Nghiên cứu này một mặt sẽ tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển GDPS, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, từ đó đề xuất các giải pháp để phát triển các GDPS tại cá[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐẶNG HƯƠNG GIANG
PHÁT TRIỂN GIAO DỊCH TÀI CHÍNH PHÁI SINH TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62340201
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU TÀI
Phản biện 1: TS Bùi Văn Hải
Ngân hàng Nhà nước
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Việt Dũng
Đại học Ngoại thương
Phản biện 3: Lê Đức Khánh
Công ty Cổ phần Chứng khoán Maritime Bank
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường Đại học kinh tế quốc dân
Vào hồi: 17 giờ 00 ngày 09 tháng 07 năm 2018
Có thế tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học kinh tế quốc dân
Trang 3TÓM TẮT LUẬN ÁN CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Trong những năm gần đây, TTTC thế giới với rất nhiều biến động các GDPS trở nên ngày càng quan trọng và cần thiết cho các nhà đầu tư, kinh doanh Đây là những cải tiến vượt bậc của TTTC thế giới, rất thành công cung cấp những công cụ quản lý rủi ro hữu hiệu cũng đồng thời là các công cụ để tìm kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư tài chính và kinh doanh trên thị trường Ngày nay, các NHTM luôn mong muốn hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và tăng vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của NH trên thị trường quốc tế Với xu hướng toàn cầu hoá kinh tế hiện nay các NHTM VN có thể hưởng nhiều lợi thế của hội nhập nhưng đồng thời rủi ro phải đối mặt cũng không
ít Phát triển NVPS – một trong những biện pháp để phòng ngừa rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận là vấn đề mang tính cấp bách luôn được sự quan tâm của NHNN và các NHTM Ngoài ra, với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay của các NHTM VN, việc phát triển nghiệp vụ hiện đại này
là điều tất yếu vì các công cụ này ngày càng phổ biến và có tốc độ phát triển mạnh, doanh số không ngừng tăng qua các năm
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết mang tính thời sự hiện nay, đề
tài “Phát triển giao dịch tài chính phái sinh tại các Ngân hàng thương mại VN.” được tác giả lựa chọn Nghiên cứu này một mặt sẽ
tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển GDPS, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, từ đó đề xuất các giải pháp để phát triển các GDPS tại các NHTM VN, góp phần giúp các NHTM hội nhập sâu hơn với thị trường phái sinh, thị trường tài chính thế giới, đa dạng hóa dịch
vụ NH, giảm rủi ro, tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM
Trang 41.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích định tính và định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển các GDPS tại các NHTM VN trong giai đoạn nghiên cứu, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế cũng như xác định nguyên nhân của những hạn chế đó Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án đưa ra các kiến nghị, giải pháp và điều kiện nhằm phát triển các GDPS tại các NHTM VN
1.1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về GDPS,
GDPS tại các NHTM VN, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển GDPS tại các NHTM hiện nay
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong bài nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng GDPS
và ảnh hưởng của nó tới rủi ro NH của (Yung-Ming Shiu và cộng sự, 2005), nghiên cứu tại các NHTM Đài Loan từ năm 1998 đến 2005 đã chỉ
ra rằng, có mối liên hệ tích cực giữa mức độ sử dụng các GDPS với các đặc điểm riêng của từng NH, quy mô NH, khả năng phát hành cổ phiếu ưu đãi, rủi ro tiền tệ…tuy nhiên lại có mối liên hệ tiêu cực giữa mức độ sử dụng các công cụ này với sự đa dạng doanh thu của NH Nghiên cứu của (Katie Hundman, 1998) về “Yếu tố quyết định tới việc sử dụng các GDPS
của các NHTM” với mô hình nghiên cứu Derivative Volume = C+α
Exposure to Interest Rate Risk+α Non-Current Loans + α Loan-Loss Allowance + α Profit + α Bank Size + α Capital to Assets + α GDP + ε
cho thấy doanh số phái sinh phụ thuộc vào rủi ro lãi suất, tỷ lệ vốn chuyển thành tài sản, dư nợ tín dụng – dự phòng rủi ro, quy mô NH, GDP…
