1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu những yếu tố quan trọng của thiết kế cơ sở ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án xây dựng

129 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó cho thấy vai trò quan trọng của công tác thiết kế mà thiết kế cơ sở là bước đầu tiên của quá trình thiết kế, là cơ sở để thẩm định, đánh giá hiệu quả dự án, là tài liệu cơ sở ban đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Trang 2

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

Cán bộ chấm nhận xét 1: PGS TS Ngô Quang Tường

Trang 3

Họ và tên học viên: TRẦN VĂN TRƯNG MSHV: 10080305 Ngày, tháng, năm sinh: 15-11-1979 Nơi sinh: Bến Tre Chuyên ngành: Công nghệ và Quản lý xây dựng Mã số: 60 58 90

I- TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG CỦA THIẾT KẾ CƠ

SỞ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN XÂY DỰNG

NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Khảo sát, xác định các yếu tố quan trọng và cần thiết cho thiết kế cơ sở

- Phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong thiết kế cơ sở đến hiệu quả dự án

- Khảo sát, xác định trọng số của các yếu tố quan trọng để xây dựng mô hình đánh giá thiết kế cơ sở (dùng phương pháp phân tích theo thứ bậc - AHP)

- Áp dụng mô hình đánh giá chất lượng thiết kế cơ sở Đề xuất biện pháp tăng chất lượng của thiết kế cơ sở

II- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: tháng 12/2011

III- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 30/12/2012

IV- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS LÊ VĂN NAM, TS LƯƠNG ĐỨC LONG

Tp HCM, ngày 30 tháng 12 snăm 2012

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN (Họ tên và chữ ký)

CHỦ NHIỆM BỘ MÔN

(Họ tên và chữ ký)

PGS.TS LÊ VĂN NAM TS LƯƠNG ĐỨC LONG TS LƯƠNG ĐỨC LONG

TRƯỞNG KHOA KỸ THUẬT XÂY DỰNG

(Họ tên và chữ ký)

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Văn Nam, TS Lương Đức Long đã quan tâm, hướng dẫn, và giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành luận văn này Đặc biệt là sự theo sát, hướng dẫn tận tình, kịp thời của TS Lương Đức Long Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả thầy cô trong khoa Kỹ thuật Xây dựng, đặc biệt là những thầy cô giảng dạy trong chuyên ngành Công nghệ và Quản lý xây dựng, thuộc trường Đại học Bách Khoa, đã tận tình giảng dạy, truyền đạt và hỗ trợ trong học vụ

để bản thân có được những kiến thức để thực hiện luận văn cũng như phục vụ quá trình nghiên cứu, công tác sau này

Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của đồng nghiệp trong cơ quan, sự hỗ trợ tận tình của các anh chị có kinh nghiệm lâu năm trong ngành xây dựng, của các chủ đầu

tư xây dựng đã cung cấp các số liệu thực tế để bản thân có thể thu thập dữ liệu phục

vụ cho nghiên cứu

Cuối cùng là lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ về tinh thần, giúp tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành luận văn này

Tp HCM, ngày 30 tháng 12 năm 2012

Trần Văn Trưng

Trang 5

TÓM TẮT

Dự án đầu tư xây dựng có rất nhiều yếu tố về kinh tế, chính sách, kỹ thuật, mối quan hệ giữa các chủ thể, môi trường… tác động đến, do đó để đánh giá hiệu quả của một dự án là một công việc rất phức tạp Trong khả năng phạm vi nghiên cứu này chỉ xét đến một khía cạnh của yếu tố kỹ thuật là thiết kế cơ sở vì nó là cơ

sở ban đầu để xác định quy mô, tổng mức đầu tư cho dự án, xác định tính khả thi, hiệu quả của dự án, đảm bảo quá trình triển khai thực hiện được thuận lợi Mặt khác, quy định và hướng dẫn về thiết kế cơ sở hiện nay còn chung chung, chưa được cụ thể, rõ ràng chưa tạo sự thống nhất chung làm khó khăn trong quá trình thiết kế cũng như phê duyệt

Nghiên cứu xác định được 15 yếu tố quan trọng trong số 34 yếu tố tìm thấy trong thiết kế cơ sở Trong 15 yếu tố có 5 yếu tố liên quan đến đặc điểm vị trí xây dựng và hạ tầng khu vực, 5 yếu tố liên quan đến kiến trúc - quy hoạch và 5 yếu tố liên quan đến kết cấu công trình

Sử dụng phương pháp phân tích theo thứ bậc (AHP) để xây dựng mô hình đánh giá chất lượng của hồ sơ thiết kế Trên cơ sở dựa trên 15 yếu tố quan trọng chia thành 3 nhóm yếu tố để xây dựng cấu trúc thứ bậc, khảo sát chuyên gia, so sánh cặp giữa các yếu tố và các nhóm yếu tố để tìm trọng số của từng yếu tố, xác định được 5 yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của dự án

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Văn Nam và TS Lương Đức Long

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào từ trước đến nay

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Tp HCM, ngày 30 tháng 12 năm 2012

Trần Văn Trưng

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN i

TÓM TẮT ii

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH viii

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu chung 1

1.2 Xác định vấn đề cần nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.4 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Đóng góp của nghiên cứu 5

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 6

2.1 Các khái niệm 6

2.1.1 Khái niệm dự án đầu tư 6

2.1.2 Hiệu quả của dự án 8

2.1.3 Khái niệm thiết kế xây dựng 9

2.1.4 Khái niệm thiết kế cơ sở 11

2.1.5 Khái niệm thiết kế kỹ thuật 12

2.1.6 Khái niệm thiết kế bản vẽ thi công 13

2.1.7 Khái niệm tổng mức đầu tư 13

2.2 Các nghiên cứu trước đây 14

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 14

2.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước 15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Quy trình nghiên cứu 16

3.2 Thu thập dữ liệu 17

3.2.1 Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn 17

Trang 8

3.2.2 Thang đo và kiểm định thang đo 24

3.2.3 Phân tích phương sai 1 yếu tố (One-way ANOVA) 27

3.2.4 Phương pháp đánh giá theo thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP)) 29

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH THIẾT KẾ CƠ SỞ - KHẢO SÁT, THU THẬP VÀ TỔNG HỢP SỐ LIỆU 38

4.1 Sự ảnh hưởng của thiết kế cơ sở đến hiệu quả của dự án 38

4.2 Xác định các yếu tố của thiết kế cơ sở 39

4.3 Phân tích các yếu tố của thiết kế cơ sở 42

4.3.1 Các yếu tố về đặc điểm vị trí xây dựng 42

4.3.2 Các yếu tố về hệ thống kỹ thuật (điện - cấp thoát nước - thông tin liên lạc - xử lý chất thải) 45

4.3.3 Các yếu tố về kiến trúc công trình 47

4.3.4 Các yếu tố về kết cấu công trình 50

4.4 Khảo sát thử nghiệm 52

4.5 Khảo sát đại trà 55

4.6 Tổng hợp và xử lý kết quả thu thập 55

4.6.1 Mã hóa dữ liệu 55

4.6.2 Thông tin các cá nhân được khảo sát 58

4.6.3 Kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 60

4.6.4 Kiểm định ANOVA 1 yếu tố (One-way ANOVA) 61

4.6.5 Đánh giá mức độ quan trọng 63

4.6.6 Các yếu tố quan trọng cần quan tâm của thiết kế cơ sở 65

CHƯƠNG 5 XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CỦA THIẾT KẾ CƠ SỞ 67

5.1 Mô hình đánh giá thiết kế cơ sở bằng phương pháp phân tích theo thứ bậc (AHP) 67

5.2 Cấu trúc thứ bậc 68

5.3 Tiến hành so sánh cặp 70

5.4 Thu thập dữ liệu 72

Trang 9

5.4.1 Xây dựng bảng khảo sát 72

5.4.2 Thu thập dữ liệu, tính trọng số và kiểm tra sự nhất quán 72

5.5 Xác định trọng số, xếp hạng quan trọng các yếu tố 75

5.6 Đánh giá chất lượng thiết kế cơ sở 78

5.7 Áp dụng mô hình vào đánh giá hồ sơ thiết kế cơ sở 79

5.7.1 Dự án Trụ sở làm việc các cơ quan khối Mặt trận - Đoàn thể tỉnh 79

5.7.2 Dự án Bệnh viện Mỏ Cày Bắc 82

CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

6.1 Kết luận 85

6.2 Kiến nghị 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 91

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Đặc điểm các phương pháp chọn mẫu 24

