động cơ này thành 3 nhóm chính: Thu hút vốn; Trốn thuế; Động cơ liên quan đến hợp đồng nhân sự
Các cách thức làm sai lệch báo cáo tài chính thường gặp
Theo ACFE, báo cáo tài chính doanh nghiệp thường bị thao túng theo các cách sau:
- Ghi tăng hoặc giảm các khoản chi phí
- Ghi tăng hoặc giảm doanh thu
- Định giá sai giá trị các tài sản
- Ghi nhận sai thời gian
- Cung cấp thông tin không đầy đủ và không chính xác
Tác động của việc công bố báo cáo tài chính sai lệch thông tin đến các chủ thể trong nền kinh tế và các chỉ số tài chính phản ánh
Việc công bố sai lệch thông tin trong báo cáo tài chính (BCTC) sẽ tác động lên sự tiếp cận và diễn giải thông tin của những đối tượng sử dụng BCTC: ngân hàng thương mại, các nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước – cơ quan thuế, các tổ chức tài chính thực hiện quản trị rủi ro tín dụng…
Sự cần thiết của việc phát hiện và đối mặt với sự sai lệch báo cáo tài chính
Cần thiết cho quá trình xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Cần thiết cho các nhà đầu tư, kiểm toán và các nhà quản lý
1.2 Tổng quan về phương pháp nghiên cứu trạng thái sai lệch báo cáo tài chính
Để ước lượng xác suất có sự sai lệch BCTC của “các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, “ tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng qua
mô hình kinh tế lượng Logistic, ANN để xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến xác suất sai lệch BCTC và chỉ ra sự ảnh hưởng của khả năng sai lệch BCTC lên xác suất có nợ quá hạn của doanh nghiệp
Trang 5 Ước lượng xác suất xảy ra sự sai lệch báo cáo tài chính
Các biến đầu vào: DEBT/EQ (Nợ/Vốn chủ sở hữu); SAL/TA (Doanh thu/Tổng tài sản); NP/SAL (Lợi nhuận thuần/Doanh thu); REC/SAL (Khoản phải thu/ Doanh thu); WC/TA (Vốn lưu động/Tổng tài sản); GP/TA (Lợi nhuận gộp/Tổng tài sản), NP/TA (Lợi nhuận ròng/Tổng tài sản); INV/TA (Hàng tồn kho/ Doanh thu); TD/TA (Tổng nợ/Tổng tài sản); Chỉ số Z-score (hệ số dự đoán nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong vòng 2 năm tới)
Mô hình ước lượng: Mô hình Logistic, mô hình mạng Neural nhân tạo (ANN) Xác định ngưỡng của xác suất để kết luận có dấu hiệu sai lệch báo cáo tài chính đáng chú ý
Mô hình ước lượng xác suất rủi ro mất khả năng trả nợ của các doanh nghiệp
Để đánh giá rủi ro mất khả năng trả nợ, tác giả sử dụng thuật toán Logistic để ước lượng xác suất xảy ra mất khả năng trả nợ Sau đó, đưa 1 biến giả được xây dựng từ kết quả của mô hình ước lượng khả năng xảy ra sai lệch BCTC với số liệu của năm 2015 vào
mô hình ước lượng xác suất xảy ra mất khả năng trả nợ với số liệu năm 2016 và đánh giá ảnh hưởng
CHƯƠNG 2
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
Luôn tiềm ẩn một mức xác suất xảy ra sai lệch BCTC (bao gồm gian lận cố ý vì nhiều mục đích của chủ doanh nghiệp như trốn thuế, tạo kỳ vọng ảo để tăng giá cổ phiếu, duy trì mức ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh qua các con số thể hiện trên BCTC…) trong quá trình khai thác thông tin từ BCTC vì mục đích đầu tư mà nhà đầu tư
và những đối tượng khác phải chấp nhận và tìm cách khắc phục
2.2 Dữ liệu báo cái tài chính trước và sau kiểm toán của các doanh