Trang 5(Ibrahima Kassory Fofana, 2001) cho rằng việc phát triển các GDPS ở các quốc gia đang phát triển có các biến động về sản lượng, giá cả, tỷ giá, lãi suất là rất cần thiết đồng thời cũng gợi ý một số các giải pháp để phát triển TTPS như tăng cường mối liên kết giữa các NH, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật và hệ thống kế toán hoàn chỉnh, cần thiết có một trung tâm quản lý các GDPS
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các công cụ phái sinh do (Alat Afza và Atia Alam năm 2011) ở các DN ở Pakistan cho thấy có mối liên hệ giữa việc sử dụng các công cụ phái sinh với tổng tài sản, doanh số xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, lãi suất, quản lý quyền sở hữu, rủi ro ngoại hối
Bên cạnh đó các yếu tố như tính minh bạch, môi trường pháp lý, vai trò quản lý của NH trung ương cũng là các yếu tố quan trọng tác động đến thị trường phái sinh của các quốc gia được phát hiện và công bố trên bài nghiên cứu về “Phái sinh - Sự đổi mới tài chính cơ bản” của Viral và cộng
sự (2009)
1.2.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Tại VN cũng đã có một số các nghiên cứu về giao dịch phái sinh cụ thể là giao dịch phái sinh ngoại hối với nghiên cứu của (Hồ Thúy Ái, 2007) phân tích các ứng dụng công cụ ngoại hối phái sinh vào việc bảo hiểm rủi ro tỷ giá, bàn về việc phát triển các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối VN, (Đinh Thị Thanh Long, 2014) đề cập đến thực trạng giao dịch phái sinh ngoại hối tại VN Bên cạnh đó có các nghiên cứu về các giao dịch phái sinh tài chính tại VN, Nghiên cứu của (Việt Bảo, 2007) phân tích về tình hình phát triển nghiệp vụ phái sinh ở VN, Nguyễn Thị Mai Chi, 2014 thông qua phân tích thực trạng hoạt động phái sinh tại các NHTM VN (VCB, BIDV, Vietinbank) từ đó nhận thấy các yêu cầu cần đặt
ra đối với sự phát triển các công cụ phái sinh, những bất lợi của NHTM
VN so với các NH nước ngoài và đề xuất các giải pháp phát triển TTTC
phái sinh tại VN
Trang 61.3 Khoảng trống nghiên cứu
Một số các nghiên cứu trước đây tập trung vào việc phân tích một GDPS cụ thể của một hàng hóa cơ sơ cụ thể mà chưa nghiên cứu tổng thể các GDPS tài chính Một số các nghiên cứu khác đi sâu phân tích vai trò của các GDPS đối với thu nhập, rủi ro của NHTM mà chưa xem xét đến việc có nên phát triển các GDPS này không và nếu có thì các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc phát triển các GD này Một số các nghiên cứu về phát triển GDPS lại tập trung tại một NHTM cụ thể mà chưa tìm hiểu trên phạm
vi rộng là hệ thống các NHTM của 1 quốc gia Các khoảng trống trên sẽ là hướng nghiên cứu của luận án, qua đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển giao dịch phái sinh tại các NHTM VN, từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát triển GDPS tại các NHTM VN trong thời gian tới
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi quản lý:
Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển GDPS tại các NHTM?
Câu hỏi nghiên cứu:
- Phát triển GDPS tại NHTM là gì? Chỉ tiêu nào đo lường mức độ phát triển?
- Các yếu tố khách quan (môi trường kinh tế, hệ thống pháp luật, hành
lang pháp lý về GDPS, khách hàng, đối thủ cạnh tranh có tác động như thế nào tới sự phát triển GDPS của các NHTM VN
- Các yếu tố chủ quan thuộc về NHTM (công nghệ, uy tín, chiến lược kinh
doanh ) có tác động như thế nào đến sự phát triển GDPS tại các NHTM VN
1.5 Phương pháp nghiên cứu “
1.5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Để thu thập thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu, tác giả sử dụng cả 2 loại dữ liệu là dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
1.5.1.1 Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tài chính hàng năm của các NHTM VN,
số liệu từ báo cáo hàng năm của NHNN VN
1.5.1.2 Dữ liệu sơ cấp
Tác giả tiến hành khảo sát thu thập ý kiến đánh giá từ 350 phiếu khảo sát Nội dung khảo sát nhằm biết được mức độ đồng tình của đối tượng
Trang 7khảo sát đối với các yếu tố có ảnh hưởng tới sự phát triển GDPS tại các NHTM VN
1.5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu
1.5.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp dữ liệu thứ cấp: báo cáo tài
chính của NHTM, Báo cáo NHNN
1.5.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp dữ liệu sơ cấp: Phương pháp
thống kê mô tả và thống kê suy luận; Phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis); Phân tích phương sai ANOVA; Phương pháp phân tích hồi quy