Bảng 3.2 Bảng số liệu tổng quát thực hiện phân tích phương sai 28

Bảng 3.3 Thang đo quan hệ của phương pháp AHP 30

Bảng 3.4 Bảng ma trận so sánh cặp 31

Bảng 3.5 Bảng tính tổng cột 32

Bảng 3.6 Bảng ma trận chuẩn hóa 32

Bảng 3.7 Bảng tính tổng hàng ma trận chuẩn hóa 33

Bảng 3.8 Hệ số ngẫu nhiên RI 35

Bảng 4.1 Tổng hợp các yếu tố của thiết kế cơ sở 40

Bảng 4.2 Kết quả khảo sát thử nghiệm 52

Bảng 4.3 Mã hóa tên biến các yếu tố 55

Bảng 4.4 Kinh nghiệm công tác trong ngành xây dựng 58

Bảng 4.5 Vị trí công việc 59

Bảng 4.6 Chức vụ công tác 59

Bảng 4.7 Cronbach’s Alpha của các nhóm yếu tố 60

Bảng 4.8 Kiểm định phương sai bằng nhau 61

Bảng 4.9 Kiểm định One-way ANOVA cho yếu tố ct_26 62

Bảng 4.10 Mức độ quan trọng của các yếu tố 63

Bảng 5.1 So sánh cặp giữa các yếu tố về đặc điểm vị trí xây dựng và hạ tầng khu vực 70

Bảng 5.2 So sánh cặp giữa các yếu tố về kiến trúc - quy hoạch 71

Bảng 5.3 So sánh cặp giữa các yếu tố về kết cấu 71

Bảng 5.4 So sánh cặp giữa các nhóm yếu tố 72

Bảng 5.5 Kí hiệu các yếu tố so sánh 73

Bảng 5.6 Trọng số các yếu tố 74

Bảng 5.7 Trọng số và hạng của các yếu tố 76

Bảng 5.8 Tổng điểm của thiết kế cơ sở 80

Bảng 5.9 Tổng điểm của thiết kế cơ sở 83

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ quá trình thiết kế - thi công 3

Hình 2.1 Chất lượng là một bộ phận không thể tách rời liên quan đến quy mô, kinh phí và thời gian của dự án 7

Hình 2.2 Quá trình thiết kế xây dựng 11

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 16

Hình 3.2 Quy trình thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 21

Hình 3.3 Các phương pháp chọn mẫu 24

Hình 4.1 Kinh nghiệm công tác trong ngành xây dựng 58

Hình 4.2 Vị trí công việc 59

Hình 4.3 Chức vụ công tác 60

Hình 5.1 Mô hình đánh giá thiết kế cơ sở 67

Hình 5.2 Cấu trúc thứ bậc 69

Hình 5.3 Trọng số các yếu tố 75

Hình 5.4 Trụ sở làm việc các cơ quan khối Mặt trận - Đoàn thể tỉnh 79

Hình 5.5 Bệnh viện Mỏ Cày Bắc 82

Trang 12

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu chung

Trong đầu tư xây dựng, thiết kế cơ sở có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí, thời gian thực hiện, chất lượng của dự án Đây là bước đầu quan trọng tác động đến các giai đoạn thực hiện sau này, nếu làm tốt khâu thiết kế cơ sở sẽ dễ dàng, thuận lợi trong quá trình thực hiện dự án và đảm bảo hiệu quả của dự án

Hiện nay dư luận đang nói nhiều đến thất thoát và kém chất lượng công trình trong xây dựng cơ bản do tiêu cực trong các khâu quản lý, đầu tư nhưng còn một loại thất thoát khác cũng rất lớn và rất nguy hiểm, đó là thất thoát do khâu lập dự án

và thiết kế gây ra (Yến, 2009) Giá thành và đặc điểm công trình dễ dàng bị ảnh hưởng và thay đổi trong giai đoạn thiết kế, do vậy bên thiết kế đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn ban đầu của dự án bằng cách phối hợp với chủ đầu tư để định hướng đúng cho dự án (Lan, 2010) Thiết kế thay đổi trong quá trình thi công làm tăng chi phí và vượt tiến độ ban đầu (Chao-hui Wu, 2005) Theo nghiên cứu của Aftab Hammed Memon (2011), ở các nước đang phát triển việc tăng chi phí lên đến 100% so với dự toán Theo Sadi A Assaf (2006), việc chậm tiến độ có liên quan đến thiết kế và kế hoạch ban đầu của dự án

Thiết kế không xem xét kỹ về các nội dung về địa điểm, điều kiện địa chất, địa hình hay không nghiên cứu kỹ về quy mô so với yêu cầu sử dụng, không phù hợp giữa chất lượng bên trong và hình thức bên ngoài, thiết kế thiếu đồng bộ sẽ gây ra lãng phí rất lớn trong đầu tư xây dựng (Doang, 2011)

Người thiết kế càng nhiều kỹ năng, chuyên nguyệp tại giai đoạn đầu, thì chi phí và thời gian càng ít để trả cho các lỗi liên quan đến thiết kế giai đoạn sau (Chan

và Kumaraswamy, 1996) Ngược lại, người thiết kế lại thiếu trách nhiệm hoặc trình

độ hạn chế sẽ tư vấn cho chủ đầu tư không tốt sẽ dẫn đến công trình có chất lượng không tương xứng với chi phí bỏ ra, phá vỡ cảnh quan, phá vỡ sự thống nhất của không gian kiến trúc đã hình thành, ảnh hưởng đến môi trường và cộng đồng (Doang, 2011)

Trang 13

Bên cạnh đó, hiện nay quy định về hồ sơ thiết kế còn mơ hồ, chung chung, phân định trách nhiệm chưa rõ ràng đối với chủ đầu tư, tư vấn thiết kế khi công trình không hiệu quả Công tác thẩm tra, thẩm định thiết kế chưa đi sâu vào nội dung chất lượng thiết kế, đa phần tập trung việc đảm bảo các thủ tục quy định, người làm công tác thẩm định chưa thật sự có năng lực phù hợp, có khả năng đánh giá chất lượng và hiệu quả của một hồ sơ thiết kế

Theo Bộ Tài chính (2004) nhận định: “Theo Luật Xây dựng 2003 thì các tổ chức tư vấn hoặc cá nhân có đăng ký hợp tác pháp thực hiện tư vấn từng hoạt động xây dựng trước hết phải đủ năng lực chuyên môn, ngành nghề phù hợp với nhu cầu của công việc cần tư vấn Suy cho đến cùng thì các tổ chức tư vấn, cá nhân thực hiện tư vấn cũng không ngoài mục đích là có công trình xây dựng tốt, đẹp và rẻ Do

đó các tổ chức tư vấn và cá nhân thực hiện tư vấn cũng phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về kết quả và sản phẩm tư vấn của mình Cũng có nhiều ý kiến cho rằng các tổ chức và cá nhân thực hiện tư vấn tốt trong hoạt động đầu tư, nhất là các công trình do ngân sách Nhà nước đầu tư thì sẽ góp phần đáng kể trong việc chống tiêu cực trong xây dựng Cụ thể là hạn chế được phần lớn về lãng phí và thất thoát trong xây dựng cơ bản, đặc biệt là công việc tư vấn về thiết kế cơ

sở như Luật Xây dựng 2003 quy định Bởi vì thiết kế cơ sở là tài liệu thiết kế để các bước thiết kế chi tiết thực hiện trong khuôn khổ thiết kế cơ sở được duyệt Thiết kế

cở sở còn là cơ sở để xác định tổng mức đầu tư cho một công trình xây dựng Chính

vì thiết kế cơ sở có vị trí quan trọng như vậy nên các tổ chức tư vấn và cá nhân thực hiện tư vấn phải lựa chọn phương án thiết kế cơ sở thích hợp, sử dụng đúng đắn các tiêu chuẩn thiết kế của Nhà nước hiện hành, chỉ cần nới lỏng thiết kế cơ sở các bước thiết kế tiếp theo sẽ gây lãng phí và thất thoát, tiền bạc của Nhà nước”

Trang 14

Hình 1.1 Sơ đồ quá trình thiết kế - thi công

Qua sơ đồ trên cho thấy nếu quá trình thiết kế cơ sở không tốt sẽ ảnh hưởng đến giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công, phải làm lại và trình duyệt lại, làm dự án kéo dài, tất yếu sẽ tăng chi phí dự án