Trang 6nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Dữ liệu được tiến hành thu thập và xử lý như sau:
Bước 1: Thu thập số liệu từ báo cáo tài chính công bố của các công ty
Bước 2: Lọc bỏ những quan sát không phù hợp
Sau khi thu thập và xử lý số liệu, ta thực hiện thống kê mô tả từ các dữ liệu sử dụng cho các biến đầu vào của mô hình, kết quả cụ thể như sau:
Những nhóm chỉ số có tỷ lệ sai lệch cao là: “Tài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn); Các khoản phải thu; Hàng tồn kho; Nợ (nợ phải trả, nợ ngắn hạn…); Vốn chủ sở hữu; Thu nhập, Lợi nhuận. “ Do đó, sẽ ưu tiên chọn những tài khoản trên để xây dựng tập hợp biến đầu vào
Các biến được đưa vào mô hình hồi quy sẽ là: DEBT/EQ, SAL/TA, NP/SAL, REC/SAL, WC/TA, GP/TA, INV/TA, TD/TA, Z
2.3 Kết quả nghiên cứu
Kết quả ước lượng xác suất xảy ra sai lệch báo cáo tài chính
Kết quả từ mô hình Logistic
Các biến tác động đến xác suất xảy ra sự sai lệch của BCTC là các tỷ lệ: Nợ/ Vốn chủ
sở hữu (DEBT/EQ), Doanh thu/ Tổng tài sản (SAL/TA),Lợi nhuận/ Doanh thu (NP/SAL), Vốn hoạt động/Tổng tài sản (WC/TA) với hệ số tác động mang dấu dương Nghĩa là khi các
tỷ lệ này tăng lên thì xác suất xảy ra sai lệch BCTC sẽ tăng lên Biến chỉ số Z-score và tỷ lệ Tổng nợ/ Tổng tài sản (TD/TA) có hệ số mang dấu âm chứng tỏ khi giá trị của chỉ số này tăng lên sẽ làm giảm xác suất xảy ra sai lệch trong BCTC Tức là khi doanh nghiệp có khả năng mất khả năng trả nợ thấp (chỉ số Z-score cao) sẽ dẫn đến xác suất (khả năng) xảy ra sai lệch báo cáo tài chính giảm đi
Kết quả từ mô hình ANN
Kết quả từ mô hình cho thấy các ước lượng xác suất khá gần với mô hình Logistic
và ngưỡng xác suất lấy làm dấu hiệu về sự sai lệch BCTC là đáng chú ý cũng nằm trong khoảng 0,75
Ngưỡng xác suất để kết luận báo cáo tài chính có dấu hiệu sai lệch đáng chú ý
Ngưỡng xác suất được xác định phù hợp cho việc cảnh báo và p hù hợp với bộ
Trang 7dữ liệu quan sát là khoảng 0,75 Điều này có nghĩa nếu một doanh nghiệp có xác suất sai lệch BCTC lớn hơn 0,75 thì cần chú ý đến việc xảy ra sai lệch trong BCTC
Kết quả mô hình ước lượng xác suất mất khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Mô hình ước lượng xác suất mất khả năng trả nợ trước khi thêm nhân tố sai lệch báo cáo tài chính
Ước lượng xác suất doanh nghiệp không có nguy cơ mất khả năng trả nợ bằng mô hình Logit với các nhân tố TS_No, TS_LNKD Kts Mức độ giải thích của mô hình cho trường hợp có nguy cơ mất khả năng trả nợ là 84% và trường hợp không tiềm ẩn nguy cơ này là 71%
Mô hình ước lượng xác suất mất khả năng trả nợ sau khi thêm nhân tố sai lệch báo cáo tài chính
Đưa biến slbc vào mô hình ước lượng xác suất rủi ro tín dụng Kết quả cho thấy mô hình ước lượng là phù hợp Biến slbc có tác động âm đến xác suất không có nguy cơ mất khả năng trả nợ Có nghĩa là khi có sai lệch BCTC thì xác suất rủi ro tín dụng tăng lên Mặt khác, kết quả ước lượng cũng cho thấy, mức độ phù hợp của mô hình tăng lên 84,5% khi có biến slbc Kết hợp với mô hình ước lượng xác suất sai lệch BCTC cho thấy bằng chứng tồn tại quan hệ chặt chẽ giữa việc doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng trả nợ và sai lệch báo cáo tài chính