1.6 Đóng góp của đề tài: Luận án xây mô hình nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng tới sự doanh số GDPS với các nhân tố (quy mô NHTM, dư nợ, thanh khoản, biến động tỷ giá, biến động lãi suất ) và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các GDPS của NHTM VN Thông qua kết quả, lý giải các nhân tố tác động tới việc phát triển các giao dịch này từ đó đề xuất các giải pháp phát triển các GDPS tại các NHTM VN
Trang 8CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH PHÁI SINH VÀ
PHÁT TRIỂN GIAO DỊCH PHÁI SINH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Cơ sở lý luận về giao dịch phái sinh
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển các giao dịch phái sinh
Hình thức phái sinh ghi nhận lần đầu tiên được vận dụng bởi Thales – nhà triết gia đầu tiên trong nền triết học Hy Lạp cổ đại, Sau đó vào giữa thế kỷ 17, GDQC (Option) chính thức được ra đời với mặt hàng củ giống hoa Tulip Thị trường GDTL đầu tiên tên là Trung tâm Giao dịch Lúa gạo Dojima ở Nhật Bản vào những năm 1730 Với sự ra đời của Chicago Board of Trade năm 1848 tại Mỹ, là nơi thực hiện các GDTL hàng hóa đầu tiên có tổ chức của thế giới, năm 1975, SGD Chicago Board of Trade tạo
ra HĐTL lãi suất đầu tiên, dựa trên các khoản vay có đảm bảo của Ginnie Mae (GNMA) Năm 1977, CBOT (Chicago Board of Trade) bắt đầu giao dịch Tháng 12 năm 2007 NH Thanh toán Quốc tế báo cáo rằng "các hợp đồng phái sinh được trao đổi trên các sàn giao dịch đã tăng 27% đạt kỷ lục
681 nghìn tỷ USD." Và cho đến hết quý 4 năm 2013, khối lượng các GDPS toàn thế giới đã đạt 1200 nghìn tỷ USD, gần gấp đôi sau 6 năm
2.1.2 Khái niệm GDPS
2.1.2.1 Khái niệm CCPS và CCTCPS
Công cụ phái sinh gồm phái sinh hàng hóa và phái sinh tài chính trong
đó phái sinh hàng hóa là các giao dịch phái sinh mà tài sản cơ sở là hàng hóa (nông sản, nhiên liệu, kim loại…) và phái sinh tài chính là các giao dịch phái sinh có tài sản cơ sở là tài sản tài chính (lãi suất, tỷ giá, chỉ số chứng khoán…)
CCTCPS là công cụ tài chính có giá trị được xác định dựa trên cơ sở giá trị của các công cụ tài chính cơ sở như chứng khoán, hối đoái, lãi suất 2.1.2.2 Khái niệm giao dịch tài chính phái sinh
GDPS là sự giao kết dưới dạng hợp đồng của các chủ thể kinh tế với
mục đích bảo hiểm rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận thông qua 4 loại hợp
Trang 9đồng: Kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và tương lai với tài sản cơ sở là các tài sản tài chính
2.1.3 Thị trường tài chính phái sinh
2.1.3.1 Phân loại thị trường tài chính phái sinh: Thị trường giao dịch tập
trung (Exchange); Thị trường giao dịch phi tập trung (Over the counter)
2.1.3.2 Đặc điểm của thị trường tài chính phái sinh: Khối lượng giao
dịch lớn; linh hoạt, mềm dẻo hơn các loại thị trường khác; Hàng hóa giao dịch đa dạng; Chịu ảnh hưởng lớn từ biến động giá cả của hàng hóa; Đa dạng các chủ thể tham gia, Rủi ro tiềm ẩn lớn
2.1.3.3 Chức năng và vai trò của thị trường tài chính phái sinh
a Chức năng: Phòng ngừa rủi ro biến động giá; Tìm kiếm lợi nhuận thông qua kinh doanh chênh lệch giá hoặc đầu cơ; Dự đoán mức giá của tài sản
cơ sở trong tương lai; Ổn định giá; Phân bổ lại rủi ro; Thúc đẩy sự phát
triển của thị trường hàng hóa giao ngay
b Vai trò: Đối với tổng thể nền kinh tế; Đối với DN, Đối với NH
2.1.3.4 Chủ thể tham gia và mục đích tham gia giao dịch tài chính phái sinh: Có 3 chủ thể tham gia vào thị trường phái sinh: Hedger, Speculator,
Arbitrage
2.1.4 Phân loại các giao dịch tài chính phái sinh
2.1.4.1 Giao dịch kỳ hạn (Forward): Là một thỏa thuận mua bán một số
lượng nhất định đơn vị tài sản cơ sở ở một thời điểm xác định trong tương
lai theo một mức giá xác định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng
2.1.4.2 Giao dịch tương lai (Future): Là một thỏa thuận mua bán một số
lượng nhất định đơn vị tài sản cơ sở theo giá cố định tại thời điểm hợp
đồng có hiệu lực và việc chuyển giao tài sản được thực hiện vào một ngày
2.1.4.3 Giao dịch hoán đổi (Swaps): Là các hợp đồng trao đổi ngoại tệ
hoặc lãi suất giữa các chủ thể vào hoặc trước một ngày xác định trong tương lai
2.1.4.4 Giao dịch quyền chọn (Option): GDQC là“một công cụ cho phép người mua quyền được mua hoặc được bán (chứ không phải nghĩa vụ):
Trang 10Một số lượng xác định các đơn vị tài sản cơ sở; Tại hay trước một thời điểm xác định trong tương lai; Với một mức giá xác định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng.”