Từ đó cho thấy vai trò quan trọng của công tác thiết kế mà thiết kế cơ sở là bước đầu tiên của quá trình thiết kế, là cơ sở để thẩm định, đánh giá hiệu quả dự án,

là tài liệu cơ sở ban đầu để quá trình thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng phải tuân thủ theo Do đó, để giảm lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng, dự án đạt hiệu quả thì nội dung cần quan tâm ban đầu là thiết kế cơ sở

1.2 Xác định vấn đề cần nghiên cứu

Lý do chọn đề tài:

 Hiện nay, thiết kế cơ sở của một số công trình chưa được chủ đầu tư và người quyết định đầu tư quan tâm đúng mức, thiết kế còn sơ sài hoặc quá chi tiết nhưng không phù hợp trong quá trình triển khai thiết kế bản vẽ thi công phải điều chỉnh thay đổi nhiều dẫn đến không phù hợp với thiết kế cơ sở đã duyệt ban đầu

thuật), thiết kế bản vẽ thi công

Trang 15

 Thiết kế cơ sở chưa được nghiên cứu kỹ, thiết kế bản vẽ thi công triển khai theo thiết kế cơ sở, dự toán xây dựng lập theo thiết kế bản vẽ thi công sẽ có nhiều khả năng không phù hợp với tổng mức đầu tư được tính trên thiết kế cơ sở và hiển nhiên ảnh hưởng đến hiệu quả dự án về mức vốn, quy mô đầu tư có thể bị thay đổi,

và thời gian có thể bị kéo dài do phải trình duyệt lại nhiều lần

 Không có một chuẩn mực nhất định về bản vẽ thiết kế cơ sở, quy định còn chung chung, khó khăn để có sự thống nhất giữa tư vấn và chủ đầu tư Các nội dung thẩm định chưa thật đầy đủ, chỉ là theo các quy định của Nghị định 12/CP (2009) như: sự phù hợp về quy hoạch, về đấu nối hạ tầng kỹ thuật, sự hợp lý của dây chuyền công nghệ, xem xét việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn

 Cần thiết có một nghiên cứu phân tích về những yếu tố của thiết kế cơ sở tác động đến hiệu quả của dự án

 Phát hiện những yếu tố quan trọng nhất để nhà tư vấn lập dự án, chủ đầu

tư, người quyết định đầu tư (thẩm định thiết kế cơ sở) có thể lường trước và đánh giá hiệu quả để điều chỉnh kịp thời trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư

 Góp phần tăng hiệu quả dự án, giảm thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Khảo sát, xác định các yếu tố quan trọng và cần thiết cho thiết kế cơ sở

- Phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong thiết kế cơ sở đến hiệu quả dự án

- Khảo sát, xác định trọng số của các yếu tố quan trọng để xây dựng mô hình đánh giá thiết kế cơ sở (dùng phương pháp phân tích theo thứ bậc - AHP)

- Áp dụng mô hình đánh giá chất lượng thiết kế cơ sở Đề xuất biện pháp tăng chất lượng của thiết kế cơ sở

1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Các công trình sử dụng vốn Nhà nước, yêu cầu lập dự án, phải có bước thiết kế cơ sở

Trang 16

- Đối tượng khảo sát ở Bến Tre và các tỉnh Miền Tây Nam bộ, là những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế, quản lý dự án, các chủ đầu tư và người thẩm định thiết kế

- Phân tích trên quan điểm của người quản lý thiết kế

1.5 Đóng góp của nghiên cứu

- Chủ đầu tư, đơn vị tư vấn nhận thức về tầm quan trọng của công tác lập thiết kế cơ sở và thấy được các yếu tố quan trọng của thiết kế cơ sở cần quan tâm trong quá trình thực hiện

- Để công tác lập thiết kế cơ sở ngày càng được hoàn thiện hơn, các giai đoạn triển khai sau được thuận lợi, nhanh chóng, ít phát sinh trong quá trình thực hiện, tăng hiệu quả dự án, giảm lãng phí trong đầu tư xây dựng

- Người thẩm định thiết kế, thẩm định dự án có thể định lượng được hiệu quả

và tính đúng đắn của thiết kế cơ sở để đánh giá hiệu quả của dự án

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khái niệm dự án đầu tư

Theo Luật xây dựng (2003), dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các

đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở

Dự án đầu tư xây dựng công trình là những dự án đầu tư cho việc xây dựng, mua sắm thiết bị công nghệ, đào tạo công nhân vận hành nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ cho xã hội; hoặc là các dự án đầu tư xây dựng công trình tạo

ra các hệ thống cơ sở vật chất cho xã hội như cầu, cống, đường bộ, đường sắt; cảng sông, cảng biển, đê, đập, hồ chứa nước, kênh mương tưới tiêu… Như vậy dự án đầu

tư xây dựng công trình được hiểu là những dự án trong đó có các công trình như nhà xưởng, thiết bị… gắn liền với đất được xây dựng trên một địa điểm cụ thể (nhằm phân biệt với các dự án đầu tư không có xây dựng công trình hoặc chỉ có thiết bị không gắn liền với đất như dự án mua sắm ô tô, máy bay, tàu thủy… như đã

đề cập ở phần dự án đầu tư (không có xây dựng, lắp đặt thiết bị…)

Theo Nghị định 12/CP (2009), dự án đầu tư xây dựng công trình được phân loại như sau:

- Theo quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B,

C Đối với công trình dân dụng, nhóm A có tổng mức đầu tư trên 500 tỷ đồng, nhóm B có tổng mức đầu tư từ 30 đến 500 tỷ đồng, nhóm C có tổng mức đầu tư dưới 30 tỷ đồng

- Theo nguồn vốn đầu tư gồm có: dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; dự

án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của

Trang 18

Nhà nước; dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; dự án

sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn

Theo Lan (2010), dự án là một nhóm các công việc được thực hiện theo một quy trình nhất định để đạt được mục tiêu đề ra, có thời điểm bắt đầu và kết thúc được ấn định trước, và sử dụng tài nguyên giới hạn Dự án xây dựng là tập hợp những đề xuất hay công việc có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những công trình xây dựng Một dự án nói chung hay một dự án xây dựng nói riêng gồm có ba thành tố: quy mô, kinh phí và thời gian và ba thành tố này cần phải xác định rõ ràng trong dự án Quy mô thể hiện khối lượng và chất lượng công việc thực hiện Kinh phí là chi phí thực hiện công việc tính bằng tiền Thời gian thể hiện trình tự trước sau thực hiện các công việc và thời gian hoàn thành dự án Chất lượng của dự án phải đáp ứng được yêu cầu của chủ đầu tư và là một bộ phận không thể tách rời của công tác quản lý dự án

Hình 2.1 Chất lượng là một bộ phận không thể tách rời liên quan

đến quy mô, kinh phí và thời gian của dự án (Nguồn: Lan, 2010)

Theo Toàn (2004), dự án đầu tư xây dựng công trình là tài liệu đánh giá toàn diện, là cơ sở cho các cấp phê duyệt dự án Sau khi hoàn thành dự án đầu tư xây dựng công trình, người ta có thể hình dung được toàn cảnh về xây dựng và khai thác công trình trong suốt thời gian tồn tại hoặc vòng đời dự án

Nhiệm vụ của giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình là thu thập tài liệu, tính toán, nghiên cứu nhằm mục đích: xác định sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình; lựa chọn hình thức đầu tư (xây dựng mới hay nâng cấp, cải tạo ); xác định cụ thể phạm vi bố trí công trình; xác định quy mô công trình, lựa chọn

Trang 19

phương án tối ưu; đề xuất các giải pháp thiết kế hợp lý; tính tổng mức đầu tư và đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng công trình

Theo Thắng (2010), trên thực tế có nhiều định nghĩa về dự án, tuy nhiên chúng đều thống nhất rằng mỗi dự án là một tập hợp các đề xuất có những đặc điểm như: bao gồm những hoạt động cụ thể và có tổ chức; diễn ra trong một thời gian và ngân sách nhất định; hướng tới các mục tiêu đã lựa chọn

2.1.2 Hiệu quả của dự án

Để đánh giá được hiệu quả dự án đầu tư phải tiến hành thẩm định dự án Theo Toàn (2004), thẩm định dự án đầu tư là việc thẩm tra, so sánh, đánh giá một cách khách quan, khoa học, và toàn diện các nội dung của dự án, hoặc so sánh đánh giá các phương án của một hay nhiều dự án để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả

và tính khả thi của dự án, từ đó có những quyết định đầu tư và cho phép đầu tư

Theo Thắng (2004), thẩm định hay đánh giá dự án là quá trình xem xét tính khả thi và hợp lý của những đề xuất, cụ thể là đánh giá 5 yếu tố cơ bản: hiệu suất, hiệu quả, tác động, tính hợp lý và tính bền vững