2.4 Phân tích và nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng đến sai lệch báo cáo tài chính
Từ mô hình ước lượng xác suất xảy ra sai lệch “báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. “ Có thể rút ra kết luận sau: Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2015-2016 thì những nhân tố chỉ báo xác suất sai lệch BCTC là: là các tỷ lệ các tỷ lệ: Nợ/ Vốn chủ sở hữu (DEBT/EQ), Doanh thu/ Tổng tài sản (SAL/TA),Lợi nhuận/ Doanh thu (NP/SAL), Vốn hoạt động/Tổng tài sản (WC/TA), Tổng nợ/ Tổng tài sản (TD/TA) Cụ thể với mức ảnh hưởng đến biến sai lệch báo cáo tài chính:
Trang 8STT Chỉ báo Mức độ ảnh hưởng lên biến
sai lệch báo cáo tài chính
CHƯƠNG 3:
TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ
3.1 Các dấu hiệu chỉ báo một doanh nghiệp có sự sai lệch BCTC đáng kể
Có hai loại dấu hiệu chỉ báo
+ Dấu hiệu về các biến đầu vào cơ bản là các chỉ tiêu tài chính: Kết quả phân tích trong chương trước cho thấy các chỉ tiêu tỷ lệ Nợ/ Vốn chủ sở hữu (DEBT/EQ), Doanh thu/ Tổng tài sản (SAL/TA), Lợi nhuận thuần/Tổng tài sản (NP/TA); Vốn lưu động/Tổng tài sản (WC/TA), Tổng nợ/ Tổng tài sản (TD/TA) và chỉ số Z là các chỉ số cần lưu ý khi kiểm toán kiểm tra sự sai lệch của BCTC
+ Dấu hiệu tổ hợp của các biến đầu vào và xuất hiện trong quá trình nghiên cứu chính là ngưỡng xác suất xác định để mô hình phù hợp
Nếu một doanh nghiệp có tỷ lệ Nợ/ Vốn chủ sở hữu (DEBT/EQ), Doanh thu/ Tổng tài sản (SAL/TA), Lợi nhuận thuần/Tổng tài sản (NP/TA); Vốn lưu động/Tổng tài sản (WC/TA), Tổng nợ/ Tổng tài sản (TD/TA), các chỉ số tài chính trên của doanh nghiệp này không thay đổi trước và sau kiểm toán kèm với việc trong năm vừa qua xếp hạng tín
Trang 9dụng nằm trong mức thấp thì BCTC của doanh nghiệp trong năm có nhiều khả năng bị sai lệch
3.2 Các dấu hiệu chỉ báo một doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng trả nợ trong năm
Thông tin về sự sai lệch BCTC trong năm trước có tác động đến rủi ro mất khả năng trả nợ trong năm sau Bên cạnh đó, xét trên BCTC của năm, nếu việc đưa thêm biến sai lệch BCTC và so với trường hợp không có biến này làm cổ phiếu chuyển hạng từ hạng thấp sang hạng thấp hơn thì đây cũng là một chỉ báo chứng tỏ báo cáo tài chính của doanh nghiệp có nhiều khả năng bị sai lệch
3.3 Kiến nghị về việc cung cấp thông tin cho các đối tƣợng sử dụng báo cáo tài chính
Kiến nghị về việc cung cấp thông tin cho tổ chức tín dụng:
Cần quan tâm nếu doanh nghiệp có báo cáo tài chính nằm trong diện cảnh báo về sai lệch báo cáo tài chính và rơi vào diện cảnh báo về việc mất khả năng trả nợ qua mô hình ước lượng Nếu điểm số xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp thay đổi trước và sau khi chạy mô hình có thêm biến sai lệch báo cáo tài chính thì cần chú ý đến doanh nghiệp
đó hơn
nhân và các nhà đầu tư tổ chức
Cần theo dõi báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong nhiều kỳ liên tiếp để có được đánh giá đúng đắn về giá trị thực của doanh nghiệp, đồng thời phân tích kỹ lưỡng những thay đổi bất thường về tỷ lệ lãi gộp, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu qua các năm, tránh tâm lý bầy đàn, kỳ vọng sai vào một chứng khoán nhất định