2.2 Phát triển các giao dịch phái sinh tại NHTM
2.2.1 Khái niệm phát triển giao dịch phái sinh tại NHTM
Phát triển các GDPS của NHTM là việc NH gia tăng về số lượng giao dịch, gia tăng về số lượng các công cụ tài chính phái sinh và nâng cao chất lượng, tiện ích của các giao dịch tài chính phái sinh nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động kinh doanh của NH: giảm rủi ro, chi phí, tăng lợi nhuận và tăng sức cạnh tranh của NH trên thị trường trong một thời kỳ nhất định
2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển GDPS tại NHTM
2.2.2.1 Chỉ tiêu định lượng
a Tốc độ tăng trưởng về số lượng và tính đa dạng của các GDPS
b Mức tăng về số lượng và cơ cấu khách hàng, đối tác
c Doanh số GDPS và tốc độ tăng doanh số GDPS
d Chi phí đầu tư cho các GDPS
2.3.1 Tổng quan về thị trường phái sinh thế giới
Đến hết quý 4 năm 2015, khối lượng các GDPS toàn thế giới đã đạt
1400 nghìn tỷ USD, hơn gấp đôi sau 8 năm, doanh số giao dịch trên thị trường phái sinh thế giới cao gấp hơn 10 lần so với doanh số giao dịch thị trường cổ phiếu và trái phiếu
Trang 11Bảng 3.28: Doanh số sản phẩm phái sinh của các NHTM trên thế giới
Nguồn: OCC’s Quarterly Report on Bank Trading and Derivatives Activities
2.3.2 Kinh nghiệm phát triển các giao dịch tài chính phái sinh tại
một số NHTM trên thế giới
- Kinh nghiệm phát triển GDPS tại các NHTM Mỹ
- Kinh nghiệm phát triển GDPS tại các NHTM Trung Quốc
- Kinh nghiệm phát triển GDPS tại các NHTM Ấn Độ
2.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với các NHTM VN
Từ thị trường phái sinh được chuẩn hóa cao của Mỹ có thể thấy để phát triển thị trường phái sinh tốt cần chú trọng tới việc phát triển các SGD, trung tâm giao dịch lớn dành cho các CCPS cũng như các tài sản cơ sở như chứng khoán, hàng hóa, vàng… Yêu cầu quan trọng trong phát triển các SGD như vậy là có công nghệ thông tin tiên tiến, liên tục cập nhật thông tin, tiếp cận các sản phẩm giao dịch quốc tế, đáp ứng nhu cầu liên kết điện tử và thương mại 24/24 giờ (có thể tham khảo hệ thống GLOBEX và Project A)
Từ thị trường Ấn Độ ta có thể thấy công nghệ cũng là một yếu tố then chốt trong việc phát triển thị trường phái sinh OTC khi các giao dịch yêu cầu
sử dụng công nghệ phức tạp và hoàn toàn bằng điện Trao đổi hàng hóa điện
tử cần được thiết lập trên cả nước và được tạo điều kiện phát triển
Trung Quốc đã đạt được những thành công trong việc nhanh chóng chuyển từ thí điểm sang phát triển rộng rãi các GDPS tại tất cả các NHTM Đặc biệt khi luật pháp quy định cho phép sử dụng CCPS nhằm cả
ba mục đích chứ không bó hẹp trong việc phòng vệ
Trang 12CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIAO DỊCH PHÁI SINH TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VN HIỆN NAY 3.1 Một số vấn đề cơ bản về NHTM VN
Trang 133.2.1.2 Giao dịch tương lai: Giao dịch ngoại tệ tương lai vẫn chưa được
thực hiện ở VN Hiện nay, các NHTM đã được phép GDTL hàng hóa, với các mặt hàng nông sản: cà phê, chè, đậu tương, lương thực, cao su… Song
NH chỉ đóng vai trò là trung gian môi giới giúp DN thực hiện các HĐTL hàng hóa tại các SGD nước ngoài
3.2.1.3 Giao dịch hoán đổi: Thị trường hoán đổi được hình thành vào năm
1998 cùng với sự ra đời của thị trường kỳ hạn, nhưng GDHĐ chỉ được thực hiện giữa NHNN và các NHTM hoặc trên thị trường liên NH nhằm
bù đắp sự thiếu hụt vốn VND tạm thời của các NHTM Doanh số GDHĐ tại các NH đã tăng lên qua các năm, chứng tỏ loại giao dịch này cũng rất cần thiết đối với các NH