Theo Nghị định 12/CP (2009), khi thẩm định dự án đầu tư phải xem xét các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án, bao gồm: sự cần thiết đầu tư; các yếu tố đầu vào của dự án; quy mô, công suất, công nghệ, thời gian, tiến độ thực hiện dự án; phân tích tài chính, tổng mức đầu tư, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án

Dự án có hiệu quả khi dự án đó thật sự cần thiết, cấp bách phải đầu tư, đảm bảo lợi ích cho cá nhân hay một nhóm người hay rộng hơn là vì mục đích phát triển kinh tế đất nước hay an sinh xã hội, đảm bảo phát triển bền vững Tuy nhiên để đạt được hiệu quả cao thì quy mô dự án phải phù hợp với nguồn lực hiện có và khả năng hoàn thành trong thời gian nhất định Trong quá trình thẩm định dự án phải đánh giá được tác động của dự án sẽ mang lại, tính toán lợi ích đạt được trên chi phí

bỏ ra

Theo Sadi A Assaf (2006), dự án bị chậm trễ đối với chủ đầu tư sẽ mất lợi nhuận do thiếu các cơ sở sản xuất và không gian có thể cho thuê hoặc phải phụ

Trang 20

thuộc vào các cơ sở hiện tại Do đó, việc xem xét, tính toán thời gian thực hiện dự

án là nội dung quan trọng để đánh giá hiệu quả dự án

Theo Baccarini, có hai thành phần khác biệt cho thành công dự án là sản phẩm hoàn thành và thành công trong quản lý dự án Thành công sản phẩm nói đến các lợi ích được nhận ra bởi khả năng cung cấp và đóng góp cho các mục tiêu chiến lược Thành công trong quản lý dự án nói việc đáp ứng sự hài lòng về thời gian, chi phí, chất lượng và các bên tham gia

Tóm lại, một dự án có hiệu quả phải đảm bảo đạt mục tiêu đầu tư, phù hợp với nhu cầu của chủ đầu tư, đảm bảo thời gian tiến độ dự kiến và trong phạm vi nguồn lực tài chính cho phép, đồng thời phải đảm bảo chất lượng công trình

2.1.3 Khái niệm thiết kế xây dựng

Theo Luật Xây dựng (2003), thiết kế xây dựng công trình là hệ thống tài liệu gồm bản vẽ và phần thuyết minh thể hiện các nội dung của công trình như sau: Phương án công nghệ; công năng sử dụng; phương án kiến trúc; tuổi thọ công trình; phương án kết cấu, kỹ thuật; phương án phòng, chống cháy, nổ; phương án sử dụng năng lượng đạt hiệu suất cao; giải pháp bảo vệ môi trường; tổng dự toán, dự toán chi phí xây dựng phù hợp với từng bước thiết kế xây dựng

Thiết kế xây dựng các công trình dân dụng phải bảo đảm các yêu cầu chung sau đây:

- Phù hợp với quy hoạch xây dựng, cảnh quan, điều kiện tự nhiên và các quy định về kiến trúc; dự án đầu tư xây dựng công trình đã được phê duyệt;

- Phù hợp với thiết kế công nghệ trong trường hợp dự án đầu tư xây dựng công trình có thiết kế công nghệ;

- Nền móng công trình phải bảo đảm bền vững, không bị lún nứt, biến dạng

quá giới hạn cho phép làm ảnh hưởng đến tuổi thọ công trình, các công trình lân cận;

- Nội dung thiết kế xây dựng công trình phải phù hợp với yêu cầu của từng bước thiết kế, thoả mãn yêu cầu về chức năng sử dụng; bảo đảm mỹ quan, giá thành hợp lý;

Trang 21

- An toàn, tiết kiệm, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn liên quan; đối với những công trình công cộng phải bảo đảm thiết kế theo tiêu chuẩn cho người tàn tật;

- Đồng bộ trong từng công trình, đáp ứng yêu cầu vận hành, sử dụng công trình; đồng bộ với các công trình liên quan;

- Kiến trúc công trình phải phù hợp với phong tục, tập quán và văn hoá, xã hội của từng vùng, từng địa phương;

- An toàn cho người khi xảy ra sự cố; điều kiện an toàn, thuận lợi, hiệu quả cho hoạt động chữa cháy, cứu nạn; bảo đảm khoảng cách giữa các công trình, sử dụng các vật liệu, trang thiết bị chống cháy để hạn chế tác hại của đám cháy đối với các công trình lân cận và môi trường xung quanh;

- Các điều kiện tiện nghi, vệ sinh, sức khoẻ cho người sử dụng;

- Khai thác tối đa thuận lợi và hạn chế bất lợi của thiên nhiên nhằm bảo đảm tiết kiệm năng lượng

Thiết kế xây dựng công trình bao gồm các bước: (1) thiết kế cơ sở, (2) thiết

kế kỹ thuật và (3) thiết kế bản vẽ thi công

Tùy theo tính chất, quy mô của từng loại công trình, thiết kế xây dựng công trình có thể được lập một bước, hai bước hoặc ba bước như sau:

- Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình quy định chỉ phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật (dự án có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng);

- Thiết kế hai bước bao gồm bước thiết kế cơ sở và bước thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình (dự án có tổng mức đầu tư từ 15 tỷ đồng trở lên);

- Thiết kế ba bước bao gồm bước thiết kế cơ sở, bước thiết kế kỹ thuật và bước thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự

án đầu tư xây dựng và có quy mô lớn, phức tạp

Trang 22

Đối với công trình phải thực hiện thiết kế hai bước trở lên, các bước thiết kế tiếp theo chỉ được triển khai thực hiện trên cơ sở bước thiết kế trước đã được phê duyệt Thiết kế kỹ thuật phải phù hợp với thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công phải phù hợp với thiết kế kỹ thuật (trường hợp thiết kế 3 bước); thiết kế bản vẽ thi công phải phù hợp với thiết kế cơ sở (trường hợp thiết kế 2 bước)

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư Giai đoạn thực hiện đầu tư

Hình 2.2 Quá trình thiết kế xây dựng

2.1.4 Khái niệm thiết kế cơ sở

Khái niệm thiết kế cơ sở xuất hiện kể từ khi có Luật Xây dựng (2003), bao gồm thuyết minh và các bản vẽ thể hiện được các giải pháp về kiến trúc; kích thước, kết cấu chính; mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng; các giải pháp kỹ thuật, giải pháp về xây dựng; công nghệ, trang thiết bị công trình, chủng loại vật liệu xây dựng chủ yếu

được sử dụng để xây dựng công trình

Nghị định 12/CP (2009) quy định phần thuyết minh của thiết kế cơ sở như sau:

- Giới thiệu tóm tắt địa điểm xây dựng, phương án thiết kế; tổng mặt bằng công trình, hoặc phương án tuyến công trình đối với công trình xây dựng theo tuyến; vị trí, quy mô xây dựng các hạng mục công trình; việc kết nối giữa các hạng mục công trình thuộc dự án và với hạ tầng kỹ thuật của khu vực;

Thiết kế bản vẽ thi công

tiêu chuẩn

Trang 23

- Phương án công nghệ, dây chuyền công nghệ đối với công trình có yêu cầu công nghệ;

- Phương án kiến trúc đối với công trình có yêu cầu kiến trúc;

- Phương án kết cấu chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng kỹ thuật chủ yếu của công trình;

- Phương án bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật;

- Danh mục các quy chuẩn, tiêu chuẩn chủ yếu được áp dụng

Và phần bản vẽ thiết kế cơ sở bao gồm:

- Bản vẽ tổng mặt bằng công trình hoặc bản vẽ bình đồ phương án tuyến công trình đối với công trình xây dựng theo tuyến;

- Sơ đồ công nghệ, bản vẽ dây chuyền công nghệ đối với công trình có yêu cầu công nghệ;

- Bản vẽ phương án kiến trúc đối với công trình có yêu cầu kiến trúc;

- Bản vẽ phương án kết cấu chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng kỹ thuật chủ yếu của công trình, kết nối với hạ tầng kỹ thuật của khu vực

Nghị định 12/CP (2009) quy định các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn Nhà nước có tổng mức đầu tư trên 15 tỷ đồng phải lập dự án Trong nội dung dự án phải có thiết kế cơ sở để xem xét, đánh giá cùng với dự án đầu tư Đối với các dự án này phải triển khai thiết kế 2 bước (thiết kế cơ sở → thiết kế bản vẽ thi công) hoặc thiết kế 3 bước (thiết kế cơ sở → thiết kế kỹ thuật → thiết kế bản vẽ thi công) Đối với các dự án có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (gọi là Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng) thì không lập thiết kế cơ sở mà chỉ thực hiện 1 bước thiết kế là thiết kế bản vẽ thi công

2.1.5 Khái niệm thiết kế kỹ thuật

Hồ sơ thiết kế bản vẽ kỹ thuật bao gồm phần thuyết minh và bản vẽ

Thuyết minh phải tính toán lại và làm rõ phương án lựa chọn kỹ thuật sản xuất, dây chuyền công nghệ, lựa chọn thiết bị, so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, kiểm tra các số liệu làm căn cứ thiết kế; các chỉ dẫn kỹ thuật; giải thích những nội

Trang 24

dung mà bản vẽ thiết kế chưa thể hiện được và các nội dung khác theo yêu cầu của chủ đầu tư

Bản vẽ thiết kế kỹ thuật là thiết kế được thực hiện trên cơ sở thiết kế cơ sở trong

dự án đầu tư xây dựng công trình được phê duyệt, bảo đảm thể hiện được đầy đủ các thông số kỹ thuật và vật liệu sử dụng phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng, là căn cứ để triển khai bước thiết kế bản vẽ thi công Thiết kế kỹ thuật không trái với thiết kế cơ sở trong dự án đầu tư đã được duyệt

2.1.6 Khái niệm thiết kế bản vẽ thi công

Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công bao gồm phần thuyết minh và bản vẽ

Thuyết minh phải giải thích đầy đủ các nội dung mà bản vẽ không thể hiện được để người trực tiếp thi công xây dựng thực hiện theo đúng thiết kế

Bản vẽ thiết kế bảo đảm thể hiện được chi tiết tất cả các bộ phận của công trình, các cấu tạo với đầy đủ các kích thước, thông số kỹ thuật để thi công, vật liệu

sử dụng phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng, đảm bảo đủ điều kiện

để lập dự toán và triển khai thi công xây dựng công trình

Thiết kế bản vẽ thi công phải phù hợp với thiết kế cơ sở (trường hợp thiết kế

2 bước) hay phải phù hợp với thiết kế kỹ thuật (trường hợp thiết kế 3 bước) (Nghị định 12/CP, 2009)

2.1.7 Khái niệm tổng mức đầu tư

Nghị định 112/CP (2009) định nghĩa về tổng mức đầu tư xây dựng công trình như sau:

Tổng mức đầu tư xây dựng công trình là chi phí dự tính của dự án Tổng mức đầu tư là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình Tổng mức đầu tư bao gồm chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí bồi thường, hỗ trợ tái định cư; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí dự phòng

Có 4 phương pháp xác định tổng mức đầu tư: (1) tính theo thiết kế cơ sở; (2) tính theo suất vốn đầu tư; (3) tính dựa theo dự án tương tự; (4) kết hợp 3 phương pháp trên Trong đó có phương pháp tính theo thiết kế cơ sở, chi phí xây dựng được

Trang 25

xác định từ khối lượng chủ yếu của thiết kế cơ sở, các khối lượng khác dự tính và giá xây dựng phù hợp với thị trường; chi phí thiết bị được tính theo số lượng, chủng loại thiết bị phù hợp với thiết kế công nghệ, giá thiết bị trên thị

2.2 Các nghiên cứu trước đây

Có ít nghiên cứu về thiết kế nói chung và thiết kế cơ sở nói riêng, do đó nghiên cứu này trên cơ sở các nghiên cứu có liên quan về đánh giá hiệu quả của dự

án, các phương pháp phân tích đã sử dụng trong các nghiên cứu về tính hiệu quả

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước

Tín (2010) đã nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi thiết kế trong giai đoạn thi công xây dựng công trình, xác định được 5 nhân tố chính là kế hoạch của chủ đầu tư và năng lực của nhà thầu thi công, yêu cầu và quyết định của chủ đầu tư, năng lực của tư vấn và điều kiện địa chất, nguyên nhân bên ngoài và nguyên nhân về kỹ thuật thi công, trong đó nguyên nhân “bản vẽ không tốt, lỗi và không đầy đủ” ảnh hưởng khá cao đến nhân tố năng lực tư vấn và điều kiện địa chất Nghiên cứu cũng kiến nghị chủ đầu tư nên đưa ra những yêu cầu rõ ràng và đầy đủ ngay trong giai đoạn hình thành ý tưởng và thiết kế, điều này sẽ làm giảm thiếu tối

đa các thay đổi về thiết kế và ảnh hưởng của nó đến tiến độ thực hiện trong giai đoạn thi công Trong giai đoạn thiết kế ý tưởng, ngoài sự có mặt của tư vấn thiết kế, cũng cần có sự tham gia của nhà thầu thi công, cùng nhau hiện thực hóa các yêu cầu của chủ đầu tư

Cường (2010) đã nghiên cứu về các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến hiệu của các

dự án xây dựng công trình dân dụng, xác định được các yếu tố rủi ro liên quan đến chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà cung cấp, nhà thầu thi công và các yếu tố liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội - tự nhiên, trong đó việc thiếu sót trong thiết kế, lập dự toán không chính xác cần được quan tâm để giảm thiểu rủi ro cho dự án Trong nghiên cứu đã xây dựng được mô hình đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro dựa trên phương pháp phân tích theo thứ bậc (AHP) và áp dụng vào thực tế

để đánh giá các dự án

Trang 26

2.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước

Muhammad Saqib và ccs (2008) nghiên cứu các nhân tố thành công quan trọng của dự án xây dựng ở Pakistan, mục đích nghiên cứu là xác định các biến ảnh hưởng đến thành công của dự án, phân tích các yếu tố và xếp hạng xác định mức độ quan trọng của các yếu tố, cung cấp một công cụ dự đoán cho các bên đánh giá nhanh khả năng thành công của dự án theo quan điểm của họ

Baccarini, nghiên cứu về các yếu tố thành công của các dự án kỹ thuật xây dựng, cho thấy ảnh hưởng của việc hoạch định ban đầu của dự án ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án, việc lập kế hoạch không đầy đủ, không rõ ràng thường dẫn đến

dự án thất bại, và đặc biệt là đối với các dự án lớn

Chao-hui Wu và ccs (2005) nghiên cứu phân tích thống kê các nguyên nhân làm thay đổi thiết kế đối với công trình đường cao tốc đã nhận thấy việc không khảo sát kỹ đã làm thay đổi thiết kế trong quá trình thi công Do đó để giảm thiểu điều này cần tăng cường phân tích tính khả thi và các giai đoạn thiết kế

Aftab Hameed Memon và ccs (2011) nghiên cứu các yếu tố dẫn đến vượt chi phí các công trình xây dựng, xác định 59 nguyên nhân, từ đó tìm ra 7 nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất, trong đó có nguyên nhân thiết kế sơ sài và chậm, chậm trễ trong khâu chuẩn bị và trình duyệt bản vẽ

Ming Sun và ccs (2009) đã nghiên cứu tổng hợp các nguyên nhân thay đổi và ảnh hưởng đến các dự án xây dựng, tác giả đã hệ thống các nguyên nhân thay đổi và ảnh hưởng của nó, trong đó cho thấy có một số yếu tố có liên quan đến thiết kế như: chờ thông tin để thiết kế hoặc thông bị bị lỗi hoặc không đầy đủ, chờ duyệt thiết kế, sự không thống nhất và lỗi trong thiết kế, kinh nghiệm của cán bộ thiết kế, thiếu sót trong thiết kế và kế hoạch, bỏ sót khối lượng khi tính dự toán, không thống nhất giữa bản vẽ thiết kế và điều kiện công trường, trích dẫn các tiêu chuẩn không đầy đủ, khảo sát công trường chưa kỹ càng, điều kiện địa chất không lường trước

Trang 27

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu xác định theo trình tự sau:

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

Xác định các yếu tố quan trọng, cần thiết cho thiết kế cơ sở

Xây dựng mô hình đánh chất lượng TKCS

XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu những yếu tố quan trọng của thiết kế cơ sở

ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án

Kết luận và kiến nghị

Xác định các yếu tố quan trọng nhất Phân tích số liệu khảo sát Tiến hành khảo sát thu thập số liệu chính thức

Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát

Khảo sát thử (pilot test)

Thử nghiệm mô hình

Trang 28

3.2 Thu thập dữ liệu

3.2.1 Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn

Bảng câu hỏi là một trong những phương pháp thường được dùng để khảo sát, thu thập dữ liệu cho việc nghiên cứu Các câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu cho người được hỏi trả lời, mỗi câu chỉ nên nói đến một nội dung và phù hợp với chủ đề nghiên cứu (Fellows, 2008)

Để bao quát vấn đề nghiên cứu, nội dung các câu hỏi trong bảng câu hỏi phải

cụ thể vấn đề nội dung cần hỏi ở từng câu, phải lưu ý thông tin thu thập được phải liên quan đến vấn đề nghiên cứu, bao quát và đúng phạm vi nghiên cứu Nội dung hỏi cần rõ ràng, mạch lạc, gây sự hứng thú và không mất nhiều thời gian để người được hỏi sẵn sàng trả lời đầy đủ các câu hỏi, không yêu cầu người trả lời điền quá nhiều thông tin cá nhân vì sẽ gây khó chịu cho họ

Về cách thức diễn đạt câu hỏi phải rõ ràng, văn phạm dễ hiểu, không dùng từ

đa nghĩa, mơ hồ làm cho người trả lời không hiểu đúng ý cần hỏi Câu hỏi không nên có định hướng chủ quan, chứa đựng các từ ngữ thiên lệch làm cho dữ liệu thu thập bị phân tán, bị chệch Trình tự các câu hỏi ảnh hưởng mạnh đến sự sẵn sàng và chất lượng của thông tin thu thập, thường bắt đầu bằng những câu đơn giản, dễ trả lời, rõ ràng và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi trước không được bóp méo

sự trả lời các câu sau

Theo Thọ (2011), một bảng câu hỏi tốt sẽ giúp nhà nghiên cứu thu thập được

dữ liệu cần thiết với độ tin cậy cao Một bảng câu hỏi phải thõa mãn hai yêu cầu cơ bản sau đây:

- Phải có đầy đủ các câu hỏi mà nhà nghiên cứu muốn thu thập dữ liệu từ các trả lời

- Phải kích thích được sự hợp tác của người trả lời

Quy trình thiết kế bảng câu hỏi được chia thành 8 bước như sau:

- Bước 1 Xác định cụ thể dữ liệu cần thu thập và xây dựng nội dung bảng câu hỏi:

Trang 29

Trong bước này phải liệt kê đầy đủ và chi tiết các dữ liệu cần thu thập cho việc nghiên cứu Bảng câu hỏi là công cụ nối liền giữa thông tin cần cho nghiên cứu

và dữ liệu sẽ thu thập được Vì vậy, khi thiết kế bảng câu hỏi phải dựa vào vấn đề nghiên cứu và nhu cầu thông tin đã xác định để thiết kế các câu hỏi cho việc thu thập dữ liệu Bảng câu hỏi được đề xuất trên cơ sở các nghiên cứu đã thực hiện trong và ngoài nước về các nội dung có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, và để sát với thực tế cần phỏng vấn, khảo sát ý kiến của các chuyên gia, những người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cần nghiên cứu

- Bước 2 Xác định dạng phỏng vấn:

Có 4 dạng phỏng vấn chính dùng trong nghiên cứu, đó là: (1) phỏng vấn trực diện; (2) phỏng vấn qua điện thoại; (3) phỏng vấn bằng cách gửi thư; (4) phỏng vấn qua mạng internet

Trong đó phỏng vấn trực diện là dạng phỏng vấn mà người nghiên cứu đối diện trực diện với đối tượng phỏng vấn Cách phỏng vấn này có nhiều ưu điểm như việc tiếp xúc sẽ kích thích người trả lời, giải thích các câu hỏi mà người trả lời chưa hiểu hay hiểu sai, do đó suất trả lời và suất hoàn tất của bảng câu hỏi sẽ cao (cao nhất trong 4 loại phỏng vấn nêu trên) Tuy nhiên dạng phỏng vấn này cũng có nhược điểm như: sự hiện diện của người phỏng vấn có thể làm ảnh hưởng đến các trả lời của đối tượng phỏng vấn, chi phí cao…

Phỏng vấn qua điện thoại giúp giảm chi phí phỏng vấn so với phỏng vấn trực diện Tuy không trực tiếp tiếp xúc nhưng vẫn có thể giải thích, kích thích sự hợp tác trả lời, suất trả lời và hoàn tất tuy không bằng phỏng vấn trực diện nhưng cũng khá cao Trường hợp này bảng câu hỏi cần phải chi tiết hơn so với dạng phỏng vấn trực diện

Phỏng vấn bằng cách gửi thư đến đối tượng khảo sát Trường hợp này đòi hỏi cao nhất về mức độ chi tiết và rõ ràng của bảng câu hỏi vì nếu bảng câu hỏi không rõ ràng, chi tiết và dễ hiểu thì người trả lời không hiểu hoặc hiểu sai câu hỏi Suất trả lời của dạng phỏng vấn này rất thấp và thời gian thu thập thường kéo dài

Trang 30

Tuy nhiên nó vẫn thường ứng dụng trong nghiên cứu hàn lâm vì nếu suất trả lời cao thì chi phí thấp

Phỏng vấn qua mạng internet có ưu điểm là nhanh, ít tốn kém Tuy nhiên hiện nay phương pháp này chưa được phổ biến ở nước ta, suất trả lời còn rất thấp

- Bước 3 Đánh giá nội dung câu hỏi:

Nội dung bảng câu hỏi ảnh hưởng đến khả năng hợp tác của người trả lời, tạo điều kiện cho họ muốn tham gia và trả lời trung thực Để đánh giá nội dung bảng câu hỏi, người nghiên cứu cần phải tự trả lời các câu hỏi sau: (1) Người trả lời có hiểu câu hỏi không ? (2) Họ có thông tin không ? (3) Họ có cung cấp thông tin không ? (4) Thông tin họ cung cấp có đúng là dữ liệu cần thu thập không ?

- Bước 4 Xác định hình thức trả lời:

Có hai hình thức trả lời chính là trả lời cho câu hỏi đóng và trả lời cho câu hỏi mở Câu hỏi đóng là các câu hỏi có các trả lời cho sẵn và người trả lời sẽ chọn một hay nhiều trả lời trong đó Câu hỏi mở là các câu hỏi không có câu trả lời cho sẵn, người trả lời hoàn toàn tự do diễn đạt các trả lời của mình Dữ liệu thu thập từ câu hỏi mở thường phong phú hơn so với câu hỏi đóng, câu hỏi mở giúp người nghiên cứu đào sâu thêm những thông tin từ bên trong của đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên câu hỏi mở có những nhược điểm so với câu hỏi đóng như kết quả trả lời

bị chệch so với nghiên cứu, việc hiệu chỉnh, mã hóa dữ liệu tốn kém, mất nhiều thời gian Vì vậy câu hỏi đóng thường dùng trong nghiên cứu định lượng, câu hỏi mở thường dùng trong nghiên cứu định tính

- Bước 5 Xác định cách dùng thuật ngữ:

Khi sử dụng thuật ngữ cần theo những nguyên tắc sau: (1) Dùng từ đơn giản

và quen thuộc cho các câu hỏi trong bảng câu hỏi; (2) Tránh câu hỏi dài dòng, từ ngữ càng chi tiết, cụ thể và rõ ràng càng tốt; (3) Tránh câu hỏi hai hay nhiều trả lời cùng một lúc; (4) Tránh câu hỏi gợi ý kích thích người trả lời phản xạ theo hướng

đã dẫn trong bảng câu hỏi; (5) Tránh câu hỏi có thang trả lời không cân bằng; (6) Tránh câu hỏi bắt người trả lời phải ước đoán

- Bước 6 Xác định trình tự các câu hỏi, cấu trúc bảng câu hỏi:

Trang 31

Một bảng câu hỏi được chia thành nhiều phần Mỗi phần có những mục đích khác nhau Một bảng câu hỏi thường được chia thành 3 phần chính: (1) Phần gạn lọc; (2) Phần chính; (3) Phần dữ liệu cá nhân của người trả lời Phần gạn lọc nhằm mục đích chọn người trả lời cho nghiên cứu, có thể không cần khi bảng câu hỏi được xác định đã gửi đến đúng đối tượng khảo sát Phần chính bao gồm các câu hỏi thu thập dữ liệu cần thiết cho mục đích nghiên cứu

- Bước 7 Xác định hình thức bảng câu hỏi:

Hình thức bảng câu hỏi cũng góp phần cho sự thành công của việc thu thập

dữ liệu Bảng câu hỏi có hình thức đẹp sẽ kích thích sự hợp tác của người trả lời

- Bước 8 Thử nghiệm bản câu hỏi → sửa chữa → hoàn chỉnh, phân phối

Để có bảng câu hỏi đạt chất lượng cao thì cần phải qua nhiều lần thử và sửa chữa để hoàn chỉnh trước khi dùng nó thể thu thập dữ liệu Công tác thử nghiệm bảng câu hỏi là cần thiết để chỉnh sửa những nội dung thiếu rõ ràng, khó hiểu, chưa phù hợp vấn đề nghiên cứu, và điều quan trọng là có thêm ý kiến mới bổ sung cho vấn đề nghiên cứu được hoàn chỉnh

Bảng câu hỏi thử nghiệm được gửi đến các cá nhân có kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực nghiên cứu Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp để thu thập dữ liệu, giải thích những vấn đề mà câu hỏi đặt ra còn chưa rõ, mơ hồ, qua đó trên sơ sở đóng góp điều chỉnh lại Qua quá trình khảo sát thử nghiệm có thể dùng các câu hỏi mở để bổ sung thêm cho nội dung cho các câu hỏi và câu trả lời của dữ liệu cần khảo sát Quá trình thử nghiệm có thể diễn ra nhiều lần đến khi bảng câu hỏi đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu thu thập được dữ liệu cho vấn đề cần nghiên cứu

Trang 32

Hình 3.2 Quy trình thiết kế bảng câu hỏi khảo sát

Đọc sách báo,

internet và các

nghiên cứu đã

thực hiện

Xác định cấu trúc bảng câu hỏi

Thử nghiệm bảng câu hỏi

Các câu hỏi rõ ràng dễ hiểu, đầy đủ và phù hợp của nội dung nghiên cứu

Sai, thiếu, cần chỉnh sửa

Hoàn chỉnh, phân phối

Tham khảo chuyên gia và những người có nhiều kinh nghiệm trong ngành xây dựng

Trang 33

3.2.2 Mẫu nghiên cứu

Mẫu là một số đơn vị được chọn ra từ tổng thể chung theo một phương pháp lấy mẫu nào đó, các đặc trưng mẫu được dùng để suy rộng ra các đặc trưng của tổng thể (Trọng, 2008) Lấy mẫu là cần thiết bởi vì rất khó chúng ta có thể có được số liệu của tổng thể và mẫu cần phải đại diện cho tổng thể của vấn đề nghiên cứu

Theo Thọ (2011), trong nghiên cứu định lượng, chọn mẫu là một trong những khâu quyết định chất lượng của kết quả nghiên cứu Vì nhiều lí do mà người nghiên cứu không tiến hành thu thập dữ liệu của tổng thể mà chỉ chọn một nhóm nhỏ hơn, lí do đó là: (1) chọn mẫu giúp tiết kiệm chi phí; (2) chọn mẫu giúp tiết kiệm thời gian; (3) chọn mẫu có thể cho kết quả chính xác hơn

Quy trình chọn mẫu có thể bao gồm 5 bước sau:

- Bước 1 Xác định tổng thể nghiên cứu:

Việc xác định tổng thể nghiên cứu đã được tiến hành khi thiết kế nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu đã xác định nguồn dữ liệu (đối tượng cần thu thập dữ liệu)

- Bước 2 Xác định khung mẫu:

Khung mẫu là danh sách liệt kê dữ liệu cần thiết của tất cả các đơn vị và phần tử của tổng thể để thực hiện công việc chọn mẫu

- Bước 3 Xác định kích thước mẫu:

Theo các nghiên cứu của Anh (2010), Cường (2010) thì kích thước mẫu xác định theo công thức:

N : là số lượng mẫu

Z : là giá trị trong phân phối chuẩn được xác định theo độ tin cậy mong muốn (tra bảng)

S : là độ lệch chuẩn của mẫu, đặc trưng cho độ phân tán của mẫu

E : là sai số cho phép, khoảng tin cậy

Trang 34

Kích thước mẫu là hàm số phụ thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro (biểu thị bằng giá trị Z), độ biến thiên của đám đông (ước lượng bằng độ lệch chuẩn) và khoảng tin cậy (sai số cho phép)

Mặc dù có ngoại lệ số lượng mẫu gọi là lớn yêu cầu N ≥ 32 và một bộ dữ liệu tối thiểu là 100 là cần thiết cho phân tích nhân tố, tuy nhiên có nhiều phản biện

về kích thước của tập hợp mẫu (Fellows, 2008)

Theo các nghiên cứu của Anh (2010), Cường (2010), nhìn chung còn khá nhiều vướng mắc trong công thức tính kích thước mẫu cho nên người ta ít sử dụng chúng nếu như mục tiêu dự án không đòi hỏi quá cao về độ chính xác cho các thông

số dự đoán

Quy luật phỏng đoán cho thấy bằng kinh nghiệm rằng cần ít nhất 30 phần tử trong một tập mẫu để giá trị thống kê có ý nghĩa

Theo Hoelter (1983), số lượng mẫu tới hạn là 200 mẫu

Theo Bollen (1989), số lượng mẫu tối thiểu phải là 5 cho một tham số cần ước lượng

Thông thường, ta có thể xác định kích thước mẫu theo kiểu định tính, độ lớn của mẫu tối đa là 1000, hoặc đơn giản lấy 10% của tổng thể, kích thước tối thiểu của mẫu là 30, tùy thuộc vào độ biến thiên của tổng thể mà điều chỉnh cho phù hợp

- Bước 4 Chọn phương pháp chọn mẫu:

Phương pháp chọn mẫu có thể phân thành 2 nhóm chính là chọn mẫu theo xác suất (còn gọi là chọn mẫu ngẫu nhiên) và chọn mẫu không theo xác suất (còn gọi là phi xác suất hay không ngẫu nhiên)

Chọn mẫu theo xác suất là phương pháp mà trong đó người nghiên cứu biết trước được xác suất tham gia vào mẫu của các phần tử Chọn mẫu phi xác suất là phương pháp chọn mẫu mà trong đó người nghiên cứu chọn các phần tử tham gia vào mẫu không theo quy luật ngẫu nhiên, người nghiên cứu có thể chọn lựa theo sự thuận tiện, đánh giá chủ quan của mình Trong nghiên cứu, để quyết định chọn mẫu theo phương pháp nào thì người nghiên cứu phải xem xét đến mục tiêu nghiên cứu, tính tổng quát hóa của kết quả nghiên cứu, thời gian và chi phí

Trang 35

Hình 3.3 Các phương pháp chọn mẫu (Nguồn: Thọ, 2011)

Bảng 3.1 Đặc điểm các phương pháp chọn mẫu (Nguồn: Thọ, 2011)

Ưu điểm Tính đại diện cao

Tổng quát hóa cho tổng thể

Tiết kiệm thời gian và chi phí

Nhược điểm Tốn kém thời gian và chi phí Tính đại diện thấp, không

tổng quá hóa cho tổng thể Phạm vi sử dụng Thường dùng cho các nghiên

cứu chính thức

Dùng cho các nghiên cứu sơ

bộ, khám phá

3.2.2 Thang đo và kiểm định thang đo

Khi thực hiện các nghiên cứu định lượng, người nghiên cứu phải sử dụng các loại thang đo lường khác nhau Hiện tượng kinh tế - xã hội vốn rất phức tạp nên việc lượng hóa các khái niệm nghiên cứu đòi hỏi phải có những thang đo lường được xây dựng công phu và kiểm tra độ tin cậy trước khi sử dụng (Trọng, 2008)

Hệ thống thang đo thường được chia thành 4 cấp độ chính là: (1) thang đo cấp định danh (nominal scale); thang đo cấp thứ tự (ordinal scale); (3) thang đo cấp quãng (interval scale); thang đo cấp tỷ lệ (ratio scale) Thang đo cấp định danh và thứ tự được gọi là thang đo định tính, thang đo cấp quãng và tỷ lệ được gọi là thang

Kỹ thuật chọn mẫu

Thuận tiện Phán đoán Phát triển mầm Định mức

Ngẫu nhiên đơn giản Hệ thống Phân tầng Theo nhóm

Trang 36

đo định lượng Các phương pháp phân tích dữ liệu đòi hỏi thang đo ở cấp thích hợp cho từng biến Vì vậy khi dùng cấp thang đo nào cần chú ý đến phương pháp phân tích theo sau (Thọ, 2011)

Một trong những hình thức đo lường các khái niệm trừu tượng được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng về kinh tế xã hội là thang đo do Rennis Likert (1932) giới thiệu gồm 5 mức độ (ví dụ: (1) rất không ảnh hưởng, (2) ảnh hưởng ít, (3) có ảnh hưởng, (4) ảnh hưởng nhiều, (5) ảnh hưởng rất nhiều), có thể thay đổi thành 3 hoặc 7 mức độ, gọi chung là thang đo Likert (Trọng, 2008)

Theo Trọng (2008), có các bước xây dựng thang đo Likert như sau:

- Bước 1: Nhận diện và đặt tên biến

- Bước 2: Lập danh sách các phát biểu hoặc câu hỏi có tính chất biểu thị Số lượng các mục hỏi xây dựng phải gấp bốn đến năm lần số lượng các mục hỏi sẽ cần trong thang đo cuối cùng

- Bước 3: Xác định số lượng và loại trả lời, ví dụ loại trả lời như là: rất không đồng ý → rất đồng ý, rất không ảnh hưởng → rất ảnh hưởng , số lượng trả lời có thể là 3, 5, hoặc 7, thường chọn là 5

- Bước 4: Kiểm tra toàn bộ các mục hỏi đã khai thác được từ những người trả lời Lý tưởng là cần ít nhất 100 người trả lời để kiểm tra các mục hỏi ban đầu

- Bước 5: Thực hiện một phân tích mục hỏi để tìm ra một tập hợp các mục hỏi tạo nên một thang đo đơn khía cạnh về biến muốn đo lường Mục đích phân tích các mục hỏi để tìm ra mục hỏi cần giữ lại và bỏ đi những mục hỏi không cần thiết

- Bước 6: Sử dụng thang đo đã xây dựng và tiến hành phân tích lại các mục hỏi lần nữa để đảm bảo rằng thang đo đó là chắc chắn

Tiếp theo chúng ta kiểm tra xem các mục hỏi nào đã có đóng góp vào việc đo lường một khái niệm lý thuyết mà ta đang nghiên cứu, những mục hỏi nào không Điều này liên quan đến hai phép tính toán: tương quan giữa bản thân các mục hỏi và tương quan của các điểm số của từng mục hỏi với điểm số toàn bộ các mục hỏi cho mỗi người trả lời

Trang 37

Chúng ta cần đánh giá độ tin cậy của thang đo Độ tin cậy thường dùng nhất

là tính nhất quán nội tại (internal consistency), nói lên mối quan hệ của các biến quan sát trong cùng một thang đo Hay nói cách khác, các biến quan sát cùng đo lường một khái niệm nghiên cứu nên hệ số tương quan giữa chúng phải cao Độ tin cậy thường dùng nhất là hệ số Cronbach’s Alpha (Thọ, 2011)

Theo Trọng (2008), hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê

về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau Một trong những phương pháp kiểm tra tính đơn khía cạnh của thang đo được gọi là kiểm định

độ tin cậy chia đôi Có rất nhiều cách để chia đôi một nhóm mục hỏi, và mỗi phần chia đôi sẽ cho bạn một tập hợp khác nhau của các tổng số Mặc dù vậy, về trung bình, tổng số của tất cả những kiểm định chia đôi có thể sẽ khá giống nhau Hệ số Cronbach’s Alpha kiểm tra điều này

Công thức tính hệ số Cronbach’s Alpha:

2 t

2 iS

)S(1x1)(n

n : số biến trong mẫu

Si2 : phương sai của biến thứ i

St2 : phương sai của tổng các biến

 : có giá trị 0<<1;  càng lớn thì độ tin cậy càng cao

Hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị biến thiên trong khoảng [0,1] Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng khi Cronbach’s Alpha từ 0.8 trở lên đến gần 1 thì thang đo lường là tốt, từ 0.7 đến 0.8 là sử dụng được (Trọng, 2008)

Cũng cần chú ý các biến đo lường để đo lường cùng một khái niệm nghiên cứu nên chúng phải tương quan chặt chẽ với nhau Vì vậy khi kiểm tra từng biến đo lường chúng ta sử dụng hệ số tương quan biến-tổng (item-total correlation) (là hệ số tương quan biến-tổng của biến đo lường thứ i nào đó với tổng k biến đo lường của thang đo), hoặc hệ số tương quan biến-tổng hiệu chỉnh (corrected item-total correlation) (là hệ số tương quan của biến đo lường xem xét với tổng các biến còn

Trang 38

lại của thang đo - không tính đến biến xem xét) Nếu một biến đo lường có hệ số tương quan biến-tổng hiệu chỉnh ≥ 0.30 thì biến đó đạt yêu cầu (Thọ, 2011)

3.2.3 Phân tích phương sai 1 yếu tố (One-way ANOVA)

Phân tích phương sai (ANOVA) là phương pháp sử dụng để so sánh trung bình của từ 3 tổng thể trở lên Mô hình ANOVA được sử dụng phổ biến để so sánh trung bình các tổng thể với dữ liệu khảo sát và đặc biệt là dữ liệu thử nghiệm (Thọ, 2011)

Theo Trọng (2008), Phân tích phương sai 1 yếu tố (One-way ANOVA) là phân tích ảnh hưởng của một yếu tố nguyên nhân (dạng biến định tính) ảnh hưởng đến một yếu tố kết quả (dạng biến định lượng) đang nghiên cứu

Có ba giả định để tiến hành phân tích phương sai 1 yếu tố:

- Các tổng thể có phân phối chuẩn Theo định lí giới hạn trung tâm, khi cỡ mẫu n đủ lớn thì phân phối trung bình mẫu sẽ xấp xỉ phân phối chuẩn Cỡ mẫu n lớn hơn hoặc bằng 30 để có thể áp dụng định lí giới hạn trung tâm (Trọng, 2008)

- Các phương sai tổng thể bằng nhau Kiểm định Levene’s test để kiểm định

sự bằng nhau của phương sai Đây là bước kiểm định trước khi thực hiện kiểm định ANOVA

- Các mẫu là độc lập

Nếu trung bình các tổng thể được kí hiệu là 1, 2, …, k thì khi các giả định trên được đáp ứng, mô hình phân tích phương sai 1 yếu tố ảnh hưởng được mô tả dưới dạng kiểm định giả thuyết như sau:

H0: 1 = 2 = … = k

Giả thuyết H0 cho rằng trung bình k tổng thể đều bằng nhau Và giả thuyết đối là: H1: tồn tại ít nhất một cặp trung bình tổng thể khác nhau

Quá trình kiểm định thực hiện các bước sau:

- Bước 1 Tính trung bình mẫu của các nhóm:

Trang 39

Bảng 3.2 Bảng số liệu tổng quát thực hiện phân tích phương sai

in

xx

 (với i = 1, 2, …, k) (3.3) Trung bình chung của toàn bộ mẫu (k nhóm):

k

1 i i

n

x

- Bước 2 Tính các tổng các chênh lệch bình phương:

Tổng chênh lệch bình phương của từng nhóm:

2 i ij

SS (với i = 1, 2, …, k) (3.5) Tổng các chênh lệch bình phương trong nội bộ các nhóm:

2 1

1 i n

1 j

2 i ij W

i

)x(x

1 i

2 i i

Tổng biến thiên:

Trang 40

- Bước 4 Kiểm định giả thuyết:

Giả thuyết bằng nhau của k trung bình tổng thể được quyết định dựa trên tỉ

số của 2 phương sai: phương sai giữa các nhóm (MSG) và phương sai trong nội bộ nhóm (MSW), gọi là tỉ số F vì nó tuân theo quy luật Fisher - Snedecor với bậc tự do

là k-1 ở tử số và n-k ở mẫu số

W

GMS

MS

Ta bác bỏ giả thuyết H0 khi F > F (k-1;n-k);

F (k-1;n-k); là giá trị giới hạn từ bảng tra phân phối Fisher

3.2.4 Phương pháp đánh giá theo thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP))

Phương pháp đánh giá theo thứ bậc (AHP) được đề xuất bởi Thomas L Saaty vào năm 1980 nhằm giải quyết những vấn đề không có cấu trúc trong hoạt động kinh tế, xã hội và khoa học quản lý Nó cung cấp một phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn đơn giản nhưng có cơ sở lý thuyết trong việc đánh giá các phương án Nó giúp phân loại mức độ ưu tiên tương đối cho các phương án được rút ra dựa trên một mức tỷ lệ Mức tỷ lệ này dựa trên quan điểm đánh giá của người

ra quyết định và mức độ quan trọng của các phán đoán đó, cũng như tính nhất quán trong việc so sánh các phương án trong quá trình ra quyết định

Ngày đăng: 28/01/2021, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w